-
Sức Mạnh của Nụ Cười
(Halnoch McCarty)
Smile at each other, smile at your wife, smile at your husband, smile at your
children, smile at each other -- it doesn't matter who it is -- and that will help
you to grow up in greater love for each other.
Tôi viết ra điều này từ kinh nghiệm bản thân mình. Một ngày nọ, mệt mỏi sau
một ngày làm việc, tôi bước từ sở làm về với khuôn mặt nặng trĩu. Thế rồi
một người chẳng quen biết gì trên xe điện mỉm cười với tôi, và theo phản xạ,
tôi cũng cười đáp lại. Đột nhiên, mọi mệt nhọc trong tôi dường như tan biến.
Có một câu chuyện của Saint Exupéry mà tình cờ tôi đọc được. Những
người say mê văn học không xa lạ gì với tác giả cuốn Hoàng tử bé. Ông
từng là phi công tham gia chống phát xít trong Thế Chiến II. Từ những năm
tháng này, ông đã viết ra Nụ cười. Tôi không biết đây là một tự truyện hay
một truyện hư cấu, song tôi tin rằng nó có thật. Trong truyện, Saint Exupéry
là một tù binh bị đối xử khắc nghiệt và ông nghĩ rằng nay mai mình sẽ bị xử
bắn như những người khác. Ông viết :
"Tôi trở nên quẫn trí. Bàn tay tôi co giật và rút từ túi ra một điếu thuốc.
Nhưng tôi lại không có diêm. Qua chấn song, tôi nhìn thấy người cai tù. Anh
ta không thấy tôi, nên tôi đành gọi :
-Xin lỗi, anh có lửa không ?
Anh nhún vai rồi tiến lại gần. Khi rút que diêm, tình cờ mắt anh nhìn vào mắt
tôi. Ngay lập tức, tôi mỉm cười. Tôi chẳng hiểu tại sao mình lại làm như thế.
Có lẽ vì khi muốn làm thân với ai đó, người ta dễ dàng nở một nụ cười.
Lúc này, dường như có một đốm lửa bùng cháy ngang kẽ hở giữa hai tâm
hồn chúng tôi, giữa hai trái tim con người. Tôi biết anh ta không muốn, song
do tôi cười nên anh ta phải mỉm cười đáp lại. Anh bật diêm, đến gần tôi
hơn, nhìn thẳng vào mắt tôi và miệng vẫn cười. Giờ đây, trước mặt tôi
không còn là một viên cai tù phát xít mà chỉ còn là một con người.
-Anh có con không ? - Anh ta hỏi tôi.
-Có - Tôi đáp, và lôi từ túi ra chiéc bóp có hình gia đình mình. Đoạn anh ta
cũng lôi từ túi ra tấm hình của những đứa con và bắt đầu kể những hi vọng
của anh đối với chúng.
Đôi mắt tôi nhòa lệ. Tôi biết rằng mình sắp chết và chẳng bao giờ gặp lại
người thân. Anh ta cũng khóc. Đột nhiên, không nói một lời, anh ta mở khóa
và kéo tôi ra khỏi buồng giam. Anh lặng lẽ đưa tôi ra khỏi thành phố, thả tôi
ra rồi quay trở về.
Thế đó, cuộc sống của tôi đã được cứu rỗi nhờ một nụ cười.
Từ khi đọc được câu chuyện này, tôi nghiệm ra được nhiều điều. Tôi biết
rằng bên dưới mọi vỏ bọc mà chúng ta tạo ra để bảo vệ mình, bảo vệ phẩm
giá và vị thế của mình, bên dưới những điều này còn có một cái thật quý giá
mà tôi gọi là tâm hồn.
Tôi tin rằng nếu tâm hồn bạn và tâm hồn tôi nhận ra nhau thì chúng ta chẳng
còn gì phải sợ hãi hay căm thù nhau. Nếu bạn từng có khoảnh khắc gắn bó
với người khác qua sức mạnh của nụ cười, thì tôi tin bạn cũng đồng ý với
tôi đó là một phép lạ nho nhỏ, một món quà tuyệt vời mà chúng ta có thể
dành cho nhau. Mẹ Theresa đã cảm nhận điều này trong cuộc sống và bà
đưa ra một lời khuyên chân thành : "Hãy mỉm cười với nhau, mỉm cười với
vợ bạn, với chồng bạn, với con bạn và với mọi người - dù đó là ai, vì điều này
sẽ giúp bạn lớn lên trong tình yêu của nhau".
-
Chuyện cây táo
Cách đây rất lâu , ở 1 làng nọ có một cây táo cổ thụ .Hàng ngày có 1 cậu
nhỏ hay ra chơi đùa với cây . Cậu leo trèo lên ngọn cây , hái táo để ăn và khi
đã mệt mỏi cậu ngủ thiếp đi dưới bóng râm của nó . Cậu rất yêu quí cây táo
và cây táo cũng thích chơi đùa với cậu .
