User Tag List

Trang 2/5 đầuđầu 12345 cuốicuối
kết quả từ 9 tới 16 trên 34

Ðề tài: [TD] Tam sinh tam thế thập lý đào hoa - Đường Thất Công Tử

  1. #9
    Đang học vỡ lòng Nhật Minh's Avatar
    Tham gia ngày
    Aug 2016
    Bài gởi
    120
    Đô
    1,238
    Tài khoản Tiết Kiệm
    0
    Cảm ơn / Thích
    Blog Đã Viết
    5
    Đề cập
    2 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Default

    Chương 9: Số mệnh của tiểu đệ Nguyệt Trinh thật li kì

    Vào buổi sớm từ phàm giới trở lại Thanh Khâu, Dạ Hoa đã bị tiên quan Ca Quân thúc giục quay về Thiên Cung, nói là có một chuyện quan trọng cần cùng chúng thần bàn bạc, phải ở lại mấy ngày. Thế nên trong mấy ngày hắn ở lại Thiên Cung, ta cùng cục bột nhỏ giữ một giỏ quả tỳ bà, hết sức thê thảm. Cục bột nhỏ ăn tới mức mặt vàng bủng, kéo tay áo ta, vẻ rất đáng thương: “Mẫu thân, bao giờ phụ quân quay lại? A Ly muốn ăn nấm hấp, muốn ăn canh cải thảo cà rốt”.

    Mê Cốc nhìn thấy thì không đành lòng, cảm thấy chẳng qua cũng chỉ là nấm hấp và canh cải thảo cà rốt mà thôi, mà lại khiến cục bột thèm đến vậy, liền xắn tay áo vào bếp một cách vô cùng bi tráng. Nhưng chẳng biết rằng nấm hấp và canh cải thảo cà rốt của Dạ Hoa làm khác xa với việc chỉ hấp nấm và nấu canh cải thảo cà rốt bình thường, nêm nếm rất nhiều gia vị, trình tự công phu, khiến cho cỏ cây phải âu sầu, gió mây phải biến sắc. Lão ta đã suýt nữa thì lật tung căn bếp của ta ra để làm ra món ăn, đương nhiên không lọt được vào mắt xanh của cục bột nhỏ. Thế là cục bột nhỏ tiếp tục kéo tay áo của ta, ấm ức: “Mẫu thân, mẫu thân, bao giờ phụ quân quay lại?”.

    Trước đây, Phượng Cửu kể cho ta nghe biết bao chuyện gió trăng của nàng ấy, cảm ngộ mà nói rằng, tình yêu là thứ chưa từng nếm trải thì không thể biết ra sao, nhưng hễ nếm trải được vị ngọt của nó thì sẽ không thể buông tay, trong thiên hạ chẳng có thứ gì làm người ta mê đắm hơn nó cả.

    Ta cứ ngỡ trong thiên hạ tuy chẳng có thứ gì có thể làm người ta mê đắm hơn tình yêu, nhưng có thứ làm mê đắm lòng người ngang với nó. Ví dụ như, tài nấu ăn của Dạ Hoa.

    Tuy không ngày ngày rên rỉ mong ngóng giống cục bột nhỏ, nhưng sự nhớ nhung Dạ Hoa trong lòng ta cũng như vậy.

    Ta nhớ buổi ban đầu mới gặp Dạ Hoa, ngoài khuôn mặt của hắn khiến ta hơi kinh ngạc, thì cũng không cảm thấy hắn có gì đặc biệt. Gần đây, nghĩ tới hắn là thái tử của Thiên tộc, cả ngày công việc bận bịu, mà vẫn chạy tới chỗ ta ở lỳ ba tháng làm đầu bếp, quả thật không dễ dàng gì.

    Dạ Hoa Quân này quả thực vừa thân thiết vừa hòa nhã. Đợi Dạ Hoa từ Thiên Cung quay về, ta và cục bột nhỏ cũng coi như được ăn no. Mê Cốc rất may mắn, mang quà tỳ bà tới đúng lúc chuẩn bị ăn cơm, ta bèn gọi lão qua ăn cùng, vui vẻ bảo lão: “A di đà Phật, không cần mang quả tỳ bà tới nữa rồi”.

    Vì duyên cớ ấy, cuối cùng ta đã hiểu ra những ngày không có Dạ Hoa sẽ khó sống biết bao. Ngày hôm sau nữa, ta hứng chí dán một tờ thông báo, sẽ tuyển một tiểu tiên ở Thanh Khâu làm đệ tử học nấu ăn của Dạ Hoa.

    Đám tiểu tiên mừng quýnh lên, sắp hai hàng dài trước cửa động Hồ Ly.

    Mê Cốc vui vẻ lắm: “Đã lâu rồi Thanh Khâu không náo nhiệt như thế, đã đông đúc thế này, e rằng phải đặt một lôi đài, để họ tỉ thí với nhau, mới có thể chọn ra được kẻ có nền tảng tốt để đưa đến điện thái tử học nghề”.

    Ta cho rằng lão nói rất đúng, bèn phê duyệt. Mê Cốc làm việc rất lanh lẹ, ta chỉ đi ngủ một giấc, tỉnh dậy lôi đài đã dựng xong.

    Trong thời gian ngắn, Thanh Khâu khói bếp chờn vờn. Cục bột nhỏ đứng trước động Hồ Ly không ngừng nuốt nước miếng, Dạ Hoa ngồi bên cạnh liếc ta hai cái, ánh mắt vô cùng cổ quái. Ta nhìn trái nhìn phải, thấy bên cạnh hắn còn một chiếc ghế trúc trống, bèn đi tới ngồi xuống.

    Cục bột nhỏ lập tức chạy tới ngồi lên đùi ta. Dạ Hoa dáng vẻ trễ nải, ngáp một cái: “Nghe Mê Cốc nói nàng muốn tuyển đệ tử cho ta?”.

    Ta gật đầu, đúng thế.

    Hắn nhìn đám tiểu tiện bận rộn đun đun nấu nấu trên lôi đài một lượt, rồi quay đầu nói với ta: “Bảo bọn chúng về đi, chẳng có ai có căn cốt gì cả”. Lại nhìn ta một lượt từ đầu tới chân, cười nói: “Theo ta nhìn, thì nàng cũng được đấy. Nhưng nàng không cần theo ta học, hai chúng ta một người biết làm là đủ rồi”.

    Nói xong liền thong thả đứng dậy đi về thư phòng.

    Mê Cốc lật đật chạy tới hỏi: “Vừa nãy thái tử điện hạ chỉ định người nào ạ?”.

    Ta hoang mang lắc đầu: “Bảo chúng về đi, hắn chẳng chọn được ai cả”.

    Sau sự kiện lôi đài bảy, tám ngày, buổi sáng hôm đó, ta ngồi trong thư phòng của Dạ Hoa vừa đọc truyện vừa cắn hạt dưa, Dạ Hoa ngồi trên ghế phê duyệt công văn. Ta ngờ rằng Thiên Quân trên Cửu Trùng Thiên đã an dưỡng tuổi già, chẳng màng chính sự, mới sai cháu ông ta ngày nào cũng bận rộn quay cuồng thế này.

    Hoa sen trong đầm bên ngoài cửa sổ đang mùa nở rộ, gió mát mơn man, những chú chuồn chuồn núp trong nhụy hoa khẽ đập cánh mang theo một mùi thơm mát lành. Mê Cốc dẫn cục bột nhỏ, ngồi trên một chiếc thuyền nhỏ bơi trong đầm đi nhặt lá sen. Lão nói đem những chiếc lá sen này phơi khô, chế thành một loại trà có mùi vị rất ngon. Tuy Mê Cốc nấu nướng không ra gì, nhưng hãm trà lại rất tuyệt, về phương diện này lão cũng có một chút đạo hạnh.

    Dạ Hoa đặt công văn xuống, đi đến mở cánh cửa sổ ra, cười nói: “Nàng lười biếng như thế, đầm hoa sen đều là tự sinh tự diệt, mà cũng có thể đẹp như vậy, chẳng kém gì Dao Trì trên Thiên Cung, thật là hiếm có”.

    Ta cười “ha ha” hai tiếng, thò tay bốc hạt dưa đưa cho hắn. Hắn xưa nay không bao giờ ăn thứ này, chỉ nhận lấy, ngồi xuống trước cửa sổ bóc rồi đưa nhân cho ta: “A Ly không có ở đây, nàng được lợi rồi”.

    Ta cảm kích đón lấy, trên hồ bỗng nhiên vọng tới tiếng gọi thất kinh của cục bột nhỏ. Ta thò nửa đầu ra, thì nhìn thấy Mê Cốc tung thân bay ra.

    Hầy, chắc có người tới làm loạn Thanh Khâu rồi.

    Ta vẫy vẫy tay với cục bột nhỏ đang ngồi một mình trên thuyền: “Tới đây ăn hạt dưa”.

    Nó ngồi giữa đầm sen, luống cuống khum tay, đáp: “A Ly, A Ly không biết chèo thuyền…”.

    Mê Cốc dâng lên quạt Phá Vân, đúng lúc ta đang đọc truyện đến đoạn gay cấn. Dạ Hoa lạnh lùng nói: “Chớp mắt một cái, thiếp của nhị thúc ta đã tìm tới cửa rồi”.

    Trong não ta điểm qua một lượt gia phả thần bí và hoành tráng nhà hắn, sau khi đã xác định vị trí của hắn, bắt đầu truy ngược lên xem nhị thúc của hắn là ai. Đến khi nhìn thấy chiếc quạt Phá Vân kia, ta mới đột nhiên nhớ ra nhị thúc của hắn chính là Tang Tịch – người đã từ hôn ta. Thiếp của nhị thúc hắn đương nhiên là Thiếu Tân.

    Lúc ở Đông Hải, niệm tình chủ tớ, ta đã từng ban cho Thiếu Tân một nguyện vọng, nói khi nào nàng ta nghĩ thông suốt thì có thể cầm quạt Phá Vân đến Thanh Khâu tìm ta. Lần này nàng ta đến, xem ra đã nghĩ thông suốt rồi.

    Mê Cốc sắc mặt tím tái dẫn Thiếu Tân đi vào. Ta nguýt lão một cái, bảo lão rằng cục bột nhỏ vẫn đang ngồi giữa hồ sen, lão “a” lên một tiếng, rồi nhảy thẳng qua cửa sổ.

    Dạ Hoa vẫn im lặng ngồi đọc công văn của hắn, ta cũng im lặng ngồi đọc truyện của ta. Thiếu Tân lặng lẽ quỳ dưới đất.

    Đọc xong cuốn truyện, là một câu chuyện đoàn viên của tài tử và giai nhân. Chén trà cũng đã cạn, ta bèn bước ra gian ngoài pha một bình, khi đi qua bàn của Dạ Hoa cũng thuận tiện cầm chén trà của hắn, coi như cho hắn được lợi lần này. Rót trà quay trở lại, Thiếu Tân vẫn lặng lẽ quỳ. Ta vô cùng kinh ngạc, uống một ngụm trà, cũng chẳng cần ra bộ thượng thần làm gì, cực kỳ nhẹ nhàng hỏi nàng ta: “Ngươi đã đến tìm ta, tất muốn hỏi ta cái gì đó, sao vẫn không nói, là cớ làm sao?”.

    Nàng ta ngẩng đầu nhìn Dạ Hoa một cái, lại cắn môi.

    Dạ Hoa cứ thong thả điềm tĩnh phê giấy tờ của hắn, ta lại đặt tách trà xuống, tiếp tục nhẹ nhàng hỏi: “Dạ Hoa Quân nào phải người ngoài, ngươi cứ nói thật ra”.

    Dạ Hoa ngẩng đầu, nửa cười nửa không, liếc ta một cái.

    Thiếu Tân chần chừ một lúc, cuối cùng dè dặt nói: “Cô cô, cô cô có thể cứu con trai Nguyên Trinh của Thiếu Tân được không?”.

    Đợi Thiếu Tân nước mắt nước mũi vòng quanh sụt sùi kể rõ mọi chuyện, ta mới hiểu được tại sao nàng ta lại có chút nghi kỵ với Dạ Hoa.

    Nguyên Trinh chính là con trai lớn của Tang Tịch và Thiếu Tân. Bây giờ Thiên Quân không còn coi trọng Tang Tịch nhưng cũng đối xử không tệ với thằng cháu Nguyên Trinh, mỗi lần Thiên Quân mở yến tiệc trên Cửu Trùng Thiên, đều dành cho đứa cháu này một chỗ.

    Mấy ngày trước lễ mừng thọ của Thiên Quân, Tang Tịch có dẫn Nguyên Trinh chuẩn bị quà mừng đến Cửu Trùng Thiên chúc thọ Thiên Quân. Trong cái đêm ngủ lại Thiên Đình, không ngờ Nguyên Trinh uống say, loạng choạng xông vào Tẩy Ngô cung, suýt chút nữa thì chòng ghẹo thứ phi Tố Cẩm của Tẩy Ngô cung.

    Ta đương nhiên biết thứ phi Tố Cẩm này là thứ phi của ai, liếc mắt nhìn Dạ Hoa, hắn lại đặt công văn xuống, chăm chú nhìn ta cười rất lạ kỳ. Trong lòng ta đắn đo, Dạ Hoa Quân quả nhiên không phải người bình thường, bị cắm sừng mà vẫn vui vẻ.

    May mà cái sừng này vẫn chưa mọc ra thật, Nguyên Trinh rốt cuộc vẫn dừng chân trước cánh cửa cuối cùng coi như là chòng ghẹo không thành. Nhưng thứ phi Tố Cẩm kia cũng cực kỳ tiết liệt, đã lấy ngay một dải lụa trắng treo lên xà nhà. Chuyện này đương nhiên kinh động đến Thiên Quân. Lúc trước, ta có nghe nói rằng Tố Cẩm vốn là phi tử của Thiên Quân, sau này được Dạ Hoa yêu mến, Thiên Quân xưa nay vốn sủng ái Dạ Hoa, bèn ban vị phi tử mới cưới không lâu cho Dạ Hoa.

    Ngẫm ra thì Thiên Quân hẳn có ít nhiều luyến tiếc vị phi tử này, nghe nói Nguyên Trinh trêu ghẹo nàng ta liền giận dữ lôi đình, lập tức sai bắt Nguyên Trinh lại, hạ chỉ đày y luân hồi sáu mươi năm, sáu mươi năm sau mới được thăng tiên trở lại.

    Thiếu Tân khóc than thảm thiết, luôn miệng nói Nguyên Trinh là một đứa trẻ ngoan ngoãn, lương thiện, đi đường thấy con kiến cũng chẳng dám giẫm chết, quyết không có chuyện phạm sai lầm ấy.

    Nhưng ta cho rằng, một kẻ lương thiện hay không lương thiện, thì cũng có liên quan gì tới việc y có háo sắc hay không.

    Rốt cuộc thì Nguyên Trinh vẫn phải đầu thai xuống phàm trần.

    Ta chạm nhẹ vào chén trà, cảm khái nói: “Tuy là chòng ghẹo chưa thành, trừng phạt cũng nặng quá, nhưng người mà con trai ngươi chòng ghẹo lại là thứ phi của Dạ Hoa Quân, nói gì thì Dạ Hoa Quân cũng ở động Hồ Ly suốt hai tháng, chăm lo chuyện ăn uống cho ta…”.

    Dạ Hoa lại cầm một cuốn sách mới lên, bình thản nói: “Không kể tới tình riêng của ta, thì việc lần này của Nguyên Trinh, ta cảm thấy xử phạt cũng hơi nặng một chút”.

    Ta kinh ngạc, nói: “Nhưng y cũng trêu chọc thứ phi của ngươi”.

    Hắn cười lạnh lùng: “Ta không có thứ phi nào cả”. Đoạn đứng dậy rót thêm trà, nhân thể đi qua cầm tách trà của ta.

    Ta càng kinh ngạc hơn, bên ngoài đồn đại rằng thứ phi Tố Cẩm rất được hắn sủng ái, chẳng nhẽ chỉ là nói chơi sao?

    Việc Thiếu Tân nhờ cậy cũng không phải quá khó. Nàng ta cũng đã nghe ngóng được sau khi Nguyên Trinh chuyển kiếp thành người phàm, năm mười tám tuổi sẽ gặp một kiếp nạn lớn, kiếp nạn này sẽ làm khổ y cả đời, nên nàng ta xin ta độ hóa cho kiếp số này của y, để y có thể bình an sống một đời.

    Nàng ta ủy thác chuyện này cho ta cũng có ngọn nguồn của nó. Vì thần tiên đều có thể thay đổi số mệnh của người phàm trần, nhưng lễ pháp của Thần tộc lại quy định rất khắt khe, tuy thần tiên có khả năng đó nhưng lại không có đất để dụng võ. Món nợ của Thiên Quân với nhà họ Bạch ta đến nay vẫn chưa trả hết, thế nên ta ra mặt nói vài câu, thì gần như ông ta sẽ mắt nhắm mắt mở coi chuyện lớn thành chuyện nhỏ mà thôi.

    Nguyên Trinh đầu thai vào nhà đế gia, họ Tống, tên gọi là Tống Nguyên Trinh, năm hai mươi tuổi được phong làm thái tử, không lo cơm áo, điểm này thật hay biết bao. Bây giờ vừa hay y mười tám tuổi, kiếp số đã gần đến.

    Nguyên mẹ của Nguyên Trinh ở cõi phàm là một kỳ nữ, vốn là con gái duy nhất của thái sư đương triều, năm mười lăm tuổi đã được vào hoàng cung, phong làm quý phi, ân sủng hiển hách, sau khi sinh hạ Nguyên Trinh thì đòi xuất gia. Hoàng đế chẳng có cách nào khác, đành dành một đạo quán phía sau hoàng thành cho nàng ta làm nơi tu hành.

    Hoàng quý phi xuất gia, hoàng tử theo lễ được bồng đến nuôi dưỡng trong hoàng cung. Tính cách của mẹ Nguyên Trinh rất quyết liệt, chết cũng không chịu giao Nguyên Trinh, liền dẫn y đến ở cùng trong đạo quán, cho đến năm Nguyên Trinh mười sáu tuổi, mới sai một đạo cô dẫn Nguyên Trinh quay về cung. Nhắc đến vị đạo cô đi cùng Nguyên Trinh này, chính là sư phụ của Nguyên Trinh, cũng chính là một tỳ nữ được cha thực sự của y – Bắc Hải Thủy Quân Tang Tịch sai đi trông nom y. Lần này ta đến cõi phàm bảo vệ Nguyên Trinh, giúp y qua kiếp nạn, bèn thế chỗ sư phụ của y.

    Sau khi bảo Thiếu Tân quay về, ta bắt đầu tính toán, trước tiên phải đến chỗ của Nam Cực Trường Sinh đại đế tìm Ti Mệnh Tinh Quân để đi cửa sau, nghe ngóng xem rốt cuộc kiếp nạn năm Nguyên Trinh mười tám tuổi là kiếp nạn gì, ngày nào giờ nào giáng xuống, ứng trên thân người như thế nào. Kiếp nạn này của Nguyên Trinh không phải là thiên kiếp, mà chỉ là kiếp nạn của số mệnh, không ứng vào thân là không sao.

    Nhưng, Nam Cực Trường Sinh đại đế lại không qua lại gì với ta, sáu vị Tinh quân thuộc hạ của lão ta còn chẳng biết mặt. Lần này khinh suất tìm đến, cũng không biết làm quen có thuận lợi hay không.

    Dạ Hoa ở bên cạnh vừa thu dọn sách vở vừa nói: “Ti Mệnh Tinh Quân tính tình quái đản, quyển sổ số mệnh trong tay lão ta, cho dù là Thiên Quân cũng chưa chắc đã mượn xem được. Nàng muốn xuống tay ở chỗ lão ta, e rằng khó mà làm được”.

    Ta chau mày chau mặt nhìn hắn.

    Hắn ngừng lại một lát, nhấp một ngụm trà, nói tiếp: “Hầy, ta có một cách, có điều…”. Ta lại nhìn hắn bằng ánh mắt vừa chân thành vừa thân thiết. Hắn cười nói: “Nếu ta giúp nàng lấy được cuốn sổ số mệnh đó, nàng phải nhận lời với ta một chuyện”.

    Ta nhìn hắn cảnh giác.

    Hắn bình thản nói: “Chỉ là lúc xuống cõi trần, nàng phải khóa đóng kín pháp lực lại, nàng nghĩ rằng ta đòi hỏi điều gì? Sửa đổi sổ số mệnh là chuyện phản nghịch thiên quy, cho dù Thiên Quân có mắt nhắm mắt mở, nàng lấy bao nhiêu pháp lực để sửa đổi số mệnh đó, thì chắc chắn bấy nhiêu pháp lực sẽ giáng trở lại thân nàng, điều này chắc nàng rõ hơn ta. Nàng tuy là thượng thần, nhưng bị pháp lực giáng trở lại mấy lần cũng là chuyện nghiêm trọng. Ngộ nhỡ đúng lúc ta kế vị ngôi báu Thiên Quân, nàng kế vị ngôi Thiên hậu, thì phải biết làm thế nào?”.

    Thiên đế Thiên hậu kế vị, tất phải chịu tám mươi mốt đạo hoang hỏa, chín đạo thiên lôi, qua được đại kiếp nạn này mới có thể giáng lâm bốn bể tám cõi, theo lệ đều như thế. Nếu như lần này mà để pháp lực của bản thân giáng trở lại thì đúng là sẽ mất mạng. Ta đắn đo suy nghĩ một hồi, cho rằng hắn nói đúng nên gật đầu đồng ý.

    Sau khi nhận lời mới nhận ra: “Ta và ngươi vẫn chưa thành thân, nếu như ngươi sắp phải kế vị Thiên Quân, thì ta cũng không thể cùng ngươi kế vị. Vẫn là ta phải thành thân với ngươi ngươi mới có thể kế vị”.

    Hắn đặt chén trà xuống, nhìn ta chăm chú, bật cười: “Có phải nàng đang trách ta còn chưa cầu hôn nàng?”.

    Ta bị hắn cười cho hoa mắt chóng mặt, khiêm tốn đáp: “Ta tuyệt đối đâu có ý đó, ha ha, tuyệt đối không có ý đó”.

    Dạ Hoa quả nhiên ngày đi vạn dặm, làm việc vô cùng năng suất, ngày hôm sau đã đem quyển sổ số mệnh của Ti Mệnh Tinh Quân đặt trước mặt ta. Đã từng được nghe hắn giảng giải quyển số này quý báu quan trọng ra sao, ta còn tưởng đem bán thể diện của hắn cùng lắm chỉ đổi lấy được bản sao, nào ngờ còn có thể đổi được bản gốc.

    Khi Dạ Hoa đưa cho ta quyển sổ, hắn thở dài hai tiếng.

    Khi đọc xong cuốn sổ số mệnh của Nguyên Trinh, ta cũng thở dài hai tiếng.

    Số mệnh rối rắm tít mù, trắc trở khó lường như thế này, kiếp này của tiểu đệ Nguyên Trinh cũng thật ly kỳ lắm thay.

    Theo như số mệnh viết, từ khi chào đời cho đến năm mười tám tuổi Nguyên Trinh sống rất bình an. Có hỏng thì hỏng đúng ở cái ngày mùng một tháng sáu năm y mười tám tuổi.

    Ngày mùng một tháng sáu, là ngày sinh của hộ pháp Vi Đà, hoàng đế cùng vui chơi với dân chúng trên sông Sấu Ngọc, dẫn theo một bầy phi tần quý nhân, thái tử Nguyên Trinh cũng nằm trong số đó. Đúng chính ngọ, trên sông Sấu Ngọc có một chiếc du thuyền lướt qua, trên du thuyền có một mỹ nhân thướt tha yểu điệu, xòe quạt che ngang mặt. Cảnh vui lên đến tột cùng, trên trời bỗng một con chim bằng rất lớn sà xuống, móng sắc đẩy chiếc du thuyền nhỏ một cái, chiếc du thuyền nhỏ liền bị lật, mỹ nhân ôm chiếc quạt kinh hãi kêu lên, “tòm” một tiếng rơi xuống dòng sông.

    Tiểu đệ Nguyên Trinh vì từ nhỏ đã ở trong đạo quán, tính tình hiền hòa, đương nhiên sẽ nhảy xuống sông trước tiên để vớt mỹ nhân lên.

    Trong chớp mắt cánh hoa trong gương trăng dưới nước, ánh mắt hai bên chạm nhau. Dù Nguyên Trinh nhìn thế nào thì mỹ nhân này vẫn là mỹ nhân, người khác đương nhìn cũng thấy nàng là mỹ nhân, ví như cha của thái tử, tức hoàng đế đương triều. Hoàng đế đương triều nhắm trúng mỹ nhân rơi xuống nước, sau đó ôm về hoàng cung, hầy, lâm hạnh (14) thôi!

    Tiểu đệ Nguyên Trinh đau khổ bi phẫn lại ấm ức, thầm than vắn thở dài suốt nửa tháng, tới ngày rằm tháng bảy cúng chúng sinh, xá tội vong nhân, tiểu đệ Nguyên Trinh uống hơi quá chén, không cẩn thận đã gian dâm với mỹ nhân được phong phi tử kia.

    Coi như chuyện chưa làm được trên trời, giờ đã được viên mãn.

    Tiểu đệ Nguyên Trinh là người vô cùng hiếu thuận, sau một đêm loan điên phượng đảo rất sung sướng, sáng hôm sau tỉnh dậy, thấy mình đã làm điều xằng bậy với vợ của cha thì quá sốc, lập tức đổ bệnh, chín tháng sau mới xuống giường được. Nhưng vì nghe thấy mỹ nhân kia sinh ra một đứa con trai, nghi ngờ đó là con của mình nên lại rụng rời chân tay mà đổ bệnh.

    Mỹ nhân muốn nối lại tình xưa với Nguyên Trinh, Nguyên Trinh thì ngày đêm cảm thấy xấu hổ với cha già, sự hổ thẹn giày vò này đã làm lụi tàn ngọn lửa tình yêu, Nguyên Trinh tỉnh ngộ.

    Mười năm sau, con trai của mỹ nhân đã khôn lớn. Hoàng đế bệnh nặng. Cho nên đứa con trai này lại tranh giành vương vị với Nguyên Trinh. Những rắc rối trong đó không cần phải bàn, Nguyên Trinh ngày hôm nay không còn là Nguyên Trinh hôm qua, đứa con trai của mỹ nhân đã chết dưới lưỡi kiếm của Nguyên Trinh. Tin tức bay đến tẩm điện của mỹ nhân, nàng treo cổ tự vẫn, lúc lâm chung còn để lại phong thư, nói đứa con chết dưới kiếm của Nguyên Trinh chính là con đẻ của y.

    Nguyên Trinh đọc xong phong thư đó bèn muốn một kiếm cắt ngang cổ, nhưng làm thế nào, cả hoàng triều chỉ lưu lại một nam đinh, chỉ còn cách chịu đựng đau khổ mà lên ngai rồng, tại vị đến năm sáu mươi tuổi.

    Như thế, tiểu đệ Nguyên Trinh từ khi cứu mỹ nhân bị rơi xuống sông vào ngày sinh của hộ pháp Vi Đà kia thì bắt đầu nếm mùi đau khổ. Mười tám, mười chín tuổi u uất buồn bã vì bản thân sao lại đem lòng yêu người thiếp của cha, sau năm mười chín tuổi lại âu sầu lo lắng đệ đệ của mình rốt cuộc lại là con trai của mình, năm ba mươi lăm tuổi tự tay đâm chết con trai của mình, sợ hãi khôn nguôi, hối hận vô hạn. Một chuỗi khổ đau ấy đều không cần giữ lại, chính mỹ nhân rơi xuống sông đó là kiếp số của tiểu đệ Nguyên Trinh.

    Ta đọc trang viết về Nguyên Trinh trong cuốn sổ số mệnh kia bảy, tám lần, từ trên xuống dưới, cảm thấy sự việc này sắp đặt quá kín kẽ, duy chỉ có con chim bằng lớn xuất hiện trên sông Sấu Ngọc, chốn trần gian mà có con chim bằng lớn như vậy sao?

    Dạ Hoa đặt một nửa xấp công văn đã đọc xong dưới cái chặn giấy, thong thả nhấp một ngụm trà: “Con chim bằng đó là mượn từ chỗ của Phật Tổ ở cõi Phật Tây Phương”. Hắn ngừng lại chẹp chẹp miệng rồi lại nói tiếp: “Nghe nói nhị thúc Tang Tịch của ta trước đây có chút khúc mắc với Ti Mệnh Tinh Quân, Ti Mệnh lần này quả là trả đũa nặng quá”.

    Ta khẽ run lên. Không ngờ Ti Mệnh Tinh Quân lại là kẻ thù dai đến vậy, lần này khó khăn lắm lão ta mới sắp xếp được màn kịch lớn, không biết ta trà trộn vào đám diễn viên đó tráo một vai, lão ta sẽ tính sổ với ta thế nào?

    Dạ Hoa thu lại quyển sổ số mệnh, liếc nhìn ta cười: “Nàng lo gì chứ? Lão ta vẫn còn nợ ta một món nợ nhân tình”.

    Lần này xuống trần là để làm chuyện chính sự, đương nhiên không thể dẫn theo cục bột nhỏ. Cục bột nhỏ lầm bầm giận dữ, hồi lâu mới hết.

    Trước khi ra khỏi cửa, ta thận trọng suy xét một lần nữa, cảm thấy giúp Nguyên Trinh tránh kiếp số, chỉ cần khuyên y ngày mùng một tháng sáu cáo ốm không đi chơi trên sông Sấu Ngọc là xong chuyện, thực sự chẳng cần dùng tới phép thuật. Cho dù gặp phải chuyện nguy hiểm gì, cứ trốn là xong. Cho dù trốn không nổi, phải đỡ một, hai đao, thì cũng không đến nỗi bị pháp lực giáng lại. Thân mang đầy phép thuật xuống phàm trần, ngộ nhỡ lúc nào đó không cẩn thận mà sử dụng, rồi lại để giáng lại bản thân thì gay go biết bao. Cho nên theo đề nghị của Dạ Hoa, để cho hắn đóng kín tiên thuật của ta lại.

    Sau khi xuống phàm trần, đúng lúc vị tiểu tiên nga được Tang Tịch bố trí ở bên cạnh Nguyên Trinh tới đón ta. Phải thay thế vị trí của nàng ta làm sư phụ thứ hai của Nguyên Trinh, đương nhiên phải thuận lợi qua cửa của mẹ y đã.

    Tiểu tiên nga của Bắc Hải trông coi Nguyên Trinh khá chặt, điều này đương nhiên là vì kiếp mệnh, nhưng mẹ của Nguyên Trinh lại rất coi trọng tiên nga này, lời nói cử chỉ đều tỏ ý tôn sùng, thể hiện rõ rằng bà ấy coi nàng ta là một cao nhân. Tiểu tiên nga dẫn ta đến trước mặt mẹ của Nguyên Trinh, phất chiếc phất trần, nói: “Trần duyên giữa bần đạo và điện hạ Nguyên Trinh đã dứt, cứ khinh suất mà đi thì thực không hay, may mà có sư tỷ đồng môn của bần đạo vân du ngang qua, nơi đây thắng cảnh, thực lòng hợp ý, bần đạo bèn nhờ sư tỷ thay bần đạo đến trông nom điện hạ, sư tỷ mấy trăm năm nay chưa từng ra khỏi sư môn, lần này cùng điện hạ Nguyên Trinh kết nghĩa sư đồ, ấy chính là vận may của điện hạ…”.

    Nàng ta nâng ta lên cao tít, mẹ của Nguyên Trinh động lòng ngay, chiều hôm đó liền gọi Nguyên Trinh tới.

    Đã là thần tiên chuyển thế, thì dù là người phàm trần, tiểu đệ Nguyên Trinh cũng có vài phần khí chất của thần tiên. Tuy mới sắp mười tám tuổi, nhưng nhìn đã rất thoát tục, rất chín chắn.

    Khi nhận đệ tử ở núi Côn Luân, tuy không có chút gì gọi là nho nhã quy củ, nhưng toàn thu nhận những kẻ tài mạo song toàn. Tiểu đệ Nguyên Trinh này tài thì ta chưa biết, nhưng tướng mạo thì rất khôi ngô, về mặt này coi như cũng không đến nỗi làm mất thể diện núi Côn Luân ta.

    Y hòa nhã chắp tay vái, còn chưa hành lễ bái sư đã gọi trước một tiếng “sư phụ”.

    Ta ngẩng đầu, nhìn y dò xét một lượt, cực kỳ hài lòng, gật đầu nói: “Cũng có vài phần căn cốt, có thể làm đệ tử của ta”.

    Mẹ của Nguyên Trinh hoan hỉ vô cùng.

    Ta cùng Nguyên Trinh về Đông cung của y, thái giám tổng quản cắt đặt cho ta một căn nhà thanh tịnh, coi như đã trà trộn thành công vào màn kịch lớn do Ti Mệnh Tinh Quân trên trời cao soạn ra.

    Ngày hôm sau nghe mấy thị nữ trong điện của Nguyên Trinh kháo nhau, rằng sáng sớm hôm qua hoàng đế nghe nói đạo cô bên cạnh thái tử cuối cùng đã rời đi, mặt rồng hớn hở, buổi chiều lại nghe nói đạo cô trước rời đi lại có đạo cô khác thay thế, mặt rồng hầm hầm, giận suốt buổi sáng, buổi chầu sớm nay còn trút giận lên đầu mấy vị đại nhân.

    Thực ra hoàng đế nổi giận cũng rất hợp lẽ. Số mệnh của ông ta hẩm hiu đường con cháu, cố gắng đến giờ mới chỉ có một đứa con trai là Nguyên Trinh. Đứa con trai này của ông ta phải là cột trụ trong những cột trụ của đất nước, nhưng lại bị vời hết đạo cô này đến đạo cô kia để dạy cho y làm phương sĩ trong những phương sĩ, nếu là ta, ta cũng sẽ giận dữ. Tuy ta và tiểu tiên nga của Bắc Hải đều không muốn hướng dẫn Nguyên Trinh tu tiên, nhưng y vốn là một thần tiên đầu thai xuống trần, nên cũng không cần tu hành gì cả.

    Vì hoàng đế đã có sự hiểu nhầm rất to lớn đối với sứ mệnh của ta, nên chẳng buồn gọi ta tới trình diện, vì thế ta đã vào cung bảy, tám ngày mà vẫn chưa được yết kiến hoàng đế.

    Tiểu đệ Nguyên Trinh cực kỳ tiến bộ, chắc là y nghĩ không thể nuôi không ta, nên ngày ngày đều mang một số sách về đạo pháp đến giày vò ta, xin ta giải đáp một số vấn đề khó. Những sách vở bàn về những đạo lý huyền diệu này là thứ khiến ta đau đầu nhất, ta tự cảm thấy mỗi lần nhìn thấy y là bị giảm tu vi ba năm trời.

    Ngày mùng một tháng sáu chỉ còn cách một tháng rưỡi nữa.

    Sống cùng Nguyên Trinh mấy ngày, ta cũng mò ra một đạo lý. Tiểu đệ Nguyên Trinh này thoạt nhìn rất hòa nhã, nhưng rốt cuộc vẫn là tâm tính của tuổi thiếu niên, có một chút gì mới mẻ, phàm là nếu bạn kêu y đi về phía đông, y liền đi về phía đông, nhưng nhân cơ hội bạn không chú ý, y sẽ lại đi về phía tây. Ví như ngày mùng một tháng sáu, nếu như ta nói thẳng toẹt rằng y đừng đi tới sông Sấu Ngọc, thì y nhất định sẽ hỏi rằng tại sao không thể đi, cho dù ta có tìm lý do gì để lấp liếm, thì y vẫn sinh lòng hiếu kỳ, không chừng sẽ lén đi đến xem rốt cuộc ra sao. Nên biết rằng biết bao số mệnh khổ sở, bi thảm ở dưới gầm trời này đều là vì cái sự xem rốt cuộc ra sao. Ta nghĩ đi nghĩ lại, đắn đo tới lui, cho rằng cách nói thẳng toẹt ấy cực kỳ không ổn. Việc lần này của Nguyên Trinh cần phải bẻ quặt đi một chút.

