Cảm ơn Cảm ơn:  0
Thích Thích:  0
Trang 1/10 1234567 ... cuốicuối
kết quả từ 1 tới 8 trên 78

Ðề tài: [Viễn tây] Kỵ Sỹ Không Đầu - Main Rid

  1. #1
    Miss You Baby Kienfa's Avatar
    Tham gia ngày
    Mar 2005
    Bài gởi
    14,376
    Cảm ơn / Thích
    Blog Đã Viết
    94

    Post [Viễn tây] Kỵ Sỹ Không Đầu - Main Rid

    Nguồn: VNthuquan




    Lời giới thiệu



    Main Rid sinh năm 1818 tại Bắc Ailen và mất năm 1883 tại Luân Đôn. Từ nhỏ ông đã tỏ ra là một cậu bé rất có cá tính, can đảm, ưa thể thao, thích đi đây đi đó mặc dù xuất thân trong một gia đình đã mấy đời làm linh mục. Vào năm hai mươi tuổi, ông bỏ nhà, vượt Đại Tây Dương sang chây Mỹ. Tuy nhiên khác với những kẻ hướng về vùng đất mới với ước mong khi trở về nặng túi, Main Rid ra đi với lòng khao khát tự do và khám phá những thế giới mới.
    Ở Mỹ Châu, dấu chân ông ngang dọc khắp nơi, ông làm đủ nghề: giáo viên, buôn bán, săn bắn, đồng thời còn là phóng viên chuyên viết phóng sự, làm thơ, làm nghệ sỹ, viết văn.
    Năm 1847 cuộc chiến tranh giữa Hoa kỳ và Mễ Tây Cơ bùng nổ, ông gia nhập đội quan những người tình nguyện, nhưng sau đó ông đã nhận ra đây chỉ là một cuộc chiến tranh ăn cướp. Rồi ông bị thương nặng. Chính trong thời gian chữa vết thương ông đã viết cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình “Những mũi tên tự do” được in ở Anh năm 1849. Và từ đó, tức là khi quay về lại châu Âu ông đã lần lượt cho ra đời một loạt các tiểu thuyết đặc sắc “Những kẻ săn da đầu” “Ôxkêôla thủ lĩnh bộ lạc Xêminol” “Những người Kvaterôn”.
    Tiểu thuyết “Kỵ sỹ không đầu” ra đời năm 1865 là quyển tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Main Rid, được đông đảo bạn đọc trên nhiều nước nhiệt liệt hoan nghênh.
    KỴ SỸ KHÔNG ĐẦU mở ra cho bạn đọc thấy một chương bi thảm và hùng tráng trong lịch sử của mảnh đất Tếchdơt hoang sơ ngày đó.
    Đó là câu chuyện về mối tình nồng cháy giữa chàng trai săn ngựa hoang Moric Gieran dũng cảm, hào hiệp và nàng Luiza kiều diễu khao khát tự do. Biết bao hoạn nạn đã đến với đôi trai tài gái sắc này, song tình yêu của họ đã vượt lên hết thảy.
    Đó cũng là câu chuyện kể về mối xung đột dữ đội giữa một bên là những kẻ đầy dã tâm xâm chiếm đất đai, phá hoại hạnh phúc lứa đôi và sẵn sàng giết người như đại úy giải ngũ Kôlhaun, bọn “Mèo rừng” “Sói đồng” ... với một bên là những con người trung thực, giàu nghị lực, biết tôn trọng nhân phẩm và sự công bằng như già Zep Xtump, chàng trai Henri...
    Qua câu chuyện rùng rơn, khốc liệt mang màu sắc phiêu lưu hoang dã, hấp dẫn bạn đọc này, Main Rid giúp chúng ta thấy rõ quá trình xâm nhập của các địa chủ Mỹ tới các vùng đất Mếchxich, cho thấy sự phân hóa của xã hội và ngay cả trong từng gia đình thời bấy giờ, cho thấy quan hệ người với người căng thẳng và thù địch trên mỗi bước đi. Cũng qua đó ông khẳng định quyền tự do, quyền bình đẳng cho mọi màu da, lên án chế độ nô lệ và coi đó là một vết nhơ làm ô nhục nước Mỹ, đồng thời ông cũng nói về những người da trắng nghèo khổ mà địa vị xã hội của họ cũng chẳng khác gì so với những người nô lệ.
    Vào cuối đời, Main Rid còn đến châu Mỹ một lần nữa. Lúc này Châu Mỹ đã hoàn toàn biến đổi. Nó không còn là đất nước của những người khai phá gan dạ mà là đất nước của sự kinh doanh, cạnh tranh gay gắt. Song những trang sách thời ấy của ông vốn thắm đượm tình yêu con người. lòng dũng cảm, tính cao thương vẫn mãi mãi truyền thêm sức mạnh và niềm tin cho những trái tim trẻ tuổi tiếp tục làm những điều thiện cho đời.
    Xin trân trọng giới thiệu tác phẩm KỴ SỸ KHÔNG ĐẦU với bạn đọc



    Nhập đề



    Con hươu vùng Tếch-Sa đang mơ màng trong đêm tĩnh mịch của trảng cỏ mênh mông chợt nghe thấy tiếng vó ngựa.
    Nhưng nó cũng chưa vội rời bỏ chỗ nằm, thậm chí còn chưa chịu nhỏm dậy. Khoảng không bao la này đâu phải chỉ có mình nó. Lũ ngựa hoang thảo nguyên cũng gặm cỏ ở đây vào ban đêm. Chú hươu chỉ rướn đầu lên - cặp sừng của nó đã nhô ra sau đám cỏ - nó nghe ngóng: tiếng động có lặp lại hay không?
    Một lần nữa tiếng vó ngựa lại vọng đến, nhưng bây giờ thì nó vang lên một cách khác. Có thể phân biệt được, cả tiếng kim loại, tiếng đập của vỏ thép vào đá sỏi.
    Đối với chú hươu tiếng động đó thật là nguy nhiểm, khiến hành động của nó thay đổi ngay lập tức. Bật nhảy chồm lên và lao vút đi, nhưng ngay sau đó nó chợt đứng lại và ngoảnh ra sau, nó muốn biết: kẻ nào đã xáo động giấc ngủ của nó?
    Và trong ánh trăng vằng vặc chú hươu đã kịp nhận ra kẻ thù nguy hiểm nhất: đó là con người. Một người cưỡi ngựa đang tiến gần lại.
    Bị một nỗi sợ hãi bản năng xâm chiếm, chú hươu chực phóng tiếp. Nhưng có một cái gì đó trong diện mạo của người kỵ sỹ, một cái gì đó thật kỳ dị đã giữ chân nó lại.
    Con hươu dường như chỉ đứng trên hai chân sau, đầu ngoảnh lại, vừa run sơ vừa tiếp tục nhìn. Trong đôi mắt nâu mở to của nó ánh lên nỗi kiếp sợ và ngạc nhiên.
    Cái gì quái lạ trong hình dạng kỳ dị kia làm chú hươu chết lặng chăm chăm nhìn như vậy?
    Con ngựa ư? Không đây là một con ngựa rất bình thường được đóng yên cương cần thận – con ngựa rõ ràng không thể gợi lên cho nó nỗi ngạc nhiên và sợ hãi nào. Thế thì chú hươu chỉ có thể sợ người kỵ sỹ. Đúng như vậy! Người kỵ sỹ đã làm chú hươu khiếp sợ. Diện mạo người ấy có cái gì đó hết sức khủng khiếp, trái tự nhiên.
    Trời! Người kỵ sỹ không có đầu!
    Đến một con vật không lý trí cũng nhận ra điều đó. Ngay từ giây phút đầu tiên nhận ra, chú hươu đã hoảng hốt, không tài nào hiểu nổi: cái gì vậy? Kinh hoảng, nó bỏ chạy. Nó còn chưa dừng lại khi nào còn chưa bơi qua con sông Lêông và dòng nước cuồn cuộn còn chưa ngăn cách nó với người kỵ sĩ đáng sợ kia.
    Không hề chú ý đến chú hươu đang hoảng hốt bỏ chạy, dường như không biết đến sự hiện diện của nó, người kỵ sĩ không đầu tiếp tục con đường của mình.
    Kỵ sĩ cũng đi về phía con sông, nhưng chàng không hề vội vã, cả người và ngựa, bằng những bước chân long trọng, tiến bước chậm rãi, im lìm.
    Người kỵ sĩ không thốt ra một lời nói, cũng không có một cử chỉ nào thúc giục con ngựa, mà dường như đang chìm sâu vào những suy tư của mình, kỵ sĩ nới lỏng tay cương và con ngựa mệt mỏi gặm cỏ. Bỗng có tiếng rú của bọn sói thảo nguyên, con ngựa ngẩng lên, thở phì phì và dừng lại.
    Như đắm mình trong những tình cảm thấm sâu nào đó, nên những sự việc nhỏ bé không kéo được chàng ra khỏi trạng thái đăm chiêu. Không một tiếng động nào có thể hé mở được bí mật của chàng. Con hươu hoảng hốt, con ngựa, bầy sói và vầng trăng nửa đêm là những người duy nhất chứng kiến sự đăm chiêu trầm lặng ấy của chàng.
    Kỵ sĩ khoác trên vai một tấm xerap (1: tấm choàng rộng của người Mễ Tây Cơ) rộng, khi gió giật, tấm choàng phồng lên làm che lấp một phần thân hình. Chàng mang đôi ghệt bằng da báo để tránh hơi ẩm ban đêm và những cơn mưa rào nhiệt đới. Chàng đi về phía trước, lặng lẽ như những vì sao lấp lánh trên đầu, thờ ơ như tiếng dế kêu ri rỉ trong cỏ, như ngọn gió đêm vờn trên những nếp áo choàng.
    Cuối cùng hình như có một cái gì đó cũng kéo được kỵ sĩ ra khỏi mối trầm tư – con ngựa của chàng chuyển nước kiệu rồi lắc đầu và hý lên vui mừng – nó rướn cổ lên chạy về phía trước, lỗ mũi phập phồng và trong khoảnh khắc đã phóng nước đại. Con ngựa càng lao nhanh khi dòng sông hiện ra gần trước mắt.
    Kỵ sĩ chưa dừng lại chừng nào chưa đến với dòng nước trong vắt và nước chưa dâng lên đến đầu gối chàng. Con ngựa vục mõm uống hối hả. Khi đã thỏa mãn cơn khát, nó bơi qua dòng sông và bằng một bước nhảy vọt, con ngựa nhanh nhẹn lao lên bờ dốc.
    Đến bờ, kỵ sĩ dừng lại, như chờ cho ngựa rũ nước. Tiếng dây cương, tiếng bàn đạp loảng xoảng trong đám mây bụi nước.
    Kỵ sĩ không đầu hiện lên trong vần sáng đó và tiếp tục con đường của mình.
    Con ngựaa chắc đã bị đinh thúc dồn và bị cương giật nên nó không còn đủng đĩnh nữa mà phi chạy một cách thành thạo về phía trước, như trên con đường mòn quen thuộc.
    Phía trước, trảng cỏ mênh mông trải tận chân trời. Và trên nền xanh thẳm của bầu trời nổi lên hình dạng kỳ dị, giống như một con nhân sư bị phạt cụt. Hình dạng kỳ dị đó xa dần cho tới khi biến đi trong ánh trăng tà huyền ảo.





  2. #2
    Miss You Baby Kienfa's Avatar
    Tham gia ngày
    Mar 2005
    Bài gởi
    14,376
    Cảm ơn / Thích
    Blog Đã Viết
    94