Thời gian trôi đi , cậu nhỏ gày nào đã lớn và không còn chơi đùa với cây táo
nữa . Một ngày nọ cậu xuất hiện với vẻ mặt rất buồn bã . Cây táo muốn cậu
chơi đùa với nó , nhưng cậu từ chối :
- Tôi không còn nhỏ nữa và tôi không muốn chạy xung quanh cây. Tôi muốn
chơi đồ chơi kia nhưng tôi không có tiền để mua chúng .
- Tôi cũng không có tiền - Cây táo nói - nhưng cậu có thể hái các trái táo để
bán và cậu sẽ có tiền .
Cậu trai rất mừng khi nghe đề nghị như vậy . Cậu hái hết các quả táo mang
đi bàn và không trở lại nữa . Cây táo rất buồn vì nhớ cậu .
Một ngày kia , cậu bé ngày nào đã trở thành 1 chàng trai , đến bên cây táo .
Nó rất vui mừng và đề nghị cậu chơi dùa với nó . Nhưng chàng trai từ chối và
đề nghị cây táo hãy cho chàng 1 ngôi nhà đề gia đìng của chàng trú ẩn .
-Tôi kô có nhà đê cho cậu - cây táo nói - nhưng cậu có thể chặt những tán
cây của tôi để làm nhà .
Và thế là chàng trai chặt hết các tán cây , vui vẻ mang đi . Cây táo rất hạnh
phúc khi thấy chàng trai vui nhưng không thấy chàng quay lại . Nó trở nên
buốn bã và cô độc.
Vào 1 ngày hè nóng nực rất lâu sau đó ,ngươi đàn ông- cậu bé lại xuất
hiện . Và cây táo lại rất vui mừng . Nó muốn chơi đùa , nhưng người dàn
ông ấy từ chối vì mệt mỏi . Ông ấy muốn có 1 chiếc thuyền để nghỉ ngơi và
muốn cây táo giúp mình . Cây táo đề nghị người đàn ông hãy đốn thân cây
to lớn của nó đề làm thuyền . Người đàn ông đốn cây và không xuất hiện
nữa .
Cuối cùng , vào 1 buổi chiều , ông lão - cậu bé đã xuất hiện .
- Ôi con trai ,bây giờ thì ta không còn gì để cho con nữa rồi - cây táo nói -
Không còn những quả táo chín ngọt..
- Con không còn răng để ăn táo..
- Cũng không còn cành để con leo ...
- Con không đủ sức để làm việc dó.
- Thật sự ta không còn gì nữa , chỉ còn mỗi gốc cây - Cây táo khóc..
- Con không cần cái gì nữa cả . Chỉ cần 1 chỗ để nghỉ ngơi thôi .
Nói rồi ông lão ngồi lên gốc cây . Cây táo rất đỗi vui mừng . Nó cười qua làn
nước mắt.
Đây chỉ là 1 câu chuyện ngụ ngôn . Cây táo là cha mẹ chúng ta . Khi chúng
ta còn bé chúng ta rất thích chơi đùa với Bố , Mẹ . Nhưng khi chúng ta lớn
thì chúng ta rời bỏ họ và chỉ quay về khi chúng ta cần lấy thứ gì hay chúng
ta có những nỗi phiền muộn . Cha mẹ vẫn sẵn sàng tha thứ đón nhận chúng
ta và làm tất cả những gì miễn là chúng ta được hạnh phúc.
-
Món quà dành cho những nhà thông thái
Một đồng tám mươi bảy xu, đúng như vậy. Hàng ngày, cô cố gắng tiêu thật
ít tiền khi đi chợ. Cô đi loanh quanh tìm mua thứ thịt và rau rẻ nhất cho bữa
ăn hàng ngày, ngay cả lúc cảm thấy hết sức mệt mỏi cô vẫn cố tìm kiếm.
Tiết kiệm được đồng nào hay đồng đó.
Della đếm lại số tiền ít ỏi một lần nữa. Không hề có sự nhằm lẫn, chỉ có một
đồng tám mươi bảy xu ,và ngày mai sẽ là lễ giáng sinh.
Cô sẽ không thể làm gì hơn, chỉ còn cách ngồi xuống VÀ KHÓC MÀ THÔI.
Ở ÐÓ , TRONG MỘT CĂN PHÒNG NHỎ, TỒI TÀN, cô đang nức nở.
Della sống trong căn phòng nhỏ nghèo nàn này với chồng của cô, James
Dillingham Young, ở thành phố NEW YORK.
Họ có một phòng ngủ, một phòng tắm và một nhà bếp. James Dillingham
Young may mắn hơn cô vì anh ấy có việc làm . Tuy vậy đó không phải là một
công việc kiếm được nhiều tiền.Tiền thuê căn phòng này chiếm gần hết
lương của anh ấy. Della đã cố gắng rất nhiều để tìm một công việc nhưng
vận may đã không mỉm cười với cô.Tuy nhiên,cô rất hạnh phúc khi ôm 'Jim',
James Dillingham Young,t rong tay mỗi khi anh trở về.
Della đã ngừng khóc. Cô lau khô mặt rồi đứng nhìn một chú mèo xám trên
bức tường đồng màu với nó bên cạnh con đường tối ngoài cửa sổ.
