-
Shmily
Ông bà tôi đã cưới nhau được hơn nửa thế kỷ và họ cứ luôn hay chơi một
trò đặc biệt của họ hằng ngày. Mục tiêu của trò chơi là một người phải viết
từ "shmily" ở một bất ngờ quanh nhà ,còn người kia sẽ đi tìm.
Ông bà bôi từ đó lên gờ cửa sổ. Nó được viết lên hơi nước còn đọng lại
trên gương sau vòi nước nóng. Thậm chí, có lần bà còn lật từng tờ của tập
giấy nháp trên bàn để tìm thấy "shmily" trên tờ cuối cùng. Những mảnh giấy
nhỏ với chữ "shmily" được viết nguệch ngoạc được tìm thấy khắp nơi, có
khi được nhét vào trong giày hoặc dưới gối. Từ "shmily" bí ẩn này gần như
trở thành một phần trong ngôi nhà của ông bà tôi, cũng giống như đồ đạc
vậy.
Thái độ hoài nghi và sự thực dụng ngăn cản tôi tin vào tình yêu nồng nàn và
lâu dài. Cho đến khi tôi khám phá được "trò chơi" của ông bà tôi.
"Trò chơi" đi tìm từ "shmily" cứ tiếp diễn, cho đến khi bà bị bệnh ung thư.
Bà yếu dần và không dậy được khỏi giường nữa. Và một ngày kia, tất cả
chúng tôi đều phải đối diện với một thực tế đau lòng: Bà mất. "Shmily" được
viết nguệch ngoạc bằng màu vàng trên một dải lụa hồng đặt cạnh giường bà
vào hôm bà mất. Khi tất cả họ hàng và những người quen biết đã đi về, ông
tôi lại gần giường bà nằm và bắt đầu hát cho bà nghe. Giọng ông khàn và
nghẹn.
Tôi không bao giờ quên được khoảnh khắc ấy. Vì tôi biết tôi đã được chứng
kiến một tình yêu không bao giờ chết.
Tôi hỏi ông tôi, sau bao nhiêu năm, rằng "shmily" có nghĩa là gì. Và lần đầu
tiên sau bao nhiêu năm, tôi được biết "shmily" đơn giản là "See how much I
love you"
-
Cậu bé chờ thư
Hồi đó tôi làm giáo sư một trường trung học con trai. Một học sinh tên là
Bob, trái hẳn với các bạn, không bao giờ nhận được một bức thư nào cả.
Vậy mà buổi chiều nào em cũng mau chân nhất, chạy lại chỗ đặt các hộc
riêng chăm chú ngó vào hộc của em cho tới khi thư phát hết rồi mới quay ra.
Không phải là gia đình em quên em đâu. Tiền ăn ở trong trường, tiền tiêu vặt
của em vẫn gởi tới đều đều đúng hạn. Tháng sáu, ông Hiệu trưởng nhận
được thư xin cho em đi nghỉ ở một trại hè. Thì ra viên thư ký của thân phụ
em lãnh nhiệm vụ lo cho em tất cả những chi tiết dó.
Nhưng song thân em không ai viết cho em một bức thư nào cả. Khi em kể lể
với tôi rằng ba má em đã ly thân nhau, tôi mới hiểu tất cả nguyên do. Và tội
nghiệp em, em vẫn tiếp tục trông thư một cách tuyệt vọng. Tôi thường đem
tình cảm sầu thảm của em ra nói với một ông bạn đồng nghiệp, ông Joe
Hargrove. ông ấy bảo:
- Nếu em đó ít lâu nữa mà không nhận được bức thư nào cả thì đáng ngại
cho em lắm, có thể tai hại.
Thế rồi một bạn học thân nhất của em, tên là Laurent nảy ra một sáng kiến.
Laurent ở trong một gia đình hòa thuận, có hạnh phúc, tuần nào cũng nhận
được nhiều bức thư của cha mẹ, cả của anh chị em nữa. Một hôm Bob rầu
rĩ ngó xấp thư Laurent cấm trong tay. Laurent thấy vậy, bảo ngay:
- Bob, vô trong phòng tôi di, tôi đọc thư của má cho Bob nghe.