    Còn làm thế nào để bẻ quặt đi một chút, thì ta lại chẳng có tài cán như Ti Mệnh Tinh Quân, đây cũng là một vấn đề.

    Đến lúc đó, đợi mỹ nhân mang họa tới cho Nguyên Trinh theo số mệnh rơi xuống nước, ta sẽ tranh nhảy xuống nước cứu nàng ta trước? Hầy, nhỡ mệnh kiếp thay đổi, mỹ nhân yêu người anh hùng cứu nàng, rồi chuyển sang yêu ta, thì biết làm thế nào? Không được, không được.

    Đến lúc đó, tìm thêm mấy cô nương, đợi đến lúc mỹ nhân xuất hiện, sai các nàng ngồi trên du thuyền ở bốn phía đông tây nam bắc sông Sấu Ngọc cùng đồng loạt nhảy xuống, xem Nguyên Trinh có cứu nổi mỹ nhân trong cuốn sổ số mệnh kia không? Hầy, ngộ nhỡ cuối cùng Nguyên Trinh cũng cứu được một người, tuy không phải là người viết trong cuốn sổ số mệnh, nhưng vận mệnh lại chuyển lên người mà Nguyên Trinh cứu được, vậy phải làm thế nào? Không được, không được.

    Cả ngày ta lao tâm khổ tứ, vô tình soi gương, cảm thấy gần đây dáng vẻ của mình trông cực kỳ cao thâm khó dò.

    Chớp mắt đã đến ngày mùng một tháng năm.

    Đêm ngày mùng một tháng năm, ta vẫn chong đèn suy ngẫm như mọi khi. Suy ngẫm tới canh hai, cảm thấy đêm đã khuya nên đi ngủ, bèn mở mắt thổi đèn. Vừa mở mắt đã nhìn thấy Dạ Hoa – đáng nhẽ phải đang ở Thanh Khâu, tay bưng tách trà ngồi đối diện, nghiêm trang nhìn ta.

    Ta chần chừ hồi lâu, ngỡ rằng mình đang ngủ mơ.

    Hắn nhấp một ngụm trà, mỉm cười nói: “Thiển Thiển, mấy ngày không gặp, ta nhớ nàng biết bao, nàng có nhớ ta không?”.

    Ta nghe thấy mà lảo đảo, lồm cồm ngồi lên.

    Hắn chống tay vào má, trách móc: “Nàng vui quá hóa điên hay sao?”.

    Ta im thin thít, bò từ đất leo lên giường đi ngủ.

    Dạ Hoa đưa tay ra ngăn ta lại, cười nói: “Nàng đừng vội ngủ, lần này ta đến để nói cho nàng biết một chuyện lớn, nàng có biết người cha phàm trần của Nguyên Trinh ở kiếp này, là ai thác sinh không?”.

    Ta rất buồn ngủ, bèn lười nhác đáp: “Là ai thác sinh? Miễn không phải Thiên đế ông nội ngươi thác sinh là được”.

    Hắn quay người, ngồi lên mép giường ngăn ta lại, rồi nằm ườn ra, nhân tiện còn vỗ vỗ vào chỗ bên cạnh, ta suy nghĩ giây lát, rồi cũng ngồi xuống.

    Hắn lại tiện tay với một tách trà trên bàn đưa cho ta: “Tỉnh táo lại đi, tuy không đến nỗi là ông nội ta, nhưng cũng không kém đâu, không chừng còn là người quen của nàng”.

    Ta chăm chú lắng nghe.

    Hắn thong thả nói: “Thiếu Dương Quân của phủ Đông Hoa Tử”.

    Ngụm trà trong miệng ta lập tức phun qua lỗ mũi.

    Khụ, khụ, khụ, người cha kiếp này của tiểu đệ Nguyên Trinh, lại là, lại là Đông Hoa Đế Quân.

    Đúng là người quen thật.

    Đối với vị Đế Quân này, bản thượng thần đúng là sấm quen tai, quen tai vô cùng.

    Hồ ly đỏ Phượng Cửu đã yêu đơn phương Đông Hoa Đế Quân suốt hơn hai nghìn năm, mỗi lần uống say lại lảm nhảm bên tai ta Đông Hoa thế này Đông Hoa thế kia, đến tận bây giờ ta không cần dùng não suy nghĩ cũng có thể kể vanh vách những chuyện liên quan đến y như thể đếm châu báu trong nhà. Nhưng đứa con gái duy nhất của Bạch Dịch – nhị ca của ta, đứa cháu gái duy nhất của ta Phượng Cửu, lần nào cũng vì Đông Hoa này mà uống say mèm. Tiếc thay cho rượu ngon của Chiết Nhan đều được đem cho nó giải sầu.

    Vị Đông Hoa Đế Quân là này là chúa của muôn thần, địa vị trong Thiên tộc chỉ kém mỗi Thiên Quân, chủ yếu quản lý tiên tịch. Yêu tinh, người phàm hễ mà thành tiên, đều phải được một tiếng của y. Đám thần tiên từ thượng tiên trở xuống muốn thăng phẩm trật cũng phải thăm hỏi qua vị Đế Quân này.

    Đông Hoa Đế Quân là một thần tiên thanh tịnh vô vi, không ham không muốn, lạnh lùng đường hoàng chính trực. Cha ta chưa từng khen ai, vậy mà cũng khen y một lần: “Thần tiên trong khắp bốn bể tám cõi, không có ai có sánh được với y”.

    Dưới phàm trần có một thi nhân rất nổi tiếng, có lần được may mắn thấy Đông Hoa Đế Quân xuất hành, bèn làm thơ ca tụng Đông Hoa, trong đó có mấy câu giờ ta vẫn còn nhớ, thơ rằng: “Ánh mặt trời ấm áp sắp ló ra ở phương đông, chiếu trên lan can bằng gỗ dâu của ta. Chú ngựa ta cưỡi chầm chậm thả bước, Đêm đen đã sáng bạch rồi. Ngồi trên thuyền rồng, cưỡi tiếng sấm, bay vào giữa chỗ cờ mây phần phật. Thở dài một tiếng mà bay lên trời cao, âu lo quẩn quanh chẳng nỡ rời nơi ở, vầng sáng mặt trời thực làm lay động lòng người, người ngắm ngây ngất quên cả đường về (15)”.

    Bài thơ này đã miêu tả Đông Hoa hết sức hoa lệ siêu thực, đại để cũng vì người trần nhìn thần tiên cũng phải cách một tầng ánh sáng, chứ thực ra tính tình Đông Hoa cũng rất hài hòa giản dị.

    Khi Phượng Cửu chỉ là một tiểu hồ ly, tiên thuật chưa tinh thông, nhưng to gan lớn mật, thường thường trốn khỏi phủ động của nhị ca. Có lần bị yêu tinh đầu hổ nhìn thấy, suýt chút nữa đã chết dưới móng vuốt của con hổ tinh này, thì được Đông Hoa Đế Quân cứu mạng. Ấy chính là nguồn duyên.

    Sau này Phượng Cửu dần dần trưởng thành, tình cảm với Đông Hoa càng ngày càng sâu đậm, thể hiện cũng càng rõ ràng hơn. Còn hạ mình làm tiểu tiên tỳ trong phủ của Đông Hoa Đế Quân suốt mấy trăm năm. Đông Hoa lạnh lùng, còn Phượng Cửu đau lòng, khoảng hơn chục năm trước mới bắt đầu dứt tình với Đông Hoa.

    Ta rất ngạc nhiên, Đông Hoa Đế Quân uy vũ chẳng sợ, phú quý chẳng ham, cương trực không theo, nữ sắc chẳng màng này sao lại phạm phải tội gì đến nỗi bị đày xuống trần gian?

    Dạ Hoa ngả người tựa vào thành giường, cười nói: “Không phải Đông Hoa Đế Quân bị Thiên Quân bắt xuống trần, mà là y chủ động đòi xuống, nói là muốn xuống trần gian thể nghiệm một phen sáu nỗi khổ của đời người (16): sinh lão bệnh tử, oán hận lại gặp nhau, yêu đương phải biệt ly, cầu mà chẳng được. Cho nên ta mới lén đi một chuyến, báo cho nàng hay tin này, khi nàng thay đổi số mệnh của Nguyên Trinh, thì cũng chớ động đến số mệnh của Đông Hoa Đế Quân”.

    Dạ Hoa buông một tràng, khiến tâm tư ta lúc buồn lúc vui. Vui bởi đã bao năm qua, hiếm có được một vị tiên cao ngạo chính trực như Đông Hoa Đế Quân. Nhưng buồn bởi, có thể thuận lợi bảo vệ Nguyên Trinh trải qua kiếp số mỹ nhân này hay không còn chưa biết, mà không được can hệ đến đương sự trực tiếp trong mối nghiệt chướng đào hoa này, thực khó lắm thay.

    Dường như bên ngoài đang nổi gió to, gió thổi rào rào qua song cửa, ta buồn bã đứng dậy đi đóng cửa sổ, quay trở lại bên giường, Dạ Hoa đã cởi áo khoác chui vào chăn.

    Ta trợn mắt há mồm nhìn hắn.

    Hắn lại đập đập lên giường, quay đầu lại hỏi ta: “Nàng ngủ bên trong hay ngủ bên ngoài?”.

    Ta nhìn giường rồi lại nhìn xuống đất, thành thực đáp: “Ta nên ngủ đất thôi”.

    Hắn khẽ nói: “Nếu như ta có ý muốn làm gì nàng, cho dù nàng nằm giường hay nằm đất thì kết quả vẫn vậy thôi. Nếu như nàng còn pháp lực thì liều mạng đánh với ta một trận, đại khái cũng có thể “lưỡng bại câu thương”, hầy, nhưng pháp lực của nàng chẳng phải đã bị ta đóng kín rồi sao? Thứ lỗi cho ta đoán bậy, Thiển Thiển nàng làm như vậy chính là “muốn ăn gắp bỏ cho người” đấy.

    Ta lau mồ hôi đang lấm tấm trên trán, giở chăn với vẻ cực kỳ thân mật: “Dạ Hoa Quân nói gì thế, chỉ là ta sợ chiếc giường này nhỏ quá làm phiền đến ngài thôi, ha ha… mời ngài lên trước, mời ngài lên trước, ta quen nằm ngoài rồi”.

    Hắn nửa cười nửa không, liếc ta một cái: “Vậy phiền nàng tắt đèn nhé”.

    Vì thế, ta và Dạ Hoa kẻ nằm trong người nằm ngoài cũng ngủ ngon một đêm.

    Khu nhà mà ta đang ở gọi là Tử Trúc Uyển, sở dĩ được đặt tên như vậy là vì trong ngoài khu nhà đều trồng đầy trúc. Ngày hè mát mẻ, đêm hè lại càng mát mẻ hơn. Chỉ một chiếc giường đơn chăn mỏng, ta và Dạ Hoa không chỉ cùng chung giường chung gối mà còn phải đắp cùng chăn. Ta nằm trên mép giường, xoay lưng lại với hắn, chân tay đều thò ra ngoài chăn, lại chẳng có tiên khí hộ thân, nên bị lạnh đến mức ho khụ khụ.

    Dạ Hoa thở rất sâu, có lẽ đã say ngủ, trên người còn vương hương hoa đào thoang thoảng. Cảnh này tình này đúng thực gay go khôn xiết, ta trằn trọc bên mép giường, lần đầu tiên thấy đêm dài dằng dặc như thế này.

    Dạ Hoa trở mình. Ta vội vàng lăn lại sát mép giường.

    Sau lưng, Dạ Hoa cất tiếng hỏi: “Nàng có muốn ta ôm nàng ngủ không?”.

    Ta đờ người ra trong giây lát.

    Hắn không nói gì, lại trở mình, ta lại dịch qua mép giường theo phản xạ có điều kiện.

    “Kịch” một tiếng, đã bị rơi xuống gầm giường rồi.

    Hắn cười “phì” thành tiếng: “Nhìn xem, vừa nãy ta còn nghĩ, nếu như ta không ôm nàng, đêm nay nàng rơi khỏi giường lúc nào không biết, quả nhiên là vậy”.

    Ta ủ rũ nói: “Là chiếc giường này quá nhỏ, giường quá nhỏ”.

    Hắn bế phốc ta lên giường, đẩy vào bên trong: “Đúng thế, hai chúng ta nằm thẳng, ở giữa lại chỉ đủ cho ba, bốn người nằm, chiếc giường này quả thực quá nhỏ”.

    Ta đành cười khan hai tiếng.

    Vì nằm bên trong nên thành thế dễ công khó thủ, ta trằn trọc không yên, còn Dạ Hoa thì dựa ta sát sàn sạt, mùi hoa đào từng trận từng trận phả tới, đêm nay bản thượng thần đúng là chịu khổ hình dưới mười tám tầng địa ngục của U Minh Ty đây mà.

    Ta đương sầu não muốn chết thì Dạ Hoa đột nhiên quay người nhìn thẳng vào ta.

    Ta kinh ngạc nhìn hắn.

    Hắn thờ ơ nói: “Nhớ ra một chuyện”.

    Ta nín thở.

    Hắn nói: “Thiển Thiển, nàng có biết Tư Âm Thần Quân không?”.

    Ta ngẩn ra, kéo chăn lên: “Hầy, đệ tử thứ mười bảy của thượng thần Mặc Uyên núi Côn Luân, có nghe nói qua, nhưng chưa có duyên hội ngộ. Bảy vạn năm trước sau loạn Quỷ tộc, nghe nói đã cùng thượng thần Mặc Uyên quy ẩn”.

    Dạ Hoa thở dài: “Ta cứ ngỡ nàng biết nhiều hơn thế”.

    Ta ngáp một cái: “Chẳng lẽ có ẩn tình chi?”.

    Hắn đáp: “Loạn Quỷ tộc diễn ra, khi đó Thiên Quân vẫn còn là thái tử, khi nhỏ ta thường nghe Thiên Quân nói, ta có thần thái giống với thượng thần Mặc Uyên kia”.

    Ta cũng thầm tán thành, gật đầu một cái, không chỉ là thần thái giống, mà hình dáng cũng giống.

    Hắn tiếp tục kể: “Tuy trong sử sách không ghi chép, nhưng theo lời của Thiên Quân, trong đại loạn Quỷ tộc năm đó, thượng thần Mặc Uyên đã tan thành tro bụi, mãi mãi không thể cùng thượng thần Tư Âm quy ẩn. Khi ấy, lão Thiên Quân sai mười tám thượng tiên đến núi Côn Luân lo liệu hậu sự cho thượng thần Mặc Uyên, nhưng bị Tư Âm Thần Quân cầm quạt thổi bay đi mất, mà sau đó đại đệ tử núi Côn Luân có bẩm báo lên trên, rằng Tư Âm Thần Quân cùng tiên thể của thượng thần Mặc Uyên biến mất”.

    Ta làm bộ kinh ngạc, kêu lên: “Hóa ra là vậy”.

    Mà trong lòng đau đớn trùng trùng. Hắn gật gật đầu: “Bảy vạn năm qua chưa từng tìm thấy tung tích của Tư Âm Thần Quân, gần đây, nghe nói Quỷ Quân Ly Kính của Quỷ tộc lại sai thuộc hạ đi tìm vị thần quân này. Hôm qua một vị Khôi tinh dưới trướng dâng lên ta một bức họa Tư Âm Thần Quân, nghe nói do chính tay Quỷ Quân Ly Kính vẽ”.

    Tim ta đập thình thịch.

    Quả nhiên hắn nói: “Thiển Thiển, vừa mới nhìn, ta còn tưởng đó là nàng giả nam”.

    Ta cười ha ha: “Hóa ra là vậy. Nếu thế thì trên đời này có hai người giống ta như tạc. Tuy vị Tư Âm Thần Quân này ta không quen, nhưng vương hậu mà Quỷ Quân Ly Kính cưới năm đó cũng có chút máu mủ tình thân với nhà họ Bạch ta. Vương hậu của hắn chính là tiểu muội muội của đại tẩu ta, ngươi có thể gặp xem, người đó đúng là giống hệt ta”.

    Hắn trầm ngâm giây lát, chậm rãi nói: “Ô? Hóa ra là vậy, phải gặp mới được”.

    Ta “ừ” một tiếng.

    Hắn cười: “Hình như ta nghe thấy nàng đang nghiến răng? Muội muội của đại tẩu nàng dù có giống nàng, nhưng dứt khoát cũng chẳng thế có được thần thái phong vận của nàng, đúng không?”.

    Ta ngẩng đầu nhìn đình màn, ngáp một cái, không đáp lại lời hắn. Năm đó, là ta không có được thần thái phong vận của nàng ta.

    Dạ Hoa thiếp đi rất nhanh, ước chừng chỉ bằng khoảng thời gian nhấp nửa chén trà đã không thấy tiếng người. Hắn được dạy dỗ rất tử tế về phép tắc khi ngủ, không ngáy cũng không nghiến răng, chân tay cũng không quờ quạng. Ta khổ sở chống chọi được hai canh giờ, cuối cùng sau nửa đêm cũng mơ màng ngủ. Trong lúc nửa tỉnh nửa mê, đột nhiên mông lung nhớ ra một chuyện gì đó rất quan trọng, đến khi nghĩ kỹ lại, thì thần trí đã không được tỉnh táo nữa rồi.

    Đêm đó, dường như có đôi bàn tay, lành lạnh, dịu dàng ve vuốt mắt ta.

    Chú thích:

    14. Cung nữ, phi tần được vua chúa gọi đến giao hợp thì gọi là lâm hạnh (ND).

    15. Trích trong bài Đông Quân, Sở từ, do Khuất Nguyên sáng tác. Nguyên tác: Thôn tương xuất hề đông phương, Chiếu ngô hạm hề Phù Tang. Phủ dư tư hề an khu, Dạ phách phách hề ký minh. Hạ long chu hề thừa lôi, tải vân kỳ hề ủy xà. Trường thái tức hề tương thượng, tâm đễ hồi hề cố hoài. Khương thanh sắc hề Ngu nhân, quan giả chiêm hề vong quy (ND).

    16. Sáu nỗi khổ của đời người, tức “lục khổ” theo quan niệm Khổ đế của Phật giáo: Sinh, lão, bệnh, tử, xa lìa điều mình ưa thích, không đạt được sở nguyện của mình đều là khổ (ND).

  2. #10
    Đang học vỡ lòng Nhật Minh's Avatar
    Tham gia ngày
    Aug 2016
    Bài gởi
    120
    Đô
    1,238
    Tài khoản Tiết Kiệm
    0
    Cảm ơn / Thích
    Blog Đã Viết
    5
    Đề cập
    2 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Default

    Chương 10: Cháu gái Phượng Cửu của ta

    Dạ Hoa thực quá quắt.

    Đây không phải là Thanh Khâu, đâu có lý gì mà ta phải đi dạo cùng hắn, ngủ nướng trên giường thêm một canh giờ thực hợp tình hợp lý, vậy mà hắn lại nằng nặc lôi ta dậy bằng được.

    Xiêm y trên người hôm qua đã nhăn nhúm không ra thể thống gì, ta ngại thay, bèn dựa một bên, rót chén trà lạnh, đưa lên miệng rồi ngáp dài một cái.

    Dạ Hoa có vẻ rất phấn chấn, mặc áo khoác, thắt đai cẩn thận, mới ngồi trước gương đồng, bình thản nói: “Được rồi, nàng qua đây chải đầu búi tóc cho ta”.

    Ta ngẩn ra: “Ngươi đang sai ta?”.

    Hắn cầm lấy chiếc lược gỗ: “Nghe Mê Cốc nói, nàng búi tóc rất đẹp”.

    Ta búi tóc rất đẹp đúng là không sai, trong động Hồ Ly không có nữ tỳ phục vụ, tứ ca lại không tự chải đầu bao giờ, cho nên đều là nhờ ta búi tóc. Ngoài những kiểu cách bình thường ra, nếu tứ ca đến rừng đào mười dặm tìm Chiết Nhan, thì ta còn biết chải một số kiểu đầu mới, mỗi lần Chiết Nhan nhìn thấy đều tỏ ra thích thú. Nhưng khi Dạ Hoa ở Thanh Khâu, hắn chưa bao giờ búi tóc, mà chỉ lấy một dải lụa, buộc túm đằng sau thật gọn, nhìn trông rất dịu dàng.

    Hắn cười tươi rói, đưa chiếc lược gỗ cho ta: “Hôm nay ta phải tham kiến Thiên Quân, không thể không chỉnh tề được”.

    Dạ Hoa có mái tóc rất đẹp, mềm mại, trơn bóng, khi chải chiếc lược gỗ trôi tuột xuống dưới, rất tiết kiệm công sức. Nhưng khi búi thành búi trên đỉnh đầu thì lại rất khó.

    Trên bàn trang điểm có một cây trâm ngọc, một chiếc mũ ngọc. Cầm cây trâm gài tóc lại, sau đó đội mũ ngọc lên trên, ô, lâu không tập luyện mà ngón nghề này vẫn chưa đến nỗi vụng.

    Trong gương đồng, Dạ Hoa đương mỉm cười nhìn ta.

    Ta nhìn trái ngó phải, cảm thấy kiểu tóc này tôn được vẻ khôi ngô tuấn tú, thần thái uy nghiêm của hắn, không cần phải sửa thêm gì nữa, bèn hài lòng để chiếc lược xuống bàn trang điểm.

    Trong gương đồng, Dạ Hoa vẫn mỉm cười. Bàn tay phải cầm chiếc lược của ta đã bị hắn giữ chặt.

    Hắn khẽ giọng nói: “Trước đây nàng…”. Đôi mắt ánh lên một điều gì đó, lãnh đạm, tựa như nước lặng đổi dòng.

    Ôi, không phải hôm nay hắn, hắn nổi cơn điên đấy chứ?

    Tư thế “kỹ thuật cao” ta cúi lưng ngang người, giữ nguyên tay trái trên vai hắn, tay phải bị hắn giữ chặt trên bàn trang điểm này, thật khổ sở để chuẩn bị lắng nghe chuyện trước kia của hắn.

    Hắn chầm chậm thả tay ta ra, nói đến “trước đây” rồi im bặt, chỉ cười cười, rút một chuỗi ngọc từ trong tay áo ra đeo lên tay ta, dáng vẻ hơi ủy mị.

    Ta đương nhiên biết đó là chuỗi ngọc gặp dữ hóa lành.

    Trước gương đồng, hắn từ từ đứng dậy, gượng cười: “Nàng hãy đeo chuỗi ngọc này vào, bây giờ nàng chẳng khác một người phàm trần, tuy sẽ không đến nỗi gặp phải đại họa gì, nhưng cũng khó tránh được bất trắc”.

    Ta nhìn dáng vẻ nửa mừng nửa lo của hắn hôm nay, dường như có một điều gì đó khác với ngày thường, không đáp lại, mà nhận lời hắn.

    Hắn gật đầu, đưa tay khẽ vuốt mặt ta, nói: “Vậy ta về Thiên Cung đây”. Đoạn lại nói, “Đêm qua bận chuyện quan trọng, quên không nói với nàng, đợi đến ngày mùng một tháng sáu, khi kiếp mệnh tới, nàng cố gắng hết sức ngăn Nguyên Trinh lại, sai một người ngầm đẩy Đông Hoa Đế Quân xuống nước, nếu khi ấy Đông Hoa Đế Quân cứu được cô gái ngã xuống nước ấy, thì Nguyên Trinh được giải thoát, mà cũng không cản trở Đông Hoa Đế Quân thể nghiệm nỗi khổ của nhân sinh, như thế thì mọi người đều vui vẻ”.

    Nói xong quay người mất dấu luôn.

    Ta nghĩ đến câu nói đầu tiên và tự hỏi rốt cuộc đêm qua hắn bận chuyện trọng đại gì, nhưng lại chẳng nhớ ra điều gì hợp lý, nên lại ngẫm nghĩ về mấy câu sau cùng của hắn.

    Ngoan nào, đây đúng là cách hay. Vẫn là người ngoài sáng suốt, ta nghĩ tới nghĩ lui mấy ngày nay, cuối cùng lại thành hồ đồ mất rồi.

    Giải quyết xong chuyện đau đầu này, ta cảm giác như đã trút được tảng đá đè trên người nửa tháng nay, toàn thân nhẹ nhõm phơi phới.

    Cho nên ta cũng thảnh thơi ngồi xuống uống trà.

    Trà mới uống được nửa chén, thì bỗng nghĩ tới chuyện mà ta nhớ ra trong lúc mông lung đêm qua.

    Một chuyện cực kỳ chết tiệt.

    Mê Cốc từng nói Phượng Cửu xuống phàm trần báo ơn, khi ấy chỉ nói là nó nhận một mối ơn tình của một người phàm nào đó, phải đi đền đáp một phen, nên ta cũng không để tâm. Bây giờ ngẫm lại, Phượng Cửu đã hơn ba nghìn tuổi, nhưng tổng cộng chỉ nhận một đại ân của Đông Hoa. Khi làm thần tiên, Đông Hoa cao minh hơn Phượng Cửu biết bao nhiêu, đương nhiên nó muốn báo ơn cũng không báo nổi. Bây giờ nó lại đến phàm trần báo ơn, chẳng phải là đi tìm chuyển kiếp của Đông Hoa hay sao? Khó khăn lắm nó mới có thể rũ sạch mầm duyên với Đông Hoa, hai người họ sắp lại trùng phùng trong mấy ngày, mầm duyên đã đứt nay lại sắp nẩy lại rồi… Nhị ca, nhị tẩu của ta mà biết thì sẽ ra sao.

    Nghĩ tới đây, ta vội vàng bật dậy thay xiêm y chạy ra sân. Lần này phải chủ động đi tìm tiểu đệ Nguyên Trinh mỗi lần gặp làm giảm tu vi ba năm của ta, thăm dò y xem nửa năm trước có một thiếu nữ giữa trán có một cái bớt hoa như lông chim phượng tiến cung hay không.

    Mẹ của Phượng Cửu thuộc tộc Hồ ly đỏ, năm đó mẹ nó thành thân với nhị ca ta, ta đồ rằng họ sẽ sinh ra một con hồ ly vằn đỏ vằn trắng. Nhưng chẳng ngờ mẹ Phượng Cửu hoài thai ba năm, cuối cùng sinh hạ một tiểu hồ ly toàn thân có màu đỏ tươi như máu bồ câu, chỉ có khoang tai và bốn chân là màu trắng, đáng yêu vô cùng. Đến khi tiểu hồ ly này đầy tuổi hóa thành hình người, giữa trán có một cái bớt hoa như lông chim phượng. Tuy cái bớt này nhìn rất đẹp, nhưng khi biến hình lại rất phiền phức, chỉ cần là biến thành hình người, cho dù hình dáng ra sao đều có cái bớt này. Nhị ca ta lười nhác, vì có cái bớt hình lông phượng, vì tiểu hồ ly này sinh vào tháng chín, nên khi đầy tuổi đã đặt cho nó cái tên không nhã cũng không tục là Phượng Cửu, thêm họ Bạch nhà ta vào, đầy đủ là Bạch Phượng Cửu. Đám tiểu tiên của Thanh Khâu đều gọi ta là cô cô, sở dĩ là gọi theo Phượng Cửu.

    Tiểu đệ Nguyên Trinh đúng là rất thiêng, ta vừa mới chạy ra cửa thì gặp y cầm hai cuốn kinh văn bước tới, nhìn thấy ta, hai mắt y sáng lên, cung kính gọi một tiếng sư phụ.

    Lúc trước đã nói, tiểu đệ Nguyên Trinh này có tính hỏi cặn kẽ ngọn nguồn, không thể khinh suất hỏi y chuyện Phượng Cửu, ta đắn đo trong lòng một hồi, mới kéo hắn đến ngồi lên một chiếc ghế đá.

    Nguyên Trinh hắng giọng, nói: “Cổ sư phụ sao thế, nhìn giống như, giống như…”.

    Ta kinh hãi sờ lên cổ mình, nhưng không cảm thấy gì khác lạ.

    Y lấy một chiếc gương đồng từ trong tay áo ra, ta cầm lấy soi thử, trên cổ có vết đỏ giống như muỗi cắn.

    Con muỗi này to gan thật, dám hút máu bản thượng thần ta.

    Nhưng để hút thành công, nó phải dùng đến một vạn tám nghìn năm, đến lúc tu thành muỗi tiên cũng không chừng. Hầy, nó đúng là một con muỗi có phúc.

    Ta gật gật đầu than thở: “Đây là một vết đỏ nhỏ không đáng nhìn, nhưng con lại thấy, có người từng nói con có tấm lòng lương thiện, đến con kiến cũng chẳng nỡ giẫm, xem ra không sai”.

    Nguyên Trinh đỏ mặt nhìn ta: “A?”.

    Ta tiếp lời: “Con nên biết rằng, việc không thể giẫm kiến khi đi đường, không chỉ cần tới một tấm lòng lương thiện, mà còn cần tinh tế. Tấm lòng lương thiện và tinh tế thực ra là một”.

    Nguyên Trinh đứng bật dậy, làm dáng vẻ đang thụ giáo.

    Ta sờ cằm rồi giảng giải rất sâu xa: “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn tượng. Vạn tượng đều từ không mà có, từ không sinh ra có, chính là sự linh hoạt tinh tế và tỉ mỉ. Học đạo rất cần tinh tế, tỉ mỉ. Hôm nay vi phụ muốn kiểm tra trình độ tinh tế của con (17)”.

    Nguyên Trinh nghiêm trang đáp: “Xin sư phụ chỉ dạy”.

    Ta thong thả nói: “Con sống trong đạo quán đến năm mười sáu tuổi, sau năm mười sáu tuổi con sống trong hoàng cung, vi sư cũng không muốn làm khó con, chỉ hỏi con có hai câu, một câu về đạo quán, một câu về hoàng cung”.

    Dường như Nguyên Trinh dỏng hết tai lên.

    Ta trầm ngâm nói: “Trong tòa đạo quán con ở thuở nhỏ, có một đạo cô mặc đồ trắng, vị đạo cô này thường dùng một cây phất trần, ta muốn hỏi con rằng cây phất trần này dùng gỗ gì làm thành?”.

    Y nghĩ mãi mà không ra.

    Ta lại hỏi: “Không cần trả lời vội, còn một câu nữa, trong vương cung của con hiện có một người, trên trán có một cái bớt hình lông phượng, ta muốn hỏi con xem, nàng ta hiện ở đâu, giữ chức gì, khuê danh ra sao?”.

    Y trầm tư lúc lâu, rồi mới đáp: “Nguyên Trinh kém hiểu biết, khi ở trong đạo quán, chưa từng thấy vị đạo cô mặc đồ trắng mà sư phụ nhắc tới, trong đạo quán cũng có một đạo cô thi thoảng mặc đồ trắng, nhưng không phải lúc nào cũng mặc đồ trắng. Còn người có cái bớt hình lông phượng ở giữa trán thì Nguyên Trinh có biết, đó là Trần quý nhân sống trong Hạm Đạm viện (Hạm Đạm là hoa sen). Trần quý nhân này trước đây trên trán không có vết bớt hình lông phượng, tháng chạp năm ngoái ngã xuống hồ sen bệnh một trận, thuốc thang mà không thuyên giảm, cứ ngỡ là hương tan ngọc vỡ, sau này bỗng khỏe lại, sau đó trên trán cũng xuất hiện vết bớt hình lông phượng. Một chân nhân do mấy phi tần mời đến phán rằng vết bớt đó là do yêu khí làm nên. Phụ hoàng tuy không tin, nhưng từ đó cũng lạnh nhạt với Trần quý nhân, còn khuê danh của Trần quý nhân, quả thực đệ tử cũng không rõ”.

    Hầy, quả nhiên Phượng Cửu đã chạy theo Đông Hoa rồi.

    Nhưng tên chân nhân lừa ăn gạt uống đó lại coi vết bớt hoa trên trán một nữ thần thành yêu khí, hắn thật có bản lĩnh.

    Nguyên Trinh nhìn ta lo sợ

    Ta gật đầu nói: “Ừm, tinh tế được như vậy cũng là hiếm có, nhưng tu hành rèn luyện đạo pháp, con cần tinh tế, tỉ mỉ hơn nữa. Thôi, con về đi, hôm nay tạm thời con không cần đọc kinh văn, nên suy ngẫm về thái độ học đạo của mình trước đã”.

    Nguyên Trinh cúi đầu bước đi.

    Nhìn bóng dáng lẻ loi cô đơn của y, lòng bản thượng thần trỗi dậy thương xót.

    Tiểu đệ Nguyên Trinh, thực ra đệ cũng quá tinh tế rồi, nếu đệ tinh tế hơn nữa thì thành Bát Công (18) mất.

    Bóng Nguyên Trinh dần khuất, ta kêu bừa một tỳ nữ dẫn ta tới Hạm Đạm viện của Trần quý nhân.

    Ân tình mà Phượng Cửu nợ Đông Hoa, hãy để nước Thanh Khâu ta nhận, ngày khác sẽ trả, để kẻ làm cô cô là ta và các thúc thúc của nó tới trả, hôm nay phải khuyên nhủ sao để Phượng Cửu quay về đây.

    Có lẽ cung ta ở có phận vị rất cao nên đi vào hậu cung của hoàng đế cũng rất thuận lợi.

    Vì đi vội nên ta không chuẩn bị thiếp bái kiến, đành chờ một thị tỳ thông báo. Không lâu sau, thị nữ này dẫn bọn ta đi vào. Cung viện này tuy không lớn lắm nhưng bài trí khá đẹp, non nước hoa cỏ chim thú đủ cả, ngâm thơ thưởng nguyệt đều hợp tình hợp cảnh.

    Trong chiếc đình bên hồ có một thiếu phụ có gương mặt tròn trĩnh, đang an nhàn cho cá ăn, dáng vẻ rất bình thường, giữa trán có một vết bớt hình lông phượng, đấy chính là xác phàm mà Phượng Cửu mượn thân. Ta thở dài một cái, lúc ở Thanh Khâu, đời đời con cháu nhà họ Bạch ta đều chỉ có một nữ đinh, Phượng Cửu nhà ta phong độ phi phàm biết bao. Mà nay vì Đông Hoa, nó phải chạy đến chỗ lạnh lẽo hiu quạnh này nuôi cá, khiến người ta phải sụt sùi cảm thán.

    Nghe thấy tiếng thở dài của ta, Phượng Cửu đang cho cá ăn ngoảnh đầu lại.

    Ta buồn bã nói: “Tiểu Cửu, cô cô tới thăm con đây”.

    Một mình nó phiêu dạt phàm trần hơn nửa năm, hẳn cô đơn quạnh quẽ khôn cùng, nghe thấy tiếng ta gọi, không kìm nổi bi thương, lập tức nhào vào lòng ta.

    Ta dang rộng đôi tay.

    Nó “òa” lên nức nở, nhào tới ôm chặt thị nữ dẫn chúng ta vào đang đứng sau lưng ta.

    Hai cánh tay ta không biết nên thu về hay tiếp tục dang ra.

    Khuôn mặt nó tràn đầy vẻ kinh ngạc, sợ hãi, vừa nức nở vừa lắc đầu nguầy nguậy: “Không – cô cô – cô cô đừng dẫn con đi – con yêu chàng – con không thể thiếu chàng – không ai có thể chia lìa chúng con – không ai có thể”.

    Ta bị trận khóc của nó dọa cho phải lùi về sau một bước.

    Đây chắc không phải là Hồng hồ ly nhà ta đâu.

    Tuy Phượng Cửu chỉ là một tiểu nha đầu, nhưng chưa bao giờ nó gào khóc như vậy, mà nó rất can đảm. Cho dù tình cảm với Đông Hoa sâu sắc khôn cùng, luôn luôn đau lòng, nhưng cũng chưa bao giờ để lộ cho người khác hay, đại để chỉ đến chỗ Chiết Nhan uống rượu mà thôi.