Ngày mai là Noel và cô chỉ còn một đồng tám mươi bảy xu để mua cho Jim,
Jim của cô, một món qùa. Cô muốn mua một món quà thật sự có ý nghĩa ,
một thứ có thể biểu hiện được tất cả tình yêu cô dành cho anh.
Della chợt xoay người chạy đến bên chiếc gương treo trên tuờng. Mắt cô
sáng lên.
Cho đến bây giờ, gia đình James Dillingham Young chỉ có hai vật quí giá
nhất. Một thứ là chiếc đồng hồ vàng của Jim. Chiếc đồng hồ này trước đây
thuộc sở hữu của cha anh ta và trước nữa là ông nội anh ta.Thứ còn lại là
mái tóc của Della.
Della thả nhanh mái tóc dài óng mượt xuống lưng.Thật tuyệt đẹp, không
khác nào như một chiếc áo khoác đang choàng qua người cô .Della cuộn
tóc lên lại. Cô đứng lặng đi rồi thút thít một lát .
Della bước chậm rãi qua các cửa hàng dọc hai bên đường rồi dừng lại
trước bảng hiệu "Madame Eloise".Tiếp cô là một phụ nữ mập mạp, bà ta
chẳng có một chút vẻ "Eloise" nào cả.
Della cất tiếng hỏi: 'Bà mua tóc tôi không?'
'Tôi chuyên mua tóc mà', bà ta đáp và bảo :' Hãy bỏ nón ra cho tôi xem tóc
của cô đi'.
Suối tóc nâu đẹp tụyệt vời buông xuống.
'Hai mươi đồng' bà ta định giá, bàn tay nâng niu mái tóc óng ả.
'Hãy cắt nhanh đi! và đưa tiền cho tôi' Della nói.
Hai giờ tiếp theo trôi qua nhanh chóng. Cô tìm mua quà cho Jim trong các
cửa hiệu trong niềm vui khôn tả .Cuối cùng cô cũng chọn được một thứ . Ðó
là môt sợi dây đồng hồ bằng vàng. Jim rất quí chiếc đồng hồ của mình
nhưng rất tiếc là nó không có dây . Khi Della trông thấy sợi dây này cô biết
rằng nó phải là của anh và cô phải mua nó.
Cô trả hai mươi mốt đồng để mua và vội vã trở về nhà với tám mươi bảy xu
còn lại.
Ðến nhà, Della ngắm mái tóc cực ngắn của mình trong gương và nghĩ
thầm :'Mình có thể làm gì với nó đây?'. Nửa giờ tiếp theo cô nhanh chóng
chuẩn bị mọi thứ. Xong Della lại ngắm nghía mình trong gương lần nữa.Tóc
của cô bây giờ tòan những sợi quăn quăn khắp đầu. 'Chúa ơi, mình trông
như một con bé nữ sinh ấy!'.Cô tự nhủ :' Jim sẽ nói gì khi thấy mình như thế
này?'
Bảy giờ tối, bữa ăn đuợc chuẩn bị gần xong. Della hồi hộp chờ đợi, hy vọng
rằng mình vẫn còn xinh đẹp trong mắt Jim.
Thế rồi cửa mở, Jim bước vào. Anh ấy trông rất gầy và cần có một cát áo
khoác mới. Jim nhìn chằm chằm vào Della. Cô không thể hiểu được anh
đang nghĩ gì, cô sợ. Anh ta không giận dữ, cũng chẳng ngạc nhiên. Anh
đứng đó, nhìn cô với ánh mắt kỳ lạ. Della chạy đến bên Jim òa khóc: 'Ðừng
nhìn em như thế , anh yêu. Em bán tóc chỉ để mua cho anh một món
quà.Tóc sẽ dài ra mà. Em phải bán nó thôi, Jim à. Hãy nói "Giáng sinh vui
vẻ", em có một món quà rất hay cho anh này!'
'Em đã cắt mất tóc rồi à?'Jim hỏi.
'Ðúng thế ,em đã cắt và bán rồi ,vì vậy mà anh không còn yêu em nữa ư? em
vẫn là em mà!' Della nói.
Jim nhìn quanh rồi hỏi lại như một kẻ ngớ ngẩn: 'Em nói là em đã bán tóc à?'
'Ðúng, em đã nói vậy, vì em yêu anh! Chúng ta có thể ăn tối được chưa, Jim?'
Chợt Jim vòng tay ôm lấy Della và rút từ túi áo ra một vật gì đấy đặt lên bàn.
Anh nói: 'Anh yêu em, Della, dù cho tóc em ngắn hay dài. Hãy mở cái này ra
em, sẽ hiểu tại sao khi nãy anh sững sờ đến vậy.'
Della xé bỏ lớp giấy bọc ngoài và kêu lên sung suớng, liền sau đó những
giọt nước mắt hạnh phúc rơi xuống.Trong đó là một bộ kẹp tóc, những chiếc
kẹp dành cho mái tóc óng ả của Della. Cô đã mơ ước có đuợc nó khi trông
thấy lần đầu tiên qua cửa kính một gian hàng. Những cái kẹp rất đẹp và rất
đắt tiền. Bây giờ chúng đã thuộc về cô nhưng tóc cô thì không còn đủ dài để
kẹp nữa!