Một lát sau tôi thấy hai em ngồi sát nhau cùng bàn tán về bức thư đó. Chiều
hôm sau tôi nhận thấy khi phát thư, Bob chẳng những ngó hộc của em mà
còn ngó hộc của Laurent nữa. Bob hỏi bạn:
- Lại có thư của má anh nữa hả?
- Không, hôm nay là thư của chị tôi.
Rồi Bob hỏi một bạn khác:
- Anh có thư của má anh không?
- Có !
- Anh cho tôi đọc chung với nhé?
- Ừ! Để tôi đọc lớn tiếng lên nhé!
Từ hôm đó, Bob tha hồ đọc thư của bạn. Khắp tứ phía nhao nhao lên:
- Ê, Bob, hôm nay muốn đọc thư của má không?
Tụi con trai đôi khi có vẻ tàn nhẫn, không giữ ý gì cả, nhưng tuyệt nhiên tôi
không thấy một em nào thốt một lời mỉa mai bóng gió hay chế giễu gì em
Bob cả. Một hôm tôi kinh ngạc nghe em Bob tự do hỏi ngay Laurent:
- Hôm nay chúng mình có thư không?
Như vậy có dễ thương không chứ! Nên thưởng cho các em nhiều kẹo, nhiều
bi mới phải ! Laurent mỉm cười đáp liền, không hề do dự:
- Có, hôm nay chúng mình có một bức.
Chuyện đó làm cho ông Joe Hargrove quyết tâm hành động. Tôi thì tôi cho
má em Bob là hạng người ra sao rồi. Nhưng ông Joe đã gặp bà ta nhiều lần,
định làm liều xem sao. Một hôm ông ta lại kiếm tôi, tay cầm sáu bức thư
đánh máy và sáu bao thư đề địa chỉ của Bob, dán cò sẵn sàng. ông ta bảo:
- Coi này, tôi gởi cho bà Lennoux đây. Bà ta chỉ cần ký tên: "Má của con"
rồi mỗi tuần bỏ một bức vào thùng thư.
Tôi đọc những bức thư đó. Viết được lắm, ít bữa sau, Bob cũng lại ngong
ngóng đợi ở chỗ đặt các hộc riêng, nhưng chú hết ý vào cái hộc của
Laurent. Bỗng học sinh lãnh việc phát thư, la lên:
- Ê, Bob, mày có thư này ! Có thư này!
Bob nhẹ nhàng đưa hai tay lên, cử chỉ y hệt một thiên thần đương cầu
nguyện, để đỡ lấy bức thư. Em nói ,như thể vẫn chưa tin:
- Ờ có tên tôi ngoài bao thư nè!
Rồi em la lên:
- A ! Tôi cũng có thư! Tôi cũng có thư! Anh em ơi, có ai muốn đọc thư của
tôi không?
Những đứa khác cũng vui mừng, đồng thanh la lớn:
- Có ! Có ! Bob, đọc thư của bồ lên, đọc lên?
Cuộc phát thư tức thì tạm ngưng lại. Chúng đun Bob lên cho đứng trên một
cái bàn rồi cả bọn vây chung quanh. Bob ngập ngừng đọc:
- Con cưng của má !
Rồi ngẩng lên nói:
- Tôi không đọc nhanh được !
Laurent bảo:
- Không sao, Bob! Cứ đọc chầm chậm, càng tốt. Đọc chậm mới hiểu rõ từng
chữ chớ.
Và Bob chậm chạp đọc bức thư đó, lời lẽ âu yếm như bức thư của bất kỳ
bà mẹ nào gởi cho con.
Tháng sáu, buổi phát phần thưởng, tôi thấy má em Bob lại dự. Tôi không
ngạc nhiên về điều đó vì, sau khi gởi hết mấy bức thư ông Joe viết sẵn cho
rồi, bà ta đích thân viết cho con , quả là một phép màu ! Bob đã cho tôi coi
bức thư bà báo trước sẽ tới dự buổi lễ. Phát phần thưởng xong, bà ta kéo
tôi ra một chỗ, hỏi tôi:
- Bà thấy thư tôi viết cho cháu được không?
- Được lắm!