    Default


    Chương 1

    ĐỒNG CỎ BỊ THIÊU CHÁY


    Từ trên bầu trời xanh không một gơn mây, mặt trời giữa trưa chiếu xuống đồng bằng Tếch-Sa mênh mông ở gần một trăm dặm về phía Nam thành phố Tây Ban Nhan – Xanh Antôniô đơ Bekhar. Những vật thể khác lạ đối với đồng cỏ hoang lấp lánh trong những tia nắng vàng cho thấy sự hiện diện của con người ở nơi mà từ trước tới nay con người chưa xuất hiện.
    Ngay ở khoảng cách xa người ta đã có thể nhận ra đó là những chiếc xe mui cong phủ vải gai trắng xóa.
    Có tất cả một chục chiếc – Con số quá ít so với một đoàn xe buôn hay đoàn xe tải của chính quyền. Đúng hơn cả đó là đoàn xe của một đám dân di cư nào đó đang rời khỏi bờ vịnh để hướng tới một trong những khu cư dân mới trên sông Lêông.
    Kéo thành một chuỗi dài, những chiếc xe di động chậm chạp trên đồng cỏ, đến nỗi sự chuyển động của chúng hàu như không nhận thấy mà chỉ có thể đoán được nhờ vị trí giữa chúng. Những vệt sẫm màu giữa các xe chúng tỏ chúng được thắng ngựa. Những con sơn dương sợ hãi bỏ chạy, bọn chim choắt mỏ cong vừa bay lên vừa kêu cho thấy rằng đoàn xe đang chuyển động. Cả loài thú và loài chim đều ngỡ ngàng. Những con vật kỳ lạ nào đã xâm phạm vào lãnh địa hoang dã muôn thuở của chúng vậy?
    Trên khắp đồng cỏ hầu như không có qua một sự vận động nào: chim không bay, thú không chạy. Trong thời gian giữa trưa oi nồng, tất cả mọi sinh vật đều im lìm ẩn mình trong bóng râm. Chỉ có con người bị lòng hiếu danh và óc hám lợi xui khiến là cứ việc phá vỡ quy luật thiên nhiên nhiệt đới và thách thức với mặt trời nóng bỏng đang thiêu đốt.
    Và chủ của đoàn xe, mặc cho cái nóng hầm hập ban trưa, vẫn đang tiếp tục cuộc hành trình của mình.
    Mỗi chiếc xe thắng tám con la lực lưỡng, chở một lượng lương thực lớn, những đồ gỗ rất sang trọng hay có thể nói là quý giá, những nữ nô lệ da đen và con cái họ, còn các nô lệ nam da đen thì đi bộ cạnh đoàn xe, một vài người mệt lử lê bước phía sau, nặng nhọc nhấc những bàn chân sây sát. Đi đầu là một chiếc xe nhẹ, thắng những con la đực thiến. Trên ghế xà ích là một người đánh xe da đen mặc áo dâu, vẻ mệt nhoài vì nóng bức. Tất cả cho thấy rằng đây không phải là một đám dân cư nghèo khổ từ các bang miền Bắc đi tìm cho mình quê hương mới, mà là một người miền Nam giầu có đã tậu được một điền trang và đang trên đường tới đó cùng với gia đình, tài sản và nô lệ của mình. Đúng vậy, đoàn xe này thuộc sở hữu của một chủ điền ở Inđianôl, trên bờ vịnh Matogorđa, đang xuyên qua đồng cỏ tiến tới vùng đất sở hữu mới của mình.
    Giữa những kỵ sĩ đi áp tải đoàn xe, như thường lệ, đi đầu chính là ông chủ đồn điền Vili Pôinđekter - một người tuổi khoảng năm mươi, cao gầy với khuôn mặt vàng nhợt bệnh hoạn, một phong thái kiêu hãnh nhưng khô khan – ông ta ăn vận đơn giản nhưng khá sang trọng. Trên người ông là chiếc áo khoác dài được cắt rất thoáng bằng vải anpăc, áo gilê bằng vải láng đen và quần vải pankô, ở ngực áo ghi lê nổi rõ chiếc cổ áo sơ mi bằng vải gai nõn, thêm một băng vải đen viền quanh cổ áo. Chân mang đôi ủng bằng nai lượt da mềm. Chiếc mũ rơm rộng vành chiếu một bóng đen lên mặt ông chủ đồn điền.
    Bên phải và bên trái ông là hai kỵ sĩ, đó là một thanh niên trạc hai mươi tuổi và một người đàn ông già hơn khoảng sáu bảy tuổi. Người đầu là con trai ông Pôinđekter. Khuôn mặt yêu đời cởi mở của chàng trai hoàn toàn không giống với khuôn mặt khô khan của người cha và vẻ ảm đạm của kỵ sĩ thứ ba - người anh họ của chàng.
    Chàng trai mặc một chiếc áo blu bằng vải bóng màu xanh da trời may theo kiểu Pháp, chiếc quần cũng bằng thứ vải đó. Bộ đồ hợp với khí hậu miền Nam cũng tỏ ra rất hợp với chàng trai, cả chiếc mũ Panama trắng cũng vậy.
    Người anh họ của chàng - một sỹ quan tình nguyện đã giải ngũ - bận quân phục bằng nỉ xanh thẫm, đội chiếc mũ két cũng bằng nỉ.
    Còn một kỵ sĩ nữa đi ngựa cách đó không xa, hắng cũng là người da trắng - thật ra không trắng hoàn toàn. Những đường nét thô thiển trên khuon mặt, quần áo rẻ tiền, cái roi mà hắn cầm nơi tay pảhi hoa lên một cách nghệ thuật - Tất cả đều nói lên rằng hắn là người quản lý những người da đen, kẻ luôn hành hạ họ.
    Trong cỗ xe nhẹ chở hai thiếu nữ. Một nàng da trắng lộng lẫy, còn người kia là một cô gái da đen. Đó là con gái độc nhất của ngày Vili Pôinđekter và cô hầu da đen của nàng.
    Các lữ khách đến từ bờ sông Mixixipi bang Luziana.
    Bản thân ông chủ đồn điền không sinh ra ở bang này, nói cách khác ông không phải là người Krêôl (2: Con cháu những người Pháp hoặc Tây Ban Nha, đến Châu Mỹ rất sớm. họ giữ nguyên tiếng nói và phong tục tập quán của dân tộc mình). Nhưng nhìn khuôn mặt của người con trai và đặc biệt là những đường nét thanh tú ở khuôn mặt người con gái - thỉnh thoảng từ sau tấm màn nhìn ra ngoài người ta dễ dàng đoán ra được rằng họ là con cháu của những kiều dân Pháp, của một trong những người hơn một trăm năm trước đây đã vượt Đại Tây Dương.
    Vili Pôinđekter, chủ nhân của những đồn điền mía lớn, từng là một trong những nhà quý tộc miền Nam kiêu ngạo, hoang phí và hiếu khách bật nhất. Nhưng rồi cuối cùng ông ta đã bị phá sản và đành phải rời ngôi nhà của mình ở Mixixipi cùng gia đình và một nhóm nô lệ da đen còn lại đi vào đồng cỏ Tếch-Sa hoang dã.
    Mặt trời đã lên tới đỉnh đầu. Những người đi bộ chậm chạp lê từng bước trên cái bóng của mình. Các kỵ sĩ da trắng mệt lử vì cáinóng khủng khiếp, im lặng ngồi trên lưng ngựa. Thậm chí những người da đen, ít nhạy cảm hơn với cái nóng cũng đã thôi tán chuyện, tụ lại thành từng nhóm, cũng lặng lẽ lê bước sau những chiếc xe.
    im lặng rợn người như ở bãi tha ma, chỉ thỉnh thoảng mới vang lên tiếng roi vun vút nghe như những phát súng lục và tiếng kêu “òa” vang lên êm như nhung từ những đôi môi dày của người đánh xe da đen này hoặc người đánh xe da đen khác.
    Đàn xe chuyển động chậm chạp, như vừa đi vừa dò đường. Nói đúng ra thì không có con đường hẳn hoi. Con đường đực nhận ra bởi vết bánh xe của những chiếc xe kéo đã đi qua đây trước đó, dấu vết đó là những thân cỏ bị đổ rạp, xéo nát.
    Mặc dầu chậm như rùa nhưng những con vật bị thắng vào xe cũng đã gắng hết sức mình. Ông chủ đồn điền cho rằng đến dinh cơ mới chỉ còn lại khoảng hai mươi dặm không hơn. Ông hy vọng đi được tới đó trước khi trời sập tối. Vì vậy ông đã quyết định tiếp tục lên đường, coi khinh cả cái nóng ban trưa.
    Đội nhiên viên quản lý ra hiệu cho những người xà ích dùng xe lại. phi lên khoảng trăm acđơ (3: đơn vị đo chiều dài Anh khoảng 91.44cm) hắn bất ngờ kéo mạnh dây cương dường như phía trước là một chướng ngại vật nào đó.
    Rồi hắn phi như bay về phía đoàn xe. Trong điệu bộ của hắn toán ra sự báo động. Cái gì xảy ra vậy?
    Những người da đỏ chăng? Người ta đã nói rằnghọ thường xuất hiện ở đây.
    - Cái gì xảy ra vậy, ông Xanxôm? – Ông chủ đồng điền hỏi khi người giám thị tới gần.
    - Cỏ bị cháy hết. Đã có đám cháy trong đồng cỏ.
    - Đã có đám cháy? Nhưng giờ đây đồng cỏ đã cháy hết rồi cơ mà – Ông chủ đoàn xe vừa lật đật hỏi, vừa ném cái nhìn lo lắng về phía cỗ xe nhẹ - Ở đâu? Ta không nhìn thấy khói.
    - Không, thưa ngày – Viên quản lý lắp bắp, sau khi hiểu ra rằng, hắn đã báo động một cách vô ích – Tôi không nói rằng hiện giờ nó đang cháy, tôi chỉ nói rằng hiện giờ nó đang cháy, tôi chỉ nói rằng đồng cỏ đã bị cháy và tất cả trở nên đen thui như con mười pích ấy.
    - Vậy đây chưa phải là tai họa! Tôi tưởng rằng chúng ta có thể yên tâm chu du trên đồng cỏ đen, cũng như trên đồng cỏ xanh vậy. Đồ ngu xuẩn, Jôn Xanxôm, chẳng có gì mà cũng làm ồn lên!... Ê, chúng bay, bọn mọi đen, nhanh chân lẹ tay lên! Cầm lấy roi! Đi lên! Đi lên nào!
    - Nhưng xin ngày hãy nói, ngày đại úy Kôlhaun – Viên quản lý hướng về phía con người vốn rất xa vời đối với hắn – Chúng ta sẽ tìm đường ra sao đây?
    - Tìm đường làm gì? Nhảm nhí! Không lẽ chúng ta lạc đường rồi à?
    - Tôi sợ rằng đúng như vậy. Các dấu bánh xe nhìn không thấy nữa: chúng đã bị cháy cùng với cỏ rồi.
    - Chuyện vặt! Làm như không thể đi qua được khoảng cỏ bị cháy không dấu vết ấy. Chúng ta sẽ tìm ra chúng theo hướng này.
    - Vâng, nếu chỉ còn lại hướng ấy – Viên quản lý trả lời mộc mạc, hắn ta, mặc dầu quê ở một trong các bang miền Đông, nhưng không phải chỉ một lần đến những vùng đồng cỏ và hắn đã biết thế nào là cuộc sống ở vùng biên giới – tôi không nhìn ra cái gì cả, mặc dầu tôi đã ngồi trên yên!...
    - Đi lên! Bọn mọi đen! Đi lên! – Kôlhaun hét lên, chấm dứt cuộc nói chuyện.
    Sau khi giục ngựa, hắn phi về phía trước, để cho mọi người hiểu rằng lệnh cần phải được thi hành.
    Đoàn xe lại chuyển động, nhưng vừa tới giới hạn của đồng cỏ cháy, đoàn xe bất ngờ dừng lại.
    Các kỵ sĩ tập hợp lại một chỗ chụm đầu thảo luận xem nên làm gì. Tình ình khó khăn - về điều này tất cả đều khẳng định, khi nhìn vùng đồng bằng trải rộng trước mắt họ.
    Xung quanh không nhìn thấy gì, ngoài khoảng mênh mông đen thui. Không ở đâu thấy màu xanh – không một nhành cây, một ngọn cỏ. Đám cháy đã hoành hành ở đây chưa lâu – vào khoảng hạ chí. Cỏ héo rũ và những bông hoa rực rỡ của đồng cỏ - Tất cả biến thành tro dưới hơi thở của ngọn lửa hung tàn.
    Phía trước, bên phải, bên trái, nơi còn nhìn được trong tầm mắt trải ra một bức tranh trống rỗng. Bầu trời giờ đây đâu còn là mầu thanh thiên, nó trở nên xanh thẫm, còn mặt trời, tuy không bị mây che phủ, vậy mà như không muốn chiếu sáng nơi đây nữa, nhăn nhó nhìn lên mặt đất tối sầm.
    Viên quản lý nói đúng: không còn lại dấu vết nào của con đường.
    Đám cháy, sau khi biến đồng cỏ úa rũ thành than đã xóa hết những dấu bánh xe còn lưu lại trên con đường trước đây.
    - Chúng ta phải làm gì bây giờ? – Chính ông chủ đồn điền đặt ra câu hỏi, giọng của ông đầy vẻ bối rối.
    - làm gì ư, chú Vili!... Tất nhiên là tiếp tục con đường. Con sông phải ở về phía này của đám cháy. Nếu tìm được cách vượt qua khoảng nửa dặm, chúng ta sẽ đi lên phía trên hoặc xuống phía dưới theo dòng chảy … Ở đó chúng ta sẽ rõ.
    - Nhưng Kacxi, chính chúng ta đang nhầm lẫn điều này!
    - Chưa chắc … Cháu cho rằng, khoảng cháy không lớn đến như vậy đâu, Không đáng sợ, nếu chúng ta đi trệch ra khỏi con đường: dù sao cũng vậy, sớm hay muộn, chúng ta sẽ đi tới được con sông, nếu không ở đoạn này thì ở đoạn khác.
    - Được rồi, anh bạn của ta. Anh biết rõ hơn ta, ta trông cậy vào anh.
    - Đừng sợ, chú ạ. Cháu nhiều lần cũng lâm vào thế bí như vậy … Tiến lên, bọn mọi đen, theo ta!
    Và viên sĩ quan giải ngũ ném một cái nhìn tự mãn về phía cỗ xe nhẹ, mà từ sau tấm màn của nó thấp thoáng khuôn mặt tuyệt đẹp pha chút hoảng hốt của cô gái. Kôlhaun giục ngựa và tự tin phi về phía trước.
    Tiếp sau tiếng vun vút của những chiếc roi da là tiếnt vó của tám con la, lẫn với tiếng bánh xe cót két. Những chiếc xe lại lên đường.
    Những con la đi nhanh hơn. Mặt đất màu đen, không quen với mắt của loài động vật, dường như xua đuổi chúng. Chỉ vừa chạm vó vào tro là chúng lập tức nhấc chân lên. Những con la non thở phì phì sợ hãi. Chúng chỉ hơi yên tâm khi nhìn những con la già và bước theo sau bằng những bước đều đặn.
    Và đoàn xe cứ như vậy đi được gần một dặm. Sau đó cả đoàn lại dừng lại. Đó là mệnh lệnh của con người tự đưa mình lên thành người dẫn đường. Hắn kéo dây cương, nhưng trong dáng điệu không còn vẻ tự tin như trước kia nữa. Có thể là hắn đang phân vân không biết nên đi về hướng nào.
    Phong cảnh, nếu như có thê gọi được là như vậy, đã thay đổi, nhưng không phải là khá hơn. Tất cả đều như cũ, đen tới tận chân trời.Chỉ có điều mặt đất không còn bằng phẳng nữa: nó trở nên mấp mô. Những chuỗi gò thấp thay thế cho đồng bằng. Ở đây không phải hoàn toàn không có cây cối. Đây là di tích còn lại của những gì trước khi cháy - Những loại cây có nhiều chạc, những bụ giai và một vài loại keo mọc riêng rẽ hay thành từng đám. Những vòm lá đầy lông tơ của chúng biến dị không để lại dấu vết, chỉ còn lại những thân cây đen thui và những cành đen cháy.
    - Anh lạc đường rồi, phải không anh bạn! - Người chủ đồn điền vừa hỏi, vừa vội vàng phi về phía đứa cháu.
    - Không chú ạ, bây giờ còn chưa lạc. Cháu dừng lại để quan sát. Chúng ta cần phải đi men theo thung lũng này. Hãy chờ cả đoàn tiếp tục lên đường. Chúng ta đi đúng đây, cháu đảm bảo điều này.
    Đoàn xe lại tiếp tục chuyển động, nó đi xuống dưới theo một sườn dốc, hướng men theo thung lũng, lần nữa leo một đoạn dốc lên một đỉnh gò cao và lại dừng lại.
    - Dù sao thì anh cũng đã lạc rồi, phải không Kacxi! – Người chủ đồn điền vừa nhắc lại câu hỏi, vừa tiến lại gần người cháu.
    - Quỷ tha ma bắt! Cháu sợ rằng chú nói đúng. Chú bảo, quỷ nào có thể mò ra đường trong đám cháy này cơ chứ!... Không, không – Kôlhaun đột nhiên kêu lên, khi nhìn thấy cỗ xe nhẹ đang tiến lại gần - Giờ đây cháu đã rõ. Chúng ta đi đúng đường. Con sông phải ở hướng này. Tiến lên!
    Và viên đại úy lại giục ngựa, nhưng rõ ràng tự hắn cũng không biết đi về hướng nào.
    Những chiếc xe đi theo sau hắn. nhưng sự luống cuống củak không thoát khỏi mắt những người đánh xe. Họ để ý thấy đoàn xe không chuyển động về phía trước mà đi vòng quanh thung lũng theo những bụi cây.
    Nhưng tiếng kêu tin tưởng của người lãnh đạo lập tức nâng cao tinh thần cho những người đi đường. Họ đồng lòng vung roi và còn có những tiếng thốt lên vui mừng.
    Thế là lại lên đường, nơi mà trước họ có lẽ có chừng mươi chiếc xe đã đi qua, và rõ ràng là chưa lâu: dấu của các bánh xe và vết móng s8át hoàn toàn còn mới, như là chúng qua đây khoảng một giờ trước. Rõ ràng cũng có một đoàn xe như vậy đi qua đống cỏ bị đốt cháy này.
    Cũng nhưn họ, đoàn xe đó cũng theo con đường của mình để tới bờ sông Lêông. Rất có thể đó là một đoàn xe của nhà nước đang hướng tới đồn biên phòng Ind. Trong trường hợp như vậy chỉ cần đi theo dấu vết của chúng. Đồn nằm cũng về hướng đó, chỉ có điều xa hơn dinh cơ một chút.
    Không thể chờ đợi được điều gì tốt đẹp hơn. Sự bốt rối của Kôlhaun biến mất, hắn lại trở nên sảng khoái và hạ lệnh lên đường với sự hài lòng không giấu giếm.
    Có lẽ đi được khoảng một dăm, đoàn xe hầu như đi theo những dấuvết mà họ tìm thấy. Chúng mang họ đi không phải là thẳng về phía trước, mà loay hoay giữa gnhững bụi rậm bị cháy lụi. Sự tin tưởng đầy tự mãn của Kacxi chuyển thành sự chán nản u ám. Trên khuôn mặt hắn phản chiếu một nỗi thất vọng sâu sắc, khi cuối cùng hắn đã đoán ra rằng những dấu vết của tất cả bốn mươi bốn chiếc bánh xe mà họ đi theo lại chính là dấu vết đểl ại của cỗ xe nhẹ và mười chiếc xe tải – Mà nếuhọ cứ đi theo chúng thì hẳn họ sẽ vượt qua toàn bộ con đường từ vịnh Matagôrđa tới đây.





  3. #3
    Miss You Baby Kienfa's Avatar
    Tham gia ngày
    Mar 2005
    Bài gởi
    14,376
    Cảm ơn / Thích
    Blog Đã Viết
    94