Della nâng niu món quà, mắt tràn đầy hạnh phúc. 'Tóc em sẽ chóng dài ra
thôi Jim', nói xong cô chợt nhớ đến dây đồng hồ vàng định tặng cho Jim và
chạy đi lấy .
'Ðẹp không anh? Em đã tìm kiếm khắp nơi đấy, giờ thì anh sẽ phải thích thú
nhìn ngắm nó hàng trăm lần mỗi ngày thôi.Nhanh lên, đưa nó cho em, Jim,
hãy nhìn nó với sợi dây mới này'
Nhưng Jim không làm theo lời Della. Anh ngồi xuống vòng tay ra sau đầu
mỉm cuời nói: 'Della, hãy cất những món quà này đi. Chúng thật đáng yêu.
Em biết không, anh đã bán chiếc đồng hồ để mua kẹp cho em .Giờ thì
chúng ta có thể bắt đầu bữa tối được rồi em yêu'
-
CHÚNG TÔI LÀ NHỮNG THẰNG NGU
Janice Anderson Connolly
Vào ngày đầu tiên tôi đi dạy, tất cả các giờ học đều trôi chảy. Cho đến giờ
thứ bảy, giờ cuối cùng trong ngày.
Khi tôi bước tới lớp, tôi nghe thấy tiếng bàn ghế gãy. Trong một góc phòng
tôi thấy một học sinh đang đè một đứa khác xuống sàn nhà. "Nghe này,
thằng ngu kia!" đứa nằm dưới hét lên. "Tao cóc thèm để ý đến con em gái
của mày đâu!"
"Mày đừng có đụng vào nó, mày nghe tao chứ?" đứa ở trên hăm dọa.
Tôi yêu cầu chúng không đánh nhau nữa. Bất ngờ cả 14 cặp mắt nhìn thẳng
vào mặt tôi. Tôi biết trông tôi không có vẻ gì là thuyết phục cho lắm. Cả hai
tên gườm gườm nhìn nhau và nhìn tôi rồi đi từ từ về chỗ ngồi. Vào lúc đó,
giáo viên phòng bên cạnh ló đầu vào phòng, hét bọn học trò của tôi ngồi vào
chỗ, im lặng và nghe lời tôi. Tôi cảm thấy mình thật bất lực.
Tôi cố gắng dạy theo giáo trình đã soạn nhưng chỉ gặp những khuôn mặt
gườm gườm cảnh giác đề phòng. Khi hết giờ, tôi giữ cậu học trò đã gây ra
vụ đánh nhau. Cậu ta tên là Mark. "Thưa cô, không nên phí thời gian với tụi
em," cậu ta nói. "Tụi em là những thằng ngu." Và Mark rời khỏi phòng.
Lặng người đi, tôi rơi mình xuống ghế và bắt đầu suy nghĩ xem tôi có nên trở
thành giáo viên hay không. Có lẽ cách giải quyết tốt nhất là nên từ bỏ? Tôi
tự nhủ sẽ cố một năm rồi sau khi tôi lập gia đình vào mùa hè tới tôi sẽ làm
điều gì đó có ích hơn.
"Tụi nó quậy cô phải không?" Đó là người giáo viên đã vào lớp tôi lúc nãy.
Tôi gật đầu.
"Đừng có suy nghĩ nữa," anh ta nói. "Tôi dạy chúng trong những lớp phụ đạo
vào mùa hè, và hầu như chắc chắn tụi nó sẽ không tốt nghiệp nổi. Đừng có
phí thời gian với bọn này."
"Ý anh là sao?"
"Chúng sống trong những túp lều ngoài đồng. Chúng là những lao động nay
đây mai đó. Chúng chỉ đến trường khi chúng thích thôi. Đứa trẻ thứ hai đã
quấy rối em gái của Mark khi chúng đi hái đậu chung. Tôi đã phải la chúng
vào bữa trưa. Cứ phải giữ chúng im lặng và làm việc. Nếu chúng gây ra điều
gì, cứ kêu tôi."
Khi tôi lấy đồ ra về. Tôi không thể nào quên được hình ảnh khuôn mặt của
Mark khi cậu ta nói "Chúng em là những thằng ngu." Thằng ngu. Từ này cứ
vang lên trong đầu tôi. Tôi quyết định tôi phải làm điều gì đó thật mạnh mẽ.
Vào buổi chiều hôm sau tôi bảo với người đồng nghiệp của tôi đừng vào lớp
tôi nữa. Tôi cần điều khiển những đứa trẻ này theo cách của tôi. Tôi quay lại
lớp và nhìn vào mắt từng học sinh. Rồi tôi bước tới bảng và viết ECINAJ.
"Đó là tên của tôi," tôi nói. "Các em có thể nói cho tôi biết đó là gì không?"
Bọn trẻ nói rằng tên của tôi "kỳ cục" và chúng chưa bao giờ thấy một cái tên
như vậy. Tôi lại bước tới bảng và viết chữ JANICE. Nhiều đứa nhỏ bật kêu
lên và chúng nhìn tôi vui vẻ.