Bà ta nói tiếp giọng hơi ngập ngừng:
- Tôi nhờ bà nói về tôi cho cháu Bob nghe...
- Vợ chồng tôi đã hòa thuận với nhau hơn trước, và chúng tôi tính với nhau
nghỉ hè này cho cháu về nhà, và... chúng tôi sẽ tìm cách hiểu cháu hơn.
- Xin bà yên tâm, tôi sẽ hết sức giúp bà.
Tôi có cần gì nói thêm rằng không có công việc nào làm cho tôi vui bằng
công việc đó không?
Louise Baker
-
Bác sĩ ơi, hãy mỉm cười
Bố tôi là một bác sĩ phẫu thuật giỏi, ông đã từng phẫu thuật cho rất nhiều
người, có những người rất bình thường, có những người nổi tiếng, có
những người giàu có và cả những người nghèo. Có người nhiều năm sau
vẫn đến cảm ơn cha tôi vào những ngày lễ tết, có những người không bao
giờ gặp lại . Trong số những người không bao giờ quay lại có một cậu bé
mà cha tôi luôn nhắc đến mỗi khi nhớ lại những kỷ niệm về nghề nghiệp của
mình với tất cả tình âu yếm.
Cậu bé ấy bị mù, một buổi sáng cậu được đưa đến phòng khám của bố, ở
bàn chân có một vết thương lâu ngày và trở nên nguy hiểm đến không chỉ
đôi chân mà cả tính mạng của cậu. Mọi người xung quanh cậu đã không
quan tâm săn sóc cậu đúng mức, còn cậu bé thì rụt rè, có lẽ cậu đã không
muốn làm những người xung quanh phải bận tâm về mình nên đã cố chịu
đựng vết thương cho đến khi nó trở nên đau đớn không chịu được.
Trong một năm liền cứ ba lần một tuần cậu đến chỗ bố tôi và bố cắt bỏ hết
những chỗ thịt bị hư hại, rồi bôi thuốc, băng bó mà không lấy tiền. Bố nói
rằng ước muốn của bố là có thể cứu được đôi chân của cậu bé mù đó bởi
bố đoán rằng trong cuộc sống cậu đã gặp khá nhiều thiệt thòi và bất hạnh, bố
không muốn phải cưa chân cậu. Nhưng rồi bố thất bại, vết hoại thư đã lan
rộng đến mức không cắt bỏ nhanh chóng cậu bé sẽ chết. Bố rất buồn vì điều
đó, thậm chí cảm thấy thất vọng về bản thân mình.
Rồi ngày phẫu thuật cũng đến. Bố đứng bên cạnh cô y tá gây mê khi cô ta
làm công việc của mình, lặng nhìn cơ thể bé nhỏ ấy đang chìm dần vào giấc
ngủ. Sau đó ông chầm chậm giở miếng vải phủ chân cậu bé lên, và ở đó,
trên ống chân gầy gò của cậu, bố nhìn thấy một hình vẽ mà cậu đã mò mẫm
vẽ trong bóng tối của mình để tặng bố, đó là một gương mặt hay đúng hơn là
một hình tròn có hai mắt, hai tai, một cái mũi, một cái miệng đang mỉm
cười, ở bên cạnh là một dòng chữ nguệch ngoạc:
"Bác sĩ ơi, hãy mỉm cười".
-
Búp bê khoai tây
Năm đó, chúng tôi sống trong một ngôi nhà cũ kỹ và sơ sài. Tôi có hai anh
trai, hai em gái và một em trai. Trước Tết, cả ba chị em gái chúng tôi đã
quấy mẹ hàng tuần, xin được mua quà là búp bê. Sáng mùng một Tết, ba
chị em gái chạy vào phòng mẹ rất sớm:
- Chúc mừng năm mới! - Mẹ nói nhẹ nhàng để tránh đứa em bé đang ngủ
phải tỉnh dậy.
- Chúc mừng năm mới! - Chúng tôi trèo lên giường mẹ.
Mẹ bảo:
- Mẹ biết các con thích búp bê, và mẹ không có loại búp bê các con thích,
nhưng mẹ làm cho các con mấy con búp bê đây.