    Default


    VẾT LẮCXÔ


    Không còn nghi ngờ gì nữa, những chiếc xe của Vili Pôinđekter đang đi theo những dấu vết của chính mình.
    - Những dấu vết của chính chúng ta! – Kôlhaun lẩm bẩm khi đã hoàn toàn hận ra điều này, hắn giật dây cương và tuôn ra hàng tràng những lời nguyền rủa.
    - Những dấu vết của chính chúng ta chăng? Anh muốn nói điều đó phải không, Kacxi? Không lẽ chúng ta đang đi …
    - … Theo chính những dấu vết của chúng ta, vâng chính cháu muốn nói thế. Chúng ta đã vẽ ra một vòng tròn trọn vẹn. Chú hãy nhìn đây: đây là vó sau con ngựa của cháu – hình nửa cái móng sắt, còn đây là dấu vết của những ngu da đen. Bây giờ cháu đã nhận ra chỗ này. Đây chính là cái gò mà chúng ta đi xuống sau lần dừng lại cuối cùng. Quỷ tha ma bắt! Thật là rủi ro – đi đến hai dặm một cách vô ích!
    Giờ đây trên khuôn mặt Kôlhaun không chỉ là sự bối rối mà còn cả nỗi buồn cay đắng và sự xấu hổ, bởi chính hắn là người có lỗi về việc để cho đoàn không có người dẫn đường chuyên nghiệp.
    Người dẫn đường mà họ thuê ở Inđiaanôl đã đi cùng họ tới tận trạm cuối cùng, ở đó, sau khi xích mích với viên đại úy kiêu căng, người dẫn đường đã xin thanh toán tiền và quay trở lại.
    Tất cả những điều này, đồng thời với sự quá tự tin mà hắn tỏ ra khi hắn tự dẫn đát đoàn xe giờ đây làm cho người cháu của ngài chủ đồn điền phải chịu một nỗi ngượng ngùng khổ sơ. Tậm trạng của hắn trở nên hoàn toàn u ám khi cỗ xe nhẹ tiến gần lại và đôi mắt tuyệt vời kia nhìn ra sự lúng túng của hắn.
    Pôinđekter không hỏi thêm gì nữa. Giờ đây tất cả đã rõ ràng là họ bị lạc đường. Tình thế thật nghiêm trọng chính người chủ đồn điền cũng nghĩ như vậy. Ông mất hy vọng kết thúc cuộc hành trình trước khi trời tối như ông đã dự định trước.
    Nhưng đấy chưa phải là tai họa lớn nhất. ai mà biết được những gì chờ họ ở phía trước! Đồng cỏ cháy trụi đầy nguy hiểm. Họ phải qua đêm ở đây và không kiếm ra đây được nước cho những con la. Và có thể không chỉ là một đêm!
    Nhưng tìm đường ra thế nào đây? Mặt trời đã bắt đầu nghiêng về phía Tây, cho dù nó còn đứng quá cao để có thể đoán được nó đang di chuyển về hướng nào, mặc dầu qua một thời gian nữa họ có thể xác định được phương hướng, nhưng để làm gì? Thậm chí nếu họ biết đâu là đông tây nam bắc thì cũng chẳng có gì thay đổi - Họ đã lạc mất hướng đi rồi.
    Kôlhaun trở nên dè dặt. Hắn không còn cố đóng vai người dẫn đường, sau thất bại nhục nhã đó hắn không còn đủ can đảm làm điều này nữa.
    Họ thảo luận đến mười phút, nhưng không ai đề ra được một kế hoạch hành động nào khá hơn. Không ai biết làm thế nào để thoát ra khỏi cánh đồng cỏ đen ngòm này, cái đồng cỏ không những che lấp cả bầu trời bằng bụi tro mà còn bôi đen khuôn mặt của những người rơi vào trong lòng nó.
    Cao tít trên bầu trời xuất hiện một đàn kền kền. Một vài con hạ xuống mặt đất, những con khác lượn vòng trên đầuu những người bộ hành đầy hoang mang. Trong hành động của chúng có cái gì đó báo điềm dữ.
    Thêm mười phút nặng nề nữa trôi qua. Và đột nhiên một sự việc làm mọi người nhẹ nhõm: họ nhìn thấy một kỵ sĩ đang phi thẳng về phía đoàn xe.
    Thật là một niềm vui quá bất ngờ! Ai nghĩ rằng ở một chỗ như thế này lại có thể gặp được con người! Niềm hy vọng sáng lên trong đôi mắt của những người đi đường - Họ nhìn thấy vị cứu tinh ở người kỵ sĩ đang tiến lại gần.
    - Không lẽ chính người đó đang đi lại phía chúng ta? – Người chủ đồn điền hỏi, không còn tin vào mắt mình nữa.
    - Vâng, thưa cha, anh ta đang tiến thẳng về phía chúng ta – Henri trả lời và bắt đầu vừa gào lên, vừa hoa chiếc mũ trên đầu để hướng sự chú ý của người kỵ sĩ.
    Nhưng làm thế chỉ là thừa – không cần điều này, người kỵ sĩ cũng đã chú ý tới đoàn xe đang dừng lại. Chàng ta phi nước đại và nhanh chóng tiến đến gần chừng nào hai bên có thể đối đáp được.
    Khi tới chỗ đoàn xe, chàng ghìm cương, tiến tới gần người chủ đồn điền và những bạn đường của ông.
    - Người Mễ Tây Cơ – Henri nói thầm, sau khi nhìn trang phục của người lạ mặt.
    - Thế lại càng hay – Cha chàng cũng rả lời khe khẽ như vậy - Nếu vậy chắc anh ta phải thạo đừơng.
    - Chẳng có tí gì Mễ Tây Cơ trong hắn cả, ngoài bộ quần áo – Kôlhaun lẩm bẩm - Giờ ta sẽ rõ ngay đây … Buenos, cavallorro! Esta vue-stra Mexicano (xin chào, kỵ sĩ! Ngài là người Mễ Tây Cơ?)
    - Ồ, không đâu – người đó mỉm cười nói – Tôi hoàn toàn không phải là người Mễ Tây Cơ. Tôi có thể giải thích cho các ngài bằng tiếng Tây Ban Nha, nếu các ngài ưng như vậy, nhưng tôi thấy rằng các ngài sẽ hiểu tôi hơn, nếu chúng ta nói bằng tiếng Anh – Chính là tiếng mẹ đẻ của các ngài? Không phải thế ư?
    Kôlhaun nghĩ rằng, hắn đã có một lỗi nào đó trong câu hoặc là đã nói không chuẩn nên hắn giữ ý không trả lời.
    - Chúng tôi là những người Mỹ, thưa ngày – Pôinđekter trả lời với lòng tự ái dân tộc bị tổn thương. Sau đó dường như ông lại sợ làm phật ý con người mà ông trông mong ở đó sự giúp đỡ, nên ông nói thêm: - Vâng, thưa ngài tất cả chúng tôi đây là người Mỹ ở những bang miền Nam.
    - Điều này dễ dàng thấy được nhỡ nhưng người cùng c9i với các ngài – Kỵ sĩ nói với nự cười hiểu biết pha chút khinh thường sau khi đưa mắt nhìn những người nô lệ da đen. – Cũng không khó gì để thấy rằng – Chàng nói thêm – Các ngài lần đầu tiên tới đồng cỏ. Các ngài bị lạc đường chăng?
    - Đúng vậy, thưa ngài, chúng tôi chẳng có hy vọng nào tìm thấy đường, nếu như ngày không làm ơn chỉ giúp chúng tôi.
    - Nói những điều nhỏ nhặt ấy mà làm gí Hoàn toàn tình cờ tôi để ý đến dấu vết của các ngài, khi tôi đi trên đồng cỏ, tôi hiểu rằng các ngài đã bị lạc, tôi đến đây để giúp đỡ các ngài.
    - Ngài tử tế quá. Chúng tôi rất biết ơn. Thưa ngài, tôi là Pôinđekter, Vili Pôinđekter từ ban Luizana. Tôi đã mua được một dinh cơ trên bờ sông Lêông, gần đồn Ind. Chúng tôi hy vọng đi tới đó lúc chập tới. Ngài nghĩ thế nào, liệu chúng tôi có kịp hay không?
    - Cũng có thể? Nếu các ngài nghe theo những chỉ dẫn của tôi.
    Nói xong điều này, người lạ mặt lùi ra xa một đoạn và phi lên một đ ỉnhgò. Từ đó chàng căng mắt nhìn về phía xa, rõ ràng chàng đang cố xác định xem những người đi đường cần phải đi về hướng nào.
    Hình dáng chàng kỵ sĩ được nổi lên thật đẹp đẽ trên nền trời.
    Con ngựa tía nòi - Thậm chí một vị quốc vương Ảrập cũng không xấu hổ khi cưỡi lên nó - ngựa rộng, vững vàng trên bốn chân cân đối thon nhỏ, mông lớn với chiếc đuôi dày rậm tuyệt mỹ. Nó mang trên lưng người kỵ sĩ - một chàng trai trạc tuổi hai mươi lăm, thân hình tuyệt đẹp, khuôn mặt thanh tú. Chàng bận bộ đồ mục đồng kiểu Mễ Tây Cơ trong rất ngoạn mục: chiếc áo khoác ngắn bằng nhung, chiếc quần có tua bó lấy thắt lưng. Trên đầu là chiếc mũ vành đen bóng loáng, được trang trí bằng giải ruy băng vàng. hãy hình dung một chàng kỵ sĩ như vậy đang ngồi trên cái yên sâu kiểu Môrơ, trang trí theo phong cách Mễ Tây Cơ, chiếc chăn ngựa được trang trí bằng những hình dập nổi, giống như những chiếc chăn ngựa mà những kỵ sĩ diễu hành thường phủ lên những con ngựa của mình. Hãy hình dung một kỵ sĩ như vậy - trước mắt bạn sẽ là người mà ông chủ đồn điền và những người đồng hành với ông đang chiêm ngưỡng.
    Và đàng sau tấm màn của cỗ xe nhẹ, một đôi mắt đã để lộ những tình cảm đặc biệt khi ngắm nhìn chàng kỵ sĩ. Lần đầu tiên trong đời Luiza Pôinđekter nhìn thấy con người dường như là hiện thức của hình ảnh người anh hùng từng thấm sâu vào những giấc mở thiếu nữ của nàng.
    Người lạ mặt hẳn phải vừa lòng, nếu chàng biết được những xúc động mà chàng gợi lên trong lồng ngực trẻ của nàng kreôl.
    Nhưng làm sao mà chàng biết được điều này? Chàng thậm chí chẳng ngờ tới sự tồn tại của nàng. Cái nhìn của chàng chỉ lướt qua cỗ xe nhẹ bám đầy bụi, không hề ngờ rằng trong đó che giấu một viên ngọc quý giá.
    - Xin lấy danh dự mà thề! – Kỵ sĩ nói, khi đã quay lại với chủ nhân đàon xe, - Tôi không thể tìm được một dấu hiệu nào có thể giúp các ngài đi được tới đó. Nhưng đường đến đó thì tôi biết. Các ngài phải vượt qua sông Lêông khoảng năm dặm về phía dưới đồn, bởi vì tôi cũng đang đi về hướng đó, nên các ngài có thể đi theo vết con ngựa của tôi. Tạm biệt các ngài.
    Chào từ biệt một cách bất ngờ như vậy, người lạ mặt tiếp tục giục ngựa và phi nước đại về phía trước.
    Sự ra đi bất ngờ làm ngài chủ đồn điền và những người bạn đường cảm thấy mình thật thiếu lịch thiệp. Nhưng còn chưa kịp nói gì thì họ lại thấy người lạ mặt quay lại. Không đến mười giây, người kỵ sĩ đã tới chỗ họ. Tất cả ngỡ ngàng không biết điều gì đã khiến chàng quay lại.
    - Tôi sợ rằng dấu chân con ngựa của tôi sẽ chẳng giúp được các ngài mấy. Sau đám cháy những con muxtang (4: ngựa hoang) đã kịp tới đây. Chủng đê lại ngàn dấu móng. Thật ra ngựa của tôi đã đóng cá sắt, nhưng các ngài còn chưa quen phân biết các dấu vết, các ngài sẽ khókhăn khi tìm đường, hơn nữa, trên tro khô tất cả mọi dấu vết hầu như giống nhau.
    - Chúng tôi biết làm thế nào bây giờ? – Ngài chủ đồn điền hỏi giọng thất vọng.
    - Tôi rất lấy làm tiếc, ngài Pôinđekter, tôi không thể đi cùng với các ngài được. Tôi cần kah63n cấp mang tới đồn một báo cáo quan trọng. Nếu các ngài bị lạc mất dấu vết của tôi,c ác ngài hãy giữ cho mặt trời luôn bên tay phải các ngài, còn bóng của các ngài phải ngả xuống bên tray trái mộot g1c khoảng năm mươi độ so với đường đi. Các ngài cứ đi thẳng khoảng năm dặm. Sau đó các ngài sẽ nhìn thấy trên mỏm đồi một cây lớn – Cây trắc bá. Các ngài hãy đi thẳng tới cây đó. Nó đứng trên bờ sông, cách không xa một khúc sông cạn.
    Kỵ sĩ trẻ đã ra cương và chuẩn bị phi đi, nhưng có một cái gì đó buộc chàng ghìm ngựa lại. Chàng đã nhì nthấyđôi mắt sẫm màu long lanh đang nhìn ra từ sau tấm màn của cỗ xe nhẹ - lần đầu tiên chàng nhìn thấy đôi mắt đó.
    Chủ nhân của cặp mắt được che trong bóng tối, nhưng cũng đủ sáng để có thể nhận ra khuôn mặt xinh đẹp khác thường. Ngoài ra chàng còn để ý thấy đôi mắt tuyệt diệu kia đang hướng về phía chàng và nhìn chàng xúc động, rất đỗi dịu dàng.
    Bất giác chàng trả lời bằng một cái nhìn thán phục nhưng chàng lại ngại rằng làm như thế sẽ giống như là vô lễ, chàng bèn quay gấp ngựa lại và hướng về phía chủ nhân đồn điền, người vừa cảm tạ chàng vì sự chu đáo.
    - Tôi thật không xứng với lời cảm tạ - Người lạ mặt đáp - Bởi vì tôi đã để các ngài lại mặc cho số phận, nhưng không may là do tôi không có thời gian.
    Chàng nhìn đồng hồ, dường như rất tiếc phải ra đi một mình.
    - Ngài thật là nhân hậu – Pôinđekter nói – Tôi hy vọng rằng nếun theo những lời khuyên của ngài chúng tôi sẽ không lạc đường. Mặt trời sẽ giúp chúng tôi.
    - Tôi sợ rằng thời tiết rồi sẽ thay đổi. Ở hướng Bắc những đám mây đang tụ lại. Qua một giờ nữa chúng có thể che khuất mặt trời … Trong mọi trường hợp điều này có thể xảy ra sớm hơn cả khi các ngài tới được nơi mà từ đó có thể trông thấy cây trắc bá… Tôi không thể để các ngài như vậy được … Thêm nữa – Chàng nói sau một phút suy nghĩ – Tôi đã nghĩ ra: hãy theo vết lắcxô (5: Dây thòng lọng mà người dân Châu Mỹ dùng để săn ngựa) của tôi!
    người lạ mặt rút từ yên ngựa ra một cuộn dây dài. Sau khi buộc chặt một đầu dây vào yên ngựa, chàng ném đầu dây kia xuống đất. Sau đó bằng một động tác duyên dáng chàng nhấc mũ lên, lịch thiệp nghiêng người - hầu như hướng về phía cỗ xe nhẹ, rồi chàng iực ngựa và phi thẳng vào đồng cỏ.
    Chiếc lắcxô kéo lê sau con ngựa khoảng mười hai acđơ, để lại trên mặt đất phủ đầy tro của đồng cỏ một vệt dài, giống như vệt trườn của một con rắn.
    - Một chàng trẻ tuổi kỳ lạ! – Người chủ đồn điền vừa nói vừa nhìn theo bóng chàng đang khuất dần sau đám mây bụi đen – Ta đã định hỏi tên chàng.
    - Một gã trẻ tuổi đầy tự mãn – Kôlhaun càu nhàu, hắn không để lọt cái nhìn của người lạ mặt về phía cỗ xe nhẹ và cả cái nhìn xúc động của cô em họ. Chắc chắn hắn sẽ bịa ra một cái tên giả. Tếchdát đầy những tay công tử như vậy, chúng kiếm những cái tên hoa mỹ hơn khi lọt được tới đây, hoặc chúng thay đổi họ tên vì một nguyên nhân nào đó.
    - Nghe đây, anh Kacxi – Chàng Pôinđekter trẻ tuổi phản đối – Anh thật chẳng công bằng với chàng ta chút nào. Theo em chàng ta là con người có giáo dục, một người đàng hoàng hoàn toàn xứng đáng mang một tên tuổi nổi tiếng nhất.
    - “Người đàng hoàng”! Quỷ tha ma bắt, chắc gì! Tôi chưa bao giờ gặp người đàng hoàng sinh ra từ cái miếng giẻ rách Mễ Tây Cơ. Có khi, đây đơn giản chỉ là một kẻ qua đường nào đó.
    Trong khi cuộc nói chuyện đang tiếp diễn, nàng kreôl từ trong xe dõi nhìn theo người kỵ sĩ đang xa dần với một mối quan tâm không giấu giếm.
    Hẳn chính điều này đã giải thích cái giọng đầy vẻ độc địa của Kôlhaun!
    - Thế nào, Lu? - Hắn hỏi gần như thầm thì, khi tiến tới sát cỗ xe nhẹ - Cô chắc là đang vội phải không? Có lẽ cô muốn đuổi theo cái thằng láo xược kia chăng? Chưa muộn đâu cô bé – Tôi sẽ đưa cô con ngựa của tôi.
    Cô gái lùi về phía sau, rõ ràng là nàng phật ý không chỉ vì lời lẽ, mà còn vì giọng nóii của người anh họ, nhưng nàng không để lộ ra rằng nàng đang giận dữ, nàng không tranh cãi – Nàng biểu thị sự bất bình của mình một cách thách thức hơn nhiều. Một tràng cười khanh khách của nàng là câu trả lời duy nhất mà nàng dành cho người anh họ.
    - À, thế đấy … Nhìn vào cô, tôi đã nghĩ rằng có một cái gì đó không minh bạch. Bộ dạng cô như đang mê mẩn vì cái thằng chạy giấy bảnh bao này. Hắn đã mê hoặc cô bằng bộ cánh sặc sỡ phải không? Nhưng cô nên biết rằng đây chỉ là quạ đội lông công thôi, và tôi chắc rằng nếu phải đấu nhau với hắn thì có lẽ tôi sẽ xé xác hắn thành từng mảnh.
    - Anh không biết xấu hổ à, anh Kacxi! Anh hãy thử nghĩ xem, anh nói gì vậy!
    - Chính cô phải nghĩ xem cô phải cư xử như thế nào, Lu ạ. Để ý tới một thằng lang thang nào đó, một thằng hề! Tôi cho rằng hắn ta là một nhân viên bưu điện quèn, mà các sĩ quan ở đồn biên đã thuê.
    - Nhân viên bưu điện, anh nghĩ thế ư? Ô sao mà tôi muốn nhận được những bức thư tình từ tay những người đưa thư như vậy!
    - Thế thì cô hãy phi tới mà nói với hắn điều đó. Con ngựa của tôi sẵn sàng phục vụ cô.
    - ha – ha – ha! anh thật chẳng sáng ý tí nào! Nói đùa chứ thậm chí như tôi có muốn đuổi theo chàng nhân viên bưu điện này đi chăng nữa trên đồng cỏ, thì trên cái con nghẽo lười biếng của anh liệu tôi có đuổi kịp hay không đã chứ. Chàng thì lao nhanh như vậy trên con ngựa tía của mình và sẽ biến mất trước khi anh kịp thay yên cương cho tôi. Ô không đâu! Tôi đuổi theo chàng làm gì, tôi chẳng cần làm điều đó.
    - Này coi chừng, đừng để cha cô nghe thấy!
    - Anh cũng coi chừng, đừng để cha nghe thấy những lời của anh – Cô gái trả lời, giờ đây nàng bắt đầu nói bằng một giọng nghiêm trang – Dù anh là anh họ của tôi và cha cho rằng anh là người cực lỳ hoàn hảo nhưng tôi thì tôi không cho là như thế. ồ, không đây! Tôi không bao giờ giấu anh điều này – Không phải thế ư?
    Kôlhaun chỉ còn cách nhăn nhó để trả lời cho câu phán xét cay đắng này.
    - Anh là anh họ tôi, và chỉ vậy thôi – Cô gái tiếp tục bằng một giọng nghiêm khắc, rất khác với giọng đùa cợt mà nàng dùng để mở đầu câu chuyện - Đối với tôi anh chẳng là gì cả, đại uý Kacxi Kôlhaun ạ! Và anh hãy làm ơn đừng kiếm cách trở thành người khuyên bảo tôi. Chỉ có một người tôi cho là mình có nghĩa vụ chịu nghe lời khuyên bảo, và chỉ có người đó được phép quở trách tôi. Cho nên tôi xin anh, anh Kacxi ạ, đừng dạy đạo đức cho tôi như vậy. Tôi sẽ không để cho ai được xét đoán những ý nghĩ và cả những hành động của mình cho đến chùng nào tôi gặp được con người xứng đáng. Nhưng nhất định không phải anh sẽ là người quở trách tôi!
    Trả miếng xong, cô gái ngả người xuống gối. Sau khi lướt qua viên đại úy bằng cái nhìn đầy phẫn nộ và khinh bỉ, nàng kéo màn xe lại, để hắn hiểu rằng nàng chẳng muốn nói chuyện với hắn nữa.
    Tiếng quát tháo của những người đánh xe đưa viên đại úy ra khỏi trạng thái đờ đẫn. Những chiếc xe lại tiếp tục chuyện động trên đồng cỏ u ám, cái đồng cỏ chắc gì đã u ám hơn những ý nghĩ của Kacxi Kôlhaun.