"Các em nói đúng, tên của tôi là Janice," tôi nói. "Tôi bị thiểu năng đọc,
nghĩa là chứng đọc khó. Khi tôi bắt đầu đi học, tôi không thể viết tên của tôi
chính xác. Tôi không thể đọc chữ và các con số thì bay mất tiêu khỏi đầu
tôi. Tôi bị đặt biệt danh "Đứa ngu". Đúng vậy đó - Tôi đã từng là một "đứa
ngu". Bây giờ tôi vẫn còn cảm giác được những âm thanh khủng khiếp đó và
sự xấu hổ của mình."
"Vậy sao cô thành giáo viên được?" một đứa trẻ hỏi.
"Vì tôi ghét những biệt hiệu đó và tôi không ngu si và tôi rất ham học. Lớp
học của chúng ta cũng vậy. Nếu các bạn thích biệt danh "thằng ngu", các
bạn không cần ở đây. Hãy đổi qua lớp khác. Không có ai ngu ở trong lớp
này."
"Tôi sẽ không dễ dàng với các em," tôi tiếp tục. "Chúng ta sẽ làm việc và làm
cho tới khi các em nắm bắt được. Các em sẽ tốt nghiệp và tôi hy vọng một
số em sẽ vào được đại học. Đó không phải là chuyện tếu - đó là một lời
hứa. Tôi sẽ không muốn nghe từ "ngu" một lần nào nữa. Các em có hiểu
không?"
Bọn trẻ dường như ngồi nghiêm chỉnh hơn.
Chúng tôi làm việc rất chăm chỉ và tôi bắt đầu thực hiện được một phần lời
hứa. Đặc biệt Mark là một đứa trẻ rất thông minh. Tôi đã nghe cậu ta nói với
một đứa khác "Cuốn sách này rất hay. Chúng tớ không đọc sách trẻ con ở
đây." Cậu đang cầm cuốn sách "To Kill a Mockingbird".
Tháng ngày trôi qua, và sự tiến bộ thật tuyệt vời. Một ngày kia Mark nói với
tôi "Mọi người vẫn nghĩ chúng em ngu vì chúng em hay nói sai ngữ pháp."
Đó là thời điểm tôi chờ đợi. Từ lúc đó chúng tôi học chuyên sâu về ngữ
pháp, bởi vì bọn trẻ muốn thế.
Tôi thật sự tiếc nuối khi thấy tháng Sáu tới, bọn trẻ đang muốn học thật
nhiều. Tất cả học trò đều biết tôi sẽ lập gia đình và dời đi xa. Tôi thấy rõ bọn
trẻ xúc động mỗi khi tôi nhắc đến điều đó. Tôi vui vì thấy chúng yêu mến tôi
nhưng lại sợ rằng chúng sẽ buồn giận khi tôi ra đi.
Vào ngày cuối cùng của năm học, khi tôi đến trường, thầy giám thị gọi tôi
khi tôi vừa bước vào cổng trường. "Xin cô vui lòng đi theo tôi," ông nói một
cách nghiêm khắc. "Có chuyện trong phòng học của lớp cô." Ông thẳng
bước đi về hướng lớp học. Điều gì đây? Tôi lo lắng.
Thật tuyệt vời! Bọn trẻ đã lấy sơn phun lên từng góc tường những bông hoa,
từng bó hoa trên bàn mỗi đứa và một bó hoa lớn trên bàn tôi. Bọn trẻ làm
thế nào mà được nhỉ? Tôi suy nghĩ. Hầu hết bọn chúng đều rất nghèo đến
mức phải xin trường trợ cấp cho quần áo ấm và thức ăn.
Tôi bật khóc, và bọn trẻ khóc theo tôi.
Sau đó tôi mới được biết bằng cách nào bọn chúng làm được như vậy.
Mark làm thêm trong một tiệm bán hoa vào cuối tuần đã thấy rất nhiều phiếu
đặt hàng của các lớp khác. Cậu ta đã kể lại cho bạn bè nghe. Quá kiêu hãnh
để có thể chấp nhận bị coi là "nghèo", Mark đã hỏi người chủ tiệm xin
những bông hoa dư còn lại. Rồi cậu đến nghĩa trang kể về một giáo viên
đang chuẩn bị đi xa. Người ta đã giữ lại cho cậu những giỏ hoa.
Đó không phải là điều cuối cùng bọn trẻ làm cho tôi. Hai năm sau, cả 14 học
sinh đã tốt nghiệp, và 6 đứa đã đạt học bổng vào đại học.
Hai mươi tám năm sau, tôi đang dạy ại một trường rất nổi tiếng không xa
nơi trường cũ. Tôi được biết Mark đã lập gia đình với người cậu yêu từ đại
học và trở thành một nhà kinh doanh tài giỏi. Và thật bất ngờ, ba năm trước
đứa con trai của Mark đã lại học trong lớp tôi dạy.
Đôi lần tôi bật cười khi nhớ lại ngày đầu tiên đi dạy. Nghĩ đến việc tôi muốn
bỏ nghề để làm điều gì đó tốt hơn!