Chúng tôi nín thở ngồi nhìn mẹ xuống giường, đi ra phía tủ và lấy một cái
hộp. Mẹ lôi mấy thứ gì đó từ trong hộp ra. Lúc đầu, tôi không thể nhận ra nó
là cái gì, trừ việc nó mặc một cái váy kẻ đỏ và trắng, lại đội mũ nữa. Mặt nó
màu nâu, mắt là hai cái khuy và cái miệng cười được vẽ bằng mực viết.
Hai đứa em tôi im lặng khi tôi kéo váy của con búp bê lên và phát hiện ra nó
toàn là khoai tây. Tất nhiên, nó khá xấu, nhưng tôi biết mẹ đã phải cố gắng
đến đâu để làm nó. Tôi không thật sự yêu búp bê đó lắm, nhưng tôi thấy rất
yêu mẹ.
Hai đứa em tôi vẫn còn nhỏ, chỉ 3 và 5 tuổi, thì cứ ngạc nhiên. Một đứa
chạm tay vào mắt con búp bê, thế là cái mắt đã rơi ra. Chúng thi nhau hỏi:
- Nó là cái gì thế mẹ?
- Làm sao mẹ đính khuy thành mắt nó được?
- ……
- Mẹ xin lỗi - Mẹ bắt đầu khóc và cố đính cái khuy lại chỗ cũ.
- Ơ mẹ không thích nó à?- Em gái bé của tôi hỏi.
Mẹ lau nước mắt và nói:
- Giá như chúng là búp bê thật…
Chúng tôi ôm mấy con búp bê ấy về phòng và đặt chúng lên giường. Nhưng
không may, chưa kịp hết Tết thì bọn búp bê khoai tây ấy đã có vấn đề.
- Mẹ ơi! Có cái gì đó mọc lên ở mặt con búp bê của con..
- Mẹ ơi! Con búp bê của con kinh khủng lắm…
Các em tôi thi nhau kêu vào cùng một buổi sáng.
Mẹ bảo búp bê chết rồi và chúng tôi cần phải chôn búp bê ở ngoài vườn.
Chúng tôi chôn những con búp bê xấu xí ấy, mặc dù tay chúng tôi cứng đờ
vì lạnh khi chúng tôi đào đất bằng cái thìa. Tôi đào bới qua loa và vùi mấy củ
khoai tây xuống, trong khi hai đứa em tôi thì lại:
- Tại sao chị không hát và cầu nguyện?
- Không chúng chỉ là mấy củ khoai tây thôi - tôi đáp giận dữ và co ro trong
cái áo lạnh mỏng dính - Mà chị thì lạnh cóng cả rồi.
- Bọn em sẽ mách mẹ - Chúng gào lên.
Tôi không biết chúng có mách mẹ không, nhưng nếu chúng có mách thì tôi
cũng không thấy mẹ nói điều đó với tôi bao giờ.
Vài tháng sau, mẹ tôi mất vì bệnh. Tôi và các em bị gửi đến trại trẻ mồ côi.
Tại đó, hai năm sau, tôi nhận được món quà Tết là một con búp bê tóc vàng,
môi hồng với bộ váy đẹp nhất mà tôi từng thấy một con búp bê mặc. Tôi cố
hết sức để yêu nó nhưng tôi không thể. Tôi biết đó là loại búp bê mẹ sẽ mua
cho chúng tôi nếu ngày đó mẹ có tiền. Nhưng tôi cảm ơn Chúa vì ngày đó
mẹ đã không có. Bởi vì, nếu mẹ không làm những con búp bê khoai tây, có
lẽ chúng tôi sẽ không bao giờ biết mẹ yêu chúng tôi đến mức nào…
-
MẨU BÁNH MỲ
Một lần trong chiến tranh thế giới thứ hai có hai người tù Do thái trốn
khỏi trại tập trung , họ chạy thục mạng và quyết định chia làm hai ngả ..