  4. #4
    Miss You Baby Kienfa's Avatar
    Tham gia ngày
    Mar 2005
    Bài gởi
    14,376
    Cảm ơn / Thích
    Blog Đã Viết
    94

    Default


    Chương 3

    MŨI TÊN HƯỚNG ĐẠO


    Các lữ khách không còn lo sợ gì về con dường nữa: dấu lắcxô kéo dài như con rắn không dứt và in rất rõ, thậm chí đến đứa con nít cũng không thể lạc đường được.
    Vết lắcxô không đi theo con đường thẳng, mà uốn khúc giữa những bụi cây dại. Khi con đường đang ở những nơi chưa có những cây lớn, nó hơi chệch về một phía. Như thế không phải là tình cờ: nó tránh những ổ gà sâu và những chướng ngại khác - vết con rắn uốn lượn chỉ ra con đường cho những chiếc xe.
    - Chàng trai này mới chu đáo làm sao! – Pôinđekter nói – Đúng là rất tiếc ta đã không hỏi tên họ chàng. Nếu chàng phục vụ ở đồn biên, chúng ta sẽ còn được gặp gỡ với chàng.
    - Không nghi ngờ gì nữa! – Henri kêu lên – Và con sẽ rất vui mừng vì điều này.
    Luiza ngả lưng trên đệm ghế - nàng đã nghe thấy lời trò chuyện của cha và em, nàng không nói gì, chỉ có trong cái nhìn của nàng là có thể đọc được rằng trái tim nàng hoàn toàn chia sẻ niềm hy vọng này với người em.
    Vui mừng bởi kết thúc được quãng đường khó khăn và đồng thời có thểnhìn thấy dinh cơ mới của mình trước lúc mặt trời lặn, ngài chủ đồn điền đắm mình trong một tâm trạng tuyệt vời. Nhà quý tộc kiêu ngạo này bỗng nhiêntỏ rõ sự quan tâm nhân từ của mình với tất cả những người quanh ông xuề xùa tán chuyện với viên giám thị, dừng lại đùa với bác Xipiôn, đang tập tễnh trên đôi chân đầy vết sưng phồng, động viên dì Hlôi, đang bết đứa nhỏ trên tay.
    “Thật kỳ diệu!” - Một người đứng ngoài quan sát có thể thốt lên khi bắt đầu lầm lẫn bởi cái cảnh không bình thường như vậy, cái cảnh được cố gắng mô tả bằng những ngòi bút tầm thường, bị hối lộ bởi chính quỉ Xatăng. – Nói cho cùng, cái tính gia trưởng của những chủ nô thật là tuyệt! Và sau tất cả những gì mà người ta đã nói và làm để tiêu diệt chế độ nô lệ! Mưu toan phá vỡ ngôi nhà cổ - nền tảng vững chắc xứng đáng của một dân tộc hiệp sĩ - chỉ làmột sự ngông cuồng của lòng từ thiện, thói đa cảm sướt mướt. Ô, các người, những kẻ cuồng tín, muốn xóa bỏ chế độ nô lệ! Tại sao các người lại nổi lên chống lại nó? Không lẽ các người lại không biết rằng những người này cần phải đau khổ, cần phải lao động và đói khát để cho những kẻ khác được thỏa mãn sự xa hoa và thói vô công rồi nghề ư? Không lẽ các người không biết rằng người này cần phải là nô lệ để cho người khác được tự do ư?”
    Những lời lẽ đó đã mang đau khổ đến chohàng triệu con người, càng ngày nhữnglời lẽ đó càng vang lên thường xuyên hơn. Đau đớn cho kẻ nào nói ra điều đó và dân tộc nào phải nghe điều đó.
    Tâm trạng tốt đẹp của ngài chủ đồn điền như được chia sẻ cho tất cả những người đồng hành, trừ Kôlhaun. Chúng phản chiếu trên gương mặt những người nô lệ, mà họ coi Pôinđekter là nguồn gốc của mọi hạnh phúc và bất hạnh của họ - như thể là một Đấng Toàn năng.
    Họ kém yêu ông ta hơn Chúa, nhưng lại sợ ông ta hơn Chúa, mặc dầu không thể nói rằng ông ta là ông chủ tồi. Ông không tìm sự thỏa mãn đặc biệt trong việc hành hạ những nô lệ của mình, ông hài lòng khi họ no nê và lành lặn, khi da họ bóng lên vì mỡ. Bởi vì những dấu hiệu này nói lên sự sung túc của chính ông – ông chủ của họ. Thỉnh thoảng ông cũng có dạy bảo họ bằng roi – ông tin rằng như vậy là làm việc thiện cho họ. Trên làn da những nô lệ của ông không có một vết sẹo vì sự hành hạ tàn khốc nào và điều này còn lâu mới được tất cả những chủ nô ở bang Mixixipi ca ngợi.
    Có gì đáng ngạc nhiên rằng trong xã hội có những ông chủ “gương mẫu” như vậy và tất cả đều trong một trạng thái thoải mái, thậm chí những người nô lệ lây sự vui mừng chung, cũng bắt đầu tán chuyện vui vẻ.
    Mặc dù vậy tâm trạng sảng khoái cũng không kéo dài được lâu. Nó bị cắt đứt bất ngờ không phải lỗi của người đã chia sẽ nó. Nguyên nhân là do những tình thế không phụ thuộc vàohọ.
    Như người lạ mặt đã báo trước, mặt trời bị che khuất sớm hơn lúc họ kịp nhìn thấy cây trắc bá.
    Nhưng điều này cũng không gây ra sự lo lắng lắm: vết lắcxô vẫn nhìn rõ như trước và việc định hướng theo mặt trời là không nhất thiết. Tuy nhiên những đám mây trên bầu trời làm những người đi đường cảm thấy ngột ngạt.
    - Hoàng hôn đã buông xuống - Chủ nhân đồn điền vừa nói vừa rút chiếc đồng hồ vàng ra - Thế mà chỉ mới có ba giờ. Thật phúc cho ta là chàng trẻ tuổi đó đã giúp đỡ. Nếu không có anh ta thì đến tối chúng ta vẫn còn loanh quanh trong cái đồng cỏ cháy này. Không khéo lại phải ngủ trên tro mất…
    - - Và những chiếc chăn đen nữa! – Henri thốt lên pha trò để câu chuyện được vui vẻ hơn – Chà, tôi sẽ mơ thấy những giất mơ khủng khiếp nếu phải ngủ như vậy!
    - Chị cũng vậy – Cô chị vừa nói thêm vừa ló ra khỏi tấm màn và nhìn ra xa – Chi tin rằng chị sẽ mơ thấy Plutôn và Prozepin (thần địa ngục và nữ thần địa ngục - thần thoại Hy Lạp) trong địa ngục.
    - Hì-hì-hì! – Người đánh xe da đen nhe răng cười hắn ta được ghi tên vào sổ đồn điền là Plutôn Pôinđekter – Cô Lui mơ thấy tôi trong đồng cỏ đen này! Thật kỳ diệu!Hì-hì-hì!
    - Các người cười hơi sớm quá đấy - Giọng ảm đạm của viên đại úy vang lên, hắn phi lại gần trong lúc mọi người đang nói chuyện - Cứ chờ xem, biết đâu chính các người lại phải ngủ lại trên đồng cỏ đen! Đấy là còn chưa nói còn có thể xảy ra những cái tồi tệ hơn kia.
    - Anh muốn nói gì vậy, hả Kacxi? – Người chủ đồn điền hỏi.
    - Cháu muốn nói, thưa chú, rằng người trẻ tuổi này đã lừa dối chúng ta. Cháu còn có thể khẳng định rằng, mọi sự đã trở nên tệ hại hơn. Chúng ta đã đi được hơn năm dặm… Có lẽ gần đến sáu dặm, vậy mà cây trắc bá ở đâu, cái cây mà y nói đến ấy? Chắc rằng ở cháu nhãn lực cũng chẳng kém những người khác, nhưng cháu dù cố gắng nhìn xa đến mấy cũng chẳng thấy một cái cây nào cả.
    - Nhưng anh ta lừa dối chúng ta đê làm gì cơ chứ?
    - Ồ, “đề làm gì” à! Về chuyện này anh ta có không thiếu nguyên nhân.
    - Anh hãy gọi tên một trong số chúng đi - Giọng nói trong như bạc từ trong cỗ xe nhẹ vang lên – Chúng tôi sẽ rất thú vị được lắng nghe.
    - Chứ gì nữa: cô sẽ đặc biệt thú vị lắng nghe tất cả những gì có liên quan tới nhân vật đó – Kôlhaun mỉa mai - Nếu tôi nói ra những ý kiến của tôi, thì cô, với các bản chất nhân từ của riêng mình sẽ gọi đó là lo lắng hão!
    - Cái này còn phụ thuộc điều mà anh nói ra, Kacxi ạ. Tôi có cảm giác rằng anh muốn thử chúng tôi. Có thể chúng tôi nghĩ rằng, anh một quân nhân, một người lữ hành đầy kinh nghiệm lẽ nào lại gây báo động giả!
    Kôlhaun hiểu câu đùa ác đó và chắc sẽ không tiếp tục giải thích nữa, nếu Pôinđekter không nài nỉ.
    - Nghe đây, Kacxi, hãy giải thích xem có việc gì vậy? - Người chủ đồn điền nghiêm trang hỏi - Những gì mà anh vừa nói với chúng ta, làm ta lo lắng hơn là tò mò. Chàng trẻ tuổi này vì mục đích nào mà đưa ra những lời chỉ dẫn giả dối?
    - Nhưng chú a – Kôlhaun nói nhưng không còn vẻ kiêu căng như trước nữa – Cháu không khẳng định điều này, cháu chỉ nói ra những điều phỏng đoán.
    - Phỏng đoán như thế nào mới được chứ?
    - Thì thiếu gì chuyện có thể xảy ra! Trên đồng cỏ này hiếm gì bọn chuyên tấn công các đoàn xe – Không chỉ những đoàn xe như chúng ta, mà cả những đoàn xe mạnh hơn chúng ta, cướp và giết.
    - Chúa hãy cứu chúng con! – Luiza giả vờ sợ hãi kêu lên.
    - Bọn Inđi phải không? – Pôinđekter thăm dò.
    - Đôi khi là bọn da đỏ, nhưng thường là bọn da trắng giả da đỏ, và không chỉ là bọn người Mếchxích. Để làm điều này chỉ cần một chút bột nâu, tóc giả bằng đuôi ngựa, một vài cái lông chim cắm trên mũ và nhiều hơn cả là tính đểu giả. Nếu bọn “Inđi trắng” tấn công chúng ta, mà điều này không chỉ đã xảy ra một lần, thì chúng ta không buộc tội được ai khác ngoài chính bản thân mình: chúng ta đã tự trừng phạt mình vì sự cả tin ngây thơ vào con người mới gặp lần đầu.
    - Lạy Chúa tôi, Kacxi! Thật là một sự buộc tội nghiêm trọng. Chẳng lẽ anh muốn nói, rằng tay tùy phái này - Nếu quả thực hắn là tùy phái – đang nhử chúng ta về phía Tây chăng?
    - Không, chú a, cháu không nói thế. Cháu chỉ nói rằng những việc như vậy vẫn có, có thể hắn đang nhử chúng ta…
    - Có thể, nhưng không chắc tí nào - Từ trong cỗ xe vang lên giọng nói giễu cợt châm chọc.
    - Không – Henri kêu lên, mặc dù đi hơi xa về phía trước nhưng chàng đã nghe trọn cuộc nói chuyện - Sự nghi ngờ của anh không công bằng, Kacxi ạ! Đấy là sự vu khống. Và tôi có thể chứng minh cho anh, anh nhìn kìa.
    - Chàng vừa ghìm ngựa vừa chỉ vào một vật ở rìa con đường mòn, một vật mà trước đó chàng đã chăm chú nhìn. Đấy là một cây xương rồng dạng hình trụ, thân màu xanh mọng nước của nó đã thoát ra khỏi ngọn lửa.
    Nhưng Henri hướng sự chú ý của những người đồng hành không phải vào chính cây xương rồng, mà tới tấm giấy trắng nho nhỏ được găm vào một trong những chiếc gai của nó. Những ai quen thuộc với phong tục của xã hội văn minh lập tức nhận ra đó là một tấm danh thiếp.
    - Chúng ta hãy xem, ở đây viết cái gì nào – chàng trai vừa nói, vừa phi tới gần, chàng đọc to: “Nhìn rõ cây trắc bá”
    - Ở đâu? – Pôinđekter hỏi.
    - Ở đây có vẽ một cánh tay – Henri trả lời – Không nghi ngờ gì nữa ngón tay chỉ vào cây trắc bá.
    Tất cả đều quay nhìn về hướng được chỉ ra trong tấm danh thiếp.
    Nếu như mặt trời còn chiếu sáng thì có thể thấy được nó từ cái nhìn đầu tiên. Nhưng bầu trời cách đây không lâu còn là màu xanh thẫm giờ đây trở nên màu xám chì và những người đi đường dù có giương mắt lên đến mấy cũng không thể phân biệt được một cái gì đó có hình ngọn cây.
    - Chẳng có gì ở đó cả - Kôlhaun tuyên bố bằng một giọng tin tưởng – tôi chắc rằng đây lại là một mưu mẹo mới của thằng đểu này.
    - Anh nhầm rồi - Giọng nói luôn luôn chống lại Kacxi trả lời – anh hãy nhìn vào ống nhòm. Nếu như cáithị lực tuyệt vời của anh không bị thay đổi anh sẽ nhìn thấy ở chân trời có một cái gì đó rất giống cái cây, một cái cây lớn - chắc rằng đây là cây trắc bá. Bởi vì tôi chưa bao giờ nhìn thấy cây trắc bá trong các đầm lầy ở Luiziana.
    Kôlhaun không muốn cầm chiếc ống nhòm từ tay cô em họ - hắn biết Luiza nói thật, và hắn không cần đến những chứng cớ thừa.
    Bấy giờ Pôinđekter cầm lấy ống nhòm, dí đôi mắt cận thị của mình vào đó và ông đã nhìn thấy rất rõ cây trắc bá nhô lên trên đồng cỏ.
    - Đúng rồi – ông nói - thấy rõ cây trắc bá rồi. Người lạ mặt thật trung thực. Anh đã không công bằng với anh ta, kacxi ạ. Ta không tinrằng anh ta có thể làm điều gì độc ác với chúng ta… Nghe đây, ông Xanxôm! Hãy hạ lệnh cho xà ích tiếp tục tiến lên.
    Kôlhaun giận dữ giục ngựa nhảy vào đồng cỏ, hắn không muốn tiếp tục nói chuyện, tiếp tục ở lại cùng những người bạn đường.
    - Hãy đưa chị xem tấm danh thiếp đó, Henri – Luiza nói khẽ - Chị muốn nhìn thấy mũi tên đó, mũi tên đã giúp đỡ chúng ta, gỡ nó ra đi, chẳng nên để nó lại trên cây xương rồng, vì chúng ta đã nhìn thấy cây trắc bá rồi.
    Henri thực hiện ngay lời đề nghị của chị, chẳng hề nghĩ tới ý nghĩa bí hiểm của nó.
    Chàng gỡ tấm danh thiếp ra khỏi cây xương rồng và ném nó lên đầu gối Luiza.
    - Moric Giêran! – Nàng kreôl thì thầm khi nhìn thấy tên trên mặt trái tấm danh thiếp – Moric Giêran! – Nàng vừa xúc động nhắc lại, vừa dấu tấm danh thiếp vào ngực – Dù chàng là ai, dù chàng từ đâu tới, dù con đường của chàng ở nơi nào, và dù chàng trở thành con người như thế nào, từ giờ trở đi chúng ta cùng có chung số phận! Em cảm thấy điều này, em biết điều này rõ rệt như em nhìn thấy bầu trời trên đầu em! Ôi, bầu trời sao mà dữ tợn! Không lẽ số phận bí ẩn của em rồi cũng sẽ như vậy?





  5. #5
    Miss You Baby Kienfa's Avatar
    Tham gia ngày
    Mar 2005
    Bài gởi
    14,376
    Cảm ơn / Thích
    Blog Đã Viết
    94