-
Chiếc là cuối cùng
Trong một quận nhỏ phia đông Washington, các con đường chạy ngoằn
nghoèo một cách điên dại, cắt quãng thành những dải nhỏ gọi là “vùng”.
Những “vùng” này lọt thỏm trong những góc và đường cong lạ kì. Một con
đương cắt ngang với chính nó một, hai lần. Một hoạ sĩ đã có lần khám phá
là con đường có thể có giá. Ví dụ như khi một nhân viên thu ngân cầm hoá
đơn của mầu vẽ, giấy và vải, sau khi đi dọc theo đường này bỗng thấy mình
đã đi vòng lại chỗ cũ mà không hề thu được một xu nào cả!
Thế nên đám hoạ sĩ chẳng bao lâu đã kéo đến phường Greenwich, săn lùng
phòng cho thuê có cửa sổ thông ra hướng bắc, góc mái kiểu thế kỷ 18, gác
lửng kiểu Hà Lan, và giá thuê lại rẻ. Sau đấy họ mang vào vài lọ hợp kim
thiếc, một hai cái chảo nấu ăn dã chiến, và thế là một “quần cư” thành hình.
Hai cô Sue và Johnsy cùng thuê chung một căn phòng đơn giản ở tầng trên
cùng của một toà nhà ba tầng lụp xụp. “Johnsy” thực ra là tên thân mật của
California. Họ đã gặp nhau tại một hiệu ăn trên đường Số Tám, và khám phá
ra là họ có những sở thích tương đồng về nghệ thuật, rau diếp xoắn trộn
dấm, và thời trang với tay áo giám mục. Thế là họ cùng thuê chung một căn
phòng.
Đấy là vào Tháng 5 . Vào tháng 11, có một kẻ ngoại nhập mang theo giá lạnh
nhưng vô hình, mà các bác sĩ gọi là Viêm Phổi, rình rập trong “quần cư”,
móng vuốt giá băng quệt vào đây đó. Tên giặc đã ngang nhiên hoành hành
khu phía đông, hạ gục nhiều nạn nhân, nhưng hắn chỉ mới đặt chân chầm
chậm qua các lối ngõ như bàn cờ của mấy “vùng” nhỏ hẹp phủ đầy rêu.
Bạn sẽ không xem Thần Viêm Phổi như một quân tử già đầy hào hiệp.
Người con gái nhỏ vốn đã mất máu vì những trận gió ở Califỏnia thì lẽ ra
không đáng cho một kẻ bất tài già nua bận tâm đến. Nhưng hắn đã tấn công
Johnsy. Thế là cô nằm bẹp, không mấy cử động, trên chiếc giường sắt,
xuyên qua khung cửa sổ kiểu Hà Lan nhìn ra bức tường trơ trụi của căn nhà
gạch kế bên.
Một buổi sáng, vị bác sĩ đầy bận rộn mời Sue ra hành lang. Ông đang vẩy cái
nhiệt kế thăm bệnh để mực thuỷ ngân trong đó hạ xuống.
- Cơ may khởi bệnh của cô ấy áng chừng chỉ một phần mười. Và cơ may
này là tuỳ vào việc cô ấy có ý chí muốn sống hay không. Với cách con bệnh
chỉ ngóng chờ công ty mai táng đến thì sách thuốc nào cũng vô dụng. Cô
bạn nhỏ của cô đã bị ám ảnh là cô ấy sẽ không qua khỏi. Cô ấy có ý định gì
không?
- Chị ấy... chị ấy muốn có ngày nào đó vẽ tranh phong cảnh vịnh Naples.
- Vẽ tranh à? Thật là điên rồ! Cô ấy có bận tâm nặng nề về việc gì không,
chẳng hạn về một người đàn ông nào đó?
Cô Sue khịt mũi:
- Một người đàn ông à? Một người đàn ông thì có thể... mà không, bác sĩ ạ,
không có chuyện như thế.
Vị bác sĩ nói:
- Thế thì là do cô ấy quá yếu rồi. Tôi sẽ cố làm mọi cách mà khoa học cho
phép. Nhưng mỗi khi con bệnh của tôi bắt đầu nhẩm tính số lượng xe trong
chuyến đưa đám của họ thì xem như hiệu lực của thuốc men chỉ còn một
nửa. Nếu cô có cách khiến cho cô ấy hỏi han cô về thời trang mua đông thì
tôi có thể đoán chắc cơ may là một phần năm, thay vì là một phần mười.
Sau khi vị bác sĩ đi khỏi, Sue đi vào phòng vẽ và khóc cho đến khi cái khăn
giấy Nhật tơi tả thành bột giấy. Rồi cô đường bệ đi vào phòng của Johnsy
với cái giá vẽ, miệng huýt sáo một điệu dân ca Mỹ rộn ràng.