    Nhị ca thấy nó vẫn còn nhỏ mà lúc nào cũng say túy lúy, bèn lôi nó về đánh cho một, hai trận, đánh đến mức gần như tắt thở, bọn ta nhìn thấy mà đau lòng, nhưng nó vẫn cắn răng đến mức bật cả máu cũng không khóc. Ta và tứ ca đều phải sợ tính cách cố chấp này của nó, chọc giận nhị ca, thế là thân vẫn nằm trên giường mà còn bị thêm trận đòn nữa, bọn ta phải đón nó về động Hồ Ly để dưỡng thương.

    Ta khuyên giải nó: “Rượu cũng không phải là thứ tốt đẹp gì…” thì bị tứ ca trừng mắt lườm, đành đổi thành: “Rượu do Chiết Nhan cất đương nhiên là thứ tốt, nhưng cả ngày con lấy rượu giải sầu thì thực không phải với tài nghệ của Chiết Nhan. Con phải biết rằng rượu chỉ giúp con giải thoát được một lúc, khi con tỉnh lại, những chuyện khiến con phiền não sẽ không vì con uống rượu mà được giải quyết”. Nghe xong lời khuyên này của ta, Phượng Cửu cuối cùng khóc òa lên: “Không phải con mượn rượu tiêu sầu, đương nhiên con biết uống rượu cũng không hết phiền não chỉ là nếu con không uống thì sẽ buồn đến mức phát khóc lên, con không thể khóc trước mặt Đông Hoa, cũng không thể khóc trước mặt người khác được”.

    Rốt cuộc Phượng Cửu cũng chỉ là một nha đầu, ta và tứ ca nghe xong lòng bỗng nặng trĩu. Đó cũng là lần duy nhất ta nhìn thấy Phượng Cửu rơi nước mắt.

    Bây giờ đối diện với con người đang ôm lấy thị nữ khóc kinh thiên động địa kia, ta chỉ biết im lặng lắc đầu.

    Không muốn thấy ta đang lắc đầu, nó càng khóc dữ dội hơn: “Cô – cô – xin cô cô – xin cô cô nhón tay làm phúc – tác thành cho chúng con đi – kiếp sau con xin làm trâu làm ngựa cho cô cô – xin cô cô tác thành cho chúng con đi”.

    Nàng thị nữ bị nó ôm chặt cứng đang run như lá cây trước gió.

    Khóe miệng ta khẽ nhếch lên.

    Nó bỗng quỳ phắt xuống, túm chặt vạt áo của mình. Thị nữ run bần bật như lá cây trước gió kia lập tức nhảy dựng lên, vừa sải chân chạy, vừa hét lên: “Chủ nhân sắp nôn ra máu rồi, ngươi ngươi, mau vời hoàng thượng; còn ngươi ngươi, mau đi lấy khăn; ngươi ngươi mau đi lấy chậu rửa mặt…”.

    Ta ngậm miệng lại, hắng giọng: “Hầy con cứ từ từ nôn, đừng nôn vội quá, kẻo sặc đấy, cô cô về trước đây, về trước đây”.

    Nói đoạn liền kéo thị nữ đi cùng ta tới đang đứng như trời trồng ở bên cạnh, vội vàng cáo từ.

    Ta đắn đo suy nghĩ suốt dọc đường từ Hạm Đạm viện đến Tử Trúc viện, tính cách của Trần quý nhân vừa nãy không có điểm nào giống với Phượng Cửu, nhưng rõ ràng giữa trán cũng có vết bớt hình lông phượng, cũng vừa nhìn một cái là nhận ra ta là cô cô của nó. Nghe nói thần tiên như Phượng Cửu, cho dù có trú ngụ trong thân xác người phàm, thì cũng không nên bị những tâm tư của người phàm này chi phối, lần này nó lại có dáng vẻ ấy, chẳng nhẽ… ta bóp trán trầm ngâm suy ngẫm giây lát… chẳng nhẽ nó đang sử dụng… phép cấm của Thanh Khâu – lưỡng sinh chú sao?

    Nói đến phép lưỡng sinh chú này, thực ra cũng không phải là phép thuật làm thương tổn thiên lý gì, chẳng qua chỉ giúp người ta thay đổi tính tình trong một giờ khắc nhất định nào đó mà thôi. Ví dụ như ở Thanh Khâu, một số tiểu tiên trong lúc họp chợ trước đây cực kỳ thích sử dụng thần chú này với bản thân. Như thế, cho gặp phải người khách khó chèo kéo đến đâu, đều có thể trưng ra khuôn mặt chân thành từ tâm can, cười rạng ngời như hoa cúc, không cần phải vài câu không xong liền ra tay đánh đuổi. Nhưng rõ ràng đây không phải là phép thuật thành thực, vi phạm tiên đức, sau này ta cùng tứ ca bàn tính, cấm luôn pháp thuật này.

    Nếu như lần này Phượng Cửu thực sự niệm lưỡng sinh chú, ôi, tại sao nó phải niệm thần chú này chứ? Ta nghĩ mãi mà không hiểu nổi. Buổi chiều ta đánh xong một giấc, suy tính quyết định đêm phải đến Hạm Đạm viện một chuyến nữa.

    Nhưng chẳng ngờ Phượng Cửu lại rất hiểu lòng người, không cần ta qua, mà nó lại trước.

    Lúc này, ta đang ngồi trên một cái đài cao, một mình dùng bữa tối ở hậu viện. Trăng sáng sao thưa vằng vặc giữa nền trời đêm cũng có vài phần thú vị. Khi đang ăn rất vui vẻ, sau lưng nó đeo một mớ củi kinh, bỗng nhảy từ trên tường xuống, nhảy đúng lên bàn ăn của ta. Bát đũa trên bàn xô vào nhau loảng xoảng, ta vội vàng bưng chén trà né sang một bên. Phượng Cửu đau khổ bò từ trên bàn xuống, mấy thanh củi kinh (19) còng queo trên lưng dựng đứng lên, bốn chi phủ phục hành lễ trước ta: “Cô cô, đứa cháu bất tài Phượng Cửu xin cô cô trách phạt”.

    Ta lau mấy giọt dầu lem trên tay áo, nhìn thấy nó giờ đây đã hiện nguyên hình, không dùng đến xác phàm của Trần quý nhân thì thấy thuận mắt hơn nhiều, bèn nói: “Quả nhiên con dùng lưỡng sinh chú?”.

    Mặt nó đỏ bừng bừng, miệng khen rối rít: “Cô cô anh minh, cô cô quả thực rất anh minh”.

    Ta coi lời khen ngợi của nó là chuyện đương nhiên, hồi trước ta cũng có nhiều lúc đồ hồ, nhưng sống đến bây giờ, cũng nhiều khi ta rất sáng suốt.

    Vốn muốn dìu nó đứng dậy, nhưng nhìn thấy dầu mỡ bám đầy trên người nó đang sáng bóng dưới ánh trăng, thì không nỡ, đành khoát tay bảo nó đứng dậy, ngồi xuống chiếc ghế đá bên cạnh.

    Ta nâng chén trà may mắn thoát nạn trong tay lên nhấp một ngụm, nhíu mày hỏi nó: “Con đã muốn đến báo ơn của Đông Hoa, sao phải vi phạm lệnh cấm sử dụng lưỡng sinh chú?”.

    Khóe miệng Phượng Cửu nhếch lên thành vòng tròn: “Sao cô cô biết con đến báo ơn Đông Hoa? Ti Mệnh Tinh Quân nói Đông Hoa Đế Quân đầu thai là chuyện cực kỳ cơ mật, bốn bể tám cõi không có ai biết hết”.

    Ta thong thả uống trà, làm ra vẻ cao thâm khó dò, không nói lời nào.

    Nó bỗng run lập cập: “Cô cô, người, chẳng lẽ người theo dõi nhất cử nhất động của Đông Hoa Đế Quân, chẳng nhẽ người đã ưng chàng?” rồi lại làm bộ nắm chặt tay: “Phải rồi, Đông Hoa Đế Quân đúng là tốt hơn so với Bắc Hải Thủy Quân, pháp thuật cũng cao minh hơn một chút, bối phận cũng tương xứng với cô cô, nhưng cô cô phải nhớ rằng Đông Hoa Đế Quân là vị thần tiên từ đá tảng mà thành, cô cô ưng chàng, con đường phía trước cũng thảm lắm thay!”.

    Ta ngẩng đầu nhìn trăng sáng treo trên trời cao, thờ ơ đáp: “Xem ra, tứ ca cũng sắp từ Tây Sơn trở về, ban đầu lưỡng sinh chú là do huynh ấy đề xuất cấm. Ta còn nhớ khi trước ở Thanh Khâu có một tiểu tiên hồ đồ, cho rằng lệnh cấm chỉ là nói chơi thôi, nên ngang nhiên dùng đôi, ba lần, cuối cùng hình như đã bị tứ ca trục xuất khỏi Thanh Khâu”.

    Phượng Cửu ngay tức khắc nhảy dựng lên khỏi ghế đá, xốc lại bó củi kinh sau lưng, chắp hai tay, cung kính nói: “Khi điệt nữ (nghĩa là cháu gái) còn làm thị tỳ ở phủ Đông Hoa Đế Quân đã từng giúp Ti Mệnh Tinh Quân. Ti Mệnh Tinh Quân trả ơn tình của điệt nữ, đợi khi Đông Hoa Đế Quân đầu thai chuyển thế, mới sai một tiên đồng thông báo cho điệt nữ, coi như trả món ân tình đó. Điệt nữ bất tài, năm xưa nhận đại ơn của Đông Hoa Đế Quân, vậy mà chậm trễ mãi không báo đáp được, nay được biết Đế Quân đầu thai chuyển kiếp, bèn nhân lúc chàng làm người phàm để trả ơn. Năm Đế Quân bốn mươi tuổi, điệt nữ đã từng vào trong giấc mộng của chàng, hỏi chàng rằng đời này có nguyện ước nào chưa thành, tình si nào chưa đạt không?”.

    Ta vội ngắt lời: “Tên Đông Hoa làm từ đá tảng ấy nói cái gì? Không phải hắn nói phú quý giang sơn cũng chẳng màng, chỉ mong cầu được người một lòng một dạ với mình đấy chứ?”.

    Phượng Cửu kinh ngạc vô cùng: “Cô cô, sao người lại anh minh như thế?”.

    Ngụm trà trong miệng ta phun bắn ra ngoài, Đông Hoa của kiếp này, hắn cũng, cũng tầm thường thế sao?

    Phượng Cửu lau trà bắn đầy mặt, cười cười tiếp tục nói: “Có lẽ lúc ở phàm trần, thuở nhỏ Đế Quân đã ít nhiều chịu sự nóng lạnh của nhân tình, nên mới xin điệt nữ ban cho một người một lòng một dạ yêu chàng, không rời không xa”.

    Ta trầm ngâm nói: “Cho nên con mới tự mình tiến thân?”.

    Phượng Cửu gật đầu rồi lại lắc đầu: “Thực ra cũng không thể coi là tự mình tiến thân. Ti Mệnh Tinh Quân và điệt nữ đã cùng xem qua số mệnh kiếp này của Đông Hoa Đế Quân. Kiếp này Đế Quân không thể gặp được người con gái một lòng với chàng, nhưng trong ngày lễ ra đời của Hộ pháp Vi Đà mùng một tháng sáu năm chàng ba mươi bảy tuổi, sẽ có thể gặp được người con gái mà chàng hết mực yêu thương, đáng tiếc là tình yêu của cô gái này lại dành cho con trai của chàng là thái tử Nguyên Trinh. Lần này điệt nữ đến là để báo ơn của Đế Quân, nhưng cũng không thể thay đổi được số mệnh của chàng. May mắn thay nửa năm trước một quý nhân của chàng dương xuân đã tận, điệt nữ nghĩ trước lo sau, tạm thời mượn thân xác của vị quý nhân này, muốn đem hết tấm lòng yêu mến, trước khi Đế Quân phải chịu tình kiếp của số mệnh, tạm thời làm thỏa mong ước có một người một lòng một dạ của chàng. Đến khi người con gái mà chàng yêu mến xuất hiện, điệt nữ coi như đã thành công cáo lui, như thế, cũng là thay đổi được số mệnh của chàng”.

    Ta cúi đầu than: “Khi xưa con bị hắn giày vò còn chưa đủ đau lòng sao? Mà bây giờ còn tìm người một lòng một dạ cho hắn. Lúc làm thần tiên nếu hắn có ước nguyện này, con si tình với hắn biết bao năm như thế thì hắn phải biết từ lâu rồi mới phải”.

    Phượng Cửu ủ dột, đáp: “Cô cô dạy rất phải. Điệt nữ vốn cho rằng đây là chuyện rất hay. Nhưng si tình với Đế Quân suốt hai nghìn năm, lần này tuy đoạn tình, nhưng sớm đã tìm lại cảm giác si mê chàng như thuở trước, theo lý mà nói thì cũng chẳng khó. Nhưng sớm biết chân tình không phải nói thể hiện là thể hiện được liền, con nung nấu bao ngày, đợi mượn được thân xác của Trần quý nhân đến gặp Đế Quân, nhưng thực sự chẳng tìm nổi chút cảm giác yêu thương nào, đến một hai câu nói cũng không nói nổi, điệt nữ cảm thấy rất có lỗi với Đế Quân, vì thế cảm thấy rầu rĩ vô cùng”.

    Ta an ủi nó: “Tro tàn đâu dễ nhen lửa, tình xưa cũng khó thắp, con đâu cần đau lòng như thế”.

    Nó nghiêm nghị đáp: “Cuối cùng điệt nữ cũng đã hạ phàm, lại nhận thêm một món nợ ân tình nữa của minh chủ U Minh Ty, giữ được xác phàm của Trần quý nhân, nếu buông tay như thế, thì đã không báo được ơn, còn thiệt thòi rất nhiều, điệt nữ khổ tâm suy nghĩ hai ngày”, nó ngừng lại rồi nói tiếp, “điệt nữ chỉ còn cách niệm lưỡng sinh chú trên người mình. Bị pháp thuật trói buộc, ban ngày sẽ phải theo tính cách của Trần quý nhân làm điệu bộ yêu thương tôn sùng Đế Quân, khi mặt trời xuống núi mới được giải thoát. Lại không nghĩ rằng tính tình của Trần quý nhân kiếp trước là như vậy, mỗi khi đêm về, nhớ lại hình dáng ban ngày, điệt nữ đều cảm thấy khổ sở vô cùng, thực là mất mặt quá đi thôi”.

    Ta nói ngược với lòng mình: “Con không cần áy náy làm gì, cũng không có gì là mất mặt cả”. Đột nhiên nhớ ra chuyện quan trọng, ta bèn hỏi nó, “Từ lúc con hóa thân thành Trần quý nhân để báo ơn đến nay, có cho Đông Hoa lợi dụng tý nào không?”.

    Nó ngẩn người ra, lắc đầu nguầy nguậy: “Trần quý nhân trước đây cũng không được sủng ái. Con mượn thân xác nàng ta, trên trán lại nổi vết bớt, bị một tên chân nhân thối phán là yêu hoa, Đế Quân tuy không đày con vào lãnh cung, nhưng cũng chẳng thèm tới Hạm Đạm viện”.

    Ta kêu lên kinh ngạc: “Vậy mỗi ngày con diễn bộ dạng yêu hắn tới mức chết đi sống lại như thế để làm gì?”.

    Nó trịnh trọng thưa: “Cô cô nên nhớ chân thành yêu một người, là một chuyện cần phải hết lòng tận tụy, không thể trước mặt thì tỏ ra yêu, sau lưng lại tỏ ra không yêu”.

    Ta đành ngáp một cái.

    Phượng Cửu giờ đây thực khiến người ta an lòng. Nếu nó có thể báo ơn một cách thuận lợi, không cần ta và các thúc thúc của nó lo lắng, thì đâu có gì là không tốt chứ. Ta nghĩ vậy, đang định dắt Phượng Cửu còn đang dầu mỡ chảy tong tong trên mình đi về, tự tay rửa mặt mũi cho nó đi ngủ, thì đất bằng nổi cơn gió lành ào tới.

    Tử Trúc Uyển xem ra đúng là đất lành.

    Đêm nay, xem ra là thời khắc đẹp.

    Chiết Nhan hiện hình giữa không trung, thần sắc hơi mỏi mệt. Trời cao đất rộng, cảnh tượng đêm nay thật hiếm thấy. Không nhẽ lão lại làm gì khiến tứ ca nổi giận sao?

    Ta vẫn lặng im, nhấp ngụm trà.

    Quả nhiên lão ta lên tiếng: “Nha đầu, mấy hôm nay Chân Chân có tới tìm người không?”.

    Giọng nói ấy khiến cho Phượng Cửu run lên bần bật, đã bao năm rồi nha đầu này vẫn còn thói quen ấy, thật là đáng thương.

    Ta lắc đầu đáp: “Không phải tứ ca đi Tây Sơn tìm vật cưỡi của huynh ấy là Tất Phương điểu sao?”.

    Lão ta bối rối cười: “Mấy hôm trước về rồi”. Rồi lại tiếp tục vò đầu, nói: “Tất Phương điểu của hắn đúng là tính tình hoang dại khó thuần”.

    Lúc sắp đi, lão lại quay đầu nói với ta: “Có một chuyện quên nói với ngươi, sau hôm ngươi đến Đông Hải dự tiệc, cháu của Thiên Quân Dạ Hoa đến rừng đào tìm ta, hỏi dò ta chuyện cũ ba trăm năm trước của ngươi”.

    Ta sửng sốt kêu lên: “A?”.

    Lão ta chau mày nói tiếp: “Ta bảo hắn rằng năm trăm năm trước ngươi mắc trọng bệnh, ngủ liền hơn hai trăm năm mới tỉnh lại, hắn không hỏi gì thêm liền đi. Nha đầu, hôn sự của ngươi với hắn không phải lại hỏng rồi chứ?”.

    Trận ác chiến với Kình Thương năm trăm năm trước không thể cho người ngoài biết, rốt cuộc Thanh Khâu và Kình Thương có hận thù gì mà thượng thần của Thanh Khâu lại đi đánh Kình Thương có chút không thể nói rõ được.

    Ta lặng im một lát mới trả lời lão: “Không phải vậy đâu, Dạ Hoa chưa từng có vẻ muốn từ hôn”.

    Lão ta gật đầu nói: “Vậy thì tốt”, rồi quay sang nói với Phượng Cửu: “Chân Chân rất nhớ tài nghệ nấu nướng của ngươi, lúc nào rảnh rỗi nhớ đến rừng đào chơi một chuyến nhé”. Phượng Cửu đang định đáp lời, lão lại nói: “Lưỡng sinh chú trên người ngươi cũng không tồi đâu” rồi vội vàng đi mất tăm.

    Phượng Cửu ấm ức nhìn ta: “Cô cô, lão uy hiếp con”.

    Muốn tìm một nhân tài dám đẩy hoàng đế giữa đám đông xuống nước ở trần gian quả thực khó như mò kim đáy bể. Vạn sự giúp Nguyên Trinh vượt qua kiếp nạn đều chuẩn bị sẵn sàng, duy chỉ thiếu có gió đông đẩy người này. Vốn ta định nhờ Phượng Cửu gánh vác, kết quả là nó ngẫm nghĩ hồi lâu rồi thành thực thưa: “Con bị lưỡng sinh chú trói thân, cứ đến ban ngày là quên mất bản tính của mình, chỉ còn lại tính tình bẩm sinh của Trần quý nhân, nhớ nhung Đế Quân ngày ngày rơi lệ đêm đêm sầu não đến nỗi nôn ra máu. Theo như tính tình của Trần quý nhân thì không ngăn người ta đẩy người, làm rối kế hoạch của cô cô là đã tốt lắm rồi, cô cô bảo con tự tay đẩy Đế Quân xuống nước thực là không chuyện không thể làm được”.

    Ta đắn đo, ngẫm ra có lý, nên cũng không miễn cưỡng nữa. Nếu thực sự không tìm được người nào, thì chỉ có cách ta làm mà thôi. Nhưng hoàng đế vốn không thích người tu đạo, đến lúc đó ta có thể lội nước mò cá leo lên thuyền của hoàng đế hay không cũng là một câu hỏi lớn.

    May mà Nguyên Trinh có một người mẹ hết lòng vì y, ta không nói đến cái người ngồi trong đạo quán kia. Đương nhiên người mẹ ở trong đạo quán cũng rất lo cho y, nhưng trước sau cũng chỉ lo về phương diện tu tiên học đạo, còn chuyện vặt vãnh đời thường thì chỉ hỏi han qua loa đôi chút.

    Thế nên người mẹ dốc hết tâm can vì thần tiên Nguyên Trinh, chính là Thiếu Tân.

    Lần này Thiếu Tân hạ phàm là muốn xem xem kiếp nạn của Nguyên Trinh được độ hóa ra sao, liền bị ta tóm được, đành phải thiệt thòi nhận trách nhiệm đẩy hoàng đế xuống nước.

    Chủ ý của ta rất hợp lý. Đến lúc đó nàng ta dùng tiên thuật ẩn thân, nhân lúc mỹ nhân định mệnh xuất hiện, mọi người đều tập trung ngắm mỹ nhân, Thiếu Tân đến sau hoàng đế khẽ đẩy một cái, tiện lợi biết bao, nhanh gọn biết bao, hiệu quả biết bao. Nhưng dùng tiên thuật để làm chuyện thay đổi số mệnh của Nguyên Trinh này, chung quy vẫn hơi thất đức, nàng ta lại là thai phụ, nếu mà pháp lực giáng lại bản thân, thì sẽ phải chịu ít nhiều báo ứng.

    Ta nhìn Thiếu Tân đang vác cái bụng to như bụng trống, trầm tư nói: “Ngươi làm việc này e rằng hơi nguy hiểm, chi bằng tìm một người khỏe mạnh một chút”.

    Thiếu Tân suy nghĩ một hồi, nói có thể nhờ phu quân của nàng ta là Bắc Hải Thủy Quân Tang Tịch đến hoàn thành chuyện thất đức này.

    Chú thích:

    17. Ý trong

    18. Bát công: Thời Hán, chỉ tám người: Tô Phi, Lý Thượng, Tả Ngô, Điền Do, Lôi Bị, Mao Bị, Ngũ Bị, Tấn Xương đều là môn khách của Hoài Nam Vương Lưu An. Trong sách sử các đời đều coi đây là những người tài, đạo hành gần như thần tiên (ND).

    19. Người xưa đeo roi hoặc củi kinh trên lưng là có ý đến nhận tội (ND).
    Anh không quan tâm em yêu ai, nhưng anh sẽ không bao giờ tha thứ cho những người làm em bị tổn thương...

  3. #11
    Nhập Môn
    Tham gia ngày
    May 2018
    Bài gởi
    1
    Đô
    105
    Tài khoản Tiết Kiệm
    0
    Cảm ơn / Thích
    Đề cập
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Default

    Phim này xem hay lắm nè mọi người

  4. Thích Nhật Minh Thích bài viết này
  5. #12
    Đang học vỡ lòng Nhật Minh's Avatar
    Tham gia ngày
    Aug 2016
    Bài gởi
    120
    Đô
    1,238
    Tài khoản Tiết Kiệm
    0
    Cảm ơn / Thích
    Blog Đã Viết
    5
    Đề cập
    2 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Default

    Chương 10: Cháu gái Phượng Cửu của ta

    Dạ Hoa thực quá quắt.

    Đây không phải là Thanh Khâu, đâu có lý gì mà ta phải đi dạo cùng hắn, ngủ nướng trên giường thêm một canh giờ thực hợp tình hợp lý, vậy mà hắn lại nằng nặc lôi ta dậy bằng được.

    Xiêm y trên người hôm qua đã nhăn nhúm không ra thể thống gì, ta ngại thay, bèn dựa một bên, rót chén trà lạnh, đưa lên miệng rồi ngáp dài một cái.

    Dạ Hoa có vẻ rất phấn chấn, mặc áo khoác, thắt đai cẩn thận, mới ngồi trước gương đồng, bình thản nói: “Được rồi, nàng qua đây chải đầu búi tóc cho ta”.

    Ta ngẩn ra: “Ngươi đang sai ta?”.

    Hắn cầm lấy chiếc lược gỗ: “Nghe Mê Cốc nói, nàng búi tóc rất đẹp”.

    Ta búi tóc rất đẹp đúng là không sai, trong động Hồ Ly không có nữ tỳ phục vụ, tứ ca lại không tự chải đầu bao giờ, cho nên đều là nhờ ta búi tóc. Ngoài những kiểu cách bình thường ra, nếu tứ ca đến rừng đào mười dặm tìm Chiết Nhan, thì ta còn biết chải một số kiểu đầu mới, mỗi lần Chiết Nhan nhìn thấy đều tỏ ra thích thú. Nhưng khi Dạ Hoa ở Thanh Khâu, hắn chưa bao giờ búi tóc, mà chỉ lấy một dải lụa, buộc túm đằng sau thật gọn, nhìn trông rất dịu dàng.

    Hắn cười tươi rói, đưa chiếc lược gỗ cho ta: “Hôm nay ta phải tham kiến Thiên Quân, không thể không chỉnh tề được”.

    Dạ Hoa có mái tóc rất đẹp, mềm mại, trơn bóng, khi chải chiếc lược gỗ trôi tuột xuống dưới, rất tiết kiệm công sức. Nhưng khi búi thành búi trên đỉnh đầu thì lại rất khó.

    Trên bàn trang điểm có một cây trâm ngọc, một chiếc mũ ngọc. Cầm cây trâm gài tóc lại, sau đó đội mũ ngọc lên trên, ô, lâu không tập luyện mà ngón nghề này vẫn chưa đến nỗi vụng.

    Trong gương đồng, Dạ Hoa đương mỉm cười nhìn ta.

    Ta nhìn trái ngó phải, cảm thấy kiểu tóc này tôn được vẻ khôi ngô tuấn tú, thần thái uy nghiêm của hắn, không cần phải sửa thêm gì nữa, bèn hài lòng để chiếc lược xuống bàn trang điểm.

    Trong gương đồng, Dạ Hoa vẫn mỉm cười. Bàn tay phải cầm chiếc lược của ta đã bị hắn giữ chặt.

    Hắn khẽ giọng nói: “Trước đây nàng…”. Đôi mắt ánh lên một điều gì đó, lãnh đạm, tựa như nước lặng đổi dòng.

    Ôi, không phải hôm nay hắn, hắn nổi cơn điên đấy chứ?

    Tư thế “kỹ thuật cao” ta cúi lưng ngang người, giữ nguyên tay trái trên vai hắn, tay phải bị hắn giữ chặt trên bàn trang điểm này, thật khổ sở để chuẩn bị lắng nghe chuyện trước kia của hắn.

    Hắn chầm chậm thả tay ta ra, nói đến “trước đây” rồi im bặt, chỉ cười cười, rút một chuỗi ngọc từ trong tay áo ra đeo lên tay ta, dáng vẻ hơi ủy mị.

    Ta đương nhiên biết đó là chuỗi ngọc gặp dữ hóa lành.

    Trước gương đồng, hắn từ từ đứng dậy, gượng cười: “Nàng hãy đeo chuỗi ngọc này vào, bây giờ nàng chẳng khác một người phàm trần, tuy sẽ không đến nỗi gặp phải đại họa gì, nhưng cũng khó tránh được bất trắc”.

    Ta nhìn dáng vẻ nửa mừng nửa lo của hắn hôm nay, dường như có một điều gì đó khác với ngày thường, không đáp lại, mà nhận lời hắn.

    Hắn gật đầu, đưa tay khẽ vuốt mặt ta, nói: “Vậy ta về Thiên Cung đây”. Đoạn lại nói, “Đêm qua bận chuyện quan trọng, quên không nói với nàng, đợi đến ngày mùng một tháng sáu, khi kiếp mệnh tới, nàng cố gắng hết sức ngăn Nguyên Trinh lại, sai một người ngầm đẩy Đông Hoa Đế Quân xuống nước, nếu khi ấy Đông Hoa Đế Quân cứu được cô gái ngã xuống nước ấy, thì Nguyên Trinh được giải thoát, mà cũng không cản trở Đông Hoa Đế Quân thể nghiệm nỗi khổ của nhân sinh, như thế thì mọi người đều vui vẻ”.

    Nói xong quay người mất dấu luôn.

    Ta nghĩ đến câu nói đầu tiên và tự hỏi rốt cuộc đêm qua hắn bận chuyện trọng đại gì, nhưng lại chẳng nhớ ra điều gì hợp lý, nên lại ngẫm nghĩ về mấy câu sau cùng của hắn.

    Ngoan nào, đây đúng là cách hay. Vẫn là người ngoài sáng suốt, ta nghĩ tới nghĩ lui mấy ngày nay, cuối cùng lại thành hồ đồ mất rồi.

    Giải quyết xong chuyện đau đầu này, ta cảm giác như đã trút được tảng đá đè trên người nửa tháng nay, toàn thân nhẹ nhõm phơi phới.

    Cho nên ta cũng thảnh thơi ngồi xuống uống trà.

    Trà mới uống được nửa chén, thì bỗng nghĩ tới chuyện mà ta nhớ ra trong lúc mông lung đêm qua.

    Một chuyện cực kỳ chết tiệt.

    Mê Cốc từng nói Phượng Cửu xuống phàm trần báo ơn, khi ấy chỉ nói là nó nhận một mối ơn tình của một người phàm nào đó, phải đi đền đáp một phen, nên ta cũng không để tâm. Bây giờ ngẫm lại, Phượng Cửu đã hơn ba nghìn tuổi, nhưng tổng cộng chỉ nhận một đại ân của Đông Hoa. Khi làm thần tiên, Đông Hoa cao minh hơn Phượng Cửu biết bao nhiêu, đương nhiên nó muốn báo ơn cũng không báo nổi. Bây giờ nó lại đến phàm trần báo ơn, chẳng phải là đi tìm chuyển kiếp của Đông Hoa hay sao? Khó khăn lắm nó mới có thể rũ sạch mầm duyên với Đông Hoa, hai người họ sắp lại trùng phùng trong mấy ngày, mầm duyên đã đứt nay lại sắp nẩy lại rồi… Nhị ca, nhị tẩu của ta mà biết thì sẽ ra sao.

    Nghĩ tới đây, ta vội vàng bật dậy thay xiêm y chạy ra sân. Lần này phải chủ động đi tìm tiểu đệ Nguyên Trinh mỗi lần gặp làm giảm tu vi ba năm của ta, thăm dò y xem nửa năm trước có một thiếu nữ giữa trán có một cái bớt hoa như lông chim phượng tiến cung hay không.

    Mẹ của Phượng Cửu thuộc tộc Hồ ly đỏ, năm đó mẹ nó thành thân với nhị ca ta, ta đồ rằng họ sẽ sinh ra một con hồ ly vằn đỏ vằn trắng. Nhưng chẳng ngờ mẹ Phượng Cửu hoài thai ba năm, cuối cùng sinh hạ một tiểu hồ ly toàn thân có màu đỏ tươi như máu bồ câu, chỉ có khoang tai và bốn chân là màu trắng, đáng yêu vô cùng. Đến khi tiểu hồ ly này đầy tuổi hóa thành hình người, giữa trán có một cái bớt hoa như lông chim phượng. Tuy cái bớt này nhìn rất đẹp, nhưng khi biến hình lại rất phiền phức, chỉ cần là biến thành hình người, cho dù hình dáng ra sao đều có cái bớt này. Nhị ca ta lười nhác, vì có cái bớt hình lông phượng, vì tiểu hồ ly này sinh vào tháng chín, nên khi đầy tuổi đã đặt cho nó cái tên không nhã cũng không tục là Phượng Cửu, thêm họ Bạch nhà ta vào, đầy đủ là Bạch Phượng Cửu. Đám tiểu tiên của Thanh Khâu đều gọi ta là cô cô, sở dĩ là gọi theo Phượng Cửu.

    Tiểu đệ Nguyên Trinh đúng là rất thiêng, ta vừa mới chạy ra cửa thì gặp y cầm hai cuốn kinh văn bước tới, nhìn thấy ta, hai mắt y sáng lên, cung kính gọi một tiếng sư phụ.

    Lúc trước đã nói, tiểu đệ Nguyên Trinh này có tính hỏi cặn kẽ ngọn nguồn, không thể khinh suất hỏi y chuyện Phượng Cửu, ta đắn đo trong lòng một hồi, mới kéo hắn đến ngồi lên một chiếc ghế đá.

    Nguyên Trinh hắng giọng, nói: “Cổ sư phụ sao thế, nhìn giống như, giống như…”.

    Ta kinh hãi sờ lên cổ mình, nhưng không cảm thấy gì khác lạ.

    Y lấy một chiếc gương đồng từ trong tay áo ra, ta cầm lấy soi thử, trên cổ có vết đỏ giống như muỗi cắn.

    Con muỗi này to gan thật, dám hút máu bản thượng thần ta.

    Nhưng để hút thành công, nó phải dùng đến một vạn tám nghìn năm, đến lúc tu thành muỗi tiên cũng không chừng. Hầy, nó đúng là một con muỗi có phúc.

    Ta gật gật đầu than thở: “Đây là một vết đỏ nhỏ không đáng nhìn, nhưng con lại thấy, có người từng nói con có tấm lòng lương thiện, đến con kiến cũng chẳng nỡ giẫm, xem ra không sai”.

    Nguyên Trinh đỏ mặt nhìn ta: “A?”.

    Ta tiếp lời: “Con nên biết rằng, việc không thể giẫm kiến khi đi đường, không chỉ cần tới một tấm lòng lương thiện, mà còn cần tinh tế. Tấm lòng lương thiện và tinh tế thực ra là một”.

    Nguyên Trinh đứng bật dậy, làm dáng vẻ đang thụ giáo.

    Ta sờ cằm rồi giảng giải rất sâu xa: “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn tượng. Vạn tượng đều từ không mà có, từ không sinh ra có, chính là sự linh hoạt tinh tế và tỉ mỉ. Học đạo rất cần tinh tế, tỉ mỉ. Hôm nay vi phụ muốn kiểm tra trình độ tinh tế của con (17)”.

    Nguyên Trinh nghiêm trang đáp: “Xin sư phụ chỉ dạy”.

    Ta thong thả nói: “Con sống trong đạo quán đến năm mười sáu tuổi, sau năm mười sáu tuổi con sống trong hoàng cung, vi sư cũng không muốn làm khó con, chỉ hỏi con có hai câu, một câu về đạo quán, một câu về hoàng cung”.

    Dường như Nguyên Trinh dỏng hết tai lên.

    Ta trầm ngâm nói: “Trong tòa đạo quán con ở thuở nhỏ, có một đạo cô mặc đồ trắng, vị đạo cô này thường dùng một cây phất trần, ta muốn hỏi con rằng cây phất trần này dùng gỗ gì làm thành?”.

    Y nghĩ mãi mà không ra.

    Ta lại hỏi: “Không cần trả lời vội, còn một câu nữa, trong vương cung của con hiện có một người, trên trán có một cái bớt hình lông phượng, ta muốn hỏi con xem, nàng ta hiện ở đâu, giữ chức gì, khuê danh ra sao?”.

    Y trầm tư lúc lâu, rồi mới đáp: “Nguyên Trinh kém hiểu biết, khi ở trong đạo quán, chưa từng thấy vị đạo cô mặc đồ trắng mà sư phụ nhắc tới, trong đạo quán cũng có một đạo cô thi thoảng mặc đồ trắng, nhưng không phải lúc nào cũng mặc đồ trắng. Còn người có cái bớt hình lông phượng ở giữa trán thì Nguyên Trinh có biết, đó là Trần quý nhân sống trong Hạm Đạm viện (Hạm Đạm là hoa sen). Trần quý nhân này trước đây trên trán không có vết bớt hình lông phượng, tháng chạp năm ngoái ngã xuống hồ sen bệnh một trận, thuốc thang mà không thuyên giảm, cứ ngỡ là hương tan ngọc vỡ, sau này bỗng khỏe lại, sau đó trên trán cũng xuất hiện vết bớt hình lông phượng. Một chân nhân do mấy phi tần mời đến phán rằng vết bớt đó là do yêu khí làm nên. Phụ hoàng tuy không tin, nhưng từ đó cũng lạnh nhạt với Trần quý nhân, còn khuê danh của Trần quý nhân, quả thực đệ tử cũng không rõ”.