Người tù già hơn nắm chặt tay người tù trẻ , ông đắn đo một lúc rồi
nói "Này cháu , ta chỉ có một mẩu bánh mỳ , cháu hãy cầm lấy , ta già
rồi , chịu đói được lâu hơn cháu ...Nhưng cháu hãy hứa với ta rằng : chỉ
khi nào cháu không còn cách nào , không còn một cách nào khác để có cái ăn
thì cháu mới giở miếng bánh này ra .. Trong rừng có nhiều thứ ăn được ,
nếu đến chỗ có dân cháu có thể làm thuê kiếm miếng ăn ..Đường từ đây về
nhà còn xa lắm , và nếu trong túi vẫn còn một miếng bánh thì cháu vẫn còn
có thể chịu đựng được mọi gian truân..."
Người tù trẻ cảm động , hứa với ông già , nắm chặt lấy mẩu bánh mỳ rồi lao
đầu chạy ...
Ròng rã bao nhiêu ngày đêm anh nhằm hướng quê nhà mà chạy , khi thì phải
lẩn lút trong rừng , khi thì băng cánh đồng . Anh hái quả rừng , lội suối
tìm cá , khi gặp những người chăn cừu anh bẻ củi đến cho họ để nhận một
bát sữa , hay một miếng thịt cừu thơm lừng ..
Đã có lúc anh tưởng chừng không còn cách nào khác để có một miếng ăn ,
Tránh né bọn Đức , anh lẩn lút vòng qua đầm lầy trong cái nóng hầm hập ,
xung quanh chỉ một màu xám xịt của lau sậy ...không biết bao nhiêu lần anh
rút mẩu bánh mỳ đã khô cứng như đá ..ra khỏi túi , anh ngắm cái gói nhỏ
gói bằng một miếng vải thô , quấn thật chặt và buộc bằng một sợi dây gai
thắt nút , cái gói chỉ bằng nửa miếng xà phòng , chắc mẩu bánh mỳ còn bé
hơn , song anh vẫn nuốt nước miếng , nghĩ đến vị bột ngọt ngào trên đầu
lưởi , chắc LÀ có chút ẩm mốc ... anh nhìn trừng trừng cái gói nhỏ rồi lại
đút vào túi , bởi anh kinh hoàng nghĩ đến ngày mai , túi rỗng không mà
đường thì còn xa lăng lắc
Cứ thế anh đi ròng rã và cuối cùng cũng đến cái ngày anh ngã nhào vào tay
người thân ...Sau những phút vui sướng khóc cười Anh vùng dậy , rút ra cái
gói nhỏ đã bẩn thỉu hôi hám song vẫn được quấn rất chặt , anh nói " mẹ
ơi , nhờ mẩu bánh này đây mà con thoát chết trở về .." anh cảm động gỡ nút
dây , mở lần vải bọc và sững sờ : đó chỉ là một miếng gỗ được gọt đẽo
vuông vức như một mẩu bánh mỳ !
-
Một đôi bạn thân cùng nhau đi du lịch. Trong một lần tranh luận, họ cãi nhau,
một người đã tát người kia. Người bị tát cảm thấy bị xúc phạm, không nói
gì mà chỉ viết lên cát: "Hôm nay người bạn thân của tôi đã tát tôi".
Họ tiếp tục chuyến du lịch đến một vùng hoang vu, người bị tát suýt bị cát
vùi, may mắn dược bạn cứu. Tỉnh lại, người đó lại khắc lên đá: "Hôm nay
người bạn tốt của tôi đã cứu tôi". Đứng bên cạnh, người bạn hiếu kỳ
hỏi: "Tại sao lúc mình tát cậu, cậu lại viết lên cát, bây giờ lại khắc lên đá?"
Người này trả lời: "Khi bị bạn làm tổn thương nên viết vào nơi dễ quên, gió
sẽ thổi lấp đi. Ngược lại, nếu được giúp đỡ hãy nên khắc sâu trong đáy
lòng. Ơ' nơi đó, bất cứ ngọn gió nào cũng không thể xoá lấp được."
Bạn bè nếu xảy ra va chạm là nhất thời vô tâm, giúp đỡ mới là thật lòng.
Hãy quên đi những gì bạn bè đã gây ra, ghi nhớ sự giúp đỡ của họ, chúng ta
sẽ thấy trên thế gíơ này toàn là bạn tốt
-
Đứa con của Chúa
Một giáo sư dạy trường dòng cùng vợ đi nghỉ tại Gatlinburg, Tennessee. Buổi sáng nọ, họ tới ăn tại một nhà hàng nhỏ, hy vọng sẽ có một bữa điểm tâm yên tĩnh.