Johnsy vẫn nằm bẹp, xem chừng không động đậy chút nào dưới tấm vải
giường, mặt hướng về cái cửa sổ. Sue ngưng huýt sáo, nghĩ là bạn mình
đang ngủ. Cô sắp xếp giá vẽ và bắt đầu dùng viết và mực để vẽ hình minh
hoạ cho một truyện để đăng trong một tạp chí. Trong khi các hoạ sĩ trẻ tuổi
phải dọn đường cho Hội Hoạ bằng cách vẽ tranh cho truyện ấy để dọn
đường cho Văn Chương. Khi Sue đang phác hoạ cái quần bảnh bao và gọng
kinh một tròng của một anh hùng (một tay cao bồi bang Idaho), cô nghe một
tiếng nho nhỏ, lặp lại vài lần.
Cô đi vội đến bên mép giường. Johnsy đang mở mắt, nhìn ra cửa sổ, và
đang đếm, đếm ngược: “mười hai”, và ít lâu sau: “mười một”, và sau
đấy “mười”, rồi “chín”, rồi “tám” và “bảy” gần như liền nhau.
Sue nhìn chăm chú bên ngoài cửa sổ. Có gì ở ngoài đấy đâu mà đếm? Chỉ
có một khoảng sân trống buồn nản, và bức tường trơ trụi của một căn nhà
gạch xa hơn chừng mười thước. Một dây thường xuân thật già cỗi, gốc vặn
vẹo mục nát, leo đến giữa bức tường gạch. Ngọn gió thu lạnh đã làm rơi
rụng đám lá, phơi bầy các nhánh gần như trơ trụi bám vào mấy mảng gạch
vụn vỡ. Sue hỏi?
- Cái gì vậy hở bồ?
Johnsy nói, gần như thì thầm:
- Sáu. Bây giờ rơi nhanh quá. Ba ngày trước còn gần cả trăm, đếm muốn
nhức đầu. Nhưng giờ thì dễ rồi. Thêm chiếc nữa. Giờ chỉ còn lại năm.
- Năm cái gì, noi cho Sue của bồ nghe nào!
- Năm chiếc lá. Trên cây thường Xuân. Khi chiếc lá cuối cùng rụng thì mình
cũng sẽ ra đi. Minh đã biết như thế ba ngày nay rồi. Bác sĩ không nói cho
bạn biết à.
Sue càu nhàu, với giọng khinh miệt cao quý.
- Ô hay! Minh chưa bao giờ nghe có chuyện điên khùng như vậy. Mấy cái lá
thường Xuân thì có liên hệ gì đến việc bồ khỏi bệnh đâu nào? Và bồ vẫn thích
cái cây này, cô nàng hư đốn ơi! Đừng có ngốc nghếch. Sáng nay ông bác sĩ
nới với mình là cơ may của bồ khỏi bệnh hẳn... xem ông ấy nói gì nào... ông
ấy nói cơ may chính xácd là mười trong một! Đấy cũng bằng với cơ may
chúng mình có ơ New York để đáp tầu điện hay đi qua một toà nhà mới. Bây
giờ ăn một tí cháo, rồi mua ít tượu vang poóc-tô cho cô bé đang bệnh, và thịt
lợn cho chính tác giả ăn.
Johnsy vẫn dán mắt ra ngoài cửa sổ:
- Không cần phải mua rượu vang. Thêm một chiếc nữa. Không, mình không
muốn ăn cháo. Thế là còn có bốn. Mình muốn xem chiếc lá cuối cùng trước
khi trời tối. Khi ấy mình cũng sẽ ra đi.
Sue nghiêng mình trên cô:
- Johnsy ơi, bồ có thể hứa nhắm mắt lại và không nhìn ra ngoài cửa sổ khi
mình làm việc được không? Ngày mai mình phải đi giao mấy bức vẽ. Minh
cần ánh sáng, nếu không mình phải kéo rèm xuống.
Johnsy hỏi, giọng lạnh tanh:
- Bạn có thể vẽ trong phòng kia được không?
- Mình muốn ở kề bên bồ. Hơn nữa, mình không muốn bồ cứ nhìn mãi mấy
chiếc lá thường Xuân vô duyên đó.
- Cho mình biết khi nào bạn làm xong, vì mình muốn xem chiếc lá cuối cùng
rụng xuống. Mình chán chờ đợi rồi. Mình chán suy nghĩ. Mình muốn buông
xuôi tất cả, và thả người trôi xuống, xuống nữa, như là một trong mấy chiếc
lá mệt mỏi kia.
Johnsy nhắm mắt lại, mặt tái nhợt, năm yên như la một cái tượng bị sập đổ.
- Ráng ngủ đi. Mình muốn kêu ông Behrman lên để ngồi mẫu cho mình vẽ
một ông thợ mỏ già cô độc. Mình chỉ đi một phút. Đừng cựa quậy cho đến
khi mình trở lại.
Ông già Behrman là một hoạ sĩ sống ở tầng trệt bên dưới phòng của họ.