    Hầy, quả nhiên Phượng Cửu đã chạy theo Đông Hoa rồi.

    Nhưng tên chân nhân lừa ăn gạt uống đó lại coi vết bớt hoa trên trán một nữ thần thành yêu khí, hắn thật có bản lĩnh.

    Nguyên Trinh nhìn ta lo sợ

    Ta gật đầu nói: “Ừm, tinh tế được như vậy cũng là hiếm có, nhưng tu hành rèn luyện đạo pháp, con cần tinh tế, tỉ mỉ hơn nữa. Thôi, con về đi, hôm nay tạm thời con không cần đọc kinh văn, nên suy ngẫm về thái độ học đạo của mình trước đã”.

    Nguyên Trinh cúi đầu bước đi.

    Nhìn bóng dáng lẻ loi cô đơn của y, lòng bản thượng thần trỗi dậy thương xót.

    Tiểu đệ Nguyên Trinh, thực ra đệ cũng quá tinh tế rồi, nếu đệ tinh tế hơn nữa thì thành Bát Công (18) mất.

    Bóng Nguyên Trinh dần khuất, ta kêu bừa một tỳ nữ dẫn ta tới Hạm Đạm viện của Trần quý nhân.

    Ân tình mà Phượng Cửu nợ Đông Hoa, hãy để nước Thanh Khâu ta nhận, ngày khác sẽ trả, để kẻ làm cô cô là ta và các thúc thúc của nó tới trả, hôm nay phải khuyên nhủ sao để Phượng Cửu quay về đây.

    Có lẽ cung ta ở có phận vị rất cao nên đi vào hậu cung của hoàng đế cũng rất thuận lợi.

    Vì đi vội nên ta không chuẩn bị thiếp bái kiến, đành chờ một thị tỳ thông báo. Không lâu sau, thị nữ này dẫn bọn ta đi vào. Cung viện này tuy không lớn lắm nhưng bài trí khá đẹp, non nước hoa cỏ chim thú đủ cả, ngâm thơ thưởng nguyệt đều hợp tình hợp cảnh.

    Trong chiếc đình bên hồ có một thiếu phụ có gương mặt tròn trĩnh, đang an nhàn cho cá ăn, dáng vẻ rất bình thường, giữa trán có một vết bớt hình lông phượng, đấy chính là xác phàm mà Phượng Cửu mượn thân. Ta thở dài một cái, lúc ở Thanh Khâu, đời đời con cháu nhà họ Bạch ta đều chỉ có một nữ đinh, Phượng Cửu nhà ta phong độ phi phàm biết bao. Mà nay vì Đông Hoa, nó phải chạy đến chỗ lạnh lẽo hiu quạnh này nuôi cá, khiến người ta phải sụt sùi cảm thán.

    Nghe thấy tiếng thở dài của ta, Phượng Cửu đang cho cá ăn ngoảnh đầu lại.

    Ta buồn bã nói: “Tiểu Cửu, cô cô tới thăm con đây”.

    Một mình nó phiêu dạt phàm trần hơn nửa năm, hẳn cô đơn quạnh quẽ khôn cùng, nghe thấy tiếng ta gọi, không kìm nổi bi thương, lập tức nhào vào lòng ta.

    Ta dang rộng đôi tay.

    Nó “òa” lên nức nở, nhào tới ôm chặt thị nữ dẫn chúng ta vào đang đứng sau lưng ta.

    Hai cánh tay ta không biết nên thu về hay tiếp tục dang ra.

    Khuôn mặt nó tràn đầy vẻ kinh ngạc, sợ hãi, vừa nức nở vừa lắc đầu nguầy nguậy: “Không – cô cô – cô cô đừng dẫn con đi – con yêu chàng – con không thể thiếu chàng – không ai có thể chia lìa chúng con – không ai có thể”.

    Ta bị trận khóc của nó dọa cho phải lùi về sau một bước.

    Đây chắc không phải là Hồng hồ ly nhà ta đâu.

    Tuy Phượng Cửu chỉ là một tiểu nha đầu, nhưng chưa bao giờ nó gào khóc như vậy, mà nó rất can đảm. Cho dù tình cảm với Đông Hoa sâu sắc khôn cùng, luôn luôn đau lòng, nhưng cũng chưa bao giờ để lộ cho người khác hay, đại để chỉ đến chỗ Chiết Nhan uống rượu mà thôi.

    Nhị ca thấy nó vẫn còn nhỏ mà lúc nào cũng say túy lúy, bèn lôi nó về đánh cho một, hai trận, đánh đến mức gần như tắt thở, bọn ta nhìn thấy mà đau lòng, nhưng nó vẫn cắn răng đến mức bật cả máu cũng không khóc. Ta và tứ ca đều phải sợ tính cách cố chấp này của nó, chọc giận nhị ca, thế là thân vẫn nằm trên giường mà còn bị thêm trận đòn nữa, bọn ta phải đón nó về động Hồ Ly để dưỡng thương.

    Ta khuyên giải nó: “Rượu cũng không phải là thứ tốt đẹp gì…” thì bị tứ ca trừng mắt lườm, đành đổi thành: “Rượu do Chiết Nhan cất đương nhiên là thứ tốt, nhưng cả ngày con lấy rượu giải sầu thì thực không phải với tài nghệ của Chiết Nhan. Con phải biết rằng rượu chỉ giúp con giải thoát được một lúc, khi con tỉnh lại, những chuyện khiến con phiền não sẽ không vì con uống rượu mà được giải quyết”. Nghe xong lời khuyên này của ta, Phượng Cửu cuối cùng khóc òa lên: “Không phải con mượn rượu tiêu sầu, đương nhiên con biết uống rượu cũng không hết phiền não chỉ là nếu con không uống thì sẽ buồn đến mức phát khóc lên, con không thể khóc trước mặt Đông Hoa, cũng không thể khóc trước mặt người khác được”.

    Rốt cuộc Phượng Cửu cũng chỉ là một nha đầu, ta và tứ ca nghe xong lòng bỗng nặng trĩu. Đó cũng là lần duy nhất ta nhìn thấy Phượng Cửu rơi nước mắt.

    Bây giờ đối diện với con người đang ôm lấy thị nữ khóc kinh thiên động địa kia, ta chỉ biết im lặng lắc đầu.

    Không muốn thấy ta đang lắc đầu, nó càng khóc dữ dội hơn: “Cô – cô – xin cô cô – xin cô cô nhón tay làm phúc – tác thành cho chúng con đi – kiếp sau con xin làm trâu làm ngựa cho cô cô – xin cô cô tác thành cho chúng con đi”.

    Nàng thị nữ bị nó ôm chặt cứng đang run như lá cây trước gió.

    Khóe miệng ta khẽ nhếch lên.

    Nó bỗng quỳ phắt xuống, túm chặt vạt áo của mình. Thị nữ run bần bật như lá cây trước gió kia lập tức nhảy dựng lên, vừa sải chân chạy, vừa hét lên: “Chủ nhân sắp nôn ra máu rồi, ngươi ngươi, mau vời hoàng thượng; còn ngươi ngươi, mau đi lấy khăn; ngươi ngươi mau đi lấy chậu rửa mặt…”.

    Ta ngậm miệng lại, hắng giọng: “Hầy con cứ từ từ nôn, đừng nôn vội quá, kẻo sặc đấy, cô cô về trước đây, về trước đây”.

    Nói đoạn liền kéo thị nữ đi cùng ta tới đang đứng như trời trồng ở bên cạnh, vội vàng cáo từ.

    Ta đắn đo suy nghĩ suốt dọc đường từ Hạm Đạm viện đến Tử Trúc viện, tính cách của Trần quý nhân vừa nãy không có điểm nào giống với Phượng Cửu, nhưng rõ ràng giữa trán cũng có vết bớt hình lông phượng, cũng vừa nhìn một cái là nhận ra ta là cô cô của nó. Nghe nói thần tiên như Phượng Cửu, cho dù có trú ngụ trong thân xác người phàm, thì cũng không nên bị những tâm tư của người phàm này chi phối, lần này nó lại có dáng vẻ ấy, chẳng nhẽ… ta bóp trán trầm ngâm suy ngẫm giây lát… chẳng nhẽ nó đang sử dụng… phép cấm của Thanh Khâu – lưỡng sinh chú sao?

    Nói đến phép lưỡng sinh chú này, thực ra cũng không phải là phép thuật làm thương tổn thiên lý gì, chẳng qua chỉ giúp người ta thay đổi tính tình trong một giờ khắc nhất định nào đó mà thôi. Ví dụ như ở Thanh Khâu, một số tiểu tiên trong lúc họp chợ trước đây cực kỳ thích sử dụng thần chú này với bản thân. Như thế, cho gặp phải người khách khó chèo kéo đến đâu, đều có thể trưng ra khuôn mặt chân thành từ tâm can, cười rạng ngời như hoa cúc, không cần phải vài câu không xong liền ra tay đánh đuổi. Nhưng rõ ràng đây không phải là phép thuật thành thực, vi phạm tiên đức, sau này ta cùng tứ ca bàn tính, cấm luôn pháp thuật này.

    Nếu như lần này Phượng Cửu thực sự niệm lưỡng sinh chú, ôi, tại sao nó phải niệm thần chú này chứ? Ta nghĩ mãi mà không hiểu nổi. Buổi chiều ta đánh xong một giấc, suy tính quyết định đêm phải đến Hạm Đạm viện một chuyến nữa.

    Nhưng chẳng ngờ Phượng Cửu lại rất hiểu lòng người, không cần ta qua, mà nó lại trước.

    Lúc này, ta đang ngồi trên một cái đài cao, một mình dùng bữa tối ở hậu viện. Trăng sáng sao thưa vằng vặc giữa nền trời đêm cũng có vài phần thú vị. Khi đang ăn rất vui vẻ, sau lưng nó đeo một mớ củi kinh, bỗng nhảy từ trên tường xuống, nhảy đúng lên bàn ăn của ta. Bát đũa trên bàn xô vào nhau loảng xoảng, ta vội vàng bưng chén trà né sang một bên. Phượng Cửu đau khổ bò từ trên bàn xuống, mấy thanh củi kinh (19) còng queo trên lưng dựng đứng lên, bốn chi phủ phục hành lễ trước ta: “Cô cô, đứa cháu bất tài Phượng Cửu xin cô cô trách phạt”.

    Ta lau mấy giọt dầu lem trên tay áo, nhìn thấy nó giờ đây đã hiện nguyên hình, không dùng đến xác phàm của Trần quý nhân thì thấy thuận mắt hơn nhiều, bèn nói: “Quả nhiên con dùng lưỡng sinh chú?”.

    Mặt nó đỏ bừng bừng, miệng khen rối rít: “Cô cô anh minh, cô cô quả thực rất anh minh”.

    Ta coi lời khen ngợi của nó là chuyện đương nhiên, hồi trước ta cũng có nhiều lúc đồ hồ, nhưng sống đến bây giờ, cũng nhiều khi ta rất sáng suốt.

    Vốn muốn dìu nó đứng dậy, nhưng nhìn thấy dầu mỡ bám đầy trên người nó đang sáng bóng dưới ánh trăng, thì không nỡ, đành khoát tay bảo nó đứng dậy, ngồi xuống chiếc ghế đá bên cạnh.

    Ta nâng chén trà may mắn thoát nạn trong tay lên nhấp một ngụm, nhíu mày hỏi nó: “Con đã muốn đến báo ơn của Đông Hoa, sao phải vi phạm lệnh cấm sử dụng lưỡng sinh chú?”.

    Khóe miệng Phượng Cửu nhếch lên thành vòng tròn: “Sao cô cô biết con đến báo ơn Đông Hoa? Ti Mệnh Tinh Quân nói Đông Hoa Đế Quân đầu thai là chuyện cực kỳ cơ mật, bốn bể tám cõi không có ai biết hết”.

    Ta thong thả uống trà, làm ra vẻ cao thâm khó dò, không nói lời nào.

    Nó bỗng run lập cập: “Cô cô, người, chẳng lẽ người theo dõi nhất cử nhất động của Đông Hoa Đế Quân, chẳng nhẽ người đã ưng chàng?” rồi lại làm bộ nắm chặt tay: “Phải rồi, Đông Hoa Đế Quân đúng là tốt hơn so với Bắc Hải Thủy Quân, pháp thuật cũng cao minh hơn một chút, bối phận cũng tương xứng với cô cô, nhưng cô cô phải nhớ rằng Đông Hoa Đế Quân là vị thần tiên từ đá tảng mà thành, cô cô ưng chàng, con đường phía trước cũng thảm lắm thay!”.

    Ta ngẩng đầu nhìn trăng sáng treo trên trời cao, thờ ơ đáp: “Xem ra, tứ ca cũng sắp từ Tây Sơn trở về, ban đầu lưỡng sinh chú là do huynh ấy đề xuất cấm. Ta còn nhớ khi trước ở Thanh Khâu có một tiểu tiên hồ đồ, cho rằng lệnh cấm chỉ là nói chơi thôi, nên ngang nhiên dùng đôi, ba lần, cuối cùng hình như đã bị tứ ca trục xuất khỏi Thanh Khâu”.

    Phượng Cửu ngay tức khắc nhảy dựng lên khỏi ghế đá, xốc lại bó củi kinh sau lưng, chắp hai tay, cung kính nói: “Khi điệt nữ (nghĩa là cháu gái) còn làm thị tỳ ở phủ Đông Hoa Đế Quân đã từng giúp Ti Mệnh Tinh Quân. Ti Mệnh Tinh Quân trả ơn tình của điệt nữ, đợi khi Đông Hoa Đế Quân đầu thai chuyển thế, mới sai một tiên đồng thông báo cho điệt nữ, coi như trả món ân tình đó. Điệt nữ bất tài, năm xưa nhận đại ơn của Đông Hoa Đế Quân, vậy mà chậm trễ mãi không báo đáp được, nay được biết Đế Quân đầu thai chuyển kiếp, bèn nhân lúc chàng làm người phàm để trả ơn. Năm Đế Quân bốn mươi tuổi, điệt nữ đã từng vào trong giấc mộng của chàng, hỏi chàng rằng đời này có nguyện ước nào chưa thành, tình si nào chưa đạt không?”.

    Ta vội ngắt lời: “Tên Đông Hoa làm từ đá tảng ấy nói cái gì? Không phải hắn nói phú quý giang sơn cũng chẳng màng, chỉ mong cầu được người một lòng một dạ với mình đấy chứ?”.

    Phượng Cửu kinh ngạc vô cùng: “Cô cô, sao người lại anh minh như thế?”.

    Ngụm trà trong miệng ta phun bắn ra ngoài, Đông Hoa của kiếp này, hắn cũng, cũng tầm thường thế sao?

    Phượng Cửu lau trà bắn đầy mặt, cười cười tiếp tục nói: “Có lẽ lúc ở phàm trần, thuở nhỏ Đế Quân đã ít nhiều chịu sự nóng lạnh của nhân tình, nên mới xin điệt nữ ban cho một người một lòng một dạ yêu chàng, không rời không xa”.

    Ta trầm ngâm nói: “Cho nên con mới tự mình tiến thân?”.

    Phượng Cửu gật đầu rồi lại lắc đầu: “Thực ra cũng không thể coi là tự mình tiến thân. Ti Mệnh Tinh Quân và điệt nữ đã cùng xem qua số mệnh kiếp này của Đông Hoa Đế Quân. Kiếp này Đế Quân không thể gặp được người con gái một lòng với chàng, nhưng trong ngày lễ ra đời của Hộ pháp Vi Đà mùng một tháng sáu năm chàng ba mươi bảy tuổi, sẽ có thể gặp được người con gái mà chàng hết mực yêu thương, đáng tiếc là tình yêu của cô gái này lại dành cho con trai của chàng là thái tử Nguyên Trinh. Lần này điệt nữ đến là để báo ơn của Đế Quân, nhưng cũng không thể thay đổi được số mệnh của chàng. May mắn thay nửa năm trước một quý nhân của chàng dương xuân đã tận, điệt nữ nghĩ trước lo sau, tạm thời mượn thân xác của vị quý nhân này, muốn đem hết tấm lòng yêu mến, trước khi Đế Quân phải chịu tình kiếp của số mệnh, tạm thời làm thỏa mong ước có một người một lòng một dạ của chàng. Đến khi người con gái mà chàng yêu mến xuất hiện, điệt nữ coi như đã thành công cáo lui, như thế, cũng là thay đổi được số mệnh của chàng”.

    Ta cúi đầu than: “Khi xưa con bị hắn giày vò còn chưa đủ đau lòng sao? Mà bây giờ còn tìm người một lòng một dạ cho hắn. Lúc làm thần tiên nếu hắn có ước nguyện này, con si tình với hắn biết bao năm như thế thì hắn phải biết từ lâu rồi mới phải”.

    Phượng Cửu ủ dột, đáp: “Cô cô dạy rất phải. Điệt nữ vốn cho rằng đây là chuyện rất hay. Nhưng si tình với Đế Quân suốt hai nghìn năm, lần này tuy đoạn tình, nhưng sớm đã tìm lại cảm giác si mê chàng như thuở trước, theo lý mà nói thì cũng chẳng khó. Nhưng sớm biết chân tình không phải nói thể hiện là thể hiện được liền, con nung nấu bao ngày, đợi mượn được thân xác của Trần quý nhân đến gặp Đế Quân, nhưng thực sự chẳng tìm nổi chút cảm giác yêu thương nào, đến một hai câu nói cũng không nói nổi, điệt nữ cảm thấy rất có lỗi với Đế Quân, vì thế cảm thấy rầu rĩ vô cùng”.

    Ta an ủi nó: “Tro tàn đâu dễ nhen lửa, tình xưa cũng khó thắp, con đâu cần đau lòng như thế”.

    Nó nghiêm nghị đáp: “Cuối cùng điệt nữ cũng đã hạ phàm, lại nhận thêm một món nợ ân tình nữa của minh chủ U Minh Ty, giữ được xác phàm của Trần quý nhân, nếu buông tay như thế, thì đã không báo được ơn, còn thiệt thòi rất nhiều, điệt nữ khổ tâm suy nghĩ hai ngày”, nó ngừng lại rồi nói tiếp, “điệt nữ chỉ còn cách niệm lưỡng sinh chú trên người mình. Bị pháp thuật trói buộc, ban ngày sẽ phải theo tính cách của Trần quý nhân làm điệu bộ yêu thương tôn sùng Đế Quân, khi mặt trời xuống núi mới được giải thoát. Lại không nghĩ rằng tính tình của Trần quý nhân kiếp trước là như vậy, mỗi khi đêm về, nhớ lại hình dáng ban ngày, điệt nữ đều cảm thấy khổ sở vô cùng, thực là mất mặt quá đi thôi”.

    Ta nói ngược với lòng mình: “Con không cần áy náy làm gì, cũng không có gì là mất mặt cả”. Đột nhiên nhớ ra chuyện quan trọng, ta bèn hỏi nó, “Từ lúc con hóa thân thành Trần quý nhân để báo ơn đến nay, có cho Đông Hoa lợi dụng tý nào không?”.

    Nó ngẩn người ra, lắc đầu nguầy nguậy: “Trần quý nhân trước đây cũng không được sủng ái. Con mượn thân xác nàng ta, trên trán lại nổi vết bớt, bị một tên chân nhân thối phán là yêu hoa, Đế Quân tuy không đày con vào lãnh cung, nhưng cũng chẳng thèm tới Hạm Đạm viện”.

    Ta kêu lên kinh ngạc: “Vậy mỗi ngày con diễn bộ dạng yêu hắn tới mức chết đi sống lại như thế để làm gì?”.

    Nó trịnh trọng thưa: “Cô cô nên nhớ chân thành yêu một người, là một chuyện cần phải hết lòng tận tụy, không thể trước mặt thì tỏ ra yêu, sau lưng lại tỏ ra không yêu”.

    Ta đành ngáp một cái.

    Phượng Cửu giờ đây thực khiến người ta an lòng. Nếu nó có thể báo ơn một cách thuận lợi, không cần ta và các thúc thúc của nó lo lắng, thì đâu có gì là không tốt chứ. Ta nghĩ vậy, đang định dắt Phượng Cửu còn đang dầu mỡ chảy tong tong trên mình đi về, tự tay rửa mặt mũi cho nó đi ngủ, thì đất bằng nổi cơn gió lành ào tới.

    Tử Trúc Uyển xem ra đúng là đất lành.

    Đêm nay, xem ra là thời khắc đẹp.

    Chiết Nhan hiện hình giữa không trung, thần sắc hơi mỏi mệt. Trời cao đất rộng, cảnh tượng đêm nay thật hiếm thấy. Không nhẽ lão lại làm gì khiến tứ ca nổi giận sao?

    Ta vẫn lặng im, nhấp ngụm trà.

    Quả nhiên lão ta lên tiếng: “Nha đầu, mấy hôm nay Chân Chân có tới tìm người không?”.

    Giọng nói ấy khiến cho Phượng Cửu run lên bần bật, đã bao năm rồi nha đầu này vẫn còn thói quen ấy, thật là đáng thương.

    Ta lắc đầu đáp: “Không phải tứ ca đi Tây Sơn tìm vật cưỡi của huynh ấy là Tất Phương điểu sao?”.

    Lão ta bối rối cười: “Mấy hôm trước về rồi”. Rồi lại tiếp tục vò đầu, nói: “Tất Phương điểu của hắn đúng là tính tình hoang dại khó thuần”.

    Lúc sắp đi, lão lại quay đầu nói với ta: “Có một chuyện quên nói với ngươi, sau hôm ngươi đến Đông Hải dự tiệc, cháu của Thiên Quân Dạ Hoa đến rừng đào tìm ta, hỏi dò ta chuyện cũ ba trăm năm trước của ngươi”.

    Ta sửng sốt kêu lên: “A?”.

    Lão ta chau mày nói tiếp: “Ta bảo hắn rằng năm trăm năm trước ngươi mắc trọng bệnh, ngủ liền hơn hai trăm năm mới tỉnh lại, hắn không hỏi gì thêm liền đi. Nha đầu, hôn sự của ngươi với hắn không phải lại hỏng rồi chứ?”.

    Trận ác chiến với Kình Thương năm trăm năm trước không thể cho người ngoài biết, rốt cuộc Thanh Khâu và Kình Thương có hận thù gì mà thượng thần của Thanh Khâu lại đi đánh Kình Thương có chút không thể nói rõ được.

    Ta lặng im một lát mới trả lời lão: “Không phải vậy đâu, Dạ Hoa chưa từng có vẻ muốn từ hôn”.

    Lão ta gật đầu nói: “Vậy thì tốt”, rồi quay sang nói với Phượng Cửu: “Chân Chân rất nhớ tài nghệ nấu nướng của ngươi, lúc nào rảnh rỗi nhớ đến rừng đào chơi một chuyến nhé”. Phượng Cửu đang định đáp lời, lão lại nói: “Lưỡng sinh chú trên người ngươi cũng không tồi đâu” rồi vội vàng đi mất tăm.

    Phượng Cửu ấm ức nhìn ta: “Cô cô, lão uy hiếp con”.

    Muốn tìm một nhân tài dám đẩy hoàng đế giữa đám đông xuống nước ở trần gian quả thực khó như mò kim đáy bể. Vạn sự giúp Nguyên Trinh vượt qua kiếp nạn đều chuẩn bị sẵn sàng, duy chỉ thiếu có gió đông đẩy người này. Vốn ta định nhờ Phượng Cửu gánh vác, kết quả là nó ngẫm nghĩ hồi lâu rồi thành thực thưa: “Con bị lưỡng sinh chú trói thân, cứ đến ban ngày là quên mất bản tính của mình, chỉ còn lại tính tình bẩm sinh của Trần quý nhân, nhớ nhung Đế Quân ngày ngày rơi lệ đêm đêm sầu não đến nỗi nôn ra máu. Theo như tính tình của Trần quý nhân thì không ngăn người ta đẩy người, làm rối kế hoạch của cô cô là đã tốt lắm rồi, cô cô bảo con tự tay đẩy Đế Quân xuống nước thực là không chuyện không thể làm được”.

    Ta đắn đo, ngẫm ra có lý, nên cũng không miễn cưỡng nữa. Nếu thực sự không tìm được người nào, thì chỉ có cách ta làm mà thôi. Nhưng hoàng đế vốn không thích người tu đạo, đến lúc đó ta có thể lội nước mò cá leo lên thuyền của hoàng đế hay không cũng là một câu hỏi lớn.

    May mà Nguyên Trinh có một người mẹ hết lòng vì y, ta không nói đến cái người ngồi trong đạo quán kia. Đương nhiên người mẹ ở trong đạo quán cũng rất lo cho y, nhưng trước sau cũng chỉ lo về phương diện tu tiên học đạo, còn chuyện vặt vãnh đời thường thì chỉ hỏi han qua loa đôi chút.

    Thế nên người mẹ dốc hết tâm can vì thần tiên Nguyên Trinh, chính là Thiếu Tân.

    Lần này Thiếu Tân hạ phàm là muốn xem xem kiếp nạn của Nguyên Trinh được độ hóa ra sao, liền bị ta tóm được, đành phải thiệt thòi nhận trách nhiệm đẩy hoàng đế xuống nước.

    Chủ ý của ta rất hợp lý. Đến lúc đó nàng ta dùng tiên thuật ẩn thân, nhân lúc mỹ nhân định mệnh xuất hiện, mọi người đều tập trung ngắm mỹ nhân, Thiếu Tân đến sau hoàng đế khẽ đẩy một cái, tiện lợi biết bao, nhanh gọn biết bao, hiệu quả biết bao. Nhưng dùng tiên thuật để làm chuyện thay đổi số mệnh của Nguyên Trinh này, chung quy vẫn hơi thất đức, nàng ta lại là thai phụ, nếu mà pháp lực giáng lại bản thân, thì sẽ phải chịu ít nhiều báo ứng.

    Ta nhìn Thiếu Tân đang vác cái bụng to như bụng trống, trầm tư nói: “Ngươi làm việc này e rằng hơi nguy hiểm, chi bằng tìm một người khỏe mạnh một chút”.

    Thiếu Tân suy nghĩ một hồi, nói có thể nhờ phu quân của nàng ta là Bắc Hải Thủy Quân Tang Tịch đến hoàn thành chuyện thất đức này.

    Chú thích:

    17. Ý trong

    18. Bát công: Thời Hán, chỉ tám người: Tô Phi, Lý Thượng, Tả Ngô, Điền Do, Lôi Bị, Mao Bị, Ngũ Bị, Tấn Xương đều là môn khách của Hoài Nam Vương Lưu An. Trong sách sử các đời đều coi đây là những người tài, đạo hành gần như thần tiên (ND).

    19. Người xưa đeo roi hoặc củi kinh trên lưng là có ý đến nhận tội (ND).
    Anh không quan tâm em yêu ai, nhưng anh sẽ không bao giờ tha thứ cho những người làm em bị tổn thương...

  6. #13
    Đang học vỡ lòng Nhật Minh's Avatar
    Tham gia ngày
    Aug 2016
    Bài gởi
    120
    Đô
    1,238
    Tài khoản Tiết Kiệm
    0
    Cảm ơn / Thích
    Blog Đã Viết
    5
    Đề cập
    2 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Default

    Chương 11: Độ kiếp cũng cần kĩ thuật

    Mấy ngày sau đã là ngày mùng một tháng sáu.

    Sổ số mệnh của Ti Mệnh Tinh Quân viết không sai, hoàng đế quả nhiên dẫn theo văn võ bá quan cùng các phi tần chơi thuyền trên sông Sấu Ngọc. Từ khi ta vào hoàng cung đến nay, vì không được hoàng đế coi trọng, tuy danh nghĩa là sư phụ của thái tử nhưng chưa từng được phong phẩm trật nào. Nhưng mấy tên quan nhỏ làm việc ở bộ Lễ cũng có con mắt, biết được ta là cao nhân, xếp ta vào hàng bách quan, trên chiếc thuyền rồng chơi sông đó dồn lại mấy viên quan hàng bát phẩm, cũng coi như là có chỗ. Nhưng vị trí này chỉ có thể nhìn thấy gáy của hoàng đế, một cái gáy khác cách hoàng đế khoảng ba trượng, nhang nhác giống Trần quý nhân.

    Mão Nhật Tinh Quân cũng rất sĩ diện, trong ngày mà tiểu đệ Nguyên Trinh cùng Đông Hoa Đế Quân song song chịu kiếp nạn, y chiếu rọi gay gắt trên đầu người ta. Giữa bầu không dăm đám mây trôi bồng bềnh, giống như đám hơi nóng sắp tản đi, thật là uể oải.

    Sấu Ngọc không phải là con sông rộng, mà thuyền rồng của hoàng đế thì lớn, chiếm đến nửa mặt sông.

    Hai bên bờ sông dân chúng chen chúc đông nghịt người, có lẽ trời vừa tang tảng sáng họ đã đến bờ sông để xí vị trí đẹp. Nhưng khúc sông mà hoàng đế du ngoạn này cũng chẳng dài, dân chúng kinh thành thì đông, có rất nhiều người không có chỗ trên mặt đất liền trèo cả lên cây hoặc lên nhà dân gần đó để nhìn.

    Đám phu chèo thuyền vất vả vô cùng, vì trên đê bao bờ sông dân chen như nêm, nên phải chèo thuyền ra giữa dòng, không lệch về bờ trái một thước cũng không lệch về bờ phải một thước, để tỏ rõ ơn mưa móc của hoàng đế tưới tắm bốn bể, tất cả như nhau, không thiên vị dân chúng bên bờ trái, cũng chẳng thiên tư bá tính bên bờ phải. Vì đây là hành động cực kỳ tinh tế, có câu rằng chậm mà kỹ, thế nên thuyền cứ từ từ trôi đi.

    Dưới ánh nắng mặt trời, người trên thuyền đều bị hun đến mức hai chân run cầm cập.

    Buổi trưa đã dần tới. Ta nhét hai chiếc lá vàng vào tay thằng nhóc hoạn quan đang bận rộn sau thuyền, nhờ y đi mời thái tử. Nhóc hoạn quan này chân tay lanh lợi, ta vừa mới nhắm mắt nghỉ một lát, Nguyên Trinh đã vui vẻ chạy tới.

    Hôm nay y bận một chiếc áo bào gấm màu xanh da trời thêu hoa, thiếu niên anh tuấn, nhìn thấy ta, cười tươi hớn hở hỏi: “Sư phụ kêu Nguyên Trinh tới không biết có chuyện quan trọng gì không?”.

    Tuy y có cái tính hay hỏi rành rẽ ngọn nguồn, nhưng ta đã sớm định liệu, trước tiên im lặng một lát, làm ra vẻ thần bí, vừa túm tay áo vừa than: “Ngực vi sư vừa nãy xuất hiện một luồng đạo quang, rất nhiều huyền lý mà bình thường không hiểu giờ đã rành rẽ, vi sư nhớ tới con luôn một lòng hướng tới đạo pháp, nay đã đắc đạo, muốn truyền lại cho con, chẳng hay con có muốn nghe không?”.

    Tiểu đệ Nguyên Trinh lập tức chắp tay, cúi đầu lắng nghe.

    Ta nghiêm trang hắng giọng.

    Lúc học nghệ ở Côn Luân, ta tuy không có tài năng gì, phàm là bài giảng có liên quan đến chữ “pháp” như đạo pháp, Phật pháp ta đều học rất qua loa. Nhưng cho dù những giờ giảng năm đó của Mặc Uyên ta đều gà gật, thì trong lúc gà gật cũng nhận được sự hun đúc suốt mấy trăm năm, giảng giải về đạo pháp cho một người phàm trong một canh giờ thì cũng không thành vấn đề.

    Ta vừa giảng đạo cho Nguyên Trinh, vừa đợi mỹ nhân định mệnh trong cuốn sổ số mệnh của Ti Mệnh Tinh Quân, thấy trời sắp quá trưa, lòng cũng hơi sốt ruột.

    Giảng đến đoạn cuối, Nguyên Trinh muốn nói nhưng lại ngừng lúc lâu, cuối cùng mới chen lời: “Sư phụ, ban nãy đoạn song tu trong phòng, dưỡng khí di thần người đã giảng cả thảy bốn lần rồi ạ”. Ta hận sắt không thành thép được (20), bèn nói: “Vi sư giảng cả thảy bốn lần là có đạo lý của bốn lần. Con số bốn này tượng trưng cho cái gì, con nên ngẫm kỹ; đoạn đạo pháp nói cái gì, con cũng nên ngẫm kỹ; tại sao vi sư lại chọn đoạn này để giảng bốn lần, con cũng nên ngẫm kỹ; điều cốt yếu nhất của việc học đạo chính là chữ “ngẫm” này, giống như con không hiểu được khổ tâm của vi sư lúc này đây, để tu được đạo thực không dễ đâu”.

    Nguyên Trinh xấu hổ cúi gằm mặt.

    Vì bị y ngắt lời như thế, ta phải nghĩ một lúc mới nhớ ra mình đang giảng cho y đoạn nào mà tới tận bốn lần? Hầy, tạm thời mặc kệ y, tiếp tục nói về song tu trong phòng, dưỡng khí di thần nào.

    Ta giảng khô cả họng, trà đã rót đầy hai bình lớn, mỹ nhân trong cuốn sổ số mệnh của Ti Mệnh Tinh Quân cuối cùng cũng đã xuất hiện. Thực ra ta chưa nhìn thấy mỹ nhân ấy, vì chỗ ta ngồi là cuối thuyền, đương nhiên nhìn ra xung quanh toàn là các loại gáy của người ta mà thôi, sớm biết mỹ nhân đã xuất hiện, là vì ta nhìn thấy đại bàng cánh vàng luôn bên cạnh Phật Tổ ở Tây Thiên – do Ti Mệnh Tinh Quân không tiếc công sức mượn về – đang quẩn quanh ở chân trời.

    Ta sống đã nhiều năm thế này, cũng chưa bao giờ chứng kiến hoàng đế nhảy xuống nước cứu mỹ nhân, khoảnh khắc nữa sẽ được đã mắt, nhất thời máu nóng bừng bừng. Nhưng vì còn phải cầm chân tiểu đệ Nguyên Trinh, nên chí ít cũng phải làm bộ trấn tĩnh, khổ sở nhẫn nhịn.

    Tiếng hô hoán của dân chúng ven bờ cũng dần ngớt đi, toàn thuyền lặng phắc, đại bàng cánh vàng vẫn còn là một chấm nhỏ nơi chân trời, hẳn sự im lặng đáng kinh ngạc kia không phải do nó gây nên.

    Có lẽ đám người im bặt đó đang mê mẩn trước sự xuất hiện của mỹ nhân.

    Tiểu đệ Nguyên Trinh còn đang mê đắm trong cảnh giới của đạo pháp bác đại tinh thâm, không thể tự thức tỉnh, chưa ý thức được cảnh tượng này, ta rất vui mừng, vừa tiếp tục hoằng dương đạo pháp với y, vừa thầm liếc con đại bàng cánh vàng bay đến càng lúc càng gần kia.

    Con đại bàng cánh vàng bên cạnh Phật Tổ này vô cùng uy nghiêm, mỗi lần đập cánh bay được ba ngàn dặm, lần này lại sắm vai một con chim thường, nếu bay mạnh mẽ quá thì không hợp, vì thế nó co đôi cánh lại, bay chầm chậm trên bầu trời, chầm chậm lướt qua, hẳn chưa bao giờ nó phải chịu gò bó thế này, nó rủ đầu, dáng vẻ rất tủi hổ.

    Ta nhìn thấy đại bàng cánh vàng khổ sở đến giữa khoảng không trên sông Sấu Ngọc, đầu tiên nó khẽ khàng đập cánh lượn một vòng, sau lại khẽ khàng vươn đôi cánh rộng ra một chút, tiếp tục khẽ khàng chúi đầu xuống, lại khẽ khàng bay vọt lên trên. Ta có cảm giác, cả đời này chưa bao giờ nó tao nhã, thoát tục đến như thế.