    Default


    Chương 4

    CUỒNG PHONG ĐEN


    Luiza ngồi, dường như mê mẩn, đám chìm trong những mộng tưởng của mình. Nàng bóp chặt thái dương bằng những ngón tay mảnh dẻ, dường như tất cả sức lực của nàng dồn vào để hiểu được quá khứ và nhìn thấu vào tương lai.
    Dù vậy, những ước mơ của nàng nhanh chóng bị cắt đứt. Nàng nghe thấy những tiếng kêu, như báo hiệu những mối nguy hiểm đang tới.
    Luiza nhận ra giọng hồi hộp của em trai mình:
    - Nhìn kìa, cha oi! Không lẽ cha không nhìn thấy chúng?
    - Ở đâu, Henri, ở đâu?
    - Kia kìa, đằng sau những chiếc xe… Giờ cha nhìn thấy rồi chứ.
    - Phải, ta nhìn thấy một cái gì đó, nhưng ta không hiểu đó là cái gì. Chúng giống như thế nào nhỉ… - Pôinđekter dừng lại một chút để suy nghĩ - Ta, thật ra, ta không hiểu nổi cái gì vậy…
    - Vòi rồng nước chăng? – Kôlhaun, người đã nhìn thấy hiện tượng kỳ lạ này, phán đoán. Cơn giận vừa rồi của hắn đã bớt đi nhiều, nhờ đó hắn đã nối lại được quan hệ với nhóm người đang tụ tập quanh cỗ xe nhẹ - Nhưng làm sao có thể có điều này được. Chúng ta cách biển quá xa. Tôi chưa bao giờ nghe nói chuyện vòi rồng lại xuất hiện trên đồng cỏ.
    - Dù đó là cái gì đi nữa thì rõ ràng chúng cũng đang chuyển động – Henri tiếp lời – Hãy nhìn kìa, chúng xáp lại gần nhau rồi lại tỏa ra. Nếu chúng không chuyển động thì ta có thể tưởng chúng là những cột bằng đá hoa cương đen.
    - Cứ như bọn khổng lồ hay quỷ sứ! – Kôlhaun vừa cười vừa nói - Những quái vật thần thoại nghĩ ra trò dạo chơi trên đồng cỏ khủng khiếp này.
    Viên đại úy giải ngũ khó khăn lắm mới bắt mình đùa cợt được. Cũng như những người khác, linh cảm nặng nề đang đè lên hắn.
    Trên đồng cỏ, từ phía Bắc đột nhiện xuất hiện một vài cái cột đen kịt. Chúng không có hình dạng xác định, cứ thay đổi liên tục về hình thù và kích thước, lúc thì chúng đứng bất động, lúc lại trườn theo mặt đất cháy thành than, như những tên khổng lồ đang loạng choạng chúng uốn mình lại và đổ nghiêng về phía sau,như những hình hài quái lạ trong một điệu nhảy kỳ dị. Tưởng như những gã khổng lồ trong thần thoại đã sống dậy trên đồng cỏ Tếchdát và đang nhảy múa điên cuồng trong lễ tế.
    Nỗi lo sợ cứ thế xâm chiếm nhữnglữ khách, khi họ bắt gặp những hiện tượng chưa từng thấy bao giờ không ai rõ chúng là cái gì. Nhưng tất cả đều tin rằng một tai họa đang tới gần.
    Khi vừa thấy sự xuất hiện của những hình thù kỳ dị đó, cả đoàn xe sựng lại. Những người da đen đi bộ và những người đánh xe rú lên vì khủng khiếp, những con ngựa hý vang run rẩy, những con la rống lên ầm ĩ.
    Từ phía những cột đen vọng lại những tiếng động, rào rào như tiếng thác nước, đôi lúc lại ngắt quãng bởi những tiếngnổ to như những phát súng, hoặc là tiếng sét vọng từ xa.
    Tiếng động lớn lên, ngày càng trở nên rõ rệt. Mối nguy cơ chưa từng thấy cứ thế tiến lại gần.
    Nhữngkhách bộ hành sững sờ vì sợ hãi, và Kôlhaun không phải là ngoại lệ - hắn không còn cố đùa nữa.
    Tất cả đoàn xe rơi vào đám mây màu chì che phủ kín cả bầu trời, và nhữn ghình thù khổng lồ cứ tiến lại gần sự sắp giáng tai hoạ lên đầu những lữ khách.
    Trong giây phút nặng nề đó bỗng vang lêntiếng thét từ phía đối diện, và mặc dầu trong tiếng thét đó như báo mối nguy cơ nó vẫn đem theo cả sự yên tâm.
    Khi quay lại các lữ khách nhìn thấy một kỵ sĩ đang laohết tốc lực về phía họ.
    Con ngựa đen thui như bồ hóng. Người kỵ sĩ cũng một màu như vậy, kể cả khuôn mặt. Mặc dầu vậy, mọi người đều nhận ra: chính là người lạ mặt mà cả đoàn đang đi theo vết của chàng.
    Cô gái trong cỗ xe là người nhận ra đầu tiên.
    - Đi lên nào! – Người lạ mắt hét lên, khi tiến gần đến đoàn xe – Đi lên, đi lên! Mau lên nào …
    - Cái gì vậy? – Người chủ đồn điền sợ hãi đến mức hoảng hốt hỏi dồn – Chúng tôi đang bị nguy phải không?
    - Phải, tôi không ngờ tới điều này khi để các ngài lại, ra tới bờ sông tôi mới nhìn thấy những dấu hiện không lành.
    - Cái gì thế, thưa ngài?
    - Cuồng phong đen.
    - Ngài gọi cơn cuồng phong này phải không?
    - Đúng đấy!
    - Tôi chưa từng nghe rằng gió đen có thể nguy hiểm, đúng ra nó chỉ nguy hiểm cho các tàu biển – Kôlhaun chen vào - Tất nhiên tôi biết rằng nó mang theo cái lạnh thấu xương nhưng …
    - Không chỉ cái lạnh đâu, thưa ngài. Nó còn mang đến những cái tệ hại hơn nếu các ngài không kịp thời tránh nó … Ngài Pôinđekter – Kỵ sĩ quay về phía người chủ đồn điền vẻ nôn nóng và khẩn khoản – Ngài và người của ngài đang lâm nguy. Gió Đen không phải luôn luôn đáng sợ, nhưng cơn cuồng phong này… Ngài hãy nhìn kìa! Ngài có thấy những vòi rồng đen kia không?
    - Chúng tôi có nhìn thấy mà không hiểu đó là cái gì …
    - Đấy là sứ giả của cơn bão, tự bản thân chúng thì không nguy hiểm. Nhưng ngài hãy nhìn phía kia… Ngài có thấy những đám mây đen che kín bầu trời không?... Đó chính là cái ngài phải sợ! Tôi không muốn dọa ngài, nhưng cần phải nói là nó mang theo trong mình sự chết chóc. Nó đang tiến lại gần đây. Nguy hiểm chỉ còn trong khoảnh khắc thôi. Mau lên kẻo muộn mất. Mười phút nữa nó sẽ ở đây, và bây giờ … Mau lên, thưa ngài tôi van ngài đấy! Hãy ra lệnh cho những người đánh xe chạy hết tốc lực. Chứa Trời sẽ dẫn dắt ngài!
    Bị thuyết phục bởi những lời yêu cầu tha thiết, người chủ đồn điền ra lệnh lên đường và giục đoàn xe đi với tốc độ nhanh nhất.
    Nỗi khiếp sợ xâm chiếm những con vật như thế nào thì cũng xâm chiếm những người đánh xe như vậy. Tất cả đều chạy tế lên hối hả chẳng cần roi.
    Cỗ xe nhẹ và những kỵ sĩ phi lên trước như thường khi. Người lạ mặt đi sau cùng, như cố bảo vệ cho cả đoàn.
    Thỉnh thoảng chàng ghìm cương, dõi mắt quan sát mỗi khi thấy mối nguy cơ tăng lên.
    Nhậ nthấy điều này, người chủ đồn điền liền phi tới gần chàng và hỏi:
    - Nguy hiểm còn chưa qua ư?
    - Đáng tiếc, tôi không thể nói một điều gì an ủi ngài được. Tôi cho rằng gió giờ đây đã đổi chiều.
    - Gió ư, tôi không để ý thấy ngọn gió nào.
    - Không phải ở đây. Cơn bão đáng sợ ở kia cơ, nó đang tiến gần đến chỗ chúng ta… Chúa ơi, nó tiến nhanh đến mức không tưởng tượng được! Chắc gì chúng ta đã kịp vượt qua đồng cỏ cháy…
    - Thế thì phải làm gì? – Người chủ đồn điền kêu lên kinh sợ.
    - Không thể bắt những con la của ngài chạy nhanh thêm ư?
    - Không, chúng đã cố hết sức rồi đấy.
    - Trong trường hợp như vậy, tôi sợ rằng cơn cuồng phong sẽ đuổi kịp chúng ta…
    Nói xong cái dự đoán u ám này, kỵ sĩ quay đi và lần nữa lại nhìn vào những vòi rồng đen, dường như đang xác định vận tốc của chúng.
    Những nếp nhăn hằn lên quanh miệng chàng, cho thấy một cái gì đó nghiêm trọng hơn là sự không hài lòng.
    - Đúng, trễ mất rồi! - Bỗng nhiên chàng dừng quan sát và kêu lên – Chúng chuyển động nhanh hơn chúng ta, nhanh hơn nhiều… Chẳng có hy vọng thoát chúng!
    - Ôi ngài, lạy Chúa! Không lẽ nguy hiểm lớn đến thế ư? Không lẽ ta không làm được gì để thoát khỏi tai ương? – Người chủ đồn điền hỏi lại.
    Người lạ mặt không trả lời ngay. Chàng im lặng trong vài khắc, như đang suy nghĩ điềugì lung lắm, chàng đã thôi nhìn vào bầu trời, cái nhìncủa chàng chiếu vào những chiếc xe.
    - Không lẽ không còn tý hy vọng nào? – Người chủ đồn điền lắp bắp nhắc lại.
    - Không, có chứ! – Kỵ sĩ vui mừng đáp, hình như một ý nghĩ sáng suốt nào đó đangnảy ra – Có hy vọng vậy mà tôi không nghĩ ra trước đây. Chúng takhông thoát cơn bão tố được, nhưng có thể tránh được nguy hiểm. Nhanh lên, ngài Pôinđekter! Ngài hãy ra lệnh cho người của ngài quấn đầu ngựa và la lại nếu không những con vật này sẽ bị mù và sẽ hóa rồ. Dùng chăn,các tấm vải - Tất cả những gì có thể được. Sau đó hãy cho tất cả mọi người nấp vào những chiếc xe. Chỉ cần tất cả các màn cửa đóng cho thật kín về mọi phía. Tôi sẽ chăm sóc cỗ xe nhẹ.
    Sau khi chỉ dẫn xong, kỵ sĩ nhảy về phía trước. Trong thời gian đó Pôinđekter cùng người giám thị ra lệnh cho các xà ích làm những điều cần thiết.
    - Thưa tiểu thư – Khi tới gần cỗ xe nhẹ, kỵ sĩ nói với tất cả sự lịch thiệp mà hoàn cảnh cho phép - Tiểu thư cần che kín tất cả màn cửa lại. hãy cho người xà ích vào ngồi trong xe… Và các ngài nữa, thưa các ngài – Chàng nói với Henri và Kôlhaun đang tiến gần - Chỗ đủ cho mọi người. Hãy nhanh lên, tôi van các ngài! Đừng để mất thời gian. Chỉ vài phút nữa là cơn cuồng phong sẽ hoành hành trên đầu chúng ta.
    - Còn ngài? – Người chủ đồn điền với sự quan tâm chân thành hỏi lại con người đã làm bao nhiêu việc để tránh cho họ cơn tai biến đang ập đến đe dọa. Còn ngài thì sao?
    - Đừng lo cho tôi: tôi biết, cái gì đang tới. Không phải lần đầu tiên tôi gặp nó.. Các ngài hãy ẩn mình đi, ẩn mình đi, tôi van các ngài! Đừng để phí một giây nào. Các ngài có nghe thấy tiếng réo đó không? Mau lên, khi đám mây bụi còn chưa kịp bay tới.
    Chủ nhân và Henri vội vàng nhảy khỏi ngựa và leo vào trong xe trong lúc Kôlhaun vẫn bướng bỉnh tiếp tục ngồi trên yên. Tại sao hắn phải sợ hãi mối nguy hiểm tưởng tượng trong khi người bận trang phục Mếchxích kia lại không trốn tránh nó.
    Người lạ mặt bảo viên giám thị lao vào chiếc xe tải gần nhất. Hắn ngoan ngoãn phục tùng. Giờ đây chàng trẻ tuổi đã có thể nghĩ tới mình.
    Chàng nhanh chóng sổ chiếc Serap, nó được buộc vào yên, chàng tung chiếc áo choàng lên đầu con ngựa, quấn mép áo quanh cổ ngựa và buộc nút lại. Với sự khéo léo không kém chàng dùng chiếc khăn to Trung Quốc quấn quanh mũ, mộtmép chàng buộc vònglại bằng sợi ruy băng còn mép kia để rũ xuống – như vậy thành ra một thứ giống như cái mạng che mặt bằng tơ.
    Trước khi che kín mặt lại, chàng lần nữa quay về phía cỗ xe và rất ngạc nhiên khi thấy Kôlhaun vẫn còn ngồi trên ngựa. Đấu tranh với sự ác cảm không chủ tâm của mình với con người kia, người lạ mặt khẩn khoản nói:
    - Hãy nấp ngay đi, thưa ngài, tôi xin ngài đấy! Nếu không, qua mười phút nữa ngài sẽ không còn sống đâu.
    Kôlhaun nghe lời: dấu hiệu cơn bão đến gần quá hiển nhiên, với sự chậm chạp cố ý hắn leo từ trên yên xuống và ẩn mình vào trong xe, dưới sự bảo vệ của những tấm màn dày được chèn kỹ.
    Những gì tiếp theo thật khỏ tả lại được… Không ai nhìn thấy được cảnh trời đất đang hoành hành, bởi không ai dám nhìm vào nó. Nhưng nếu có ai đó cả gan làm điều này thì cũng chẳng thấy được gì. Chỉ năm phút sau khi tất cả được bao kín lại, một đám mù đen kịt quấn chặt lấy đoàn xe.
    Những người đi đường chỉ thấy được những gì lúc bắt đầu cơn bão. Một trong những cái vòi rồng va vào chiếc xe tải, trút lên nó đám bụi đen dày đặc – như một trận mưa thuốc súng từ trên trời đổ ập xuống. Nhưng đó là chỉ mới bắt đầu.
    Lúc sau, trời sánglên, và các lữ khách cảm thấy một luồng không khí nóng bỏng, như phụt ra từ miệng lò gang. Sau đó cơn gió giật mang đến cùng với những tiếng gào rú cái lạnh như băng giá, những tiếng rú nhức óc, tưởng như tất cả những cái vòi của thần gió đang thông báo sự xuất hiện của cả một quốc vương Bão Tố.
    Phút chốc cơn cuồng phong đã vây lấy đoàn xe và các lữ khách rơi vào cảnh băng giá như đang ở trên ngọn núi băng trên Bắc Băng Dương.
    Cảnh mù mịt bao trùm mọi vật, không nghe được gì cả ngoài tiếng rú của gió và tiếng rít lên khi nó quất vào những tấm rèm của các xe.
    Bọn la, theo bản năng quay lưng về phía gió, đứng im lặng. Những tiếng người hoảng hốt thì thầm trong các chiếc xe bị chìm trong tiếng bão.
    Tất cả các kẽ hở đều được che kín. Nếu chỉ thò ra khỏi tấm màn dày là có thể chết ngạt ngay. Không khí dày đặc toàn tro, bốc lên bởi ngọn gió lốc từ đồng cỏ cháy trụi và trở nên một thứ bụi mịn khốc hại.
    Hơn một giờ những đám mây tro đen bay đặc trong bầu không khí, suốt thời gian đó các lữ khách nấp kín, không một ai dám thò đầu ra ngoài.
    Cuối cùng ngay cạnh tấm màn của cỗ xe nhẹ vang lên giọng nói của người lạ mặt.
    - Bây giờ có thể ra được rồi – Chàng nói, vừa gỡ chiếc khăn tơ ra khỏi mặt – Cơn bão còn chưa kết thúc, nó còn tiếp tục cho đến khi xong cuộc hành trình của các ngài. Nhưng không còn gì đáng sợ nữa. Tro đã bị quét sạch. Cơn bão đang mang nó về phía trước, về phía Riô – Grand và chắc gì các ngài đã đuổi kịp nó.
    - Thưa ngài – Người chủ đồn điền nói, vừa vội bước xuống những bậc thang của cỗ xe – Chúng tôi mang ơn ngài…
    - … đã cứu sống! – Henri vừa kêu lên, vừa tìm những lời lẽ thích hợp – Tôi hy vọng, thưa ngài, ngài sẽ cho chúng tôi biết quý danh.
    - Moric Giêran – Người lạ mặt trả lời - Mặc dầu ở đồn biên người ta thường gọi tôi là Moric – Muxtangher (nghĩa là Moric – người săn ngựa hoang)
    - Muxtangher! – Kôlhaun khinh bỉ lẩm bẩm khẽ sao cho chỉ có Luiza nghe thấy.
    “Chỉ là chàng săn ngựa thôi” – Ngài quý tộc Pôinđekter thất vọng nghĩ thầm.
    - Bây giờ tôi chẳng cần thiết cho các ngài nữa. Các ngài sẽ tìm được đường không cần tới vết lắcxô của tô – Người săn ngựa hoang nói – Cây trắc bá đã nhìn rõ. Vượt qua sông, các ngài sẽ thấy lá cờ trên đồn biên. Các ngài sẽ kịp kết thúc cuộc hành trình trước khi trời tối. Tôi đang vội và cần phải chia tay với các ngài.
    Nếu chúng ta tưởng tượng được quỷ xatăng trên con ngựa từ địa ngục đi tới, thì cũng khá chính xác khi tưởng tượng ra Moric – Muxtanger khi chàng rời bỏ người chủ đồn điền và các bạn đồng hành của ông ta lần thứ hai.
    Cho dù khuôn mặt phủ đầy tro, cho dù nghề nghiệp khiêm tốn cũng không hạ thấp chàng săn ngựa trong con mắt của Luiza Pôinđekter. Chàng đã chiếm được trái tim nàng.
    Khi Luiza nghe thấy tên chàng, nàng xiết chặt tấm danh thiếp vào ngực và thì thầm rất khẽ, ngoài nàng ra không ai nghe được:
    - Moric – Muxtanger, chàng đã chinh phục được trái tim em mất rồi! Chúa tôi, ôi Chúa tôi! Chàng quá giống Luxiphe (theo truyền thuyết: thiên thần nổi loạn chống lại Chúa trời, bị giáng xuống địa ngục), làm sao em có thể khinh chàng được.