Trong lúc đang chờ phục vụ đồ ăn, họ thấy một người đàn ông tóc bạch kim, dáng vẻ đàng hoàng, đĩnh đạc đi từ bàn nọ sang bàn kia thăm hỏi các khách. Vị giáo sư ngả người về phía vợ: “Tôi hy vọng ông ấy không tới chỗ chúng mình”. Vừa hay lúc đó, người đàn ông bước tới.
“Ông bà là người ở đâu vậy?”, ông thân mật hỏi.
“Chúng tôi là người Oklahoma”, hai người đáp.
“Thật tuyệt vì ông bà đã tới Tennessee này”, người lạ mặt nói. “Ông làm nghề gì?”
“Tôi dạy ở trường dòng”, giáo sư đáp.
“Ồ, tức là ông là người giảng dạy cho các cha đạo về cách thuyết pháp phải không? Nếu vậy thì tôi có một câu chuyện rất hay muốn kể cho ông nghe đây”. Thế là người đàn ông liền kéo ghế và ngồi xuống cạnh bàn của hai vợ chồng giáo sư.
Vị giáo sư rên rỉ trong lòng nhưng vẫn nhã nhặn: “Tuyệt. Đây chính là cái ta cần đây. Một câu chuyện nữa về cha đạo”.
Người lạ bắt đầu: Ông có thấy ngọn núi ở đằng kia không? (ông chỉ tay ra phía cửa sổ nhà hàng). Không xa dưới chân ngọn núi đó có cậu bé là con một bà mẹ không chồng. Cậu bé đã có một tuổi thơ khốn khổ vì đi tới đâu người ta cũng luôn hỏi cậu “Này thằng nhóc, cha mày là ai?”. Dù ở trường, tới cửa hàng rau hay ra hiệu thuốc, người ta cũng luôn hỏi cậu như thế.
Trong giờ giải lao hay ăn trưa ở trường, cậu luôn lẩn tránh bạn bè, cậu cũng tránh luôn cả việc tới các cửa hàng vì câu hỏi đó khiến cậu vô cùng đau đớn. Năm cậu 12 tuổi, có một cha đạo mới chuyển về nhà thờ nơi cậu ở. Trước nay cậu bé vẫn luôn tới nhà thờ muộn và về sớm để tránh không bị hỏi câu hỏi đau đớn ấy.
Nhưng rồi một hôm, vị cha đạo đọc bài kinh tạ ơn kết thúc buổi lễ quá nhanh, cậu bé không kịp ra về trước và buộc phải cùng bước ra với đám đông.
Đúng lúc cậu bước tới cửa sau, vị cha đạo mới vốn không biết gì về hoàn cảnh của cậu đặt tay lên vai hỏi cậu, “Con trai, cha con là ai?”.
Cả nhà thờ chết lặng. Cậu bé cảm thấy như mọi con mắt trong nhà thờ đều đổ dồn vào cậu. Cuối cùng, cho tới lúc này mọi người đều sẽ biết lời đáp cho câu hỏi đó.
Ngay lập tức vị cha đạo mới hiểu ngay ra cảnh ngộ của cậu và bằng nhận thức hết sức sáng rõ, ông nói tiếp, “Chờ đã! Ta biết con là ai rồi! Giờ thì ta đã thấy con giống ai rồi. Con là một người con của Chúa”.
Nói rồi, ông vỗ nhẹ lên vai cậu bé và nói: “Con trai, con đã được thừa hưởng rất nhiều từ Chúa. Hãy đi đi và tự hào về điều đó”.
Đã lâu lắm rồi lần đầu tiên cậu bé mỉm cười và khi bước qua cửa nhà thờ, cậu đã trở thành một con người khác. Cậu không còn lẩn tránh mọi người như trước nữa. Mỗi khi ai đó hỏi cậu, “Cha mày là ai?”, cậu liền bảo họ, “Tôi là con của Chúa”.