    Nhưng những động tác vừa khiêm nhượng vừa nghiêm trang của nó lại chẳng ra làm sao trong mắt người trần mắt thịt, thế nên họ đều kinh sợ, hò hét đủ kiểu. Một ông lão bên cạnh ta run lên cầm cập, tay chỉ trỏ, miệng lào thào nói: “Trên đời sao lại có con đại bàng to đến thế, con đại bàng này sao mà hung dữ, bay sao mà nhanh thế!”.

    Nguyên Trinh vẫn đang đắm chìm trong thế giới đạo học vi diệu, y đang khổ sở suy tư. Ta băn khoăn mỹ nhân kia đáng nhẽ đã phải rơi xuống nước rồi, bèn bình tĩnh chờ Tang Tịch ở đầu thuyền đẩy hoàng đế xuống “tõm” một tiếng.

    Đầu thuyền quả nhiên vang lên một tiếng “tõm”, ta sung sướng trong lòng gật gật đầu, rất tốt, Tang Tịch đã đẩy Đông Hoa xuống nước rồi.

    Đầu ta còn chưa gật xong thì bên kia đã nghe thấy tiếng Trần quý nhân kêu lên thất thanh: “Bệ, bệ hạ không biết bơi…” rồi tiếp theo lại một tiếng “tõm” nữa vang lên. Tiếp theo rất nhiều tiếng “tõm” khác vang lên.

    Ta ngây người ra.

    Mẹ ơi.

    Nghìn tính vạn tính nhưng lại chẳng tính được kiếp này đầu thai Đông Hoa là một con vịt cạn, làm sao bảo hắn cứu mỹ nhân được đây?

    Ta hớt hơ hớt hải chạy đến đầu thuyền, Nguyên Trinh hẳn đã bị tiếng thét lúc nãy của Trần quý nhân làm cho sực tỉnh, vội vàng kích động chạy lên trước ta. Tuy đã vỡ lở như thế này, nhưng bây giờ cũng không thể để Nguyên Trinh rơi xuống nước. Cho dù có liên lụy đến số mệnh của Đông Hoa thì cũng phải thay đổi, vẫn còn tốt hơn là cả hai số mệnh đều không thể thay đổi. Bản thượng thần trong lúc nhốn nháo vẫn giữ bình tĩnh, trong chớp mắt đã đưa ra quyết sách sáng suốt này, nên sống chết giữ chặt tay Nguyên Trinh.

    Nguyên Trinh vừa chạy vừa nhìn ta một cái đầy hàm ý rồi lại tiếp tục chạy. Đã có thái tử mở đường, hai chúng ta chạy một mạch đến đầu thuyền, vượt qua ba tầng bảy lớp người, đứng ngay sau lan can ở đầu thuyền.

    Từ lan can nhìn ra phía trước.

    Đây đúng là một cảnh tượng kỳ lạ.

    Khắp sông Sấu Ngọc quan lớn quan nhỏ lóp ngóp lặn ngụp hò hét, kẻ không biết bơi thì vừa sặc sụa vừa kêu cứu, kẻ biết bơi thì bơi qua bơi lại vừa bơi vừa hò hét gọi hoàng đế, gặp phải bạn đồng liêu tuy không biết bơi nhưng cũng nhảy xuống, bèn vừa kéo vừa bơi vừa tìm hoàng đế.

    Nhưng vì người trên sông quá nhiều, cuộc tìm kiếm này vì thế mà trở nên thật vất vả.

    Ta đứng trên mũi thuyền, cúi xuống nhìn cả quãng sông, nhìn rõ một chút thì thấy hoàng đế bệ hạ mà đám quan tìm kiếm trên sông Sấu Ngọc kia đã nằm trong vòng tay của Trần quý nhân nhỏ bé, đang được chật vật đưa lên thuyền rồng.

    Chứng kiến cảnh tượng này, ta đoán rằng sau khi hoàng đế bị Tang Tịch thần không biết quỷ không hay đẩy xuống sông, Trần quý nhân hét lên một tiếng “Bệ hạ không biết bơi” đã thức tỉnh đám người đang say sưa, đám trung thần dưới trướng của hoàng đế để biểu thị lòng trung trinh liền vội vàng nhảy xuống nước cứu giá. Không ít kẻ tuy không biết bơi nhưng, bị ảnh hưởng tâm lý đám đông, cũng cắn răng vén áo nhảy xuống. Còn có một số thành phần lý trí, tuy không mù quáng a dua theo đám đông, nhưng nghĩ rằng người khác nhảy xuống mà ta không nhảy thì biết ăn nói ra sao, bèn bi phẫn mà nhảy theo. Thị vệ bên cạnh hoàng đế tất nhiên là biết bơi, vốn họ chỉ muốn cứu một mình hoàng đế, nhưng lại thấy mấy con vịt cạn nhảy xuống, huống hồ lại là vịt cạn rường cột nước nhà, nên không cứu cũng không được, vì thế đã mệt lại càng thêm mệt. Lúc này, Trần quý nhân đã đưa được hoàng đế lên thuyền, còn thị vệ của hoàng đế phải bận rộn cứu các vị rường cột quốc gia không biết bơi kia.

    Nhốn nháo như thế, nên chẳng ai thèm đoái hoài tới mỹ nhân rơi xuống nước trong cuốn sổ số mệnh kia.

    Nguyên Trinh chỉ chăm chăm lo cho phụ hoàng của y, đương nhiên cũng chẳng màng đến mỹ nhân rơi xuống nước kia, mấy lần muốn nhảy xuống cứu phụ hoàng y, may mà bị mấy lão đại thần bảy mươi, tám mươi tuổi chưa kịp nhảy xuống sông ngăn lại. Hoàng đế ốc còn không lo nổi mình ốc, làm gì có sức mà quan tâm tới mỹ nhân kia.

    Vừa nãy ta nhìn thấy, mỹ nhân kia tự mình bơi vào bờ, vừa khóc vừa lủi thủi đi mất.

    Hoàng đế bị ngâm nước tới mức nửa sống nửa chết.

    Vì Trần quý nhân là phi tần duy nhất nhảy xuống sông sau hoàng đế, lại còn tự tay cứu hoàng đế lên, địa vị đương nhiên có khác với mọi người… Đám phi tần bị hoàng hậu – người biết đến toàn cục bảo đứng sau một bên khóc lóc thút thít, chỉ còn có Trần quý nhân là có thể bò rạp bên cạnh long thể của hoàng đế, khóc váng trời tối đất: “Bệ hạ – người tỉnh đi – người tỉnh đi – người không thể vứt bỏ thần thiếp như thế”.

    Gào rồi lại ôm ngực nôn ra một bụm máu, gào thêm hai câu lại nôn thêm một bụm máu nữa.

    Mấy thái y già dày dặn kinh nghiệm đi theo hoảng hốt chạy qua tách Trần quý nhân và hoàng đế ra, phân công rất chuyên nghiệp, mỗi người đều tự mở hòm thuốc của mình, hỏi han bắt mạch riêng cho hoàng đế rồi tới Trần quý nhân.

    Chuyến du ngoạn này cuối cùng xôi hỏng bỏng không, thuyền rồng rốt cuộc có thể phát huy sở trường lướt trên sóng nước của nó, những viên quan chèo thuyền không cẩn thận giữ tốc độ lúc trước, sau mệnh lệnh của thái tử, họ đều hô vang giơ cao mái chèo, “soạt” một tiếng, thuyền rồng liền lao vút đi về phía hoàng cung.

    Ta nán lại đuôi thuyền, vẫy tên nhóc hoạn quan ban nãy đi mời Nguyên Trinh cho ta, đòi một bình nước lọc. Kiếp số của Nguyên Trinh đã được hóa giải, nhưng lại không may liên lụy đến Đông Hoa và mỹ nhân rơi xuống nước bị bỏ qua kia. Đương nhiên ta biết Đông Hoa thân là chúa của các thần, bao chuyện phiền toái vụn vặt, có thể thu xếp thời giờ để xuống đầu thai một lần ở hạ giới không phải là dễ, lần này cơ duyên trải nghiệm tình kiếp của hắn lại bị ta hủy hoại, ta cũng cảm thấy có lỗi.

    Lau hết mồ hôi, uống một ngụm nước, việc lần này của Nguyên Trinh, rốt cuộc bản thượng thần đã thực hiện không êm đẹp.

    Tuy rằng đã thực hiện không êm đẹp, nhưng tốt xấu gì cũng đã làm xong.

    Bấm tay nhẩm tính, ta đã ở dưới phàm trần suốt mấy ngày, phàm trần giờ đây đâu còn thú vị như năm nào. Ta định ngày mai sẽ đến đạo quán sau hoàng cung, từ biệt bà mẹ đạo cô của Nguyên Trinh, coi như là có trước có sau, rồi quay về Thanh Khâu. Nhưng bây giờ trên người ta không còn một chút pháp lực, làm thế nào để về được Thanh Khâu cũng là một vấn đề.

    Trước đó Phượng Cửu có nói với ta, qua lễ sinh nhật của Vi Đà mùng một tháng sáu, đợi Đông Hoa gặp được người con gái mà hắn một lòng một dạ yêu thương, ấy là lúc nó nên đi. Lần này số mệnh của Đông Hoa tuy có bị thay đổi đôi chút, nhưng kết cục thì cũng không can hệ gì nhiều đến nó, còn chưa kể đến chuyện trong cơn nguy hiểm, nó dám bất chấp tính mạng để cứu Đông Hoa, ước nguyện báo ơn đã được thực hiện rồi. Ta ngẫm nghĩ một lát, sau khi mặt trời xuống núi ta sẽ đi tìm Phượng Cửu, ngày mai cùng nó quay về Thanh Khâu.

    Ta về Tử Trúc viện đánh một giấc.

    Khi đôi tay mềm mại của thị nữ lay ta tỉnh dậy thì trời cũng đã nhá nhem tối.

    Thong thả ăn mấy miếng cơm, kêu thị nữ mang một chiếc đèn lồng tới, rồi cùng ta đi tới Hạm Đạm viện.

    Ban ngày, người ta thật khó phân biệt đông tây nam bắc ở hoàng cung, về đêm, xung quanh đèn đuốc sáng trưng vàng vàng tối tối, ta đã vào hoàng cung gần hai tháng, nhưng đài nào, điện nào, đều rối như tơ vò. Thị nữ cầm đèn lồng rất tỏ tường đường đi lối lại, còn ta chỉ biết lặng lẽ theo sau, trong lòng không khỏi khâm phục nàng ta.

    Đi qua một cái đình trong hoa viên, chẳng ngờ bị tiểu đệ Nguyên Trinh đột nhiên xuất hiện tóm được. Thị nữ cúi mình, chào “Thái tử điện hạ”. Hai tay Nguyên Trinh vẫn giữ chặt tay áo, im lặng gật đầu rồi quay sang nhìn ta, thì thào hỏi: “Nguyên Trinh có việc muốn bàn với sư phụ, chẳng hay sư phụ có thể qua đình kia với Nguyên Trinh không?”.

    Đến lại gần nhìn, dáng vẻ của y dường như hơi bối rối, ngại ngùng, lòng ta thoáng run sợ, buổi chiều vì y phải đi thăm cha mình, ta không đi cùng y được, bộ dạng bây giờ của y, chẳng lẽ đã bị sợi chỉ hồng định mệnh quấn lấy mỹ nhân rơi xuống nước rồi sao? Nếu quả như vậy, cuốn sổ số mệnh của Ti Mệnh Tinh Quân quả là ghê gớm.

    Nguyên Trinh dẫn ta đến cái đình đó rồi ngồi xuống. Gió từ mặt hồ thổi tới hơi lành lạnh.

    Ta nhìn dáng vẻ tình xuân phơi phới của y, không nói gì mà lẳng lặng ngồi xuống ghế đá.

    Y cũng ngô nghê, tự vui vẻ hồi lâu, mãi sau mới rón rén lấy từ trong tay áo ra một vật gì đó, đưa đến trước mặt ta tựa như dâng bảo vật: “Sư phụ, người nhìn xem, nó có đáng yêu hay không?”.

    Ta đủng đỉnh liếc nhìn vào bàn tay y một cái, rồi thầm than một tiếng trong lòng, Nguyên Trinh ơi là Nguyên Trinh, đứa trẻ như ngươi sao lại khiến người ta lo lắng đến thế, ngươi có biết trong tay người đang giữ thứ gì không?

    Quả nhiên tiểu đệ Nguyên Trinh không biết trong tay mình là thứ gì, nhíu mày căng thẳng hỏi: “Trưa nay khi thuyền chuẩn bị cập bờ, vì phải quản bách quan nên Nguyên Trinh rớt lại sau cùng. Bé cưng này rơi từ trên trời rơi xuống, a, khi ấy nó không nhỏ như thế này, đôi cánh dang ra to bằng một nửa gian nhà, cực kỳ oai nghiêm. Vừa nhìn thấy là sà đến người Nguyên Trinh, bé cưng rất biết thương xót người ta, sợ làm Nguyên Trinh bị thương, lập tức thu nhỏ lại như thế này, rồi sà vào lòng Nguyên Trinh”.

    Bé cưng đang im thin thít rúc trong lòng bàn tay Nguyên Trinh – đại bàng cánh vàng đậu trước tòa sen của Phật Tổ Như Lai ở đất Phật Tây Thiên, nay thu nhỏ bằng con chim sẻ, tuy rằng nó chỉ nhỏ như con chim sẻ, nhưng toàn thân không bị mất đi màu vàng lấp lánh. Nó đang chúi đầu dưới quầng sáng vàng, dáng vẻ vô cùng ủ dột, sợ sệt, nghe thấy hai tiếng “bé cưng” là lại nhắm nghiền mắt, run lên bần bật. Nhìn kỹ lại, hai chân nó đang đeo một chiếc chuông. Chiếc chuông này là một vật báu, vốn được gọi là chuông khóa tiên, là thứ dùng để giam linh thú, linh cầm ở trên Thiên Đình. Chẳng trách đại bàng cánh vàng không thể khôi phục lại cơ thể, chỉ có thể biến thành miếng thịt nhỏ xíu nằm trên thớt, mặc cho người ta trêu đùa.

    Lúc trưa, khi con đại bàng cánh vàng này từ trên trời bay xuống ta đã hơi lo sợ, nó co chân co cánh bay như vậy, khó mà tránh được bay ở lưng chừng sẽ bị chuột rút. Muốn làm cho điều ta lo lắng ứng nghiệm, thì nó mới ngoan ngoãn sà vào lòng Nguyên Trinh chăng?

    Ta chăm chú nhìn chiếc chuông đeo trên chân của đại bàng cánh vàng, Nguyên Trinh bèn bước tới, nói: “Cái này là sư phụ trước cho con, năm con mười hai, mười ba tuổi, sau đạo quán có một con sư tử tinh khóc rống lên đòi làm vật cưỡi của con, sư phụ liền cho con để khống chế con sư tử tinh kia. Sau con sư tử tinh cái này bị một con sư tử tinh đực rủ đi mất, chiếc chuông từ đó không biết dùng vào việc gì, lần này vừa hay dùng cho bé cưng”.

    Bé cưng lại run cầm cập.

    Ta gật đầu “à” rồi lại “ừ”, thành thật khuyên y: “Con nên suy nghĩ cho kỹ, ngài, ừm, thứ trên tay con thực ra có chủ rồi, nếu con giấu nó đi, đến khi người chủ đó tìm thấy, e rằng sẽ rất khó xử”.

    Y chau mày, gương mặt u oán, nói: “Cho nên Nguyên Trinh mới bàn bạc với sư phụ, sư phụ là cao nhân, có thể cùng Nguyên Trinh chăm nó được không? Bé cưng là linh thú, chủ nhân của nó đương nhiên cũng không phải phàm nhân, Nguyên Trinh chỉ là một người phàm, dương thọ có hạn, đợi đến khi Nguyên Trinh mệnh tận nơi chín suối, đương nhiên sẽ trả bé cưng cho người ấy”.

    Ta nhìn bé cưng một cái, bé cưng lại cực lực lắc đầu. Nhưng lần này nó là một con chim, không thể hóa thành người như mọi khi, đầu vừa mới lắc thì toàn thân đã rung lên theo. Nguyên Trinh giơ nó cao ngang cổ ta, nói: “Sư phụ, người xem, bé cưng nghe con nói sẽ nuôi nó, cũng phấn chấn đây này”.

    Bé cưng ngã xuống làm bộ rúc đầu đi ngủ.

    Nguyên Trinh nhìn ta đầy tha thiết hy vọng, đầu ta nóng bừng, cảm thấy lời của y cũng có lý, lại nghĩ lần này y đã bị ta phá hỏng nhân duyên, phần đời từ nay về sau sẽ vô cùng vô vị, nuôi một con linh thú quý hiếm ở bên mình, ít nhiều cũng có thể giết thời gian; rồi lại nghĩ tới y đã gọi ta một tiếng sư phụ, thì cũng coi như là đệ tử của ta, lúc đầu đến một món quà nhân lúc mới nhận thầy ta cũng chẳng có cho hắn, thực sự cũng có chút chẳng ra sao. Lại cảm thấy, đi Tây Thiên nói với Phật tổ rằng, cho ta mượn con đại bàng cánh vàng một thời gian cũng không phải là chuyện lớn lắm.

    Ta nghiêm trang gật đầu, nói: “Được”.

    Bé cưng kêu “két” một tiếng.

    Nguyên Trinh mừng rỡ cất bé cưng vào tay áo, nắm chặt tay ta nói: “Sư phụ, người đồng ý rồi, không phải Nguyên Trinh nằm mơ ư? Trước đây Nguyên Trinh còn không chắc rằng đây chỉ là sự si mê của Nguyên Trinh, chẳng ngờ sư phụ lại đồng ý với Nguyên Trinh…”.

    Y còn chuẩn bị nói tiếp thì trên không vẳng tới một giọng nói trong mà rõ: “Hai người đang làm gì vậy?”.

    Giọng nói này nghe rất quen.

    Ta kinh ngạc nhìn lên không trung.

    Dạ Hoa Quân hơn một tháng nay chưa gặp đang quay lưng về phía ánh trăng lạnh lẽo, khuôn mặt lạnh lùng, nhìn ta và tiểu đệ Nguyên Trinh, ánh mắt sáng rực. Sau lưng hắn có một vị thần tiên, mặc áo màu xanh ngọc, bờ môi hé cười, dung mạo dịu dàng.

    Ở phàm trần hơn tháng rưỡi, ngoài Phượng Cửu trú trong Hạm Đạm viện, cả ngày gặp tới gặp lui cũng chỉ vài ba gương mặt, bây giờ nhìn thấy người quen, lại là người quen có thể giải phóng pháp lực đã bị phong kín của ta, ta không khỏi có chút kích động.

    Những vở kịch mà ta xem trong lúc rảnh rỗi gần đây, đều là tri kỷ bạn tốt lâu ngày xa cách lúc trùng phùng, chắc chắn sẽ anh nắm tay tôi, tôi nắm tay anh thân thân mật mật, anh gọi một tiếng hiền huynh, tôi gọi một tiếng ngu đệ, lại cùng nhau nâng đôi chén rượu, tình nồng ý đượm, khiến ta cảm động khôn cùng.

    Tuy ta và Dạ Hoa chia tay nhau chưa bao lâu, nhưng cũng có thể được coi là một phen tiểu biệt (21), giờ hắn lạnh lùng đứng giữa không trung, cũng chẳng buồn chào ta một tiếng hẳn hoi, ta cảm thấy cực kỳ khó chịu.

    Cánh tay Nguyên Trinh nắm lấy tay ta cũng hơi run run. Ta nhìn động viên y một cái, nghiêm túc nói với hai vị thần tiên đang lơ lửng giữa bầu không: “Hai vị mau xuống đi, trăng tối gió cao, hai vị phất phơ bay lượn, gặp kẻ phàm trần không thể thưởng thức, dọa cho họ sợ thì không hay đâu”.

    Những lời này ta nói rất “oai”, thần tiên áo màu xanh ngọc phía sau chắp tay, cưỡi mây xuống trước, Dạ Hoa lườm Nguyên Trinh một cái, rồi cũng xuống sau.

    Nguyên Trinh rõ ràng là một kẻ phàm trần không thể thưởng thức, ta đồ rằng hôm nay y rất kinh hãi, đang định gọi thị nữ cầm đèn lồng đứng xa xa lại, bảo đưa y về nghỉ trước, thì nhìn qua, thị nữ đó đã ngã xuống đất, đèn lồng chỏng chơ bên cạnh, hầy, xem ra nàng ta đúng là không thể thưởng thức tư thế thần tiên của Dạ Hoa.

    Cánh tay Nguyên Trinh càng lúc càng run tợn, ta thầm than một tiếng, đồ đệ đầu tiên của cuộc đời Bạch Thiển ta, sao lại vừa thấy thần tiên là chân nhũn ra, thật chẳng ra sao cả.

    Ta cảm thấy mình nên đưa tay xoa đầu y một cách hiền hậu, để vỗ về đôi chút.

    Tay còn chưa kịp nhấc lên, thì đã bị gương mặt đỏ bừng của y dọa cho một trận.

    Lúc này, khuôn mặt Nguyên Trinh đương đỏ như trứng vịt muối, đôi con ngươi long lanh phát sáng nhìn ta chằm chằm: “Sư, sư phụ, con, con đã nhìn thấy thần tiên, con, con lần đầu tiên nhìn thấy thần tiên sống, thần tiên sống…”.

    Ta im lặng rụt tay lại. Y vui vẻ bước hai bước tới trước mặt Dạ Hoa, cung kính chắp tay, nói: “Thần Hiên Viên (22) thời thượng cổ tu đức hưng binh, đặt ra ngũ khí, dạy trồng ngũ cốc, vỗ về vạn dân, đo đạc bốn phương, khiến phượng hoàng đến bay vờn trên cầu, lần này hai vị thần tiên giữa đêm tới đây, có phải vì phụ hoàng ta công đức hiển hách, đã được trên trời nghe thấu chăng?”.

    Ta thầm thở dài hai tiếng, tiểu tử, không phải là công đức của lão hoàng đế nhà ngươi lan tới trời cao, mà là nợ tình giữa ngươi và lão hoàng đế nhà ngươi đã được trên trời nghe thấu.

    Dạ Hoa nửa cười nửa không, dò xét Nguyên Trinh một hồi, mắt lại liếc xéo ta một cái: “Đã để thái tử phải thất vọng rồi, bản quân lần này hạ phàm là muốn tìm vợ, hoàn toàn là việc riêng”.

    Nhìn ánh mắt hắn mà ta sởn da gà. Nguyên Trinh nhìn hắn, ta nhìn theo ánh mắt hắn sang phía ta, ôm đầu, nét mặt hết sức hoang mang.

    Ta cười nịnh Nguyên Trinh: “Là tới tìm ta, tìm ta”.

    Nguyên Trinh run lẩy bẩy như vịt con, hết sức kinh ngạc nhìn ta. Dạ Hoa nghiêng đầu, hân hoan ngắm nhìn mặt hồ đen như sơn bên cạnh tòa đình.

    Ta thầm nhủ, cảm thấy duyên pháp với Nguyên Trinh đã hết, ngày mai ta sẽ rời đi, Dạ Hoa đến thật đúng lúc, hôm nay họ có duyên tiên hội ngộ, ta cũng nhân cơ hội này kiếm cớ, cáo biệt với Nguyên Trinh từ đây.

    Lý do ta còn chưa nghĩ thấu đáo, vị thần tiên mặc áo xanh ngọc đứng bên im lặng nãy giờ đã rọi một luồng kim quang thẳng mặt Nguyên Trinh, Nguyên Trinh lập tức ngã nhào.

    Thần tiên áo xanh cười tươi với ta: “Cô cô không cần lo lắng, tiểu thần chẳng qua chỉ xóa đi ký ức của điện hạ Nguyên Trinh về quân thượng và tiểu thần trong đêm nay mà thôi. Nhờ cô cô tài tình, số mệnh của điện hạ Nguyên Trinh đến nay đã vô cùng viên mãn, tiểu thần chỉ lo y vì gặp được hai vị thần tiên thực sự mà nảy sinh phiền não và nghiệp chướng. Huống hồ mệnh kiếp lần này của Đế Quân lại vì điện hạ Nguyên Trinh mà có chút thay đổi, chuyến này tiểu thần đến đây là muốn bổ cứu một chút, phải phiền cô cô dẫn đường, tiểu thần muốn tìm điện hạ Phượng Cửu nhờ giúp đỡ”.

    Vị áo xanh này thực biết ăn nói, mệnh kiếp này của Đông Hoa bị tiểu đệ Nguyên Trinh làm liên lụy, chẳng phải là chỉ có chút thay đổi mà thôi.

    Ta là một thần tiên rộng lượng, mấy câu trách móc của hắn kể ra cũng có lý, huống hồ hắn đã nói như vậy, dung mạo cũng rất hiền hòa, thì sẽ không thể nói gì Nguyên Trinh. Trái phải đều trách rồi, vậy thì cứ tiếp tục trách nữa đi.

    Dạ Hoa bình thản nói với thần tiên áo xanh: “Ngài mời nàng ấy dẫn đường, thì có đi tới sáng mai, đi hết hoàng cung cũng chưa chắc đã đến được cung Phượng Cửu ở. Chẳng thà gọi một thổ địa lên hỏi cho xong”.

    Vị thần tiên áo xanh nhìn ta nghi hoặc, rồi gọi thổ địa lên.

    Ta cười khan hai tiếng.

    Hôm nay Dạ Hoa rất khác thường, nói năng mờ ám, lại hơi gay gắt, e rằng hôm nay trên Thiên Đình đã gặp phải chuyện gì bực mình.

    Vì ta đã độ hóa cho số mệnh của Nguyên Trinh xong, Dạ Hoa đương nhiên không thể tiếp tục phong bế pháp lực của ta. Vừa hay thần tiên áo xanh cũng gọi thổ địa lên rồi, ta bèn cùng ba người bọn họ đến Hạm Đạm viện, coi như cũng hưởng lợi.

    Lúc chuẩn bị đi thấy Nguyên Trinh còn sõng xoài trên đất, đêm khuya gió lạnh, cơ thể của tiểu đệ Nguyên Trinh tuy không phải là yếu đuối nhưng cũng chẳng phải tráng kiện, ốm một trận thì sẽ rất khổ sở. Bản thượng thần vốn từ bi bác ái, thường không quen nhìn người ta chịu khổ, bèn nhờ thần tiên áo xanh kia làm phép đưa tiểu đệ Nguyên Trinh về tẩm điện nghỉ ngơi.

    Dạ Hoa lạnh lùng lườm ta một cái.

    Trên đường đi, ta ngẫm nghĩ mới hiểu, theo những lời vừa rồi của vị thần tiên áo xanh kia, có thể biết được y chính là Ti Mệnh Tinh Quân dưới trướng của Nam Cực Trường Sinh Đại Đế.

    Dạ Hoa từng nói vị Tinh Quân này tính cách cổ quái, nhưng theo ta thấy, y rất hiền hòa.

    Lần này hắn cùng với Ti Mệnh Tinh Quân đến đây để bổ cứu cho số mệnh của Đông Hoa, mấy câu kiếm ta chẳng qua chỉ là nói chơi thôi. Ta bản tính thật thà, thẳng ruột ngựa, nhìn thấy không khí lạnh lẽo trên đường đi, không kìm được bèn cười cười với Dạ Hoa: “Vừa nãy ta nghe ngươi nói là đến để tìm vợ, bây giờ lại vội vàng chạy đến chỗ của Phượng Cửu, hầy, không phải thấy Phượng Cửu nhà ta yểu điệu thướt tha, nên thầm mến mộ rồi chăng?”.

    Hắn nhìn ta một cái, khẽ cười ý nhị, nhưng không đáp lại.

    Vốn định chọc cho hắn cười, nào ngờ gặp phải tên đầu sắt, ta cụt hứng, cũng không thèm nói gì nữa.

    Ti Mệnh Tinh Quân áo xanh đi đầu cười “phì” một tiếng: “A, hôm nay quân thượng lòng nóng như lửa đốt, gọi tiểu thần từ hội Bàn Đào của Thiên Hậu nương nương về, nói là lúc thay đổi số mệnh của điện hạ Nguyên Trinh có một vị thượng thần không cẩn thận đã làm thay đổi cả số mệnh của Đông Hoa Đế Quân, vì thế Đông Hoa Đế Quân không thể trải qua kiếp số, khi quay trở lại chính thân sợ rằng sẽ nảy sinh hiềm khích với vị thượng thần ấy. Tiểu thần còn chưa được thưởng thức hội Bàn Đào của Thiên Hậu nương nương đã bị kéo xuống phàm trần để đi bổ cứu, chẳng ngờ vị thượng thần đó lại chính là cháu gái Phượng Cửu điện hạ của cô cô. Lúc trước khi tiểu thần gặp Phượng Cửu điện hạ, nàng ấy vẫn còn là một thần nữ, bây giờ đã tu thành thượng thần, thật nhanh quá!”.

    Dạ Hoa ho một tiếng.

    Ta cười ha ha với Ti Mệnh: “Quá nhanh, quá nhanh”.

    Đã đến cửa Hạm Đạm viện, Dạ Hoa đứng bên cạnh ta, khẽ nói: “Ti Mệnh đến bổ cứu số mệnh của Đông Hoa, còn ta nhân tiện đến thăm nàng”. Nói đoạn ẩn đi tiên thân, bước vào cửa lớn của Hạm Đạm viện.

    Ta ngẩn người.

    Thổ địa rất ngoan ngoãn, làm trọn bổn phận, dẫn chúng ta đến Hạm Đạm viện xong thì cáo từ. Ti Mệnh Tinh Quân bộ dạng cung kính bên cạnh ta, ta cũng ẩn đi tiên thân, cùng Dạ Hoa đi vào trong Hạm Đạm viện. Hôm nay tòa Hạm Đạm viện này đón biết bao thần tiên, một nghìn tám trăm năm sau, nơi này sẽ mãi là phúc địa.

    Phượng Cửu đang chong đèn trầm tư, buồn bã khôn xiết, hẳn đang nhớ về mấy câu gào khóc trước mặt đông đủ văn võ bá quan, phi tần lúc ban ngày, cảm thấy rất mất mặt. Nhìn thấy ba thần tiên chúng ta hiện thân trước mặt, thì chẳng chút hoảng hốt, chỉ thản nhiên gọi bên ngoài: “Ngọc Đang, khách đến, dâng trà”.

    Ta đưa tay chắn ngang môi nó: “Tiểu tổ tông ơi, mau tỉnh lại đi”.

    Phượng Cửu giật mình ngã xuống đất, tỉnh táo lại, nhìn rồi ôm chặt lấy eo ta, nén giọng thổn thức: “Cô cô, ban ngày con mất mặt quá”.

    Ta an ủi nó: “May mà lúc ấy con mượn thân xác của Trần quý nhân, người mất mặt chính là Trần quý nhân”. Phượng Cửu vùi đầu trong lòng ta, lắc đầu nguầy nguậy: “Con làm hỏng số mệnh của Đế Quân rồi. Ban nãy con ngẫm kỹ một lượt. Lúc con nhảy từ trên thuyền xuống cứu Đế Quân, con đã nhìn thấy thiếu nữ bị đại bàng cánh vàng hất xuống nước rõ là biết bơi, nếu con không đa sự nhảy xuống, không chừng thiếu nữ đó đã cứu Đế Quân lên, nếu thế hai người họ đều không bị lỡ làng. Con định hôm nay sẽ quay về Thanh Khâu, vị Trần quý nhân mà con mượn thân xác này vốn không được sủng ái, nếu đêm nay nàng ta thăng thiên thì cũng chẳng gây ra chuyện gì lớn. Nhưng lần này con đa sự nên đã cứu Đế Quân, hôm nay trong lúc hôn mê Đế Quân cứ nắm chặt tay con, khi tỉnh lại hai mắt nhìn con chằm chằm, nặng tình đến mức có thể vắt ra nước được”.

    Ta ngắt lời: “Có lẽ con nhìn nhầm, hắn bị ngâm trong nước quá lâu, đến mức đôi mắt cũng sũng nước không chừng”.

    Phượng Cửu ngẩng đầu, nhìn ta ai oán: “Nhưng chàng còn nói sẽ thăng phẩm cấp cho con”.

    Ta im lặng vỗ vỗ vào lưng nó.

    Ti Mệnh Tinh Quân bưng chén trà hứng chí bước qua: “Ý của điện hạ là, lần này Đông Hoa Đế Quân đã nảy sinh tình ý với điện hạ?”.

    Chắc là lúc này Phượng Cửu mới phát hiện trong phòng còn hai vị thần tiên khác. Ta liếc nhìn Dạ Hoa đang ngồi uống trà bên cạnh, nói với Phượng Cửu: “Đây là Dạ Hoa – thái tử của Thiên Quân trên Cửu Trùng Thiên”.

    Chẳng ngờ Phượng Cửu chẳng thèm nể nang Dạ Hoa, hai mắt cứ nhìn chằm chằm vào Ti Mệnh Tinh Quân, nhìn hồi lâu, mới thảm thiết nói: “Ti Mệnh, sao ngài viết số mệnh gì thế này?”.

    Ta cảm thấy Phượng Cửu không thèm đoái hoài đến Dạ Hoa thì cũng không hay lắm, bèn cười hối lỗi với Dạ Hoa, hắn cũng cười đáp lại, tiếp tục thong thả uống trà.

    Câu “số mệnh gì thế này” ngẫm ra có ý châm biếm Ti Mệnh Tinh Quân. Thí dụ như bạn không thể nói với trạng nguyên là trên người anh không có vết mực nào, bạn không thể nói với hoa khôi của lầu xanh là dung mạo nàng quá tầm thường. Xét cho cùng, một người mà phải chối bỏ cái cần câu cơm, thì tuyệt đối không thể sỉ nhục được.

    Ti Mệnh nâng chén trà, khóe môi nhếch lên: “Ban đầu sắp đặt số mệnh của Đế Quân, đúng là sắp đặt còn lỏng lẻo, Đế Quân nay đã nảy sinh tình ý với điện hạ, vậy nên giờ chỉ có thể mời điện hạ chịu thiệt thòi diễn cùng Đế Quân. Lần này Đế Quân đầu thai, trong những kiếp số cần trải nghiệm thì tình kiếp đứng đầu. Tình kiếp của Đế Quân vốn do thiếu nữ rơi xuống nước tạo ra, vì thế, bây giờ chỉ có thể nhờ đến điện hạ”.

    Phượng Cửu ấm ức nói: “Tại sao phải do ta tạo? Mối nợ ơn tình ta nợ chàng đã báo đáp, ngươi không nghĩ giúp ta cách thoát thân, mà còn giữ ta lại để giúp chàng tạo kiếp, Ti Mệnh, uổng cho mối giao tình bao năm qua của chúng ta!”.

    Ti Mệnh nhàn tản đậy nắp chén trà lại: “Đúng như điện hạ vừa nói, là do điện hạ làm rối loạn số mệnh của Đế Quân, để điện hạ tạo kiếp cho Đế Quân coi như là bồi thường. Nếu điện hạ cố chấp không chịu, đợi đến khi Đế Quân sống hết kiếp này, quay trở lại chính thân, thì đến chịu tội với Đế Quân cũng không muộn”.

    Ta không kìm được: “Việc này chẳng liên quan gì tới Tiểu Cửu, là do ta thay đổi số mệnh của Nguyên Trinh mới dẫn đến những chuyện này…”.

    Ti Mệnh đứng lên, cung kính nói: “Cô cô không biết đấy thôi, thiên mệnh có lý lẽ này, một vòng mà lại thắt thêm một vòng nữa, cái nhân của vòng bên trên sẽ sinh ra cái quả của vòng phía dưới, điện hạ Phượng Cửu chính là cái nhân bên trên của cái quả Đế Quân. Điện hạ Phượng Cửu đã bị cuốn vào vòng xoáy này, hơn nữa nàng còn dùng lưỡng sinh chú để làm phép, nếu số mệnh của Đế Quân bị thay đổi, điện hạ đương nhiên sẽ bị pháp thuật giáng lại bản thân. Cách mà tiểu thần đề xuất ban nãy chính là cách chu toàn nhất”.