  6. #6
    Miss You Baby Kienfa's Avatar
    Tham gia ngày
    Mar 2005
    Bài gởi
    14,376
    Cảm ơn / Thích
    Blog Đã Viết
    94

    Default


    Chương 5

    NGÔI NHÀ CỦA CHÀNG SĂN NGỰA HOANG


    Ở đó, nơi con sông Riô Đơ Nuexet (sông Hạnh Đào) thu vào lòng nó nước của hàng trăm dòng suối nhỏ, nhìn lên tấm bản đồ trông giống như vô số các cành của một gốc cây lớn có những chỗ trông thật ngoạn mục. Nơi đây đồng cỏ chen lẫn những ngọn đồi nhỏ, trên nó mọc rải rác những khoảng rừng sồi và hố đào thưa thớt. Ở đây, dọc theo bờ con sông trải dài những khoảng rừng dày xanh um tùm.
    Một đôi chỗ rừng được thay thế bởi những bụi cây rậm rạp, nơi đầy những hình dạng của loài keo mọc lên những cây nhựa thơm, những bụi Kreodôt, cây lô hội hoang, xương rồng nến, các loại xương rồng thường và cây ngọc giá.
    Các loại cây có gai này chẳng làm cho các chủ đất thích thú gì, nhưng thay vào đó lại rất lôi cuốn những nhà thực vật học và những kẻ hâm mộ hiếu kỳ, đặc biệt khi loài xương rồng nến nở bung những bông hoa lớn màu vàng nến hay cây Phụ kỳ vươn cao vượt những bụi cây khác, bung ra từng cụm hoa vĩ đại màu đỏ rực rỡ như lá cờ trải rộng.
    Nhưng ở đó cũng có chỗ đất màu mỡ, nơi trên lớp đất đen có pha vôi mọc những cây cao với những tán lá dày: cây xà phòng Ấn Độ, cây hồ đào, cây du, nhiều loại sồi, thỉnh thoảng lại thấy cây trắc bá, cây bạch dương. Khu rừng tràn ngập màu xanh ở đủ mọi cung bậc, và thật công bằng thì phải công nhận thật là tuyệt mỹ.
    Các dòng suối ở nơi này trong vắt như thủy tinh, chúng phản chiếu màu xanh Xaphia của vòm trời. Những đám mây không baogiờ che khuất mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao. dân ở đây không baogiờ biết đến bệnh tật – Không một dịch bệnh nào có thể mon men đến được mảnh đất ưu ái này.
    Những con người văn minh còn chưa đến dây, và vẫn như trước kia, ở đây chỉ có những bộ tộc da đỏ đi lại theo những con đường mòn rắc rối trong rừng, hay có khi họ cưỡi ngựa đi tới những khu cư dân trên bờ sông Nuexec hay Lêông. Không có gì đáng ngạc nhiên là những loài thú chọn những nơi âm u này làm nơi nương náu của mình. Không ở nơi đâu trên đất Tếchdát các bạn có thẻ gặp nhiều hươu và các lài linh dương nhút nhát đến thế. Thỏ rừng lúc nào cũng lướt qua trước mắt bạn, cũng không hiếm khi gặp phải lợn rừng, chồn, sóc đất.
    Những con chim xinh đẹp sặc sỡ làm phong cảnh thêm sinh động. Chúng ca hát, loạt xoạt đôi cánh, bay lượn trên bầu trời. Chim kền kền thống trị không gian, gà tây cỡ bự sưởi bột ngực rực rỡ của mình dưới nắng mặt trời ở bìa rừng hồ đào, giữa những vòm lá xiêm gai đầy lông tơ, những chiếc đuôi giống như những chiếc kéo đang lướt đi của những con chim khâu mà những người đi săn ở đây hay gọi là “Chim thiên đường”.
    Những con bướm vĩ đại chập chờn trong không khí, dang rộng những đôi cánh, khi chúng đậu xuống người ta có cảm giác đó là những cánh hoa. Những con ong lớn mượt như nhung vù vù giữa những bụi cây đầy hoa nở, tranh nhau lấy mật ngọt với những con chim ruồi cũng chẳng lớn hơn mất tý.
    Mặc dầu vậy không phải tất cả các loài sinh sống ở đây đều vô hại. Không đâu trên toàn vùng Bắc Mỹ rắn mai gầm lại đạt đến kích thước đáng kể như ở đây, chúng ẩn mình giữa những bụi cỏ rậm cùng với loài rắn Môcatxi còn nguy hiểm hơn nữa. Ở đây nhện độc đốt, bọ cạp cắn, còn rết chỉ cần bò lên da là dây nên những cơn sốt có thể dẫn tới cái chết thảm khốc.
    Dọc theo những bờ sông cạnh rừng là những con báo đốmvà người anh em của chúng là loài báo sao đen dạo chơi, đây chính là biên giới phía Bắc vùng cư trú của chúng.
    Giữa đám cây cối ở bìa rừng loài sói Tếchdát béo mập ẩn mình. Chúng cô đơn và lặng lẽ. Cũng trên đồng cỏ này, đồng cỏ mọng nước, nơi có đầy dãy những loài thú ăn thịt, có một loài động vật tuyệt diệunhất trong các loài động vật, thông minh nhất trong các loài thú bốn chân, bạn của con người đó là ngựa.
    Chúng sống hoang dã và tự do, không biết đến những thói thất thường của con người, không biết đến dây cương và hàm thiếc, yên và hàng thồ.
    Tuy vậy, ngay cả ở những nơi rừng hoang này người ta cũng không để chúng được yên.
    Con người săn chúng và thuần phục chúng. Nơi đây những con ngựa hoang bị săn đuổi, được dạy cho đến khi thuần. Chính chúng rơi vào thay người đi săn trẻ tuổi, chàng Moric – Muxtangher.
    Trên bờ Amalô, phía hạ lưu trong vắt của con sông Riô đơ Nuexet có một ngôi nhà đơn sơ, xinh xắn, một trong những ngôi nhà thường gặp ở Tếchdát.
    Ngôi nhà được dựng lên bằng những thân cây ngọc giá chẻ đôi chôn thẳng xuống đất với mái lớp bằng những chiếc lá hình lưỡi lê cũng của loại huệ khổng lồ này.
    Những kẽ hở giữa các thân cây, bất chấp thói quen của vùng Tây Tếchdát, không được trát kín lại bằng đất sét mà được ốp kín từ phía trong bằng những tấm da ngựa, chúng được gắn chặt vào tường không phải bằng đinh sắt mà bằng những chiếc gai của loài cây trăm năm vùng Mếchxích này.
    Những bờ dốc vây quanh thung lũng nơi dòng sông chảy qua thừa thãi những loài cây làm vật liệu xây nhà – Cây ngọc giá, cây thùa, và những loài cây hoang sơ khác. Phía dưới thung lũng màu mỡ rừng phủ kín nhiều dăm, nơi đó mọc lên những cây dâu, cây hồ đào và cây sồi, những ngọn cây cao vươn đến tận các vách đá dựng đứng.
    Giữa những khoảng rừng um tùm về phía dòng sông thỉnh thoảng lại bắt gặp những khoảng trống, những trảng cỏ xanh rờn một thứ cỏ mọng nước mà những người Mếchxích thường gọi chúng là “grama”.
    Ở một trong những khoảng đất hình bán nguyệt như vậy, rất gần con sông là ngôi nhà đơn sơ mà chúng ta vừa mô tả. Những thân cây làm nhớ đến các cây cột lớn đỡ vòm lá như mái của một rạp hát thiên nhiên.
    Ngôi nhà nép trong bóng râm của tán những cây lớn. Cảm giác như nơi thâm sơn cùng cốc này nơi được chọn không phải là tình cờ. Chỉ có thể nhìn thấy được ngôi nhà từ phía con sông, và chỉ là trong trường hợp rất tình cờ nếu đứng được đối diện với nó. Sự đơn giản đến mức thô sơ của kiểu nhà và cùng với màu sắc mờ nhạt làm cho nó hầu như không đáng chú ý.
    Ngôi nhà chỉ nhỏ bằng cái lều. Ngoài cửa ra vào thì chẳng có một kẽ hở nào nữa nếu không kể ống khói tường. Khung cửa gỗ ra vào căng tấm da ngựa và được treo lên bằng các nút vòng cũng làm bằng thứ da đó.
    Đằng sau nhà có một mái che, được đỡ bằng sáu cái cột và lợp bằng lá cây ngọc giá, nó được quây lại một khoảng rừng lớn gần một akr (đơn vị đo diện tích đất bằng 4047 met vuông) nằm giữa ngôi nhà và bờ sông dốc đứng. Đất ở đây nham nhở đầy những dấu móng, đôi chỗ đất bị giẫm nát bấy. Không khó gì mà không đoán ra, đây là bãi quần ngựa, nơi dồn những con ngựa hoang, những con muxtang.
    Cách bày biện trong nhà vừa mắt tuy thiếu tiện nghi. Các bức tường được trang hoàng không một lỗ hở bằng những tấm thảm làm bằng những tấm da mềm mại, rực rỡ của những conmuxtang. Những tấm da màu đen, tía, màu tro, và trắng như tuyết trông thật vui mắt: nó chứng tỏ người chọn chúng rất có óc thẩm mỹ.
    Đồ gỗ cực kỳ đơn giản: chiếc giường - chỉ là một chiếc giá căng tấm da ngựa, hai chiếc ghế đẩu tự tạo, nhỏ hơn nhưng cũng có hình dạng như vậy và một chiếc bàn đơn sơ được ghép lại bằng những tấm ván ngọc giá – và đó là tất cả những gì có trong ngôi nhà. Trong góc còn có một cái gì đó giống như một chỗ ngủ thứ hai, tất nhiên cũng được trang bị bởi tất cả những tấm da ngựa.
    Hoàn toàn bất ngờ trong một căn lều đơn giản như vậy lại có một giá sách, bút lông, mực, giấy viết thư và những tờ báo nằm trên bàn.
    Ở đây còn có những đồ vật khác không chỉ nhắc nhở tới thế giới văn minh, mà thậm chí còn cho thấy một thị hiếu tinh tế: một chiếc hòm nhỏ bằng da xinh đẹp, khẩu súng săn hai nòng, một chiếc cốc bạc lớn có hình khắc nổi, cặp sừng và chiếc còi bạc.
    Trên sàn nhà có một vài đồ vật dùng để làm bếp, hầu hết bằng sắt tây, trong góc là một chiếc chai lớn đặt trong cái giành đan bằng cọng liễu, rõ ràng là dùng để chứa một thứ nước uống có nồng độ cao hơn nước sông Alamô.
    Những đồ vật còn lại có vẻ địa phương hơn, bộ yên cương có mỏ cao kiểu Mếchxích, bộ dây cương bện bằng lông đuôi ngựa, có cả hàm thiếc, hai hoặc ba chiếc xerap, một vài cuộn dây thừng bện hãy còn tươi.
    Ngôi nhà và cảnh sống của chàng Muxtangher là như vậy đó.
    Một người đang ngồi trên một trong hai chiếc ghế đẩu giữa phòng, người đó không thể là chàng Muxtangher được. Hắn chẳng giống chủ tý nào. Ngược lại, nhìn toàn bộ bề ngoài đã thấy biểu hiện một sự phục tùng đã biến thành thói quen, cũng dễ nhận ra đó là một người hầu.
    Hắn ăn mặc không đến nỗi tồi lằm, không gợi lên cảm giác rằng đó là một con người cùng quẫn. Đấy là một anh chàng béo có những túm tóc hung vàng và khuôn mặt đỏ gay, hắn bận bộ đồ một nửa bằng thứ vải Plit và một nửa bằng nhung kẻ. Chiếc quần và đôi ghệt may bằng và Plit. Còn những thứ may bằng nhung kẻ thì một thời nào đó có màu xanh chai, nhưng từ lâu màu đã bị bạc đi và bây giờ nó biến thành gần như màu nâu vậy. Người đó mặc chiếc áo khoác dùng để đi săn với những chiếc túi to nơi ngực. Chiếc mũ phớt có vành rộng cụp xuống làm hoàn hảo thêm bộ trang phục của người này nếu không nhắc thêm chiếc áo sơ mi vải thô, một chiếc khăn đỏ cẩu thả quấn quanh cổ và một đôi giày kiểu Iếclăng.
    Không chỉ đôi giày và chiếc quần vải Plit chỉ ra dân tộc của người đó. Đôi môi, mũi, mắt, toàn bộ vẻ ngoài của hắn thể hiện rõ ràng hắn là người Iếclăng.
    Nếu một người nào đó còn có nghi ngờ, thì hắn ta lập tức làm tiêu tan ngay nỗi nghi ngờ đó, khi mở miệng, việc mà thỉnh thoảng hắn cũng có làm, bằng cái giọng chỉ có ở vùng thuộc dinh cơ bá tước Gôluei. Có thể nghĩ rằng người Iếclăng này đang nói chuyện một mình, bởi vì trong nhà ngoài hắn ra hình như không có ai cả.
    Nhưng không phải như vậy, trên tấm nệm bằng da ngựa, trước bếp lò còn âm ỷ, một con chó lớn đang nằm đặt mõm trên đống tro. Con chó dường như hiểu được ngôn ngữ của người. Ít nhất thì người kia cũng đang nói chuyện với con chó và mong rằng nó sẽ hiểu từng lời của mình.
    - Thế nào, Tara, vật báu của ta – Người mặc quần vải Plit kêu lên – Mày có muốn quay về Balibalax không? Chắc là mày rất khoái chí được chạy trong sân lâu đài, trên những tấm gạch sạch sẽ, ở đó người ta nuôi mày khá hơn, chứ đâu như ở đây. Nhìn kìa, mày chỉ da bọc xương, từng cái xương sườn còn đếm được. Chú bạn của ta ơi, ta cũngmuốn trở về nơi đó lắm! Nhưng biết được khi nào thì cậu chủ mới quyết định trở về quê hương! Nhưng không sao, Tara ạ! Sắp tới cậu ấy sẽ chuyển tới vùng dân cư, cậu đã hứa mang chúng ta tới đó. Được thôi! Quỉ tha ma bắt! Thế là đã ba tháng rồi, tao chẳng tới đồn biên, có thể tao sẽ gặp một anh bạn nào đó trong số những người lính Iếclăng ở đó mà họ vừa cử tới. Và lúc bấy giờ chúng ta sẽ uống phải không Tara?
    Nghe thấy tên mình, con chó ngẩng đầu lên, thở hắt ra.
    - Bây giờ mà ta tráng ướt cổ họng được một chút thì thật hay – gã Iếclăng vừa tiếp tục nói vừa liếc nhìn một cách thèm khát về phía cái chai - Chỉ có điều là chiếc chai kia cũng cạn đến đáy rồi, thế nào cậu chủ cũng nhận ra. Uống mà không xin là không thật thà phải không Tara?
    Con chó lại nhấc mõm lên khỏi đám tro và thở phì phì.
    - Lần trước mày đã nói “vâng” phải không? Bây giờ mày lại lặplại nữa hả Tara?
    Con chó lại phát ra những tiếng kêu tương tư, không hiểu nó bị cảm hay bị tro rơi vào mũi.
    - Lại “vâng”? Chỉ được thế thôi! Con vật câm này nó muốn xui ta thế đấy! Đừng có quyến rũ ta, tên trộm già kia! Không, không, không một giọt nào cả. ta chỉ rút nút chai ra và ngửi thử thôi. Có lẽ cậu chủ sẽ không nhận ra, hay nếu thậm chí cậu có biết, thì cậu cũng chẳng nỡ giận. Ta chỉ ngửi thôi, thế chưa phải là tai họa.
    Nói xong những lời này, gã Iếclăng đứng dậy đi về phía góc nhà nơi đặt chiếc chai.
    Mặc cho tất cả những lời thề nguyền, dáng điệu của hắn có một cái gì đó giống như một thằng ăn trộm, hoặc là hắn không tin vào sự thành thật của mình, hoặc là hắn nghi ngờ bản thân liệu có đủ sức để chống lại sự cám dỗ đó không.
    Hắn dừng lại một chút, nghiêng tai về phía cửa lắng nghe, sau đó hắn nâng cái bình rất mực cám đỗ lên, nhấc nút ra và đưa cổ chai lên mũi.
    Hắn đứng vài giây trong tư thế đó, giữa cảnh im ắng chỉ nghe thấy tiếng khụt khịt như tiếng chó mà gã Iếclăng hiểu ra như sự đồng tình. Tiếng động đó là để biểu thị sự hài lòng bởi cái mùi thơm của thứ nước uống có nồng độ cao này.
    Sự việc đó kéo dài chỉ được đến tích tắc, dần dần đáy chai được nâng lên, còn cổ chai thì cũng với tốc độ như vậy được chúc thẳng tới đôi môi đang giãn ra.
    - Quỉ tha ma bắt! – Gã iếclăng lần nữa liếc trộm ra cửa, hắn không cưỡng lại nổi mùi uytki tuyệt diệu, làm sao mà không thử nó được cơ chứ! Thì có chết ai đâu nào! Ta chỉ nhấp một giọt thôi, chỉ nhấp lưỡi thôi, chỉ ướt đầu lưỡi thôi … nào.
    Và chiếc cổ chai chạm vào môi, nhưng rõ ràng không phải “chỉ một giọt để thấm ướt đầu lưỡi” – Người ta nghe thấy tiếng róc rách của chất lỏng đang bớt dần trong chai cho thấy gã Iếclăng đang thấm ướt ra trò thanh quản và thậm chí còn hơn thế nữa.
    Nhấp xong với vẻ thỏa mãn, hắn đậy nắp chai lại, đặt chai vào chỗ cũ và lại ngồi xuống ghế.
    - Ôi, mày là đồ láu cá già đời, Tara ạ! Chính mày đã đẩy tao tới sự cám dỗ đấy nhé. Nhưng không sao, cậu chủ không biết được đâu. Sắp tới cậu chủ đến đồn biên và có thể mua thêm một lượng dự trữ mới nữa.
    Gã Iếclăng ngồi im lặng. Hắn đang suy nghĩ về hành động của mình hay đang thỏa mãn bởi tác động của chất cồn, ai mà biết được.
    Lát sau hắn lại bắt đầu:
    - Làm sao mà cậu Moric lại ở trong khu cư dân lâu như vậy. Cậu ấy nói rằng cậu ấy đi tìm con muxtang đốm sao về đằng ấy. Sao bỗng dưng cậu ấy lại cần con ngựa đốm sao đó thế nhỉ? Chẳng đơn giản chút nào. Câu chủ đã ba lần săn đuổi nó, thế mà không tài nào ném được dây vào cổ con vật hoang dã này. Mà cậu ấy lại cưỡi đúng con ngựa tía nữa chứ, thế đấy! Cậu ấy nói rằng sẽ cố hết sức và phải săn được nó bằng bất cứ giá nào, lạy Chúa! Sao cho mọi việc kết thúc chóng vánh để tao với mi khỏi phải dật dờ ở đây cho tới ngày phán xét cuối cùng … Xà! Ai đấy!
    Hắn buột mồm kêu lên vì thấy Tara nhảy chồm ra khỏi nệm, vừa sủa vừa lao ra cửa.
    - Felim! - một giọng nói từ bên ngoài vang lên – Felim!
    - Ôi, đúng cậu chủ rồi – Felim lắp bắp, bật dậy khỏi chiếc ghế, chạy theo con chó.