Quý ông nhã nhặn đứng dậy và hỏi: “Chuyện đó hay phải không?”. Vị giáo sư đáp đó thật là một câu chuyện thú vị.
Khi chuẩn bị rời đi, người đàn ông nói, “Ông biết không, nếu ông cha đạo mới đó không bảo tôi rằng tôi là một người con của Chúa thì có lẽ tôi đã chẳng bao giờ đạt được điều gì”. Và ông đi khỏi.
Vị giáo sư trường dòng và vợ hết sức ngỡ ngàng. Ông bèn gọi cô phục vụ lại và hỏi: “Cô có biết người đàn ông đó là ai không? Cái ông mà vừa từ bàn của chúng tôi đi ra ấy”.
Cô phục vụ mỉm cười nói: “Tất nhiên là tôi biết chứ! Ở đây ai chẳng biết ông ấy. Đó là ông Ben Hooper, cựu thống đốc bang Tennessee!”.
-
Chiếc hộp tình yêu
Có một người cha đã quở phạt đứa con
gái 3 tuổi của mình vì tội lãng phí
cả một cuộn giấy gói quà màu vàng.
Tiền bạc eo hẹp, người cha nổi giận
khi đứa bé cắt cuộn giấy quý ra thành
từng mảnh nhỏ trang trí một cái hộp
giấy. Sáng sớm hôm sau, đứa con gái
nhỏ vẫn mang hộp quà đến nói với cha:
“Con tặng bố!”. Người cha cảm thấy
bối rối vì cơn giận dữ của mình tối
hôm trước nhưng rồi cơn giận dữ lại
bùng lên khi ông mở ra, thấy cái hộp
trống rỗng.
Ông mắng con gái: “Bộ con không biết
là khi tặng quà cho người nào thì
trong hộp phải có một cái gì chứ?”.
Đứa con gái nhỏ ngước nhìn cha, nước
mắt rưng rưng, thưa: “Bố ơi, đó đâu
phải là cái hộp rỗng, con đã thổi đầy
những nụ hôn vào hộp để tặng bố mà!”.
Người cha giật mình. Ông vòng tay ôm
lấy đứa con gái nhỏ cầu xin con tha thứ.
Đứa con gái nhỏ, sau đấy không bao
lâu, qua đời trong một tai nạn. Nhiều
năm sau, người cha vẫn khư khư giữ
cái hộp giấy bên mình, mỗi khi gặp
chuyện nản lòng, ông lấy ra một nụ
hôn tưởng tượng và nghĩ đến tình yêu
mà đứa con gái bé bỏng của ông đã
thổi vào chiếc hộp.
Trong đời sống, chúng ta đã và sẽ
nhận được những chiếc hộp quý giá
chứa đầy tình yêu và những nụ hôn vô
tư từ con cái của chúng ta, từ bạn
bè, gia đình và từ thượng đế. Trên
đời này, chúng ta không thể có được
tài sản nào quý giá hơn những chiếc
hộp chứa đầy tình yêu vô tư như thế.
-
Chạy đi, Patti, chạy đi!
Ngay từ nhỏ, Patti Wilson đã được bác sĩ cho biết cô bị bệnh động kinh.
Cha cô, Jim Wilson, là người thường xuyên tập chạy bộ vào mỗi buổi sáng.
Một ngày nọ, Patti nói với cha: "Cha ơi, con rất muốn chạy với cha hằng
ngày, nhưng con sợ sẽ bị lên cơn ". Cha cô bảo: "'Nếu con bệnh thì cha đã
biết cần phải làm gì, đừng sợ, chúng ta sẽ cùng bắt đầu chạy".
Thế rồi họ chạy mỗi ngày. Thật là kỳ diệu, cô gái đã không bị lên cơn lần
nào. Sau một vài tuần, Patti nói: "Cha ơi, con thật sự muốn phá kỷ lục thế
giới, quãng đường chạy dài của nữ". Cha cô tìm trong cuốn sách các kỷ lục
Guinness thế giới và biết rằng khoảng cách lớn nhất có người đã chạy là 80
dặm. Lúc đó Patti mới vào nǎm đầu tiên của trung học, cô tuyên bố: "Con sẽ
chạy từ quận Cam tới San Francisco (cách nhau 400 dặm). Lên nǎm thứ hai
con sẽ chạy tới Portland, Oregon (khoảng hơn 1.500 dặm), nǎm thứ ba tới
St. Louis (khoảng 2.000 dặm) và nǎm cuối con sẽ chạy tới Nhà Trắng
(khoảng hơn 3.000 dặm).