    Ta nhìn Phượng Cửu bằng ánh mắt thương cảm vô hạn.

    Phượng Cửu âu sầu ngã xuống ghế, âu sầu xoáy cốc trà, âu sầu nhấp một ngụm, rồi từ từ nghiêm túc nói với Ti Mệnh: “Nếu đã để ta tạo kiếp, vậy hãy nói xem ta nên tạo kiếp như thế nào?”.

    Nó đã nhận lệnh rồi.

    Ti Mệnh Tinh Quân khẽ nói: “Chỉ cần điện hạ ngọt ngào với Đế Quân, chiếm trọn trái tim của Đế Quân, đợi đến khi Đế Quân nặng tình với điện hạ, lúc đó mới giẫm đạp đi giẫm đạp lại trái tim của Đế Quân là được”.

    Phượng Cửu ho khụ khụ một cái, ta cũng ho khụ khụ một cái.

    Ti Mệnh bổ sung: “Tiểu thần đã chọn cho điện hạ mấy màn kịch, lúc đó sẽ chỉ dẫn cho điện hạ phải làm thế nào, a, làm thế nào để giẫm đạp lên trái tim người ta”.

    Phượng Cửu nhoài ra bàn òa khóc.

    Lại nghe bên ngoài có tiếng thông báo hoàng đế giá đáo. Ta thương xót xoa xoa đầu Phượng Cửu, cùng Dạ Hoa, Ti Mệnh xuyên tường mà đi.

    Hai người họ dẫn thẳng ta đến bên ngoài Tử Trúc Uyển, Dạ Hoa ôm lấy ta, nói: “Ta còn có một số việc phải làm, ngày mai nàng cứ về Thanh Khâu trước, vài ba ngày sau ta sẽ tới”. Nói đoạn quay người đi mất. Vừa nãy Ti Mệnh nói, họ đều chuồn từ hội Bàn Đào, bay giờ phải mau mau trở về.

    Ta đứng nguyên tại chỗ một lát, cảm thấy cảm giác phảng phất khi nãy rất quen thuộc, bèn nhẩm tính Dạ Hoa đã ở Thanh Khâu rất lâu, nghe hắn nói những lời này, không giống như sắp đi, vậy rốt cuộc bao giờ hắn sẽ đi? Ngẫm nghĩ một lát, cảm thấy cơn buồn ngủ ập tới bủa vây, ta liền quay mình đi vào phòng ngủ.

    Chú thích:

    20. Hận sắt không thành thép: Hồi thứ 96, tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng, Tào Tuyết Cần có viết: “Chỉ vì Bảo Ngọc không tiến bộ, cho nên ta luôn hận anh ta, cũng chẳng qua là “hận sắt không thành thép được mà thôi”. Ý chỉ vì hy vọng ai đó tiến bộ nhưng không thành thì bất mãn, sốt ruột mong người đó giỏi lên (ND).”

    21. Chia tay trong thời gian ngắn ngủi (ND).

    22. Hiên Viên tức Hoàng Đế, họ Cơ, một trong ngũ đế, vì sống ở núi Hiên Viên nên được gọi là Hiên Viên. Ông ra đời, dựng nghiệp và định đô ở Hữu Hùng (nay thuộc Tân Trịnh, Hà Nam), vì thế mà được gọi là Hữu Hùng Thị, vì có tên thụy là Thổ Đức, nên được gọi là Hoàng Đế. Từng đánh thắng Viêm đế ở Phản Tuyền, thắng Xí Vưu ở Trác Lộc nên được các chư hầu tôn làm thiên tử, người đời sau tôn là ông tổ của dân tộc Trung Hoa. Ông có công đánh giặc dẹp phản, bình định thiên hạ, thống nhất bộ tộc, chế ra lễ nhac, giáo hóa cho dân chúng, giúp dân an cư lạc nghiệp (ND).
    Anh không quan tâm em yêu ai, nhưng anh sẽ không bao giờ tha thứ cho những người làm em bị tổn thương...

  7. #14
    Đang học vỡ lòng Nhật Minh's Avatar
    Tham gia ngày
    Aug 2016
    Bài gởi
    120
    Đô
    1,238
    Tài khoản Tiết Kiệm
    0
    Cảm ơn / Thích
    Blog Đã Viết
    5
    Đề cập
    2 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Default

    Chương 12: Quyết chiến cung Đại Tử Minh

    Ngày hôm sau, đến giờ Tỵ ta mới trở dậy, sau khi ngủ một giấc đã đời.

    Lúc từ biệt Nguyên Trinh và mẹ y, mẹ y lưu luyến chẳng nỡ rời, nhưng vì ta là một cao nhân, bà ấy tự biết chẳng thể níu kéo, đành sụt sùi mấy tiếng, rồi cũng từ biệt ta.

    Vì chuyện này cho nên đến gần trưa ta mới về tới Thanh Khâu.

    Ta chỉ ở hạ giới có hai tháng, Thanh Khâu đương nhiên cũng không thay đổi gì nhiều, non vẫn non ấy, nước vẫn nước ấy. Mão Nhật Tinh Quân vẫn hết sức ưu ái nơi đây, nắng chiếu vừa phải, không gắt cũng không nhạt.

    Trước cửa động Hồ Ly gặp lại Mê Cốc mới xa ít ngày, ta trêu: “Những ngày qua, không có ta sai bảo, chắc ngươi sống khổ sở lắm nhỉ”.

    Mê Cốc cười cười đầy ẩn ý, sau đó ngạc nhiên nói: “Cô cô chẳng phải quay về hôm qua sao, rồi đi làm một việc quan trọng, sao giờ lại nói như thể vừa mới từ cõi phàm quay về”.

    Ta ngẩn ra phút chốc, cũng sửng sốt đáp: “Hôm qua ta vẫn còn ở hạ giới, đúng là bây giờ mới quay về”.

    Khuôn mặt Mê Cốc dần dần trắng bệch, lẩm nhẩm: “Người hôm qua quay về là…”.

    Ta lại ngây ra, run người.

    Nếu người nào biến thành ta, với tu vi của Mê Cốc thì tuyệt nhiên không thể không nhận ra. Nếu trên thế gian này có một người đến Mê Cốc cũng tưởng lầm là ta, thì người đó chỉ có thể là…

    Ta nhắm mắt lại.

    Huyền Nữ.

    Được lắm, được lắm, bảy vạn năm nay ta chưa từng đi quấy rầy ngươi, ngươi lại đến Thanh Khâu tìm ta rồi.

    Ta hít một hơi thật sâu: “Người hôm qua tới là Huyền Nữ”.

    Hai mắt Mê Cốc trợn lên, mặt trắng bệch.

    Ta nhìn thần sắc của lão rất khác lạ, bèn hỏi: “Hôm qua ả ta làm sao?”.

    Mê Cốc run run đáp: “Hôm qua, hôm qua, lúc nàng ta tới, nói với ta, nói đã tìm được một phép thuật mới để giữ tiên thể của thượng thần Mặc Uyên, bảo ta giao tiên thể của thượng thần cho mình. Ta, ta cứ tưởng nàng ta là cô cô, nên bèn, bèn tới động Viêm Hoa ôm tiên thể của thượng thần tới. Vừa hay, vừa hay tiểu điện hạ ngủ trưa tỉnh dậy, nhìn thấy cô cô, không, nhìn thấy nàng ta mà tưởng là cô cô, nên rất mừng, nàng ta bèn, nàng ta bèn dẫn tiểu điện hạ đi cùng”.

    Ta choáng váng, nắm chặt tay áo Mê Cốc hỏi: “Ý lão nói là ả ta đã đưa sư phụ và A Ly đi rồi ư?”.

    Sắc mặt Mê Cốc nhợt nhạt, nhìn chằm chằm vào mắt ta: “Cô cô, là ta giao tiên thể của thượng thần Mặc Uyên cho ả, người đánh chết ta đi”.

    Sấm dậy giữa tầng không, mây đen ùn ùn, chớp lòe sáng chói, chiếc quạt Ngọc Thanh Côn Luân hơn năm trăm nay chưa từng sử dụng đang hiện chân hình trên mặt hồ, lừng lững giữa cột nước cao bảy trượng, phản chiếu đôi mắt đỏ ngầu của ta.

    Ta cười: “Quạt ơi, hôm nay e là phải để ngươi nếm thử máu tươi rồi”.

    Phía sau ta Mê Cốc lắp bắp gọi ta: “Cô cô”.

    Ta quay mặt lại nhìn lão, an ủi: “Chẳng qua ta chỉ đi đánh nhau một trận, đưa sư phụ và cục bột nhỏ về, ngươi không cần hoảng sợ như thế, ầy, cứ đun một nồi nước trước đã, đợi ta quay về sẽ tắm rửa tẩy trần”.

    Rồi lấy dải lụa trắng băng chặt hai mắt lại, niệm quyết, cưỡi một đám mây đen kịt bay thẳng đến cung Đại Tử Minh. Thời thượng cổ, một số Ma Tộc do nghiệp chướng quá nặng sẽ bị trời phạt, sinh ra thai chết. Có một ma nữ tên là Tiếp Ngu vì sát nghiệp quá nặng, từng liên tiếp mang thai ba lần đều sinh con chết yểu. Sau này Tiếp Ngu nghĩ ra một cách, dùng pháp thuật để nuôi dưỡng hồn phách của đứa bé chết yểu, lại giết một vị thượng tiên, rồi đặt hồn phách của đứa bé chết yểu kia vào tiên thể của vị thượng tiên này, đứa bé chết yểu sẽ sống lại. Một vạn năm sau loạn Quỷ tộc, Chiết Nhan đến Thanh Khâu thăm ta, từng vô tình hữu ý nhắc đến, vương hậu của Ly Kính đã sinh ra một cái thai chết.

    Huyền Nữ, nếu lần này ngươi dám làm càn động tới tiên thể của Mặc Uyên, đừng trách bản thượng thần không nể tình hữu nghị giữa hai tộc mà đại khai sát giới, dùng máu để rửa cung Đại Tử Minh.

    Cửa cung Đại Tử Minh canh gác cẩn mật bảy vạn năm trước giờ đây chẳng ai đứng gác, đúng là tự mình hại mình.

    Nếu ta vẫn là Bạch Thiển của bảy vạn năm trước, vẫn là Bạch Thiển phải chờ Mặc Uyên đêm xuống đến cứu… Ta cười nhạt một tiếng, quạt Côn Luân trong tay hơi rung động, ta khẽ áp nó bên bờ môi, khẽ nói: “Có phải mi ngửi thấy mùi máu rồi không?”.

    Trước điện Lưu Ảnh của vương hậu cung Đại Tử Minh, Huyền Nữ đang quỳ trước một chiếc giường vàng, bên trái bên phải chen chúc đầy quỷ tướng. Ả cười nói: “Thiển Thiển, bảy vạn năm chẳng hay tung tích, nghe bệ hạ nói Tư Âm Thần Quân là một nữ tử, bản cung đã đoán được đó là ngươi. Khi gặp Tư Âm ở núi Côn Luân, bản cung đã rất kinh ngạc, ngoài Thiển Thiển nhà ngươi ra, đâu có ai giống bản cung đến vậy”.

    Ta cười dịu dàng: “Vương hậu nói vui rồi, dáng vẻ của ngươi đâu phải như thế này, trí nhớ của lão thân tốt lắm, đến nay vẫn nhớ khuôn mặt ban đầu của ngươi, vương hậu, ngươi quên rồi sao? Hầy, thượng thần Chiết Nhan ở rừng đào mười dặm gần đây rảnh rỗi, nếu vương hậu thực sự đã quên, lão thân cũng chẳng ngại phiền hà, tình nguyện dẫn ngươi tới đó, giúp ngươi nhớ kỹ lại”.

    Gương mặt ả từ đỏ chuyển sang trắng, rồi từ trắng chuyển sang tím tái, thực rất khó coi, sau khi đỏ sang trắng, trắng sang tím, ả bèn cười ha hả: “Cho dù nói thế nào, hôm nay ta vẫn sẽ lấy mạng của ngươi, thế gian này sẽ không còn ai giống với bản cung nữa. Từ hôm qua ta cướp được tiên thể của Mặc Uyên và con trai ngươi, bản cung đã biết ngươi sẽ tìm bản cung, bản cung luôn chờ ngươi ở đây. Lúc đầu bản cung đã sớm biết, vốn chẳng có ngọc hồn, ngươi cũng sẽ giữ được tiên thể của Mặc Uyên, chậc chậc, người quả nhiên không làm bản cung thất vọng, chỉ là khiến bản cung phải tìm lâu đến thế, đúng là đã đắc tội. Tiên thể của Mặc Uyên được ngươi bảo quản rất tốt, không ngờ con trai của bản cung có thể có được một cơ thể tốt như vậy, Thiển Thiển, xét ngươi có công lao ấy, bản cung sẽ cho ngươi chết thật thoải mái”. Nói đoạn ả lùi ra sau giường vàng một bước, hai hàng quỷ tướng đồng loạt lao về phía ta.

    Ta cười lạnh, nói: “Để xem các ngươi có bản lĩnh gì đã!”.

    Một tiếng hét như sấm dậy giữa không trung, chiếc quạt Ngọc Thanh Côn Luân từ tay ta vút tới, cuồng phong tứ phía gào thét nổi lên, quạt Côn Luân dài ba xích, ta nhảy vọt lên, nắm chặt nó trong tay, binh khí trong tay quỷ tướng phía dưới đồng loạt đâm tới.

    Chiếc quạt vẽ một vòng, gạt bay hết thảy đao thương giáo mác của bọn chúng, rồi lại phất một cái, nhát nào nhát ấy đều chí mệnh. Chiết quạt này đã lâu không dùng đánh trận, phen này quạt rất mạnh, lần lượt xuyên qua những cơ thể máu thịt, khiến máu loang ướt đất. Trong hai hàng quỷ tướng này cũng có tên đánh rất khá, góc độ mà binh khí sắc nhọn đâm tới vừa hiểm hóc mà lại mạnh mẽ, mấy lần suýt nữa đã đâm trúng ta, may mà ta né kịp. Lúc đó ta vẫn chiếm thế thượng phong, nhưng bọn chúng quá đông, dàn trận từ buổi trưa, đánh cho đến lúc mặt trời khuất núi, bọn quỷ tướng bị chết, thương còn lại vài tên. Lưng ta cũng bị chém một nhát, dải lụa trắng băng mắt trong lúc đánh không cẩn thận đã bị rơi xuống đất. Đôi mắt chính là điểm yếu của ta, Huyền Nữ đứng bên ngoài bỗng móc ra một viên minh châu sáng lóa, chói đến mức đôi mắt ta đau nhói như dao đâm, vừa mới xao nhãng đã bị đâm một kiếm trúng ngực. Huyền Nữ cười ha ha: “Nếu bây giờ bệ hạ ở trong cung, có lẽ ngươi còn cơ hội sống sót, nhưng ngươi lại khéo tìm đến cái chết như vậy, bệ hạ đang đi ăn, chậc chậc chậc, thương tích đầy mình khiến người ta thật đau lòng, phen này xem ai cứu ngươi? Hộc Na, mau lấy mạng ả cho ta!”.

    Chưa được nhìn Mặc Uyên một cái đã phải chết ở đây, thật nực cười biết bao, vết thương trên người sao bằng vết thương trong tim. Vết kiếm trước ngực xuyên qua sau lưng, quỷ tướng tên Hộc Na đâm trúng ta rõ ràng rất đắc ý, mà hễ đắc ý thì sẽ thiếu cảnh giác, ta giữ chặt lưỡi kiếm ấy, chiếc quạt vung lên mạnh mẽ, hắn còn chưa kịp phản ứng, đầu đã bị cắt phăng đi. Cho nên khi đánh nhau, chớ nên khinh suất. Ánh vàng chiếu làm ta không thể mở mắt ra được, nhưng lại không thể không mở mắt, có thứ gì đó chảy ra từ khóe mắt, Huyền Nữ vừa nãy còn vênh vang khoái chí giờ đã bặt tiếng. Chỉ có hai quỷ tướng vẫn đang bám dai như đỉa, nhưng rốt cuộc lại thiếu một người thứ ba đến ngăn ta, chiếc quạt đã uống máu lại càng khát máu hơn, chỉ chớp mắt, chúng trở thành tế phẩm cho chiếc quạt của ta.

    Huyền Nữ giơ viên minh châu run rẩy nói: “Ngươi đừng qua đây, ngươi mà qua đây, ta sẽ hủy tiên thể của Mặc Uyên và giết con trai ngươi”. Sau lưng ả có hai cỗ quan tài bằng băng không biết được chuyển đến từ lúc nào, một cỗ lớn, một cỗ nhỏ, nằm trên cỗ lớn là Mặc Uyên, nằm trong cỗ nhỏ là cục bột nhỏ. Trước mắt ta chỉ có một màu đỏ ngầu, nhưng trong máu đó vẫn gắng nhìn ra được gương mặt nhợt nhạt của Mặc Uyên.

    Ta dừng bước chân. Chiếc quạt rơi xuống đất. Ta nổi giận đùng đùng, quát: “Ngươi đã làm gì A Ly?”.

    Ả vẫn run rẩy nhưng đã cố gắng trấn tĩnh hơn, đứng dựa vào quan tài băng, nói: “Giờ nó chỉ ngủ thiếp đi thôi, nhưng nếu ngươi tiến lên bước nữa, ta không dám đảm bảo nó sẽ không sao đâu”.

    Ta nhìn ả trừng trừng, dường như máu trong khóe mắt chảy ra càng nhanh hơn.

    Ả cười khoái chí: “Mau nhổ lưỡi kiếm ở ngực ngươi ra, rồi lấy chiếc quạt trong tay dâng cho ta”.

    Ta không đáp, tiếp tục nắm chặt chiếc quạt tiến tới.

    Ả hoảng loạn, gào lên: “Ngươi không được lại đây, ngươi mà dám bước tới ta sẽ đâm nó một nhát chết tươi”.

    Quả nhiên, trong tay ả có một con dao.

    Ta nhếch mép cười, nói: “Hôm nay bước vào cung Đại Tử Minh này, ta đã không muốn đi ra, ngươi giết nó đi. Ngươi giết nó, ta sẽ giết ngươi báo thù cho nó, chắc là nó cũng vui vẻ lắm. Ta giữ Mặc Uyên bảy vạn năm, người chẳng trở về, ta cũng sống hoài sống phí, nếu như A Ly sợ ra đi một mình, ta sẽ đi cùng với nó. Ngươi và ta sống lâu như vậy trên đời, cũng đã thấu hết lẽ tử sinh rồi”.

    Ả bắt đầu nói năng lung tung, hoảng loạn hét lên: “Ngươi điên rồi, ngươi điên rồi”. Ta lau vệt máu tươi chảy nơi khóe mắt, cảm thấy mình cũng hơi điên, nhưng cũng không đến mức quá điên. Con người trước mặt này, ả làm nhục tôn sư của ta, làm hại người thân của ta, hôm nay không chém được ả bằng quạt Côn Luân, sao ta có thể nuốt được cục tức này?

    Hễ quạt Côn Luân Ngọc Thanh mà nổi giận thì chấn động chín châu. Hôm nay nó đã uống đủ máu, hưng phấn vô cùng. Trên đỉnh cung Đại Tử Minh sấm chớp chói lòa, mưa trút xối xả rửa mặt đất đầy máu thành một dòng sông đỏ máu. Huyền Nữ nén giọng kêu lên: “Ngươi không thể giết ta. Ngươi giết ta, bệ hạ sẽ san bằng Thanh Khâu nhà ngươi, sao ngươi dám để liên lụy đến con dân của mình?”.

    Ta cười nhạt: “Lúc đó chúng ta đều chết rồi, người chết còn quản chuyện sau này làm gì?”.

    Huống hồ con dân của Thanh Khâu tuy không thiện chiến nhưng cũng không phải là không biết chiến đấu, Ly Kính muốn san bằng Thanh Khâu e là cũng chẳng dễ.

    Nghĩ tới đây, ta buộc phải bổ sung thêm đôi câu: “Nếu ngươi thực sự lo lắng những chuyện sau này, chẳng bằng hãy lo lắng thái tử của Thiên tộc sẽ san bằng Quỷ tộc các ngươi. Lần này ngươi bắt con trai của hắn về, còn định giết con trai duy nhất của hắn, với cá tính của hắn, chắc chắn Quỷ tộc sẽ bị san bằng”.

    Ả hình như không có phản ứng, ta cũng không định đợi ả phản ứng lại, quạt Côn Luân đã tích đủ sức mạnh, trong ánh chớp lóe lên, từ tay ta nó vọt lên rất nhanh, bỗng có một bóng người vọt lên chắn trước mặt Huyền Nữ, xoay ngược hướng tấn công của quạt Côn Luân bắn lại về phía ta. Huyền Nữ hoảng sợ túm lấy tay áo người kia, run rẩy gọi bệ hạ.

    Quạt Côn Luân dùng sức đủ để giết người, bay đi quá nhanh, lại bị chặn lại nên chiều về còn mạnh hơn, vừa nãy ta dùng hết sức, thực sự không còn sức né tránh, đành cắn răng nhắm mắt, có thể hy sinh dưới binh khí của mình, kiếp này ta sống cũng không uổng. Nhưng đúng lúc nhắm mắt ta lại bị kéo mạnh sang một bên. Ta quay đầu sang nhìn người đang ôm mình, Dạ Hoa ơi Dạ Hoa, ngươi bấm giờ để đến sao, nếu ngươi đến sớm một khắc, thì ta đâu đến nỗi bị thương đến mức này.

    Sắc mặt Dạ Hoa xanh tái, trong đôi mắt vốn luôn trầm tĩnh cháy lên lửa giận bừng bừng, cắn chặt môi, nửa thân người trên cứng lại, gấu tay áo của trường bào đen tuyền vốn màu trắng, đã bị máu ta nhuộm đỏ tươi. Mưa giận gió gào do quạt Côn Luân gây nên bị ngăn ngoài tiên chướng, những hạt mưa lớn gõ lên tiên chướng, chảy thành một màn mưa mù dày đặc. Hắn đưa tay sờ lên vết máu trên gò má ta, khẽ hỏi: “Thiển Thiển, là ai làm nàng bị thương thế này?”.

    Ta đáp: “Kẻ làm ta bị thương đều bị ta chém chết, còn có một kẻ chưa bị chém chết vừa rồi đang chuẩn bị chém, thì bị phu quân của ả cản lại, ai da, ngươi thả lỏng một chút đi, toàn thân ta ê ẩm lắm”.

    Ly Kính đang ôm Huyền Nữ phía đối diện toàn thân rúng động, trợn hai mắt lên nhìn, cười nói: “Thượng thần Mặc Uyên”.

    Hóa ra là nhầm Dạ Hoa là Mặc Uyên.

    Ta gượng nói với Ly Kính: “Không ngờ nhanh như vậy đã lại gặp nhau, Quỷ Quân cao thủ, suýt chút nữa thì lão thân mất mạng dưới tay Quỷ Quân rồi”.

    Hắn buông Huyền Nữ ra, bước gấp đến trước mặt ta, nhưng lại bị tiên chướng của Dạ Hoa chắn, nên không thể đến gần. Toàn thân ta lúc này đau đớn khôn xiết, xem ra hắn đang nhìn rất kỹ để phân biệt.

    Sau phép triệu hoán, quạt Côn Luân đã quay về tay ta, ta ngợi khen: “Vương hậu của Quỷ Quân quả nhiên rất lợi hại, trận ác chiến bảy vạn năm trước lão thân cũng chưa bị ép đến mức này, hôm nay đã được thụ giáo rồi”.

    Sắc mặt của Ly Kính còn nhợt nhạt hơn ta mấy phần, hắn nghi hoặc nói: “A Âm, thái tử điện hạ? Chuyện, chuyện này là thế nào?”.

    Dạ Hoa đang nhẹ nhàng ôm ta liền trầm giọng đáp: “Quỷ Quân Ly Kính, bản quân cũng muốn hỏi cung Đại Tử Minh của ngươi, chuyện này là như thế nào?”.

    Ta quay đầu nói với Dạ Hoa: “Câu này ngươi đã hỏi sai đối tượng rồi, vương hậu Huyền Nữ mới là người cướp sư phụ ta và con trai ngươi, ngươi nên hỏi vương hậu của Quỷ Quân mới phải. A, cục bột nhỏ tạm thời không sao, ngươi cũng chớ nên lo lắng”.

    Dạ Hoa dịu dàng đáp: “Đó cũng là con trai nàng”.

    “Đúng thế, cũng là con trai ta”.

    Ly Kính kinh ngạc kêu lên: “Con trai?”. Ta gật đầu. Ánh mắt hắn trở nên u ám: “Nàng…” một hồi mà không nói lên lời rồi lại quay sang nhìn Huyền Nữ, Dạ Hoa cũng nhìn Huyền Nữ, ta thấy họ đều nhìn Huyền Nữ bèn cũng cùng nhìn Huyền Nữ.

    Viên minh châu trong tay ả đã bị Dạ Hoa đánh tan, ả đang quỳ trước mặt quan tài băng của cục bột nhỏ, nhìn thấy Ly Kính nhìn mình, ánh mắt trở nên hoảng loạn: “Bệ hạ, bệ hạ, con trai của chúng ta cuối cùng có thể quay về rồi. Chàng xem, thiếp đã tìm cho nó một cơ thể tốt biết mấy. Thiếp biết rằng cơ thể của Mặc Uyên có ích cho con trai của chúng ta, ban đầu con tiện nhân Bạch Thiển đến cung Đại Tử Minh mượn chàng ngọc hồn, chàng nên đưa cho nó. A, nhưng không ngờ rằng, không có ngọc hồn mà ả vẫn có thể nuôi cơ thể Mặc Uyên được tốt thế này. Bệ hạ, ngày xưa chàng đố kỵ với Mặc Uyên, từ bây giờ về sau chàng sẽ không phải thế nữa, hắn sắp thành con trai của chúng ta rồi…”.

    Ly Kính quát lớn: “Câm miệng”,

    Huyền Nữ hoang mang: “Bệ hạ, lẽ nào thiếp đã nói sai, khi xưa chàng không muốn cho con tiện nhân Bạch Thiển mượn ngọc hồn, không phải vì đố kỵ với Mặc Uyên sao? Nhưng bây giờ hắn sắp thành con trai của chúng ta, a, đúng rồi, chàng vẫn không biết con tiện nhân Bạch Thiển là ai, Bạch Thiển ở Thanh Khâu, chính thần quân Tư Âm năm xưa đó…”.

    Tay của Dạ Hoa rúng động.

    Ta tách ra khỏi lòng Dạ Hoa, cầm quạt Côn Luân bước ra khỏi tiên chướng, cười nhạt, nói: “Huyền Nữ, ngươi thử nhục mạ sư phụ ta một câu nữa, thử nhục mạ ta một câu nữa, tiên thể của sư phụ ta tôn quý không gì bằng, nhận máu tim của ta suốt bảy vạn năm đến bây giờ, e rằng con trai ngươi nhận không nổi đâu”.

    Ly Kính quay phắt người lại, hai mắt đỏ ngầu, tiến lên mấy bước đến trước mặt ta: “Máu tim, nàng muốn nói…”.

    Ta lùi lại phía sau một bước, căm hận nói: “Sao khi đó Quỷ Quân ngươi lại nghĩ rằng không có ngọc hồn của ngươi thì ta không giữ được sư phụ chứ? Những gì Huyền Nữ nói, Quỷ Quân nghe rõ rồi chứ? Bạch Thiển ở Thanh Khâu là một con hồ ly trắng chín đuôi, máu tim của hồ ly trắng chín đuôi thì có công dụng gì, ngươi có thể đi hỏi vương hậu của ngươi”. Ta chỉ vào lồng ngực của mình, mũi kiếm của Quỷ tướng Hộc Na còn găm bên ngực trái, ta cười gằn: “Khi đó, tiên thể của sư phụ thương thế trầm trọng, mỗi đêm cần một bát máu tim, uống liền một tháng, cơ thể ta sau trận chiến cũng gánh bao thương tích, hàng đêm lấy máu tim mình nuôi sư phụ, căn bản chẳng thể trụ đến ba tháng, ngỡ rằng ta với ngươi vốn còn chút tình huynh đệ, mới mặt dày đến cung Đại Tử Minh của ngươi để cầu ngọc hồn, lúc đó, Quỷ Quân Ly Kính, ngươi nói gì với ta?”.

    Hắn nghẹn giọng đáp: “A Âm, khi ấy ta không biết nàng bị trọng thương, A Âm, ta không biết, ta không biết…”.

    Ta lau những giọt nước mưa đọng trên mặt, chỉ vào cỗ quan tài của Mặc Uyên cười nói: “Ngươi có biết ta làm thế nào để mỗi đêm lấy máu tim trong liền ba tháng không? Bây giờ, nếu nói Bạch Thiển ta vẫn còn là một thiện thần, thì chỉ vì ta còn một trái tim biết tri ân báo thù, sư phụ dạy dỗ ta hai vạn năm, luôn cứu ta trong lúc nguy nan, nếu không báo đáp ơn tình này của người, Bạch Thiển ta sao xứng với hai chữ thượng thần? Coi như ta kém cỏi, khi ấy liên tục lấy máu tim mình trong bảy đêm, thì không còn biết gì nữa, nếu như không phải mẹ ta đến kịp, độ cho ta một nửa tu vi của bà, thì thượng thần Tư Âm đã mất tung tích như truyền thuyết rồi. Ngươi còn nhớ những gì ta nói khi xưa không, không đội trời chung với cung Đại Tử Minh các ngươi? Bây giờ, ta nể tình giao hảo giữa Thần tộc và Quỷ tộc khó khăn mới xây đắp được, không đối địch với cung Đại Tử Minh các ngươi nữa, ngươi vẫn còn tưởng rằng ta sợ các ngươi ư?”.

    Sắc mặt Ly Kính lạnh lẽo thê lương.

    Vì nói những lời vừa nãy quá mất sức, lại thêm toàn thân bị thương, lúc đó không cảm thấy gì, bây giờ dừng lại thở hổn hển, cảm thấy đau đớn không chịu được. Rất tốt, cơn đau này cũng trong chốc lát thôi.

    Ta nén ho mấy tiếng, Dạ Hoa vội chạy đến đỡ ta, ban nãy ta nói chuyện cũ với Ly Kính, không chú ý hắn đã cứu Mặc Uyên và cục bột nhỏ trong quan tài băng ra, đang dùng tiên khí hộ thể, rồi đặt họ ở đằng sau hắn. Nhìn hắn quả rất giống Mặc Uyên, từ kiểu tóc cho đến trang phục, ngoài sắc mặt Mặc Uyên nhợt nhạt ra, hai người gần như chẳng có điểm gì khác biệt.

    Ly Kính vẫn nhìn ta chằm chằm, hồi lâu sau mới nói: “A Âm, không phải như thế, hôm đó, sau khi nàng đi, ta đã tìm nàng rất lâu, suốt bảy vạn năm ta chưa ngừng tìm nàng. Sau này ta đã nghĩ rất nhiều, A Âm, Huyền Nữ nói đúng, hôm đó ta không cho nàng ngọc hồn là vì ta biết nàng sẽ dùng nó để cứu sư phụ, ta đố kỵ hắn, A Âm, ta thực sự chưa bao giờ quên nàng”.

    Câu nói “ta chưa bao giờ quên nàng” của hắn làm trái tim ta nảy lên một cái, ta trấn tĩnh lại, than rằng: “Ly Kính, không phải ngươi chưa bao giờ quên ta, mà đời này ngươi vĩnh viễn theo đuổi cái ngươi đã mất hoặc cầu mà không được, nhưng một khi ngươi có được nó thì ngươi sẽ không bao giờ trân trọng nó nữa”.

    Ánh mắt hắn ngân ngấn lệ, lại một hồi lâu sau, mỉm cười nói: “Nàng nói vậy, chỉ là muốn giảm bớt gánh nặng phải không, ngay từ đầu nàng chưa từng yêu ta, phải không? Cho nên khi ta ở bên Huyền Nữ, nàng mới buông tay dễ dàng như thế, khi ấy, có phải nàng đã chán ghét ta đến cực điểm từ rất lâu rồi, phải không?”.

    Huyết khí trong lồng ngực khó khăn mới trở lại bình thường, bỗng lập tức cuộn trào, ta cắn răng cười nhạt, nói: “Ban đầu ngươi gây ra lỗi lầm ấy, còn muốn ta cùng Huyền Nữ chung một chồng sao? Bây giờ lại là ta không đúng! Ngươi chỉ biết Huyền Nữ là một nữ tử yếu đuối, cần được ngươi thương xót, dù ban đầu ta mang lốt nam nhi, nhưng trái tim đâu phải là sắt đá, bị hai ngươi giày xéo như thế cũng phải rỉ máu tươi, khi ta đau lòng uống say khướt, ác mộng triền miên thì ngươi ở đâu? Ngươi cùng Huyền Nữ làm những gì?”.

    Sắc mặt Ly Kính trắng bệch.

    Ta với cánh tay của Dạ Hoa, ho sặc sụa, phía sau lưng Dạ Hoa cười lạnh nói: “Quỷ Quân đừng vội tính món nợ năm xưa, bản quân tạm thời hỏi Quỷ Quân một câu, hôm nay vương hậu của ngài gây nên món nợ này, chúng ta nên tính riêng hay tính chung đây?”.

    Ly Kính còn chưa đáp, Huyền Nữ đã run run hỏi: “Riêng thì sao mà chung thì sao?”.

    Dạ Hoa trầm giọng nói với Ly Kính: “Riêng thì mời Quỷ Quân Ly Kính lột da róc gân vương hậu thiếu hiểu biết của ngài, đọa hồn phách xuống súc sinh đạo (23), mãi mãi không được siêu sinh, để rửa mối giận trong lòng bản quân. Còn chung ư, tướng sĩ Thiên tộc ta đã nhiều năm chưa đánh trận, quá ư nhàn rỗi, bọn ta cũng đang định thử xem, bao năm trôi qua, để xem tộc nào luyện binh giỏi hơn!”.

    Huyền Nữ hít vào một hơi, trong cơn mưa tầm tã ả bò đến ôm chặt chân Ly Kính, ngẩng đầu lên nói: “Bệ hạ, cứu thần thiếp!”.

    Ly Kính nhìn ả, nói: “Nàng đúng là thiếu hiểu biết”.

    Giọng Huyền Nữ thảm thiết: “Chàng muốn lột da róc gân thiếp thật sao? Chàng quên rồi, chàng đã quên năm xưa thiếp vì chàng mà làm biết bao việc, không có thiếp, chàng có thể dễ dàng lên ngôi Quỷ Quân sao? Bây giờ chàng lại, chàng lại…”. Tiếp đó lại khẩn cầu: “Bệ hạ, Thiên tộc sẽ không xuất binh đâu, hắn không có quyền hiệu triệu Thiên tộc xuất binh, hắn cũng chỉ là một thái tử mà thôi, vì một nữ tử mà xuất binh, Thiên tộc sẽ không đồng ý đâu…”.

    Dạ Hoa đổi tư thế, ôm lấy ta, khẽ nói: “Bản quân không chỉ đơn thuần vì một nữ tử mà xuất binh, thượng thần Mặc Uyên là tôn thần của Thiên tộc ta, thượng thần Bạch Thiển là đế hậu tương lai của Thiên tộc ta, A Ly tương lai nhất định sẽ kế thừa ngai vị của bản quân, lần này, ba người họ lại bị cung Đại Tử Minh các ngươi sỉ nhục ghê gớm, ngươi nói xem, các tướng sĩ Thiên tộc có thể nuốt giận được không?”.

    Ly Kính chẳng đếm xỉa đến Huyền Nữ đang ôm chân hắn, thần sắc tê dại, nói: “Từ trước tới giờ Huyền Nữ có hơi điên cuồng, nếu không cũng sẽ không phạm phải sai lầm như vậy, xin thái tử điện hạ chừa cho một con đường sống”.