  7. #7
    Miss You Baby Kienfa's Avatar
    Tham gia ngày
    Mar 2005
    Bài gởi
    14,376
    Cảm ơn / Thích
    Blog Đã Viết
    94

    Default


    Chương 6

    CON MUXTANG ĐỐM SAO


    Felim không lầm: đấy chính là giọng của cậu chủ hắn: Moric Giêran.
    Vừa ra khỏi cửa, gã hầu nhìn thấy ngay chàng Muxtangher đang tiến lại gần. Như mọi khi, chàng trở về nhà trên con ngựa của mình, nhưng giờ đây khắp mình con ngựa tía đẫm mồ hôi, nên trông nó đen nhẫy, cổ và sườn bốc khói.
    Con ngựa tía không về một mình, nó còn kéo theo một đồng loại của mình, hay nói chính xác hơn, một tù nhân bị lắcxô khá căng buộc vào mỏ yên. Chiếc dây da vòng chặt lấy hàm con muxtang vừa bị bắt gắn vào một chiếc dây khác vòng qua đầu sát tai con vật.
    Đó là một con muxtang rất khác thường. Thậm chí giữa những đàn lớn, thường đến ăn trên các đồng cỏ, nơi có thể gặp những con ngựa lạ lùng nhất thì loại này cũng rất hiếm. Con ngựa này màu Sôcôla sẫm với những chấm trắng, được điểm một cách đều đặn như những chấm đen trên bộ lông con báo. Màu sắc đặc biệt kết hợp với vóc dáng hoàn hảo. Đó là một con ngựa có bộ ngực rộng, hai sườn dốc xuống, bốn chân vừa mảnh vừa thẳng và cái đầu có thể làm mẫu mực vẻ đẹp của loài ngựa. Con ngựa khá lớn, nếu là loài muxtang, nhưng nhỏ hơn con ngựa giống Anh bình thường, thậm chí còn nhỏ hơn con tía – cũng là một con muxtang mà nó đã giúp chủ bắt con đốm này làm tù binh.
    Con ngựa đẹp còn tơ, nó ở trong đàn thường đến ăn cỏ ở nguồn sông Alamô, nơi chàng Muxtangher đã ba lần đuổi theo nó mà không kết quả. Chỉ tới lần thứ năm, Moric mới gặp may. Nguyên nhân sự mong muốn có bằng được chính con ngựa hoang này là một bí mật của chàng Muxtangher.
    Felim chưa lần nào thấy cậu chủ của mình hài lòng như vậy, thậm chí so cả với khi Moric về nhà, mà điều này vẫn thường xảy ra, với năm, sáu con muxtang săn được.
    Và cũng chưa bao giờ Felim nhìn thấy một tù nhân xinh đẹp như con ngựa tơ có đốm sao này. Nó làm mê mẩn bất cứ một con người nào am hiểu vẻ đẹp của loài ngựa như tay cựu giám mã của lâu đài Balax.
    - Ghip, ghip, hoan hô! – Felim hét lên khi thấy nữ tù nhân. Vinh quang thay thánh Patric và các nữ thánh thiêng liêng, cậu Moric cuối cùng đã tóm được con ngựa sao! Con ngựa tơ này, mẹ kiếp! Ngựa ra ngựa!... Cậu đuổi theo nó đen như vậy cũng không có gì là lạ. Ei, Chúa tôi! Ở hội chợ Balinôxlơ của chúng ta người ta có thể quảng tiền vì nó bằng bất cứ giá nào. Thế nào người ta cũng dắt nó đi. Những thôi… Chúng ta để nó ở đâu bây giờ nhỉ? Ở sân quần ngựa cùng với tất cả à?
    - Không, ở đó nó có thể bị đá hậu. Ta hãy buộc nó dưới chái. Kactrô hiếu khách sẽ nhường cho nó, còn chú mình sẽ qua đêm dưới trời. Felim, đã khi nào ngươi thấy một giai nhân như thế này chưa … ta muốn nói: con ngựa đẹp như thế?
    - Chưa bao giờ, cậu Moric ạ, cả đời chưa bao giờ! Mà cháu đã thấy bao nhiêu giống ngựa thuần chủng ở Balibalax ấy chứ. Ngồi lên nó thì tuyệt lắm nhỉ! Chỉ có điều là điệu bộ nó trông ghê chưa kìa, cứ như là nó muốn ăn thịt người ta. Cậu còn chưa cưỡi nó phải không ạ?
    - Chưa, Felim ạ. Ta sẽ chăm sóc tới nó khi ta có nhiều thời gian hơn. Phải thận trọng. Vì ta sợ làm hỏng mất con vật hoàn hảo thế kia. Ta sẽ bắt đầu thuần nó, khi đưa nó vào vùng cư dân.
    - Thế bao giờ cậu định đi đến đó?
    - Ngày mai. Chúng ta cần ra đi lúc sáng sớm, để buổi chiều đến kịp được đồn biên.
    - Thế thì tốt quá: cháu mừng không phải vì cháu mà vì cậu, cậu Moric ạ. Cậu có biết không, cậu Moric, rượu uytky của chúng ta đã gần hết rồi. Nghe tiếng óc ách trong bình là biết. Những tay bịp ở đồn biên láu quá. Họ pha thêm và rót không đầy. Galông uytki Anh uống lâu gấp ba lần cái thứ “đồ bỏ” của Mỹ này, cũng như chính cái bọn Mỹ nó đặt tên cho nó vậy.
    - Về uytki thì chú đừng lo lắng, Felim ạ. Chỗ đó chắc còn đủ cho ngày hôm nay và đủ rót đầy biđông cho chuyến đi ngày mai. Đừng nản, anh bạn cũ người Balibalaz ạ! Đầu tiên chú hãy thu xếp cho cô ngựa đốm sao, sau đó chúng ta sẽ dành thời gian nói về việc dự trữ thứ nước chữa bệnh mà ta biết rằng ngươi yêu thích hơn tất cả mọi thứ trên đời này.
    - Và cả cậu nữa chứ, cậu Moric! – Felim vừa cười vừa chêm vào.
    Chàng Muxtangher cười nhảy xuống ngựa.
    Họ đưa con ngựa tơ đốm sao vào chái nhà, còn con Kactrô thì buộc vào gốc cây. Felim bắt đầu tắm cho ngựa.
    Mệt đến lả cả người, chàng Muxtangher ngả người xuống chiếc giường làm bằng những tấm da ngựa của mình. Không một con muxtang nàolàm chàng phải săn đuổi lâu như con ngựa đốm sao. Nó cần đến một sự kiên trì mà ngoài chàng ra không một ai trên đời này có thể có được, ngay cả Felim, ngay cả Kactrô, con ngựa trung thành của chàng.
    Mặc dầu mấy ngày liền ngồi trên lưng ngựa và ba ngày cuối săn đuổi liên miên theo con đốm sao, dù mệt đến chết người, chàng Muxtangher vẫn không sao chợp mắt nổi vì một điều gì đó.
    Đã mấy đêm chàng đau khổ vì mất ngủ, xoay hết bên này sang bên kia, đến nỗi không chỉ anh hầu Felim mà thậm chí cả con chó Tara cũng ngạc nhiên vì tâm trạng này của chủ.
    Người hầu lại nghĩ rằng, chủ hắn nóng lòng bẫy con ngựa đốm sao, cho nên đây không phải là nguyên nhân làm thay đổi tâm trạng của chàng.
    Tưởng rằng cuộc đi săn thắng lợi làm chàng dịu đi thì lại gây tác động ngược lại. Ít nhất là Felim đã nghĩ như vậy. Cuối cùng hắn quyết định dùng cái quyền là em sữa (con nhũ mẫu) để hỏi chàng Muxtangher xem việc gì đã xảy ra.
    Khi chàng trai lại một lần nữa trở mình, giọng của người hầu vọng tới:
    - Cậu Moric, có chuyện gì vậy? Vì Chúa hãy nói cho cháu biết với.
    - Không có gì, Felim ạ, không có gì đâu. Sao chú lại hỏi ta điều đó?
    - Sao cháu lại không hỏi được cơ chứ? Cậu không một phút nào chợp mắt kể từ lần cuối cùng cậu từ khu cư dân trở về. Một cái gì đó đã cướp mất giấc ngủ của cậu. Không lẽ cậu đang mơ tới một trong những cô gái người Mếchxích - những cô Mulat (cô gái lai) như người ta vẫn thường gọi? Không, cháu không tin vào điều này. Điều này không thích hợp với con cháu của một dòng họ lâu đời như dòng họ Giêran.
    - Ngốc thế, anh bạn! Lúc nào chú cũng tưởng tượng ra một cái gì đó. Tốt hơn hết là cho ta một cái gì đó để nhấm nháp. Đừng quên là từ sáng ta chưa được cái gì vào bụng. Chú có tìm được cho ta cái gì trong kho không?
    - Lương thực chả còn mấy mỗi. Chỉ còn được vẻn vẹn có ba ngày, bởi dù cậu có săn được con muxtang thì chẳng cộng thêm được cái gì vào kho cả. Có ít thịt nai nguội và bánh bột bắp. Nếu cậu muốn cháu sẽ nấu thịt với đậu.
    - Được, ta đợi được!
    - Hay để chờ đợi được thoải mái hơn, đầu tiên cậu hãy nhấp giọng bằng thứ thuốc Bắc này.
    - Ồ, ta cũng không phản đối.
    - Nguyên chất hay pha nước?
    - Một cốc pha nước đường. Chỉ có điều ngươi hãy lấy nước lạnh dưới sông.
    Felim đã cầm lấy chiếc bình bạc chuẩn bị ra đi, bỗng con Tara sủa ầm lên và nhảy ra cửa. Felim với vẻ hơi đề phòng tiến về phía lối ra vào.
    Tiếng sủa của con chó được thay bằng tiếng rít ăng ẳng vui mừng như nó đang đón chào người bạn cũ.
    - Đấy là ông Zep Xtump – Sau khi ngóng ra cửa, Felim thông báo và hắn bình thản bước tới, đầu tiên là đón khách, thứ nữa là hoàn thành lệnh của chủ.
    Con người mới xuất hiện trong ngôi nhà chẳng có nét nào giống các chủ nhân.
    Ông cao không dưới sáu fút (đơn vị đo bằng 30,5cm), mang một đôi giày làm bằng hai lớp da cá sấu, hai ống chân dài ngoãng bó trong chiếc quần may bằngmột thứ vải len thô dệt tay tận một thời nào đó, được nhuộm bằng nước cây sơn thù du mà giờ đây những vết ố bẩn đã làm mất màu. Ông mặc chiếc sơmi bằng da hươu, phủ lên nó một chiếc áo khoác ngắn xanh lá cây đã phai màu được may từ một chiếc chăn lông tuyết đã sờn. Một chiếc mũ phớt xài xạc màu hung bổ sung thêm cho bộ đồ khiêm tốn của mình.
    Trang bị của Zep Xtump vẫn thường thấy ở những người thợ săn trong những khu rừng Bắc Mỹ. Chiếc túi đựng đạn, chiếc sừng lớn, cong như lưỡi liềm đựng thuốc súng từ vai quàng qua phía bên phải thắt lưng, chiếc áo khoác ngắn được nịt chặt bởi một thắt lưng da treo những chiếc bao da, từ đó thò ra những cái cán thô sợ cũa những con dao lớn làm bằng sừng hươu.
    Khác với phần đông thợ săn vùng Tếchdát, ông không bao giờ đi loại giày da mềm, không đi ghệt, không bận những chiếc áo có dính tua viền. Tên bộ quần áo giản đơn không hề có lấy một hình thêu, trên các vũ khí không có hình trang trí. Tất cả đều giản dị, chẳng có gì tô vẽ cho đẹp mắt. Tưởng như Zep lên án tất cả những sự chưng diện.
    Thậm chí khẩu súng săn, thứ vũ khí đáng tin cậy, công cụ chính của nghề ông, cũng trông như một cây sắt dài, được gắn vàomột khúc gỗ không được bào nhẵn, Khi người chủ chống cây súng xuống đất, nòng của nó cao đến tận vai ông.
    Người đi săn với trang phục và vũ khí vừa được chúng ta mô tả khoảng năm mươi tuổi. ông có nước da rám nắng, khuôn mặt thoạt nhìn có vẻ khắc khổ.
    Mặc dầu vậy, khi nhìn kỹ, bạn bắt đầu có cảm giác con người này không thiếu tính khôi hài. Ánh hóm hỉnh trong đôi mắt nhỏ màu xám của ông nói lên rằng người thợ già biết cách thưởng thức những câu đùa và bản thân ông cũng không từ chối việc đùa cợt.
    Felim đã nhớ tên ông: Zepulông Xtump hay “già Zep Xtump” như người ta vẫn thường gọi. Khi người ta hỏi ông sinh ra ở đâu, ông luôn trả lời: “Dân Kentucki, cả sinh, cả trưởng”
    Zep Xtump sinh ra và lớn lên ở bang Kentucki, cả một thời trẻ đã đi qua những khu rừng nguyên sơ thuộc vùng hạ Mixixipi, chỉ làm độc cómột nghề đi săn. Giờ đây ở phía xế của cuộc đời, ông tiếp tục làmcông việc đó trong những cảnh rừng già miền Tây Nam Tếchdát.
    Tara nhảy nhót đón chào người đi săn với tất cả sự vui mừng của loài chó. Rõ ràng Zep Xtump và chủ nhà là những người bạn thân.
    - Khỏe chứ hả? – Zep vừa chào vắn tắt, vừa che kín cả khung cửa nhà bằng cái thân hình vĩ đại của mình.
    - Xin chào, bác Xtump! – Chàng Muxtangher vừa chào, vừa đứng dậy đón khách - Mời bác vào và ngồi xuống đây.
    Người đi săn chẳng đợi mời. Ông bước qua ngưỡng cửa, sau khi vụng về xoay người, ông ngồi xuống chiếc ghế đẩu không lấy gì làm vững chắc mà trước đó Felim đã ngồi. Chỗ ngồi thấp đến nỗi đầu gối Xtump cao gần tới cằm ông, còn cây súng dài giống như một ngọn giáo nhô lên ngất nghểu trên đầu.
    - Quỷ tha ma bắt cái ghế này đi – Ông càu nhàu, rõ ràng là chẳng hài lòng với cái tư thế đó – Và nói chung là cả mọi thứ ghế. Chẳng thà là khúc gỗ còn tốt hơn, ít nhất cũng không cảm thấy mình đang sắp nhào lộn.
    - Bác ngồi lại đây này - Chủ nhà vừa nói vừa chỉ vào chiếc hòm da – Nó đáng tin cậy hơn.
    Già Zep không để nhắc lại, ông đứng lên, vươn thẳng người và ngồi sang chiếc rương nhỏ.
    - Đi bộ như mọi khi hả bác Xtump?
    - Không, với con nghẽo già, tôi buộc nó vào gốc cây rồi. Tôi không đi săn.
    - Có lẽ không bao giờ bác đi săn bằng ngựa, phải thế không ạ?
    - Tôi là gì nào? Đồ ngu chắc? Bọn săn bằng ngựa đúng là một lũ ngu thậm tệ.
    - Nhưng ở khắp Tếchdát này người ta làm như vậy.
    - Tất cả hay không phải là tất cả, thì đây cũng là một thói quen ngu ngốc. Trên hai chân mình, trong một ngày, tôi vẫn săn được nhiều thú hơn cái bọn ngồi trên mình ngựa săn được trongcả một tuần. Tất nhiên đối với anh ngựa là cần vì anh săn một loại thú khác, nhưng khi rình một con gấu hay một con gà tây rừng, thì ngựa sẽ làm cho chúng hoảng sợ chạy hết. Tôi giữ con nghẽo già chỉ để chở những gì tôi săn được.
    - Bác nói con ngựa của bác đấy ư? Felim sẽ buộc nó vào dưới mái che. Bác ngủ lại với chúng tôi chứ ạ?
    - Thật thà mà nói, tôi đến đây với một ý định. Đừng lo cho con ngựa của tôi. Nó đã được buộc kỹ. Tý nữa tôi sẽ thả nó đi ăn.
    - Bác có muốn nhấm nháp tý gì không? Felim sẽ làm bữa tối như mọi khi. Rất tiếc là không có gì ngoài thịt nai, không thể kiếm được món gì hơn.
    - Cái gì có thể ngon hơn thịt nai cơ chứ! Hơn chăng chỉ có thịt gấu… Chỉ có điều thứ thịt này phải được nướng thật kỹ trên than hồng. Đưa tôi xào xào giúp cho nào… Felim, hãy tới chỗ con nghẽo của ta mang con gà tây lại đây.
    - Thật là tuyệt! – Chàng Muxtangher kêu lên - Thức ăn dự trữ của bọn tôi cạn hết rồi. Mấy ngày nay tôi đi lùng một con muxtang loại rất hiếm nên không mang súng săn theo. Thời gian gần đây tôi, Felim và cả Tara nữa sống khốn khổ quá.
    - Con muxtang nào? – Người đi săn hỏi vẻ quan tâm, không hề chú ý chút nào tới những câu cuối của chủ nhân.
    - Con ngựa tơ màu sôcôla đậm có những đốm sao trắng. Con ngựa tuyệt vời.
    - Ồ, quái quỉ thật, chàng trai ạ! Cũng chính điều này đã đưa tôi đến đây đấy!
    - Thật ư?
    - Tôi đã nhìn thấy con muxtang này rồi. Con ngựa tơ mà anh vẫn nói tới phải không? Tôi thì không thấy rõ lắm, vì nó chưa bao giờ cho phép tôi tới gần nó tới nửa dặm. Tôi chỉ nhìn thấy nó vài lần trong đồng cỏ, nó rất đáng cho anh bỏ công, tôi quả quyết đấy. Sau lần cuối cùng gặp anh, tôi đến sông Lêông. Có một người mới đến, một người mà tôi biết từ hồi ở Mixixipi cơ. Đó là một chủ đồng điền giàu có, ông ta sống rất phong lưu. Tôi đã cung cấp cho ông ta không ít hươu nai và gà tây. Ông ta tên là Pôinđekter.
    - Pôinđekter?
    - Đúng. Tất cả những ai từng sống trên bờ sông Mixixipi đều biết đến cái tên này - Suốt từ Orlêăng cho tới Xanh-Lui. Bấy giờ ông ta còn giàu, giờ thì rõ ràng ông ta đã nghèo đi. Ông ta mang theo tới đây khoảng hơn chục nô lệ da đen. Ngoài ra còn có người cháu tên là Kôlhaun, hắn ta có nhiều tiền, và gã trai nàykhông biết làm gì hơn ngoài cách cho chú mình vay lấy lãi, hắn cũng khôn chán. Giờ đây tôi sẽ nói về cái điều đã khiến tôi tới đây tìm anh. Người chủ đồn điền này có một cô con gái, một cô gái rất thích ngựa. Hồi ở Luiziana cô bé đã cưỡi những con ngựa hung dữ nhất mà người ta có được. Cô bé nghe tôi nói chuyện với ông già về con ngựa đốm sao, và thế là cô bé không để cho cha yên khi ông này chưa hứa với cô là sẽ không tiếc tiền mua cho cô con ngựa đó. Ông ta đã hứa bỏ ra hai trăm đôla cho con ngựa. Tất nhiên những chàng săn ngựa ở đây, nếu hay được điều này thì tất cả đều đổ dồn đi săn con ngựa. Thế đấy, tôi chưa nói điều này với ai cả, tôi cưỡi con nghẽo già của mình đi tới đây tìm anh. Hãy kiếm con ngựa đốm sao – Hai trăm đôla sẽ ở trong túi anh! Zep Xtump này xin đảm bảo điều này.
    - Bác đi với tôi không, bác Xtump? – Chàng Iếclăng trẻ tuổi vừa nói vừa đứng dậy đi về phía cửa.
    Người đi săn đi theo sau chàng, hơi ngạc nhiên vì lời mời bất ngờ.
    Moric đưa khách tới chô mái che và hỏi:
    - Giống con muxtang mà bác đã nói tới không, bác Xtump?
    - Ồ, tôi sẽ chết ngay, nếu không phải là nó! Đã bắt được rồi cơ đấy! Anh thật may mắn, chàng trai ạ, hai trăm đôla từ trên trời rơi xuống. Quỷ thật, nó thật đáng giá với số tiền này! Con vật đẹp lạ lùng! Nó sẽ là niềm vui cho tiểu thư Pôinđekter!