Patti đầy nghị lực và hǎng hái, cô chỉ coi bệnh của mình như một điều "bất
tiện ". Cô không bận tâm nhiều vào cái mình mất đi mà chỉ tập trung vào điều
cô đang có. Vào nǎm đó, cô hoàn thành cuộc chạy đến San Francisco. Cha
cô chạy bên cạnh cô suốt quãng đường và mẹ cô - một nữ y tá lái xe theo
để đề phòng mọi trường hợp có thể xảy ra. Vào nǎm thứ hai, các bạn học
của Patti ủng hộ cô. Họ dựng lên một ap-phích quảng cáo khổng lồ
ghi "Chạy đi, Patti, chạy đi!" (Run, Patti, run! - và nó đã trở thành khẩu hiệu
của cô cũng như tựa đề cuốn sách sau này cô viết). Trên đường thực hiện
cuộc chạy đường dài mà đích đến là Portland, Patti bị nứt xương cổ chân.
Bác sĩ nói với cô cần phải dừng chạy: "Tôi cần phải cố định khớp mắt cá
của cháu để cháu không bị tật vĩnh viễn ". "Bác sĩ không hiểu rồi - cô nói -
đây không phải là ý nghĩ bất chợt, nó thật sự là ước mơ tận đáy lòng cháu.
Cháu không làm điều này vì bản thân cháu. Cháu làm vậy để phá tung nhưng
xiềng xích trong suy nghĩ của nhiều người. Có cách nào, để cháu có thể tiếp
tục chạy không ạ?". Bác sĩ cho cô một chọn lựa, ông sẽ chỉ bǎng bó lại thay
vì bó bột cố định chân cô. Ông cảnh báo rằng nó sẽ sưng tấy lên và rất đau.
Nhưng Patti đã hoàn thành đường chạy đến Portland cùng với thống đốc
bang bên cạnh trên dặm đường cuối cùng. Trên báo đầy những dòng tin với
tiêu đề " Vận động viên chạy đường dài siêu đẳng Patti Wilson đã hoàn
thành cuộc marathon cho người bệnh động kinh vào sinh nhật lần thứ 17".
Sau bốn tháng chạy gần như liên tục từ bờ tây sang bờ đông, Patti đã tới
Washington và bắt tay tổng thống Hoa Kỳ. Cô nói với ông: "Cháu muốn mọi
người biết rằng người bị động kinh chỉ là những con người bình thường với
cuộc sống bình thường". Nhờ vào sự cố gắng không ngừng của mình, Patti
đã kêu gọi được nhiều triệu đô la đóng góp để mở 19 trung tâm chữa bệnh
động kinh.
Patti cần thật ít để có thể làm được thật nhiều như vậy. Còn bạn thì sao ?
Bạn có thể làm gì để vượt lên chính bản thân khi có đầy đủ sức khỏe?
-
Tôi có ý kiến như sau mong các bạn và ban quản trị ủng hộ và giúp đỡ tôi:
- Tôi sẽ post đủ 1001 câu chuyện nếu topic này không bị khoá
- Đây là những câu chuyện mà tôi sưu tầm, nhũng người bạn thân đã gửi cho tôi nhưng lúc tôi buồn
- Mọi người có thể post cùng tôi, ai có mẩu chuyện nào hay trong cuộc sống thì cùng xây dựng chủ đề này cùng tội
- Tôi sẽ tuân thủ đầy đủ các nội quy của diễn đàn
- Nếu có bị khoá thì tôi cũng xin ban quản trị cho tôi 1 lý do, tránh tình trạng như "Tuyển tập chuyện cười tái bản" của tôi bị khoá bên 'Nhí nhô', bây giờ bên đó tôi không thể vào đươc.
Xin cảm ơn tất cả các thành viên, các khách mời và ban quản trị của forum này đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua để tôi hoàn thành các topic của tôi.