    Dạ Hoa dịu dàng hỏi: “Thiển Thiển, nàng nói xem, có thể chừa cho một con đường sống không?”.

    Lúc này tâm lý đã thoải mái hơn, toàn thân ta đau nhức không thể nói nên lời, vốn định nói vài câu thật “ác”, nhưng quá mệt mỏi nên chỉ lắc đầu.

    Huyền Nữ cười ha hả: “Dạ Hoa Quân, uổng thay cho ngươi đối tốt với con tiện nhân Bạch Thiển, ngươi có biết nó có tư tình với sư phụ nó không?”.

    Ta choáng váng, giận dữ cực độ, chực vùng ra lên cho ả hai cái bạt tai, Dạ Hoa đã đẩy một đạo sét về phía trước, Ly Kính không che chắn cho ả nữa, Huyền Nữ bị đánh bật về phía sau hơn mười trượng, ngã trúng lên chiếc giường vàng, nôn ra một ngụm máu tươi.

    Dạ Hoa nói: “Bản quân xưa nay không đánh đàn bà, Thiển Thiển còn nói khuôn mặt ngươi rất giống với nàng, còn ta thì nhìn không ra giống ở điểm nào”.

    Ta tách ra khỏi Dạ Hoa, từ từ lê bước đến trước mặt Huyền Nữ, nhìn khuôn mặt giống ta tới tám, chín phần đang đẫm máu, nhẹ nhàng nói: “Khuôn mặt này ta đã cho ngươi, ta vốn không quá để tâm, nhưng nay nhìn gương mặt này của ngươi, lại khiến ta không vui”.

    Ả hoảng sợ đến mức đứng bật dậy lùi về sau, cuống quýt nói: “Ngươi định làm gì? Ta, ta vốn như thế này mà, ngươi, ngươi đừng đoạt dung mạo của ta. Ngươi cứ mời Chiết Nhan tới đi, ta, ta cũng không sợ đâu…”.

    Tay phải ta bắt ấn già, miệng cười lạnh lùng, nói: “Mời Chiết Nhan đến làm gì, trước kia ta chỉ nói giỡn với ngươi thôi, ngươi tưởng phép dịch dung này khắp bốn bể tám cõi chỉ có một người biết sao? Lão thân bất tài, rong chơi suốt bảy vạn năm nay, phép thuật này lại rất tinh thông. Ngươi sắp bị lột da róc gân thì cũng đâu thể mang khuôn mặt của ta đi lột da róc gân được”. Nói đoạn, ta bèn dùng hết sức bắt ấn già, niệm chú, một đạo hào quang trắng lóa lên, Huyền Nữ ngây ra nhìn ta.

    Ta cúi xuống vỗ vỗ lên mặt ả, rồi rút một chiếc gương từ trong tay áo ra đưa cho ả, vẫn may, chiếc gương này chưa bị máu vấy bẩn, vẫn còn rất sáng. Ta nhẹ nhàng nói với ả: “Ngươi xem này, khuôn mặt của ngươi bây giờ không phải rất tốt sao? Đây mới là dung mạo nguyên bản của ngươi, phải nhớ kỹ đấy nhé”.

    Ly Kính đứng bên lẩm bẩm: “Sao lại thế này, sao lại thế này…”.

    Huyền Nữ bỗng thét lên một tiếng, khiến ta quay lại về phía sau nhìn, ả đang móc hai tròng mắt của mình ra, nói lảm nhảm: “Không, không, không, ta không phải thế này, ta không phải thế này”.

    Khuôn mặt đẫm máu của ả trông hơi đáng sợ.

    Ly Kính vẫn thất thần.

    Ta lắc đầu than: “Rõ ràng khả năng chịu đựng quá kém mà”. Rồi ta quay đầu lại nói với Dạ Hoa: “Thực ra ta thấy dáng vẻ nguyên bản của ả cũng là một giai nhân thanh tú rồi”.

    Lời bình vừa dứt, cổ họng đã ngòn ngọt, khóe miệng lại rỉ máu.

    Ánh mắt Dạ Hoa tối sầm lại, ôm lấy ta rồi nói với Ly Kính: “Quỷ Quân Ly Kính, ngươi tự định liệu đi”. Rồi hắn quay sang thì thầm bên tai ta: “Thiển Thiển, nàng còn trụ được không?”. Ta nghĩ một lát rồi lắc lắc đầu. Ánh mắt trước mặt ta chợt bừng lên dịu dàng vô hạn, ta dần dần ngủ thiếp đi.

    Chú thích:

    23. Súc sinh đạo: Một đạo trong Lục đạo luân hồi của Phật giáo, gồm: Thiên đạo, A Tu la đạo, Nhân đạo, Súc sinh đạo, Ngạ quỷ đạo và địa ngục đạo. Đẩy xuống súc sinh đạo có nghĩa là đầu thai làm súc vật (ND).
    Anh không quan tâm em yêu ai, nhưng anh sẽ không bao giờ tha thứ cho những người làm em bị tổn thương...

  8. #15
    Đã đi theo chồng
    Pluie's Avatar
    Tham gia ngày
    Jun 2011
    Bài gởi
    499
    Đô
    36,927
    Tài khoản Tiết Kiệm
    0
    Cảm ơn / Thích
    Đề cập
    2 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Default

    Chương 13: Vạn tuế già nở ra sen tịnh đế

    Khi ta còn học nghệ ở núi Côn Luân, quy củ trên núi tương đối nghiêm khắc. Buổi sáng, khi chưa tới giờ Thìn đã phải thức dậy học bài, buổi tối không quá giờ Tý là phải tắt đèn đi ngủ.

    Vì ta và đại sư huynh đi chơi loanh quanh, đợi sư phụ ra ngoài, thi thoảng cũng có thể lén trốn một buổi học, ngủ nướng thêm một canh giờ, đến cuối giờ Tỵ mới dậy. Nhưng nhiều lắm cũng chỉ là cuối giờ Tỵ mà thôi. Thói quen được nuôi dưỡng trong nhiều năm, tuy nay ta đã rời khỏi sư môn bảy vạn năm nhưng vẫn nhớ. Cho dù ngày đông người có lười nhác, cũng không thể nằm trên giường quá giờ Tỵ được. Thế nên, dù ngày hôm qua ta cực sung sướng đến làm loạn một trận ở cung Đại Tử Minh, đầy mình thương tích, chân tay đau nhức đến mức đầu óc tê buốt, đến giờ Thìn ta vẫn tỉnh dậy. Nhìn thấy mình đang nằm trên chiếc giường lớn chạm trổ hoa ở động Hồ Ly là ta thấy an lòng rồi.

    Hôm qua, ta ngất cũng khá đúng lúc, còn chưa nhìn thấy Dạ Hoa mang ba người bọn ta – Mặc Uyên, cục bột nhỏ và ta ra về, nhưng với tu vi của hắn thì làm việc đó cũng đâu khó.

    Mê Cốc xưa nay vốn nhanh nhẹn, hẳn là đã đem tiên thể của Mặc Uyên về động Viêm Hoa, nhưng không biết tư thế lão đặt có phải là tư thế Mặc Uyên hay nằm ngủ không. Ta không an tâm lắm, bèn giở chăn dậy đi xem sao.

    Vừa cử động, đã chạm tới vết thương trước ngực, đau đến mức ta phải thở hắt ra một hơi lạnh. Nghe thấy tiếng thở của ta, thứ ở bên cạnh chăn bỗng nhúc nhích. Ta chớp chớp mắt muốn nhìn kỹ, lại bị giật mình trước ánh mắt nóng như lửa đốt đó. Chủ nhân của ánh mắt đó đang nhoài người nằm bên mép giường của ta, vừa lo lắng, vừa hiền hòa, lại vừa vui mừng nhìn ta.

    Ta ngẩn người ra.

    Ta ngẩn người ra là có lý do của nó.

    Theo như vở kịch mà ta đọc được khi ở phàm giới, nếu một thư sinh khi đi đường gặp phải một sơn tặc, thì một hiệp sĩ giữa đàng rút đao giải cứu, đợi thư sinh kia trấn tĩnh sau cơn kinh sợ, kẻ lên sân khấu đương nhiên sẽ là vị hiệp sĩ ân nhân trẻ tuổi kia, tuyệt nhiên không có vở kịch nào lại chêm vào lính chạy cờ (24) trong hồi gay cấn như vậy. Tình thế trước mắt ta chính là một thư sinh gặp phải cường đạo, vốn đây là thời cơ tốt cho Dạ Hoa hiệp nghĩa gan dạ lên sân khấu, nhưng lại bị một người không quen không biết chạy tới. Vì thế, ta mới giật mình sững sờ như thế.

    Vị nhân huynh lính chạy cờ kia mắt sáng rỡ lên nhìn ta một hồi, khẽ giọng nói: “Nàng, bây giờ nàng cảm thấy thế nào?”.

    Ta thận trọng đi tới, đáp: “Ngủ một giấc, tinh thần đã hồi phục tám, chín phần rồi”.

    Thật ra ta là một thượng thần, tiên thân tuy đã sớm được rèn luyện qua kiếp nạn, thương thế được nghỉ ngơi thì cũng hồi phục sớm hơn người thường, nhưng cũng không đến mức nhanh như vậy. Ta nói dối, là vì ta có chút khúc mắc với vị nhân huynh trước mặt. Nếu ta tỏ ra yếu đuối trước mặt hắn, hắn sẽ nhân lúc ta bị trọng thương, âm thầm hạ độc thủ, thực sự đau đớn lắm thay.

    Nguồn duyên giữa ta và vị nhân huynh này thì phải truy ngược về khi Chiết Nhan tặng cho tứ ca ta vật cưỡi là Tất Phương điểu (25). Con Tất Phương mà Chiết Nhan săn được từ Tây Sơn về chính là vị nhân huynh áo khăn chỉnh tề trước mặt ta bây giờ.

    Khi Tất Phương còn là vật cưỡi của tứ ca, chúng ta đối xử với nhau rất tốt, hắn còn chở một mình ta đến rừng đào mười dặm ăn đào mấy lần, uống rượu mấy bận. Sau này không biết vì duyên cớ gì mà không chịu chở ta nữa.

    May mà hơn một ngàn tám trăm năm sau ta mới biết được nguyên nhân.

    Đại khái là hắn thích Phượng Cửu, Phượng Cửu lại quấn quýt bên ta, cho nên hắn mới đâm ra có chút hiềm khích với ta.

    Hắn ghen tuông như vậy thực vô lý, ta với hắn đâu phải quen biết sơ sơ, vậy mà hắn lại quá nhỏ mọn, dường như mỗi ngày không cãi nhau với ta hai câu thì không sống được. Cho nên sau khi hắn đi, ta mới được sống những ngày yên ổn.

    Cửa sổ đang mở toang, ánh sáng tuy không gắt, nhưng mắt ta vốn không tốt, bị hoa mắt đến buốt nhói. Tất Phương vội vàng chạy tới nói: “Ta khép cửa lại nhé?”.

    Ta giật mình trước sự khiêm nhường và dịu dàng của hắn, mũi “hừ” một tiếng.

    Hắn đóng cửa sổ lại, rồi lại vân vê mép chăn của ta, dựa bên giường một lát, rồi lại thân mật hỏi ta có uống nước không. Đến Mê Cốc cũng chẳng chu đáo, tỉ mỉ được như thế.

    Ta cũng hơi khát, nhưng hành vi của Tất Phương lại khiến lòng ta nghi hoặc, đợi hắn đi rót trà, trong lúc hoang mang ta cũng hơi hiểu ra.

    Ta rầu rầu, cười hỏi: “Tứ ca? Có phải tứ ca không? Vì muội đánh nhau nên pháp lực suy yếu, không nhận ra nổi phép biến hóa, nên huynh hóa Tất Phương để trêu muội. Hi hi, dáng vẻ hóa giống lắm, nhưng tính cách lại diễn không giống, huynh chưa thấy dáng vẻ Tất Phương lúc nóng lúc lạnh với muội thường ngày…”.

    Bóng người đang rót trà dừng lại. Hắn quay đầu, thần sắc phức tạp: “Ta không có biến hóa, ta thực sự là Tất Phương, thượng thần cùng điện hạ đi Tây Hải giải quyết công chuyện rồi, một mình ra ở rừng đào cũng thấy chán, nên tới đây thăm nàng”.

    Ta ngây ra, khóe môi giật giật mấy cái, gượng cười: “Ha ha, loài chim bay các ngươi tính lạnh, vốn trời sinh đã không giống loài thú chạy chúng ta, ta nói như thế, người chớ để trong lòng, chớ để trong lòng nhé…”.

    Nét mặt hắn nhìn không ra là mừng hay giận, đoạn rót trà rồi đỡ ta uống hai ngụm, nhìn ta im lặng hồi lâu, bỗng nói: “Nếu lúc đó ta ở bên cạnh nàng, liều hết tu vi của ta quyết sẽ không để chúng chạm đến một sợi lông tơ của nàng”.

    Ta cười cười: “Đều là ở động Hồ Ly mà ra cả, đó là tự nhiên, đó là tự nhiên, Tất Phương, bao giờ ngươi hẹn đánh nhau với người ta, ta cũng sẽ trợ uy giúp ngươi”. Lại nghĩ đến câu hắn nói “liều hết tu vi của ta”, từ “trợ uy” của ta tự nhiên hạ xuống thật khẽ, thật khẽ, bèn ho một tiếng bổ sung: “Cho dù là đánh tan thành tro bụi”. Tự nhiên cảm thấy ta nói năng còn tình cảm hơn cả hắn, cũng cảm thấy có chút mừng vui.

    Mấy câu nói năng tình cảm này chẳng qua chỉ là đưa chuyện, quá ư dễ, hắn đưa một câu ta tiếp một câu, cho dù chẳng thật lòng, nhưng vẫn được người ta dễ chịu. Nhưng Tất Phương xem ra lại không dễ chịu như thế, hai mắt nhìn ta chằm chằm, tuy là chằm chằm nhưng vẫn khác so với thường ngày, có chút còn hơi kỳ quái.

    Ta hắng giọng một cái.

    Hắn quay người lại: “Thiển Thiển, nàng định giả ngây đến bao giờ, rõ ràng biết từ khi ở Thanh Khâu ta đã thương nhớ nàng rồi, nhưng nàng lại nói những lời chọc tức ta”.

    Ta sốc.

    Mẹ ơi, người ta nói loài lông vũ là chung thủy nhất, không động tình thì chớ, hễ động tình là đến chết không thôi, nếu thương nhớ một người, thì chắc chắn đến già vẫn thương nhớ người đó. Tất Phương đã thương nhớ cháu gái ta, theo truyền thống loài lông vũ nhà hắn, thì vẫn mãi thương nhớ mới phải, vậy hắn đã chuyển sang ta từ lúc nào, lúc nào?

    Hắn nói tiếp: “Vì nàng và thái tử của Thiên tộc đã sớm có hôn ước, ta đành phải chôn giấu mối chân tình. Nhưng lần này, lần này, nàng gặp đại nạn, hắn lại chẳng thể bảo vệ nàng. Nghe nói, ở Thiên Cung hắn còn nạp một thứ phi, ta đi bao ngày như thế cũng đã dò la rất kỹ, hắn phong lưu như vậy, cũng không biết toàn tâm toàn ý với nàng, ta làm sao an tâm giao nàng cho hắn, ta….”.

    Hắn còn chưa nói hết lời, cửa đã “cạch” một tiếng, mở ra.

    Dạ Hoa thần sắc xanh xao đứng ở cửa, trong tay bê một bát thuốc vẫn còn bốc hơi nóng nghi ngút. Trong lúc hoang mang ta vẫn cảm nhận được, đoạn báo ân bỗng biến thành đoạn trăng gió, vở kịch này quả là một vở kịch độc đáo.

    Tất Phương liếc xéo Dạ Hoa, không nói không rằng.

    Dạ Hoa đặt bát thuốc lên án thư, vì Tất Phương đứng bên cạnh giường nên đành ngồi xuống cạnh án thư, lạnh lùng, im lặng.

    Trong căn phòng tràn ngập sự tĩnh lặng.

    Nhân lúc rảnh rỗi, ta định bảo Tất Phương nói hết những lời vừa rồi. Vừa nãy hắn nói ta và Dạ Hoa đã có hôn ước, nên mới chôn giấu mối chân tình.

    Mối chân tình của hắn quả thực chôn quá sâu, đến nỗi một vạn tám nghìn năm trôi qua ta cũng không nhìn ra, hi hi hi.

    Tuy ta không có ý gì với Tất Phương, nhưng hắn nói thương nhớ ta, nay đột ngột thổ lộ khiến ta vui thầm trong lòng. Từ khi Tang Tịch thoái hôn, Thiên Quân ban đạo thiên chỉ đó, căn bản ta đều lẻ loi một mình, tẻ nhạt hơn rất nhiều so với những thần tiên đồng lứa. Tuy bề ngoài ta tỏ vẻ coi thường, nhưng trong lòng ta lại rất để ý chuyện này. Vì thế khi Tất Phương bày tỏ, cũng đã khiến nỗi chua xót và sự cảm động dồn nén trong suốt năm vạn năm qua của ta được giãi bày.

    Ta cảm thấy cho dù không thỏa nguyện cho Tất Phương thì cũng phải nói lời từ chối thật tế nhị, không thể làm tổn thương trái tim của hắn, nên nói: “Chuyện này, chung quy ta cũng đính ước với Thiên tộc trước, ta và ngươi, ta và ngươi đành có duyên mà không có phận. Ngươi nói thương nhớ ta, ta cũng rất thích. Nhưng phàm chuyện gì cũng cần có đầu có cuối, đúng không?”.

    Hai mắt Tất Phương sáng lên, hắn nói: “Nếu nàng có thể bên ta, ta nguyện gánh tội với Thiên tộc”, nói đoạn quay sang lườm Dạ Hoa, ta mới chú ý rằng trong khói sương mù mịt, sắc mặt của Dạ Hoa đã khó có thể dùng lời để tả được.

    Dạ Hoa trưng cái bản mặt khó coi đó đương nhiên cũng có lý của hắn ta. Ta cũng hiểu, thân là vợ chưa cưới của hắn, lại cùng một nam tử nói chuyện yêu đương trước mặt hắn thì cũng hơi hoang đường, làm mất thể diện của hắn. Nhưng ta với Tất Phương thực sự quang minh chính đại, là lần này hắn tới không đúng lúc, ta không thể vì hắn xông tới mà đá Tất Phương. Rốt cuộc mối giao tình của ta và Tất Phương cũng không tồi.

    Trong lòng đắn đo, ta hỏi Dạ Hoa: “Hay ngươi ra ngoài trước đi?”.

    Hắn không thèm đếm xỉa tới ta, cúi đầu nhìn bát thuốc đen sì đó.

    Tất Phương lại ngồi gần ta thêm một tiếng, dịu dàng nói: “Nàng nói đi, nàng có bằng lòng theo ta không?”.

    Làm như vậy trước mặt Dạ Hoa, Tất Phương cũng to gan thật đấy.

    Ta cười cười: “Ngươi cũng phải biết ta là người rất coi trọng lễ tiết, đã đính ước với Thiên tộc, ta quyết không làm điều gì để Thanh Khâu và Cửu Trùng Thiên phải khó xử. Tâm ý của ngươi ta xin nhận, cũng vô cùng cảm kích. Nhưng chúng ta quả thực có duyên mà không có phận, không cần phải nói nhiều, nếu ngươi một lòng nghĩ đến ta thì hãy thôi đi, cứ tiếp tục chôn giấu đi, ta cũng hiểu được trái tim của ngươi, mãi mãi cũng không dám quên”.

    Những lời này đương nhiên ta nói rất kín kẽ, từ tốn, giữ thể diện cho cả Tất Phương lẫn Dạ Hoa.

    Tất Phương đờ đẫn nhìn ta một lát, thở dài một tiếng, lại đắp chăn cho ta, rồi quay người đi ra khỏi phòng. Dạ Hoa vẫn đứng bên án thư, trong làn khói thuốc, không nhìn rõ được khuôn mặt.

    Ta ngủ một giấc, tinh thần chỉ khôi phục được một phần mười mà thôi, cùng Tất Phương nói chuyện một hồi, lúc vui lúc sợ lúc lo lúc sầu, đại thương nguyên thần, trong lúc lo lắng vẫn canh cánh muốn đến động Viêm Hoa một chuyến, lúc này Dạ Hoa vẫn đứng trong phòng của ta, nên cũng không tiện đi. Ta đắn đo tìm một cái cớ để đuổi hắn đi, nghĩ mãi nghĩ mãi, bèn tức giận nói với hắn: “Hầy, phiền ngươi bưng thuốc cho ta, ta bỗng cảm thấy buồn ngủ, uống xong thuốc ta sẽ ngủ một giấc, ngươi cứ làm việc của người đi”.

    Hắn “ừ” một tiếng, rồi bưng thuốc qua.

    Thuốc đắng dã tật, thuốc đắng như thế này, quả nhiên là thuốc tốt. Một bát thuốc trôi xuống ruột, đắng từ đầu lưỡi chạy xuống chân, rồi từ chân lại chạy lên lưỡi, khiến ta sặc sụa một hồi.

    Dạ Hoa tiếp tục đặt bát thuốc trên ghế, nhưng vẫn chưa đi, chỉ quay đầu nhìn ta, nói: “Nàng biết không, mỗi lần nàng không muốn ta đứng trước mặt nàng, nàng đều kiếm cớ buồn ngủ? Lúc này nàng không phải đang kiếm cớ thật chứ?”.

    Ta ngẩn người.

    Thành thực mà nói là ta đang kiếm cớ, nhưng chuyến này là ta bất đắc dĩ nên mới nói thế, chứ không phải lần nào cũng vậy.

    Ta còn đang mải nghĩ đến chữ “lần nào” ấy, thì hắn đã xiết lấy eo ta. Vì ta bị thương cũng nặng, nên bất giác hiện nguyên hình, thân hình hồ ly không được như thân người, eo là eo mà chân là chân, vậy mà hắn có thể phân biệt được eo của hồ ly khiến ta bội phục.

    Hắn trầm giọng, chầm chậm gọi: “Thiển Thiển”.

    Ta “ơi” một tiếng,

    Hắn lại xiết chặt hơn, không nói gì nữa. Lát sau, cuối cùng vẫn thốt một câu: “Những gì nàng nói vừa nãy, là thật lòng chứ?”.

    Ta hơi không hiểu, những lời vừa nãy của ta, đều là nói cho Tất Phương nghe, đâu liên quan gì tới hắn. Ta thật lòng hay không, rõ ràng phải để Tất Phương hỏi mới phải.

    Hắn cúi đầu dường như cười một tiếng, tiếng cười này như thể không biết phải làm sao: “Lần này nàng để mặc ta ôm nàng, những ngày ta đến ở Thanh Khâu, nàng ngày ngày rót nước pha trà cho ta, cùng ta đánh cờ, cũng đều vì hai chúng ta có hôn ước hay sao? Nếu như đính ước với nàng là một người khác, nàng…” Hắn càng ôm ta chặt hơn, thở dài một tiếng, nhưng không nói tiếp nữa.

    Ta lấy làm thắc mắc, thấy câu hỏi của hắn kỳ quặc vô cùng, đây chẳng phải là chuyện đương nhiên sao, nếu không phải hai chúng ta có hôn ước từ trước thì hắn có thể ở chỗ ta kiếm chác hết lần này đến lần khác sao? Hẳn là lúc chuẩn bị đến Thanh Khâu ở đã bị Mê Cốc đánh đuổi đi, làm gì có chuyện vào trong động Hồ Ly, lại được phân cho một gian nhà tốt? Còn chưa nói ta còn chia cho hắn thư phòng mà tam ca lâu ngày không dùng, đối đãi ân cần với hắn như vậy.

    Nhưng từ khi quen biết, hắn đã có tính cách dù núi Thái Sơn sập xuống trước mặt cũng không chớp mắt ấy rồi, bây giờ lại tỏ dáng vẻ yếu đuối trước mặt ta, quả thực hơi bất thường.

    Ta cười khan hai tiếng: “Ta đối với ngươi tốt một chút cũng không hoàn toàn là vì hôn ước”.

    Hắn đờ ra, ngẩng đầu nhìn ta, ánh mắt lóe sáng. Ta bị hắn nhìn thành ra mất tự nhiên, hắng giọng nói: “Trong những ngày ngươi ở động Hồ Ly, ngày nào cũng phê công văn rất vất vả, vậy mà vẫn nhớ nấu cơm cho chúng ta ăn. Điều này ta đều nhớ cả, luôn luôn ghi nhớ trong lòng. Có câu có qua có lại mới toại lòng nhau, ngươi ném cho ta một quả đào, đương nhiên ta cũng phải trao lại cho ngươi một quả mận, không có mận thì lấy quả tỳ bà thay cũng được. Đổi lại là hôn ước giữa ta và một người khác, thì hắn chưa chắc đã làm được như ngươi, còn ta cũng chưa chắc có thể nhẫn nại uống trà chơi cờ với hắn”.

    Những lời này của ta rất hợp tình hợp lý, đây chính là cái đạo chung sống giữa vợ chồng xưa nay, hai mắt Dạ Hoa tối sầm lại. Hắn im lặng hồi lâu, ta không hiểu sao hắn lại như vậy, cũng không tiện quấy rầy, chỉ nhìn lên đỉnh giường, nhớ đến cấm chế ở cửa động Viêm Hoa cũng cần phải thay rồi.

    Hắn đột nhiên rúc đầu vào hõm vai ta, buồn bã nói: “Ta chưa bao giờ làm cơm cho người khác ăn, ta chỉ làm cơm cho mình nàng ăn”.

    Ta bấu móng tay vào lưng hắn, gật đầu nói: “Tài nghệ nấu nướng của ngươi rất đỉnh, lúc nào rảnh đến nấu cho cha mẹ ngươi ăn, để thể hiện chữ “hiếu” đi”.

    Hắn không thèm để ý, lại nói: “Ta làm những điều đó không phải vì ta và nàng có hôn ước. Ta đến Thanh Khâu cũng chẳng phải tại A Ly nhớ nàng”.

    Ta đã hiểu, bèn nói: “A, nấu nướng hóa ra lại là sở thích của ngươi. Sở thích này đúng là sở thích hay, rất thực dụng đấy”.

    Hắn càng ôm ta chặt hơn, nhưng vẫn không thèm để ý đến ta, lại nói: “Thiển Thiển, ta yêu nàng”.

    Ta hoang mang giây lát, mở to mắt, kinh ngạc khôn cùng.

    Trời sập cũng chẳng làm người ta chấn động như thế này.

    Ta cứ tưởng cây nhân duyên của mình là một cây vạn tuế già, có sống đến vạn vạn năm cũng chẳng ra hoa, hôm nay, cây vạn tuế này đột nhiên, đột nhiên nở hoa rồi ư (26)? Hơn nữa lại còn nở một đóa sen tịnh đế(27).

    Dạ Hoa ngẩng đầu nhìn ta u uẩn: “Nàng nói sao?”.

    Ta vẫn còn kinh ngạc đến mức chưa trấn tĩnh được, thực sự không biết phải nên nói thế nào, trong lúc đắn đo, thở hắt một hơi: “Chuyện, chuyện này không đùa được đâu”.

    Hắn bình thản cười nói: “Chưa bao giờ ta chân thành như lúc này, không có tình cảm lâu ngày cũng có thể làm vợ chồng bên nhau, ta lại mong nàng có thể cùng ta tình nồng ý đượm”.

    Lời của hắn câu nào cũng khiến người ta kinh hãi. Tuy ta hoảng sợ, chấn động nhưng cũng vẫn còn tỉnh táo. Lúc đầu ta thực sự không ngờ hắn nghĩ như thế. Bây giờ nhớ lại từng chuyện lúc trước, tất cả lần lượt lướt qua đầu ta, ngẫm nghĩ một lát, tâm tư ấy của hắn đúng là thật, đều có thể nhìn ra được điềm báo. Khuôn mặt già nua của ta đỏ bừng, may mà đang hiện nguyên hình, lớp lông hồ ly trên mặt cũng không để lộ sự ngại ngùng của ta.

    Nhưng có trời xanh chứng giám, so với hắn, lòng ta hết sức trong sáng, cho dù nghĩ rằng sau này sẽ kết duyên phu phụ, thì cũng là kiểu vợ chồng có tình cảm tri kỷ mà thôi, không hề có mảy may tà niệm.

    Dạ Hoa rất biết cách lấy lòng ta, còn ta lại chẳng hề tán thưởng hắn, chẳng qua chỉ là đứng trên cương vị của kẻ trưởng bối mà quan tâm bảo vệ kẻ tiểu bối mà thôi. Nhưng cũng phải nói những ngày tháng bên hắn thực sự cũng hơi, cũng hơi…

    Đôi mắt Dạ Hoa nhìn ta, ánh mắt mông lung vời vợi, không nói gì mà chỉ nhìn thẳng, đến mức ta cảm thấy bị dằn vặt.

    Ta ngừng lại giây lát, nuốt nước bọt, nói: “Ta nghe mẹ ta nói, khi hai người kết duyên vợ chồng lâu dần những tình cảm phong hoa tuyết nguyệt năm nào sẽ phai nhạt đi, ở cạnh nhau sẽ chỉ giống như những người thân. Bây giờ ta cảm thấy ngươi đã là người thân của ta, chúng ta thực sự cùng lắm có thể bước qua vạch giữa này, ngươi thấy thế nào?”.

    Năm đó chịu vết thương lòng do Ly Kính gây nên, vết thương nay đã lành, nhưng sẹo vẫn còn đó, luôn khiến ta cảm thấy tình yêu nếu chẳng gặp đúng người thì thật tệ hại biết bao. Nếu như ta có thể trẻ lại bốn vạn tuổi, thì chơi đùa một chút cũng chẳng sao, cho dù bị tổn thương vài lần, nói một tiếng tuổi trẻ ngông cuồng là xong. Nhưng giờ tuổi tác đã cao, ta chẳng còn hứng thú gì với ái tình cả. Nhưng Dạ Hoa tuổi còn trẻ, còn ta chỉ muốn sống những ngày tháng thanh tịnh vô vi, nếu làm liên lụy đến hắn thì thực là không phải.

    Những lời vừa nãy ta đã nói hết, Dạ Hoa lặng im không đáp, ta thấy mình cũng thật bạo dạn. Lại xét kỹ một lượt, ta thương lượng với hắn: Ngươi thực sự cũng nên yêu nên hận những người cùng độ tuổi. Nhân giờ đây nghiệt căn còn chưa bén rễ đâm chồi, mau mau nhổ nó lên. Đợi đến khi ngươi bằng tuổi ta thì ngươi sẽ hiểu, sống lâu như vậy trên đời, người ta sẽ thờ ơ với tình yêu, chẳng còn chút hứng thú nào nữa. Đây chính là cảnh giới chỗ cao chẳng chịu nổi lạnh giá (28). A, đạo thánh chỉ đó của Thiên Quân đem ghép ta và ngươi làm một đôi, kỳ thực ta luôn cảm thấy không phải với ngươi. Nhưng ngươi cũng không cần quá đau lòng, đợi sau khi ta và ngươi thành hôn, sẽ có thể lấy cho ngươi mấy thứ phi xinh đẹp trẻ trung”.

    Nói xong ta cảm thấy như trút được tảng đá trong lòng. Tâm trạng của ta bây giờ bình thản biết bao.

    Có lẽ ta là chính phi rộng lượng nhất bốn bể tám cõi này, còn nếu Dạ Hoa lấy ta thì xét về mặt tuổi tác hắn đã chịu thiệt thòi.

    Hắn lại không hề vui mừng như ta tưởng, thần sắc nhợt nhạt, trừng mắt nhìn ta, nói: “Đây là những lời thật lòng của nàng sao?”.

    Vẻ mặt ta hết sức thành khẩn: “Đúng, còn thật hơn vàng thật”.

    Ta cứ tưởng hắn sẽ đòi ta bảo đảm về chuyện nạp thứ phi, ai ngờ được sau câu nói của ta, hắn mím môi càng chặt hơn, ánh mắt dần dần lạnh nhạt.

    Sống đến ngần này tuổi đầu, tính cách con người ta sẽ đằm lại, nhưng chuyện tình cảm cũng là chuyện không nên để lằng nhằng dây dưa. Ta tiếp tục chân thành nói: “Nghìn năm vạn năm ta cũng sẽ nói câu này, ta và ngươi vẫn nên giữ mối quan hệ liên hôn thuần khiết một chút. Thực ra, hai vợ chồng mà có tư tình chưa chắc đã là chuyện tốt. Ví dụ như nếu một ngày nào đó, ngươi muốn nạp thêm một người thiếp, thì hẳn sẽ không dễ dàng. Bây giờ tốt nhất là ngươi nên nhìn xa trông rộng một chút. Hầy, hôm nay ngươi không đếm xỉa đến những lời ta nói, nhưng sẽ có một ngày, ngươi yêu mến thần tiên nào đó, muốn cưới nàng ta về Tẩy Ngô cung, thì sẽ hiểu được được ý tốt trong những lời ta vừa nói”.

    Hắn im lặng một lúc, rồi chậm rãi nói: “Nàng, cố ý nói vậy để làm khó ta phải không?”.

    Tim ta giật thót một cái, hình như hắn đã yêu ta đến mức mê muội, tuy rằng ta có ý tốt nhưng nói những lời này, ngẫm kỹ lại thì có lẽ cũng hơi nóng vội.

    Ta lặng im nhìn hắn, không biết phải khuyên giải thế nào, chỉ cảm thấy chuyện này phải từ từ tính toán lâu dài.

    Hắn ôm ta vào lòng, nghẹn giọng nói: “Ta chỉ yêu mình nàng, không bao giờ yêu người nào khác”. Ngừng lại rồi lại lẩm bẩm câu gì đó mà ta nghe không rõ.

    Ôi, đứa trẻ khiến người ta phát bực, phát rầu này.

    Dạ Hoa nói xong những lời khiến đầu ta tê buốt rồi lại biến mất tăm, chỉ có ta là vẫn nằm ườn, kéo bốn góc chăn thật kỹ. Tuy ta bị trọng thương, nhưng cũng không đến nỗi yếu ớt quá, đến nằm cũng chẳng yên, nhưng nhìn thần sắc tê tái của hắn, ta không thể lửa cháy đổ thêm dầu, đành im lặng mà thôi.

    Hắn dém xong bốn góc chăn, rồi lại qua bưng bát thuốc để trên ghế, đặt lên bàn, bê cốc rót một cốc trà mát, sau đó bước tới, lưng dựa vào thành giường nói: “A Ly đã đưa về Thiên Cung rồi, nó chỉ hơi kinh sợ một chút, nhưng không lo ngại gì lắm, chỉ cần tĩnh dưỡng mấy hôm. Ta cũng định đưa nàng về Thiên Cung, trong Thượng thanh cảnh của Linh Bảo Thiên Tôn có một dòng suối trời, rất thích hợp cho nàng dưỡng thương”. Rồi hắn lại nhíu mày, nói, “Nhưng tên Tất Phương đó đã sống chết ngăn lại. Có điều, nếu nàng nhận lời thì hắn cũng chẳng có gì để nói. Nàng cứ nằm nghỉ đi, sáng sớm ngày mai chúng ta cùng về Thiên Cung nhé”.

    Ta cũng đã được nghe về suối trời của Linh Bảo Thiên Tôn, đúng là rất tốt, thương thế như ta bây giờ, nếu bình thường cần dưỡng thương một tháng, đến ngâm mình trên suối trời, có lẽ chỉ cần hai, ba ngày là đã khỏi hẳn. Nhờ Dạ Hoa, mà ta được lợi lớn, thật vui biết bao.

    Nói xong câu ấy, hắn nhắm mắt lại dưỡng thần. Còn ta lại phải đến động Viêm Hoa để thăm Mặc Uyên, đắn đo mãi, mới chậm rãi nói: “Hôm nay, ngươi không phải phê văn thư sao?”.

    Hắn hé mắt nhìn: “Hôm nay không có việc gì gấp, nàng vừa nói buồn ngủ, vậy ta cho nàng dựa nhé?”.