  8. #8
    Miss You Baby Kienfa's Avatar
    Tham gia ngày
    Mar 2005
    Bài gởi
    14,376
    Cảm ơn / Thích
    Blog Đã Viết
    94

    Default


    Chương 7

    MỘT ĐÊM NHỘN NHẠO


    Sau khi biết rằng con muxtang đốm sao đã bị bắt, người thợ săn già càng trở nên cao hứng.
    Tâm trạng của ông lại thêm vui vẻ nhờ nội dung của chiếc chai mà bất chấp mối nguy hiểm, Felim đã rót cho mỗi người “một hớp” để tăng thêm sự ngon miệng trước nón thịt gà tậy. sau lần thứ hai cạn chén, họ nhồi tiếp một vài tẩu thuốc.
    Cuộc nói chuyện rôm rả sau bữa ăn – theo phong tục của dân vùng đồng cỏ - chủ yếu là nói đến những con gà và những giai thoại về săn bắn.
    Vì Zep Xtump vốn là một người khá hiểu biết, nên cũng chẳng lấy làm lạ là ông ta nói nhiều hơn tất cả, ông kể những chuyện mà Felim cứ ồ à lên vì ngạc nhiên.
    Dù hào hứng như vậy, cuộc chuyện trò cũng chấm dứt khá lâu trước lúc nửa đêm. Có thể chiếc chai đã bị đốc cạn buộc những người đang trò chuyện phải tính đến việc nghỉ ngơi, nhưng còn một nguyên nhân khác nữa: sáng sớm ngày mai chàng Muxtangher phải chuyẩn bị đi tới đồn biên trên sông Lêông. Tất cả bọn họ cần phải dậy sớm để chuẩn bị cho cuộc hành trình. Còn phải buộc những con ngựa hoang chưa được thuần dưỡng vào với nhau để chúng khỏi chạy toán loạn dọc đường và còn rất nhiều công chuyện phải làm trước khi ra đi.
    Người thợ săn buộc con ngựa của mình bằng chiếc dây dài để nó có thể ăn cỏ, ông trở lại ngôi nhà với chiếc chăn cũ, nó thường biến thành giường ngủ của ông.
    - Bác hãy nằm lên giường ngủ của tôi - Chủ nhà ân cần mời ông – Tôi sẽ nằm lên tấm da ngựa.
    - Không – Khách trả lời – Không có một cái giường nào thích hợp với Zep Xtump này cả. Tôi muốn nằm trên đất cơ. Trên đất ta ngủ ngon hơn ở đâu hết.
    - Nếu bác đã thích như vậy, thì hãy nằm xuống sàn nằm vào chỗ dễ chịu này, tôi sẽ đưa bác tấm da.
    - Đừng phí thời gian vô ích, chàng trai trẻ. Ta không quen ngủ trên sàn nhà. Chiếc giường của ta - đồng cỏ xanh.
    - Không lẽ bác định ngủ ngoài trời sao? - Chủ nhà kêu lên ngạc nhiên khi thấy khách choàng chiếc chăn qua vai bước tới cửa.
    - Thì chính ta định thế mà.
    - Nhưng bác hãy nghe đây ngoài trời rất lạnh, khi trời trở gió bác sẽ rét run lên đấy.
    - Chuyện vặt. Run còn hơn là ngủ dưới mái nhà ngột ngạt.
    - Bác không đùa đấy chứ, bác Xtump?
    - Chàng trai trẻ! – Người đi săn nghiêm trang đáp – Zep Xtump sáu năm qua chưa lần nào ngủ dưới mái nhà. Một khi nào đó ta cũng đã có một cái gì đó giống như một ngôi nhà - một hốc cây vả già. Hồi đó ở Mixixipi, khi mà bà già của ta còn sống, ta kiếm chỗ ở cũng vì bà ta thôi, khi bà ta chết đi, lúc đầu ta tới Luziana, sau đó mới tới đây. Từ hồi nào tới giờ mái nhà độc nhất của ta cả ngày và đêm là bầu trời xanh Tếchdát.
    - Nếu bác định ngủ ở ngoài…
    - Phải, ta định vậy đó – Người đi săn trả lới ngắn gọn và bước qua bậc cửa hướng đến bãi cỏ nằm giữa ngôi nhà và con sông.
    Ông mang theo không chỉ chiếc chăn cũ, trên tay ông còn tòng teng một sợi kabriêtô, một sợi dây dài chừng bảy acđơ bện bằng lông đuôi ngựa. Thường người ta dùng nó để buộc ngựa trên bãi chăn, nhưng giờ đây ông ta định dùng nó vào việc khác.
    Sau khi chăm chú nhìn bãi cỏ sáng trăng, ông cẩn thận đặt sợi dây xuống đất, dùng nó vây lại một khoảng không gian bán kính chừng vài fút. Bước qua sợi dây, ông quấn mình vào tấm chăn, bình thản nằm xuống và chỉ vài phút sau đã thiếp đi.
    Cứ nghe tiếng thở mạnh và đều đặn, thì chắc ông đã ngủ say. Zep Xtump do cơ thể rắn chắc và lương tâm thanh thản nên luôn luôn ngủ ngay được.
    Tuy nhiên sự nghỉ ngơi của ông kéo dài không lâu. Một cặp mắt ngạc nhiên theo dõi mọi cử chỉ của ông: đó là cặp mắt của Felim Onil.
    - Ôi thánh Patric - Hắn thì thầm – Ông già rào mình lại bằng dây để làm gì nhỉ?
    Sự tò mò của anh chàng người Iếclăng phải đấu tranh với phép lịch sự mất một lúc, nhưng sau đó cái tình cảm đầu tiên đã thắng, người thợ săn chỉ vừa mới ngáy, Felim đã tới chỗ ông và lay ông dậy để nhận lời giải thích cho câu hỏi mà hắn quan tâm.
    - Đời nguyền rủa mi, đồ con lùa Iếclăng kia! – Xtump hết sức phật ý kêu lên – Ta cứ ngỡ rằng trời đã sáng rồi chứ… Ta vây sợi dây xung quanh để làm gì ấy à? Không lẽ không làm gì để giữ mình khỏi mọi loài bò sát ư?
    - Khỏi mọi loài bò sát? Khỏi rắn chăng?
    - Tất nhiên, chứ còn gì nữa, khỏi rắn đấy ạ, quỷ bắt mi về mà ngủ đi cho rồi.
    Mặc dầu bị mắng, Felim trở về nhà rất thỏa mãn: “Nếu không tính bọn da đỏ thì rắn độc là thứ tồi tệ nhất ở Tếchdát này - Hắn làu bàu với chính mình – Mình chưa lần nào ngủ cho ra ngủ từ khi đến đây. Luôn luôn nghĩ đến chúng hoặc là thấy chúng trong giấc mơ. Đáng tiếc là thánh Patric quanh vinh không đến Tếchdát (Theo truyền thuyết, thánh Patric tiêu diệt tất cả mọi loài rắn độc trên đất Iếclăng) trước khi đi khỏi thế gian này!”
    Felim, từ khi sống trong ngôi nhà đơn độc, rất ít gặp gỡ với mọi người nên hắn còn chưa biết đến tính chất thần bí của sợi dây kabrietô.
    Hắn sử dụng không chậm trễ cái kiến thức vừa thu nhận được. Nhẹ nhàng lẻn vào nhà để khỏi đánh thức cậu chủ đã ngủ. Felim lấy sợi dây trên tường xuống. Sau đó hắn đi khỏi nhà, vừa từ từ tháo cuộn dây hắn vừa rải thành một vòng xung quanh các bức tường.
    Hoàn thành xong thủ tục, gã Iếclăng vừa bước tới bậc cửa vừa nói thầm:
    - Cuối cùng thì Felim Onil này cũng được ngủ ngon dù ở Tếchdát có bao nhiêu rắn đi nữa.
    Sau lời độc thoại đó, căn nhà trở nên im ắng hoàn toàn. Người đồng hương của thánh Patric không còn sợ gì sự đột nhập của loài bò sát nữa, hắn lập tức ngủ ngay, sau khi vươn người trên tấm da ngựa.
    Một lúc sau dường như tất cả đã thoả mãn trong sự nghỉ ngơi hoàn toàn, kể cả Tara và con ngựa vừa bị bắt. Chỉ có con ngựa già của Xtump là còn thức trong sự yên tĩnh, nó đang nhai cỏ tươi mọng nước trên bãi.
    Nhưng người thợ săn già không ngủ lại được. Ông trằn trọc xoay hết bên nọ sang bên kia dường như giấc ngủ biến đi đâu mất.
    Xoay đi xoay lại đến mười lần, Zep ngồi dậy, bất mãn nhìn xung quanh:
    - Quỉ tham ma bắt cái thằng Iếclăng ngu xuẩn! – Ông rít qua kẽ răng – Nó xua giấc ngủ của ta đi, quân đáng nguyền rủa, phải lôi hắn ra, nhận cổ xuống sông để dạy cho nó một bài học. tay ta ngứa ngáy lắm rồi đây. Ta không làm điều này chỉ vì ta kính trọng chủ của hắn. Khéo ta thức tới sáng mất thôi.
    Nói xong những lời này, người thợ săn ngáp và quấn chăn nằm xuống.
    Dù vậy ông vẫn không chợp mắt được, ông cựa quậy, xoay hết bên nọ sang bên kia, cuối cùng ông lại ngồi dậy lẩm bẩm.
    Lần này nguy cơ dìm nước Felim càng thêm rõ rệt và kiên quyết.
    Đương khi còn phân vân đột nhiên có cái gì đó cắt đứt dòng suy nghĩ của ông. Khoảng hai mươi fut cách chỗ ông ngồi có một vật dài mảnh đang trườn trên cỏ, những cái vảy lấp lánh phản chiếu ánh trăng, không khó khăn gì có thể xác định được ngay đó là một loài bò sát.
    - Rắn! – Zep thầm thì khi cặp mắt ông dừng lại trên con vật - Kỳ lạ, loài nào đang trườn tới đây ban đêm vậy… Quá lớn so với loài rắn đuôi kêu, thật ra ở vùng này cũng có thể gặp rắn đuôi kêu lớn gần bằng như vậy. Nhưng con này vẩy sáng quá và thân nó dẹt hơn. Không phải nó rồi… A, a, nhận ra rồi! Đây là một chú “rắn gà” đang đi mò trứng. Chà! Mi thật láu cá! lại còn bò thẳng về phía ta…
    Ông không chút sợ hãi: Zep Xtump biết rằng loài rắn không bao giờ bò qua sợ dây đuôi ngựa, chỉ cần chạm vào thôi là nó quay lui ra ngay như người gặp phải lửa vậy. Dưới sự bảo vệ của chiếc vòng màu nhiệm này người thợ săn có thể yên tâm quan sát người khách không mời, dù nó là con rắn độc nhất cũng vậy thôi.
    Nhưng đây không phải là một con rắn độc, mà chỉ là một loài rắn nước. Và thậm chí là một loài vô thưởng vô phạt nhất mà người ta thường gọi đơn giản là “rắn gà”, và trong danh mục các loài rắn vùng Bắc Mỹ chúng được coi là loài bự nhất.
    Trên khuôn mặt Zep phản chiếu sự tò mò, nhưng không quá ngạc nhiên. Người thợ săn không ngạc nhiên, không sợ hãi thậm chí khi con rắn tiến sát tới sợi dây và cả khi nó ngóc đầu lên chạm vào sợi dây.
    Sau đó, như không có gì xảy ra, con rắn quay ngay đầu và trườn ngược lại.
    Phải đến hai giây người thợ săn ngồi bất động dõi theo con rắn đang trườn đi. Hình như ông ngập ngừng, giết hay để yên. Nếu như đó là con rắn đuôi kêu, rắn hổ, hay loài Mocaxi thì ông đã dùng đế ủng giẫm nát đầunó. Nhưng loại rắn gà vô hại này thì có điều gì để đáng trả thù đâu. Đây là nhữnglời mà ta nghe được khi con rắn đang trườn đi:
    - Loài vật đáng thương! hãy bò về nhà đi. Thực ra thì nó cũng mút trứng làm thiệt hại tới giống gà, nhưng đấy là thức ăn duy nhất của nó và nó chẳng hề làm ta bực mình. Nhưng cái thằng ngu này làm ta cáu giận quá thể. Ta chỉ muốn thanh toán với hắn, mà lại sợ làm chủ hắn bực mình!... Có rồi! ta đã nghĩ ra!
    Nói xong những lời này, người thợ săn đứng bật lên, khuôn mặt trở nên láu lỉnh và vui vẻ, ông chạy theo con rắn đang trườn.
    Chỉ cần vài bước là đủ để đuổi kịp con rắn. Zep xòe cả mười ngón tay vồ lấy nó. Một giây sau cái thân hình dài lấp lánh đã quằn quại trong tay ông.
    - Nào, ông Felim – Zep kêu lên – Giờ thì ông hãy coi chừng! Nếu như tôi không làm cho cái tâm hồn hèn hát của ông thất kinh khiến ông không thể nhắm mắt được cho đến sáng mai, thì ta chỉ là một thằng thộn không phân biệt được con diều và gà con. Hãy chờ đấy!
    Người thợ săn nhẹ nhàng lẻn vào dưới bóng ngôi nhà, ông thả con rắn vào trong vòng dây mà Felim đã rào ngôi nhà lại.
    Khi trở về giường nằmcủa mình trên cỏ rồi, người thợ săn lần nữa kéo chăn và lẩm bẩm:
    - “Rắn gà” không bò qua chiếc dây, đó là điều chắc chắn. Rõ ràng nó sẽ bò đi khắp nơi tìm lối ra. Và nếu mà qua nữa giờ mà nó không bò tới chỗ thằng thộn Iếclăng kia, thì Zep Xtump chỉ là thằng ngu … Xem kìa! Cái gì đấy nhỉ? Quỉ bắt, không lẽ đã rồi?
    Nếu người thợ săn nói thêm gì nữa thì cũng chẳng nghe thấy được bởi tiếng rú điên cuồng đã nổi lên, thứ tiếng kêu có thể đánh thức tất cả các sinh vật trên sông Alamô trong một khoảng vài dặm.
    Đó là tiếng rú thảm thiết - Tiếng rú như vậy chỉ có thể thoát ra từ cổ họng của Felim Onil.
    Sau đó tiếng kêu của Felim Onil chìm vào dàn đồng ca của tiếng chó sủa, tiếng ngựa hý, nó kéo dài không dứt đến vài phút.
    - Chuyện gì xảy ra thế? – Chàng Muxtangher nhảy vọt ra khỏi giường, vừa hỏi vừa sờ soạng tới chỗ tên hầu đang hoảng sợ - Chuyện gì xảy ra với chú vậy? Chú nhìn thấy ma à?
    - Ôi, câu Moric ơi, nguy rồi! Rắn tấn công, nó cắn cháu! Thánh Patric ởi, khổ thân tôi, tôi chết vì chuyện không đâu! Cháu chắc là sắp chết rồi cậu ạ…
    - Rắn cắn à? Chỉ cho ta xem nào? – Moric hỏi, chàng vội vàng thắp nến.
    Cùng với người thợ săn đã kịp thời xuất hiện trong nhà, chàng bắt đầu xem xét Felim.
    - Thậm chí không có cả một vết xước – Xtump thốt lên cộc lốc.
    - Không cắn ạ? Nhưng nó trườn qua người cháu, nó lạnh ngắt.
    - Không lẽ có rắn ở đây? – Moric hỏi với vẻ nghi ngờ - Có thể chú nằm mơ chăng?
    - Nằm mơ sao được, cậu Moric! Đúng là con rắn thật. Nó trườn lên cháu ở chỗ này này!
    - Có thể có rắn thật – Người thợ săn chen vào – Ta xem xem, may ra thì tìm thấy. Sao lạ quá, xung quanh nhà các vị là chiếc dây bằng lông đuôi ngựa. Làm sao mà con rắn lại leo qua được chứ?... Kia, nó kia kìa.
    Vừa nói, người đi săn vừa chỉ vào góc nhà, nơi con rắn đang cuộn tròn.
    - Nhưng đây chỉ là một con rắn gà thôi! – Xtump nói tiếp – Nó chẳng nguy hiểm gì hơn con bồ câu. Nó không thể cắn được. Nhưng dù sao ta cũng tính chuyện với nó.
    Người thợ săn chụp lấy con rắn, nhấc lên và quật mạnh xuống đất vớ một sức mạnh làm con rắn không còn cá khả năng động đậy nữa.
    - Thế là xong, ông Felim ạ - Zep vừa nói vừa dùng mũi giày nặng ấn lên đầu con rắn – hãy nằm xuống và ngủ đi cho yên. Rắn không động tới ông nữa đâu.
    Dùng chân hất con rắn đã chết, cười vui vẻ, Zep Xtump đi ra khỏi nhà, lần nữa vươn dài thân hình khổng lồ của mình và cuối cùng đã ngủ thiếp đi được.





Trang 1/10 1234567 ... cuốicuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

Hiện đang có 1 tv xem bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Từ "khóa" cho đề tài này

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • Bạn không được quyền đăng bài
  • Bạn không được quyền trả lời bài viết
  • Bạn không được quyền kèm dữ liệu trong bài viết
  • Bạn không được quyền sửa bài
  •