    Khóe miệng ta giật giật. Dường như chưa bao giờ hắn nhận ra đây chỉ là cái cớ, lại cười một cách hiền hòa hỏi: “Sao thế, lại không buồn ngủ nữa à?”.

    Ta bàng hoàng nghiến răng nói: “Buồn ngủ lắm, lắm”.

    Dạ Hoa có cái tính “việc hôm nay chớ để ngày mai”, nghĩa là trước đây khi hắn còn nhàn nhã ở Thanh Khâu nhà ta, thì đến nửa thời gian là chui trong thư phòng phê văn thư, bận rộn đến chân chạm đất.

    Lần này tuy xảy ra chuyện lớn như thế, quan tiên Ca Quân vẫn không thể cho hắn rảnh rỗi vài ngày, công văn vẫn ào ào trút xuống.

    Với số công văn của hai ngày hôm qua và hôm nay, Dạ Hoa “ngoan ngoãn”, số khổ chắc chắn là đêm nay không thể ngủ ngon rồi.

    Ta ngẫm nghĩ, bây giờ hắn nằm tựa trên giường ta chắc không phải muốn ta khó xử, mà là cũng muốn nghỉ ngơi dưỡng thần thôi. Giống như ở cõi phàm có kẻ mắc tội bị chặt đầu, trước khi chặt đầu cũng cần ăn một bữa cơm, no cái bụng rồi mới bước lên đoạn đầu đài. Hẳn là Dạ Hoa cần ngủ một giấc, tinh thần sung mãn rồi mới bước tới thư phòng để đối phó với công văn của hai ngày qua. Giấc ngủ này của hắn, theo như kinh nghiệm của bản thượng thần ta suy đoán, thì cùng lắm chỉ hai tuần trà mà thôi.

    Thế nên ta cũng nhắm mắt đối phó, trong lòng đã có dự tính tỉ mỉ, đợi hắn đi rồi, ta sẽ hóa thành hình người rồi đến động Viêm Hoa.

    Chẳng ngờ dự tính này của ta lại không thành. Tinh thần không sung mãn thực chẳng có tác dụng gì, cũng chưa đầy nửa tuần trà, thì người đã mơ màng ngủ thiếp đi mất.

    Trong lúc nửa tỉnh nửa mơ, ta đã mơ một giấc.

    Giấc mơ này đã mấy vạn năm nay ta không mơ nổi, vậy mà trong ngày hôm nay công đức đã viên mãn.

    Ta mơ thấy Mặc Uyên.

    Chú thích:

    24. Lính chạy cờ: chỉ vai diễn quân lính cầm cờ chạy trong các vở kịch, có nghĩa chỉ sự thêm thắt không có ý nghĩa (ND).

    25. Tất Phương điểu: Chim Tất Phương là thần thú trong truyền thuyết, sử dụng lửa (ND).

    26. Thành ngữ Trung Quốc có câu “Vạn tuế ra hoa” để chỉ những việc cực kỳ hiếm hoi (ND).

    27. Sen tịnh đế hay còn gọi là sen liền đài, tượng trưng cho ân ái vợ chồng (ND).

    28. Chỗ cao chẳng chịu nổi lạnh giá: Ý nói người quyền cao chức trọng không có bạn bè thân thiết. Nói cách khác, đứng ở chỗ cao không chịu được gió lạnh ở đó. Lại ví như một người có tài nghệ hoặc tu vi đạt đến cảnh giới thượng thừa. Cảnh giới càng cao, những người làm bạn càng ít, càng cảm thấy cô đơn và lạnh lẽo (ND).

  9. #16
    Đã đi theo chồng
    Pluie's Avatar
    Tham gia ngày
    Jun 2011
    Bài gởi
    499
    Đô
    36,927
    Tài khoản Tiết Kiệm
    0
    Cảm ơn / Thích
    Đề cập
    2 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Default

    Chương 14: Nàng cũng từng tràn trề sắc xuân

    Mấy ngàn năm đầu sau khi Mặc Uyên về cõi tiên, ta khổ sở đợi chờ, ngày ngày đều mong ngóng sẽ nằm mơ thấy người, để hỏi người một câu rốt cuộc bao giờ người quay lại. Mỗi lần đêm xuống, chìm vào giấc mộng, ta đều nhẩm câu hỏi này năm, sáu lượt, mấy chữ thuộc lòng như cháo chảy, chỉ sợ lúc nằm mơ thấy Mặc Uyên, sẽ kích động quá mà quên mất. Nhưng vì mộng chẳng thành, sau này ta cũng dần quên tâm tư ấy. Nhưng cuối cùng nền tảng của quá khứ thật quá kiên cố, giấc mộng này, ta vẫn nhớ lôi cái câu hỏi cũ rích ấy ra.

    Bản thượng thần quả bội phục sự anh minh của mình.

    Giấc mộng bắt đầu, cảnh mở đầu chính là cảnh tượng Chiết Nhan dẫn ta lên núi Côn Luân bái sư.

    Vì mẹ ta sinh được bốn người con trai, khó khăn lắm mới sinh hạ được một mụn gái, hơn nữa mụn con gái này đã mang tật ngay từ khi còn là bào thai, khi ta sinh ra thể chất yếu ớt, cả động Hồ Ly đều lo lắng cho ta. Bốn ca ca đều được nuôi dạy khá thoải mái, còn ta thì khác, ăn uống ngủ nghỉ đều vô cùng nghiêm ngặt, ngoài động Hồ Ly ra, không được phép đi đâu ngoài Thanh Khâu và rừng đào mười dặm của Chiết Nhan. Vất vả suốt hai vạn năm, ta đã được nuôi dạy khỏe mạnh, nhưng họ vẫn chưa an tâm.

    Khi ta hai vạn tuổi, cha mẹ vì một số chuyện mà không thường xuyên ở Thanh Khâu, bèn bảo tứ ca đến trông nom ta.

    Cần phải biết rằng tứ ca rất giỏi giữ sĩ diện, bề ngoài vờ vịt ngoan ngoãn vâng lời, mà sau lưng thì chuyên gây thị phi.

    Ta vô cùng ngưỡng mộ tứ ca.

    Ngự lệnh của cha ta vừa ban xuống, tứ ca nhấm nhấm ngọn cỏ, ngồi trước động Hồ Ly, nhìn ta hiền từ hỏi: “Từ bây giờ trở đi, tứ ca sẽ chăm nom muội. Trứng chim lấy được trên cây, ta một quả, muội một quả; cá câu ở dưới hồ, ta một con, muội cũng một con”.

    Ta vỗ tay tán thưởng tứ ca.

    Khi ấy, Chiết Nhan đã rất quan tâm tới tứ ca, chỉ cần lôi danh hiệu của lão ra, thì họa lớn đến đâu có thể sóng yên bể lặng hết. Thế nên suốt ba vạn năm liền, tứ ca dẫn theo ta “chọc trời khuấy nước mặc dầu, dọc ngang nào biết trên đầu có ai”.

    Đến khi cha mẹ ta có thời gian rảnh rỗi nghĩ tới chuyện dạy dỗ đứa con gái độc nhất thì cảm thấy đã sinh con gái thì nên dạy nó sao cho thùy mị, dịu dàng, nho nhã đoan trang, nhưng lúc ấy ta đã bị tứ ca làm hư rồi.

    Cũng may trong năm vạn năm cùng tứ ca rong chơi ở Thanh Khâu, huynh muội ta đã gây ra không ít việc vặt nhưng lại chẳng gây ra họa lớn, ngày tháng trôi qua hết sức an vui, tính cách của hai người bọn ta khó tránh có chút ngây thơ, kiêu ngạo, hoàn toàn không thể bì được với khí độ bây giờ của Dạ Hoa.

    Bản thượng thần luôn lo lắng, Dạ Hoa bây giờ mới chưa quá năm vạn tuổi, cho dù không phải ngây thơ, cũng ít nhiều phải có dáng vẻ hoạt bát. Vậy mà hắn lại trầm mặc thế kia, trên con đường đời hắn đã chịu không ít giày vò, trải qua biết bao cú sốc, kinh qua biết bao dâu bể!

    Nói lại khi ta năm vạn tuổi.

    Khi ấy, mẹ ta thấy ta như vậy thì rầu rĩ lắm. Trước là lo ta không lấy được chồng, đóng cửa động Hồ Ly suy nghĩ mất nửa tháng trời, sau đến một ngày hoàng đạo, ông trời mở mắt, để mẹ ta ngộ ra tuy tính cách ta chẳng ra sao nhưng dáng vẻ cũng không đến nỗi nào, dù sao cũng không nên gả đi, mới vợi bớt lo âu.

    Nhưng không lâu sau lại nghe được một tin đồn từ chỗ Mê Cốc, nói rằng trong một thủy phủ ở dưới chân núi liền kề, có nhà họ Chúc Âm (30) mới gả con gái đi. Tiểu Chúc Âm vì thuở nhỏ mồ côi mẹ, không có ai dạy dỗ, nên tính cách có hơi yếu đuối, sợ khổ sợ mệt, khiến cho mẹ chồng ghét, ngày ngày đều kiếm cớ để mắng mỏ nàng ta. Tiểu Chúc Âm không nhẫn nhịn được mới gả được đi được chưa đầy ba tháng đã khóc lóc ầm ĩ trở về nhà mẹ đẻ.

    Nghe nói Tiểu Chúc Âm vì là dâu mới bị bắt nạt, lại nhìn thấy dáng vẻ của ta, mẹ ta lại càng buồn bực lo lắng hơn. Bà cảm thấy với tính cách của ta, dù có gả đi được, thì cũng sẽ một ngày bị mẹ chồng đánh cho ba trận. Nghĩ tới sau này ta có thể phải chịu khổ, hễ nhìn thấy ta là mẹ ta lại rớt nước mắt.

    Có một lần, Chiết Nhan đến động Hồ Ly chơi, đúng lúc mẹ ta đang âm thầm lau nước mắt, bèn hỏi duyên cớ làm sao, trầm ngâm giây lát mới than rằng: “A đầu này đã lớn như vậy, tính cách cũng không thay đổi được. Bây giờ chỉ có thể cho nó học hỏi chút bản lĩnh, sau này về nhà chồng, trên là tộc trưởng quản lý mọi việc trong tộc, dưới là tiểu đồng quét dọn, không có kẻ nào giỏi hơn nó, thì dù nó có ngây thơ kiêu ngạo, cũng sẽ không bị ấm ức”.

    Mẹ ta nghe xong những lời ấy, cảm thấy có lý bèn đồng tình, vỗ đùi một cái, sự việc đã được quyết định như thế.

    Xưa nay mẹ ta luôn là người mạnh mẽ, cảm thấy đã thành tâm thành ý tìm cho ta một vị sư phụ để học hỏi thì sẽ phải tìm một sư phụ giỏi nhất trong bốn bể tám cõi mới không uổng phí tâm tư này của người.

    Đắn đo hơn nửa tháng trời cuối cùng đã chọn thượng thần Mặc Uyên, cai quản âm nhạc và chiến tranh sống trên núi Côn Luân.

    Trước đó ta chưa bao giờ gặp Mặc Uyên nhưng tên tuổi của người thì lại quá quen thuộc.

    Khi ta và tứ ca chào đời, chiến sự trong bốn bể tám cõi đã không còn liên miên, thi thoảng mới diễn ra một trận, mà có thì cũng chỉ là những trận chiến nho nhỏ, người bề trên chẳng cần lộ diện. Các trưởng bối có lúc cũng kể lại những trận chiến lớn thực sự từ lúc phân chia âm dương, lưỡng nghi, ví dụ như tám cõi nổi giận ra sao, chín châu nhuộm máu thế nào, đám đàn ông đã ngoan cường cứng cỏi, da ngựa bọc thây ra sao, rồi lập công lập nghiệp thế nào, nói đến mức ta và tứ ca đều đau cả đầu.

    Khi ấy, trong Thần tộc còn lưu truyền rất nhiều điển tịch ghi chép về những chiến sự thời viễn cổ, hai huynh muội ta rất hiếu học, thường xuyên đến mượn đám tiên hữu quen thuộc về đọc. Hoặc tự mình cũng có đôi bản sách quý, trao đổi với họ.

    Trong những điển tịch này, đâu đâu cũng bắt gặp bóng dáng của Mặc Uyên. Đám thiên quan viết sách đều khen tư thế của người uy vũ, trên người mặc khôi giáp Huyền Tinh, tay cầm kiếm Hiên Viên, nào là chiến thần bất bại.

    Ta và tứ ca ngưỡng mộ người khôn xiết, thầm tưởng tượng dáng vẻ oai phong của người trông như thế nào.

    Ngưỡng mộ chân thành, thảo luận hơn một năm, chúng ta cảm thấy vị thượng thần Mặc Uyên này hẳn phải có bốn cái đầu, mỗi cái đầu trông về một hướng, con ngươi tròn xoe như gương đồng, tai to như quạt cỏ bồ, trán vuông, miệng rộng, vai tay lưng đều rộng, dày như núi đá, hai chân hai cánh tay đều thô ráp như đá tảng, thổi một hơi là dậy cơn cuồng phong, giậm một chân là đất rung chuyển. Chúng ta suy nghĩ trăn trở, cho rằng phải như thế mới có thể thể hiện sự nhanh nhạy hơn người, thông minh mẫn tiệp, tráng kiện bền bỉ của một cao nhân đệ nhất. Phác thảo xong tư thế oai nghiêm của Mặc Uyên, ta cùng tứ ca phấn chấn chạy đến tìm nhị ca vẽ tranh rất đẹp, xin huynh ấy vẽ cho chúng ta hai bức tranh, treo trong nhà để ngày ngày ngắm nghía.

    Vì thế nên vừa nghe nói sẽ bái Mặc Uyên làm thầy, ta đã không kìm được kích động. Tứ ca cũng muốn đi cùng ta, nhưng lại bị Chiết Nhan ngăn lại, thành ra giận dữ mất mấy ngày.

    Chiết Nhan dẫn ta cưỡi một đám mây lành trong hai canh giờ, cuối cùng đến một ngọn núi tiên rất thâm u. Ngọn núi này hoàn toàn khác với Thanh Khâu, cũng khác với rừng đào mười dặm, ta cảm thấy vô cùng mới mẻ.

    Có hai tiểu tiên đồng đã đứng trước cửa núi chờ, dẫn bọn ta vào trong một đại sảnh rộng rãi. Trong đại sảnh có một nam tử mặc áo bào đen ngồi sẵn đó, lấy tay chống cằm, dựa đầu vào vai, thần sắc lạnh nhạt, khuôn mặt hơi hơi ẻo lả.

    Ta thực sự không biết nữ tính là thế nào, chỉ nghe tứ ca nói qua loa, gương mặt tuấn tú của Chiết Nhan kia là đẹp, nếu không bằng Chiết Nhan thì diện mạo tầm thường, nếu đẹp hơn Chiết Nhan thì chính là ẻo lả. Câu nói chẳng ra sao này của tứ ca ta luôn ghi nhớ trong lòng.

    Vì ta được tứ ca nuôi dạy từ bé nên luôn nghe lời huynh ấy, đến huynh ấy nói bức tranh mà chúng ta cùng tưởng tượng ra đang được treo trong phòng kia là một vẻ đẹp tuấn tú không gì lý giải nổi, ta cũng vẫn tin theo mà không nghi ngờ, luôn âm thầm cố gắng để trở thành như thế.

    Cho nên, khi Chiết Nhan dẫn ta đến núi Côn Luân, cất tiếng chào hỏi với vị thư sinh mặc áo bào đen này: “Mặc Uyên, bảy nghìn năm nay chẳng thay đổi gì”. Ta đã bị sốc nặng. Đôi mắt vừa dài vừa nhỏ của người có thể nhìn khắp thiên lý sao? Đôi tai mảnh dẻ của người có thể nghe thấu tám hướng? Đôi môi mỏng của người có thể phát âm thanh lí nhí như muỗi kêu có thể khiến người ta phải lắng nghe sao? Thân hình gày gò của người có thể nhấc nổi kiếm Hiên Viên – đứng hàng thứ hai trong thần khí của tám cõi sao?

    Ta cảm thấy những công lao sự nghiệp to lớn ghi chép trong điển tịch đều là lừa gạt cả, cảm giác niềm tin sụp đổ ập tới, ta nắm tay Chiết Nhan mà đau lòng vô hạn.

    Khi Chiết Nhan giao ta cho Mặc Uyên, còn ân cần dặn dò một lượt mấy lời nhảm nhí, như: “Đứa trẻ này không cha không mẹ, ta thấy nó bị vứt trong khe núi nên nhặt về, chỉ còn thoi thóp thở, dáng vẻ tiều tụy nhếch nhác, sau khi tắm rửa mới nhận ra là một con bạch hồ ly”. Ví dụ như: “Ta nuôi nó đã năm vạn năm, nhưng gần đây nó càng lớn càng đẹp, người ấy nhà ta có hơi ghen”. Lại như: “Ta đưa nó tới chỗ ngươi là chuyện chẳng đành, đứa trẻ này đã rất khổ, ta luôn yêu chiều nó, tính tình khôn ngoan, nên cũng phiền ngươi ưu ái nó”.

    Ta cảm thấy mấy câu nói nhảm này của Chiết Nhan thật chả ra sao, quá đau lòng nên cũng buồn rầu. Mặc Uyên luôn lặng lẽ chỉ ngồi nghe mà không nói gì.

    Mặc Uyên đã nhận ta làm đồ đệ, Chiết Nhan coi như đã “đại công cáo thành”. Sau khi lão thành công lui gót, ta tiễn lão đi một đoạn. Khi đến cửa núi, Chiết Nhan dặn dò cẩn thận: “Tuy bây giờ ngươi là thân nam giới, nhưng lúc tắm giặt cũng không được ở cùng các sư huynh ngươi, không thể để chúng lợi dụng, vẫn phải biết cách giữ gìn như một cô nương”. Ta gật đầu đồng ý.

    Mặc Uyên quả nhiên là chăm sóc ta rất chu đáo, nhưng ta coi thường người trông thiếu anh dũng, nên không thèm nhận ân tình của người.

    Với Mặc Uyên, ta luôn có một chút không cung kính, cho đến khi vấp váp lần đầu tiên trên con đường đời, gặp phải chuyện tổn thương ghê gớm đến bản thân.

    Chuyện này, cũng từ rượu của Chiết Nhan mà ra.

    Chiết Nhan giỏi cất rượu, lại rất yêu chiều tứ ca, rượu ủ ra đều do tứ ca đem đi, tứ ca luôn chăm sóc ta, ta được thơm lây huynh ấy ở điểm này, nên rất năng qua lại hầm rượu ở rừng đào mười dặm, dần dần đâm ra hơi thích rượu. Vì ta uống quá nhiều rượu của Chiết Nhan, trong lòng cũng hơi đắc ý, gặp tiệc lớn tiệc nhỏ cũng đều thay lão khen ngợi vài tiếng trước đám tiên hữu. Thành thật mà nói lúc đó kỹ thuật nấu rượu của Chiết Nhan đã rất phi phàm, nhưng rốt cuộc vẫn còn có thể tiến bộ nữa, nhưng ta tuổi nhỏ khờ khạo, luôn khoa trương, có ba phần thì nói bốc lên năm phần, có năm phần thì nói bốc lên mười phần, cho nên ở yến tiệc có khen rằng rượu của lão là độc nhất vô nhị, đương nhiên khiến cho mấy người ham rượu nghe không lọt lỗ tai, phải lôi rượu nhà khác ra để hạ Chiết Nhan xuống, bẻ gãy nhuệ khí của ta.

    Trên núi Côn Luân có một người như thế, Thập lục sư huynh của ta Tử Lan. Bây giờ ta vẫn còn cảm thấy Tử Lan hơi nhỏ mọn, những sư huynh khác khi nghe ta tán thưởng Chiết Nhan đều chỉ cười trừ mà thôi, mặc dù cũng có ý kiến này kia, nhưng nể ta là sư đệ nhỏ nhất, nên đều bỏ qua cho ta. Tử Lan thì lại không thế, thường xuyên ngoác miệng ra, hừ mũi cực kỳ khinh mạn, nói: “Chậc chậc chậc, được uống thử rượu của sư phụ nấu chưa?”. Sư phụ mà huynh ấy nói, đương nhiên là Mặc Uyên.

    Khi ấy, ta vẫn hơi coi thường Mặc Uyên, không chịu chấp nhận người khác khen người, thấy bộ dạng tự cho mình là đúng đó của Tử Lan, lửa giận bốc ngùn ngụt, trong lòng thầm quyết, lần sau nhất định nghĩ cách, để cho huynh ấy phải thừa nhận rượu của Mặc Uyên nấu không ngon bằng rượu của Chiết Nhan trước mặt tất cả các sư huynh, Mặc Uyên không sánh được, Mặc Uyên còn lâu mới bằng.

    Cách mà ta nghĩ lúc đó là một cách hết sức ngô nghê, chẳng qua là đến hầm rượu của núi Côn Luân lấy trộm một bình rượu do Mặc Uyên nấu, đưa cho Chiết Nhan tham khảo, làm ra một bình còn ngon hơn gấp trăm gấp ngàn lần. Cuối cùng là trộm được, nhưng không dám đi qua cửa chính, định từ rừng đào sau núi đi vòng, vòng xuống núi rồi cưỡi mây đi đến phủ của Chiết Nhan. Lúc vòng vèo đến rừng đào, chẳng may bị lạc đường, vất vả cả nửa ngày mà không đem được rượu đi, miệng thì khát, trên người lại chỉ mang độc một bình rượu của Mặc Uyên, thế là ta lấy ra giải khát.

    Vừa nhấp một ngụm ta đã hơi bàng hoàng. Chỉ một ngụm nhỏ mà thôi, mùi rượu đã tràn khoang miệng, vị cay dịu xộc đến cuống họng. Tài nghệ của Chiết Nhan, phải nâng cao một chút nữa, thì mới chạm được đến hỏa hầu này.

    Mặc Uyên quả nhiên có bản lĩnh đệ nhất này! Một bạch diện thư sinh sao lại có được bản lĩnh đệ nhất này?

    Ta vô cùng bi phẫn, uất ức dâng tràn, rượu trong tay cho dù có mang đến cho Chiết Nhan cũng chẳng để làm gì. Ta đau buồn một lúc, rồi dứt khoát uống tì tì hết sạch bình rượu.

    Đâu biết rằng loại rượu này mới đầu uống êm dịu, nhưng về sau say đến không ngờ. Ta hoa mày chóng mặt dựa vào gốc đào, chẳng bao lâu sau thì ngủ thiếp đi mất.

    Khi tỉnh lại, thì có chút khác biệt với hôm qua, không phải tự nhiên mà tỉnh, cũng không phải bị mấy tiếng thúc giục cằn nhằn của đại sư huynh gọi dậy, mà là bị hắt một chậu nước lạnh, giật mình tỉnh dậy.

    Người hắt nước có lẽ cũng có kinh nghiệm, phương hướng và lực đạo đều rất chuẩn, chỉ cần một chậu nước, đã khiến ta tỉnh táo trở lại. Khi ấy là ngày tuyết tan của đầu xuân, chậu nước đó hẳn là chậu nước tuyết tan ra, áo xiêm thấm đẫm dính trên người, chỉ trong thời gian uống một chén trà mà khiến ta hắt hơi một cái dữ dội.

    Một cô gái bưng chén trà đứng bên cạnh chiếc ghế bằng gỗ đen, nàng chỉ uống một ngụm trà rồi bỏ chén xuống, thong thả chậm rãi lạnh lùng nhìn ta. Hai thị nữ đứng hầu bên nàng ta, trên đầu còn chải tóc hình quả bí. Ngày ta bái sư nhập môn, đã được đại sư huynh dặn dò, bảo ta chớ có dây vào mấy thiếu nữ búi tóc hình quả bí, cho dù đối phương thất lễ trước, thân là đệ tử của núi Côn Luân, cũng phải nhường ba, bốn phân. Vì những nữ tử búi tóc hình quả bí kia thường xuyên tới núi Côn Luân chơi, thì chắc chắn là tỳ nữ của thượng thần Dao Quang. Thượng thần Dao Quang là nữ thần dịu dàng thời bình, hung mãnh thời chiến, luôn si mê thượng thần Mặc Uyên, sư phụ của chúng ta, gần đây còn yêu đơn phương dữ dội hơn, dứt khoát dời nhà đến gần núi Côn Luân, cách mấy ngày lại sai tỳ nữ đến núi Côn Luân khiêu khích kiếm chuyện, muốn khích Mặc Uyên đánh với nàng ta một trận, xem xem bản lĩnh của nàng, phải hàng phục bám váy nàng, vĩnh viễn cùng nàng kết đôi. Mưu tính của nàng ta không tồi, nhưng dường như Mặc Uyên lại không coi đó là chuyện lớn, chỉ dặn dò đệ tử phải coi người tới là khách, có thể chiều chuộng gì thì chiều chuộng hơn một chút.

    Mấy thị nữ tóc quả bí trước mắt nhắc nhở ta, khiến ta nhận ra thân phận họ trong giây lát, người ngồi trên ghế uống trà kia, chính là thượng thần Dao Quang yêu đơn phương Mặc Uyên.

    Nàng ta nhân lúc ta say túy lúy mà trói bắt ta về đây, chắc là muốn thỏa tâm nguyện, khích cho Mặc Uyên đánh với mình một trận, biết đâu trong trận này Mặc Uyên nảy sinh tình cảm với nàng ta, kế đó chàng đoán thiếp thiếp đoán chàng, kế đó chàng hữu tình thiếp hữu ý, kế đó cầm sắt hài hòa song túc song phi.

    Nhưng lại liên lụy đến ta thành hòn đá lót đường, ta cảm thấy mình vô tội biết bao, oan ức biết bao.

    Một thị nữ đứng bên phải ho một tiếng, nhận cái nhìn của chủ nàng ta lập tức làm bộ dáng vẻ dạy dỗ người khác, nói: “Núi Côn Luân là nơi thánh địa thanh khiết bậc nhất trong bốn bể tám cõi, con hồ ly đực yêu mị như ngươi lại dám trà trộn vào để dụ dỗ thượng thần Mặc Uyên sao?”.

    Ta ngớ ra, rồi “a” một tiếng.

    Nàng ta trừng mắt nhìn ta rồi nói tiếp: “Ngươi nhìn ngươi xem, mắt, mày, miệng, đều là vẻ yêu mị! Từ lúc thu nhận ngươi làm đệ tử, thượng thần Mặc Uyên lúc nào cũng yêu thương bảo vệ”. Sắc mặt thượng thần Dao Quang không tốt lắm, thị nữ đó lập tức sửa, “Bèn bỏ bê tiên đạo, thượng thần nhà ta niệm tình tiên liêu, không nỡ giương mắt nhìn thượng thần Mặc Uyên đi vào con đường sai lầm, không thể không giúp đỡ”. Nàng ta nói chậm lại, “Tuy rằng ngươi phạm phải sai lầm lớn như vậy, nhưng thượng thần nhà ta nổi tiếng từ bi, nên cho ngươi làm đồng tử của thượng thần nhà ta, chuyên tâm tu hành, cũng là sửa đổi bản tính ngoan cố của ngươi, còn không mau mau quỳ xuống cảm tạ ân tình của thượng thần nhà ta”.

    Ta ngây người ra nhìn bọn họ, hoàn toàn không hiểu họ đang diễn trò gì. Nghĩ mãi lại cảm thấy từ khi mình đến núi Côn Luân, ngoài việc lấy trộm rượu khỏi hầm ra, thì chưa từng làm gì trái quy củ, nếu có thì có chăng chỉ là lúc ban đầu nhờ cậy quan hệ để được bái sư môn mà thôi.

    Ta rất phẫn nộ, bực bội quát: “Ta chẳng làm gì sai với sư phụ, sư phụ đối tốt với ta cũng vì có cố nhân nhờ cậy, thương xót ta thân thế thê thảm. Ngươi bắt ta đến đây, còn hắt nước vào ta, chỉ một ngón tay sư phụ ta cũng còn hơn các ngươi trăm lần ngàn lần, ta quyết không làm đồng tử dưới trướng của ngươi”.

    Thượng thần Dao Quang đập bàn một cái, tức giận thét lên: “Ngoan cố, ngu tối như thế, tống nó vào thủy lao, giam ba ngày”.

    Bây giờ ngẫm lại, khi đó Dao Quang đang bị đố kỵ che mờ mắt, tuy rằng là hiểu lầm, còn ta tuổi trẻ bồng bột không biết ăn nói, lại đem một hiểu lầm có thể tháo gỡ làm thành một nút chết, sau này phải nếm khổ hai ngày kể ra cũng đáng.

    Thủy lao trong phủ của thượng thần Dao Quang, thú vị hơn nhiều những thủy lao bình thường khác. Lúc đầu chỉ là nước ngập đến eo, cho một người sống vào đó, nước sẽ từ từ dâng từ eo lên, dần dần dâng lên, nhưng không bị ngập đầu. Tuy rằng không ngập đầu, không khiến bạn chết ngạt, nhưng luôn khiến bạn phải khổ sở vì bị ngừng thở. Nếu luôn ngừng thở như thế, thì cần nhịn thở là quen, nhưng nhịn được nửa canh giờ, nước lại dần dần rút lui, để bạn hít thở một hơi, rồi lại bắt đầu lại từ đầu.

    Vì ta rong chơi đã bao năm, nếu có đem hết sức ra thì cũng không địch nổi một thượng thần, không thể phản kháng, chỉ có chờ chết.

    Lúc Mặc Uyên đến, ta đã bị giày vò đến nỗi chỉ còn nửa cái mạng.

    Cho dù là chỉ còn nửa cái mạng thì chung quy vẫn là một thiếu niên sức sống tràn trề, trong mơ hồ vẫn còn nhớ Mặc Uyên sầm mặt một tay vung lên mở chiếc khóa đen trên cửa nhà lao, vớt ta từ dưới nước lên giữa ánh lửa bập bùng, lấy áo bào bọc kín ta vào lòng, lạnh lùng nói với Dao Quang khuôn mặt đang trắng bệch, nói: “Mười bảy tháng hai, trên đỉnh Thương Ngô, món nợ này chúng ta phải tính sạch”.

    Dao Quang rầu rĩ nói: “Thiếp rất muốn thử sức với chàng một trận, nhưng không phải trong tình cảnh này, cũng không phải…”.

    Ta còn chưa nghe thấy nàng ta nói hết câu thì đã được Mặc Uyên sải bước đưa đi. Ra đến cổng gặp đại sư huynh, huynh ấy đưa tay đón ta, nhưng sư phụ không đưa, rồi cứ như thế mà đi.

    Khi ấy, lần đầu tiên ta cảm thấy, cho dù Mặc Uyên không nói những lời kinh thiên động địa, thì giọng nói cũng sáng rõ trầm bổng. Cho dù cánh ta không được thô ráp như cột đá, cũng rất mạnh mẽ kiên cường. Mặc Uyên không còn là một bạch diện thư sinh.

    Vừa về tới núi Côn Luân, ta đã ngủ mê mệt, khi tỉnh lại nghe đại sư huynh nói, Mặc Uyên đã đến núi Thương Ngô quyết đấu với thượng thần Dao Quang. Vì đây là cảnh tượng bảy vạn năm nay mới có một lần, từ nhị sư huynh đến thập lục sư huynh đều lén trốn đi xem. Đại sư huynh nhìn ta đầy tiếc nuối: “Đệ nói xem sao sư phụ lại sai huynh đến chăm sóc đệ?”. Không thể xem trận chiến giữa Mặc Uyên và Dao Quang, ta cũng rất nuối tiếc, nhưng để đại sư huynh không cảm thấy nuối tiếc nhiều như thế, chỉ có cách nhận ân tình cười ngốc nghếch hì hì hai tiếng.

    Đại sư huynh đúng là nói không ngừng, nghe huynh ấy lải nhải mấy ngày liền ta mới hiểu ra chuyện Dao Quang bắt ta, thực ra là tiến hành rất kín kẽ cẩn mật.

    Đêm đó đến khi tắt đèn mà ta vẫn chưa về phòng, các sư huynh rất lo lắng, nhất loạt đi tìm ta mà không thấy, càng nghi ngờ ta đã bị tiên tỳ của thượng thần Dao Quang bắt đi mất. Tuy suy đoán như thế nhưng cũng không có gì làm chứng cứ, các sư huynh đều rất lo sợ, bất đắc dĩ đành kinh động đến sư phụ. Sư phụ chuẩn bị đi nghỉ, nghe thấy chuyện chỉ khoác chiếc áo bào, rồi dẫn đại sư huynh đến phủ đệ của thượng thần Dao Quang. Thượng thần Dao Quang thà chết không chịu nhận, sư phụ vung kiếm Hiên Viên, không thèm đếm xỉa đến lễ nghi gì, thẳng đường xông tới, mới tìm thấy ta.

    Đại sư huynh “chậc chậc” cảm thán: “Nếu không phải nhờ uy lực của sư phụ, thì Thập thất đệ chắc chẳng còn giữ được cái mạng nữa”. Sau đó lại cười nói, “Đệ vừa về đến Côn Luân là lại ngất đi, nằm mơ còn ôm tay sư phụ rất chặt kêu là khó chịu, kéo thế nào cũng không chịu buông ra, sư phụ thấy chẳng ra sao, đành vỗ vỗ vào lưng đệ an ủi “đừng sợ nữa, có sư phụ bảo vệ đây rồi”, ha ha, bộ dạng của đệ, đúng là chẳng khác gì đứa trẻ con”. Mặt ta đỏ bừng, huynh ấy lại nghi hoặc hỏi, “Rốt cuộc đệ đã đắc tội gì với thượng thần Dao Quang? Nàng ta tuy rằng có hơi xấu tính một chút, nhưng xưa nay cũng chưa từng ra tay tàn độc thế”.

    Ta vừa điều dưỡng, vừa cân nhắc trước sau một lượt, định nói với huynh ấy, rằng lần này vị thượng thần đó đã ghen bóng ghen gió, nhưng lại cảm thấy nói xấu sau lưng người khác là không hay, bèn ấp úng nói lấp liếm vài câu.

    Lần này ta nằm mơ thấy Mặc Uyên chính là mơ thấy chuyện này. Giấc mơ giống hệt với những gì xảy ra ngày hôm đó. Vốn sau trận chiến trên núi Thương Ngô, buổi chiều hôm đó Mặc Uyên đã quay về Côn Luân, Dao Quang thua trận thảm bại, sau trận chiến này đã chết hẳn mối tình si với Mặc Uyên, dời phủ đệ đi thật xa, thật xa. Nhưng trong giấc mộng của ta, sau trận chiến Thương Ngô ngày mười bảy tháng hai, Mặc Uyên lại không quay về. Ngày ngày ta đều quấn lấy đại sư huynh hỏi, rốt cuộc bao giờ sư phụ quay về, đại sư huynh đều trả lời ta, sắp rồi, sắp rồi.

    Cho dù là nằm mơ, ta vẫn phải hỏi câu này, nhưng câu này đã hỏi hơi muộn một chút.

    Nhưng ta tin đại sư huynh, huynh ấy nói sắp rồi, sắp rồi, ta cũng cảm giác đúng là sắp rồi, sắp rồi.

    Ta đã chờ trong mơ suốt bảy vạn năm, cho dù đợi bảy vạn năm, cũng trong giấc mơ đó, ta luôn ngây ngô tin lời đại sư huynh, tin rằng sư phụ sắp về rồi, sắp rồi. Trái tim ngây thơ và bình yên ấy thực sự không thể so với ngày nay.

    Chú thích:

    30. Còn gọi là Chúc Long, là một trong sáu thần sáng thế của thời thượng cổ Trung Quốc, là vị thần mình rắn mặt người trong truyền thuyết Trung Quốc. Có ghi chép trong sách Sơn Hải Kinh (ND).

Trang 2/5 đầuđầu 12345 cuốicuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

Hiện đang có 1 tv xem bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Từ "khóa" cho đề tài này

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • Bạn không được quyền đăng bài
  • Bạn không được quyền trả lời bài viết
  • Bạn không được quyền kèm dữ liệu trong bài viết
  • Bạn không được quyền sửa bài
  •