Ông đã quá sáu mươi, và có một chòm râu rậm như ông Moses hiện thân
trên bức điêu khắc của Michael Angelo. Behrman là cả một sự thất bại trong
nghệ thuật. Trong bốn mươi năm ông vung vẩy chiếc cọ mà không hề chạm
gần đến vạt áo của Người Tình. Ông luôn luôn muốn vẽ nên một kiệt tác,
nhưng chưa bao giờ bắt đầu. Trong vài năm nay ông không vẽ được gì ngoại
trừ thỉnh thoảng ít nét quấy quá cho giới thương mại và quảng cáo. Ông
kiếm tiền chút đỉnh bằng việc ngồi làm mẫu cho các hoạ sĩ trẻ trong quần cư
khi họ không muốn trả theo giá của người mẫu chuyên nghiệp. Ông uống
rượu gin lu bù, và vẫn nói đến kiệt tác sắp đến của ông. Còn lại thì Behrnam
là một ông già nhỏ thó nhưng dữ tợn, hay chửi như té tát người nào tỏ ra
yếu đuối, và xem mình như là con chó giữ nhà để bảo vệ cho hai hoạ sĩ trẻ
sống ở tấng trên.
Sue tìm gặp behrman khi ông nồng nặc mùi rượu dâu trong căn phòng nhỏ
tối tù mù. Trong một góc là cái giá vẽ với khung vải trống trơn, suốtt hai
mươi lăm năm vẫn chờ đợi đường nét đầu tiên của một kiệt tác. Cô nói cho
ông nghe về chuyện hão huyền của Johnsy, về việc cô nàng – quả thật nhẹ
tênh và mỏng manh như một chiếc lá - sẽ trôi đi khi sự bám víu của cô vào
trần thế vốn đã yếu sẽ yếu thêm.
Ông già Behrman, với cặp mắt đỏ sòng sọc, lớn tiếng kinh thường và chế
diễu cho những điều tưởng tượng ngốc nghếch:
- Khốn khổ! ở đời sao lại có người ngu xuẩn muốn chết vì mấy cái lá rụng từ
một dây leo vô duyên như vậy? Tao chưa bao giờ nghe có chuyện này.
Không tao sẽ không ngòi làm mẫu cho một đứa ẩn cưa ngu ngốc như mày.
Tại sao mày lại để ý tưởng khùng điên đấy đi vào đầu của nó? Ôi dào, cái
con nhỏ Johnsy khốn khổ!
- Chị ấy đang yếu lắm, và cơn sốt làm cho đầu óc chị ấy trở nên bệnh hoạn
đầy những mơ tưởng kỳ quái. Được rồi, nếu ông không muốn ngồi làm mẫu
cho tôi cũng được. Nhưng tôi nghĩ ông là một ông già xấu tính – già vô tích
sự.
Ông Behrman tru tréo lên:
- Mày đúng là đàn bà! Ai bảo tao không muốn ngồi làm mẫu? Đi lên đi. Tao
sẽ đến. Cả nửa giờ đồng hồ rồi tao đã nói là tao sẵn sàng ngồi. Trời ơi! Đây
không phải là chỗ cô Johnsy có thể năm bẹp dưỡng bệnh được. Một ngày
nào đấy tao sẽ vẽ nên một kiệt tác, và bọn mình sẽ rời đi nơi khác. Trời ơi!
Đúng là phải như thế.
Johnst đang ngủ khi họ lên. Sue buông cái rèm cửa xuống, ra dấu bảo
Behrman đi vào phòng kia. Trong đấy, xuyên qua khung cửa sổ họ nhìn dây
thường
Xuân với nỗi lo sợ. Rồi họ nhìn nhau một lúc, không nói lời nào. Một cơn
mưa giá lạnh đang ập xuống dai dẳng, pha cùng với tuyết. Trong chiếc áo
xanh cũ kỹ, Behrman ngồi làm mẫu, giả làm một thợ mỏ ẩn cư, ngồi trên
một cái ấm lật ngược giả làm một tảng đá.
Khi Sue thức giấc vào buổi sáng sau giấc ngủ kéo dài một giờ, cô thấy
Johnsy đang vô hòn nhìn cái rèm màu sậm đã buông xuống. Johnsy thì thào:
- Kéo rèm lên. Mình muốn nhìn.
Sue mệt mỏi làm theo bạn.
- Nhưng xem kìa! Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió xoáy dữ tợn suốt
một đêm dài, vẫn còn một chiếc lá thường Xuân dựa trên bức tường gạch.
Đấy là chiếc lá cuối cùng. Vẫn còn có mầu xanh thẫm gần cuống, nhưng với
phần rìa te tua pha mầu vàng của sự tàn tạ, chiếc lá vẫn dũng cảm bám vào
cái cành cao dăm bảy mét cách mặt đất.
Johnsy nói:
- Đấy là chiếc lá cuối cùng. Mình nghĩ chắc chắn nó đã rụng đêm qua. Mình
nghe tiếng gió. Nó sẽ rụng hôm nay, và mình sẽ chết cùng lúc với nó.
Sue nghiêng khuôn mặt tóp của cô kề cận cái gối:
- Cưng ơi là cưng! Nếu cưng không nghĩ đến chính bản thân cưng thì nên
nghĩ đến mình đây. Mình sẽ làm được gì chứ?
Nhưng Johnsy không trả lời. Nỗi cô đơn cùng cực nhất trên thế gian là một
linh hồn chuẩn bị tiếp tục cuộc hành trình bí ẩn, xa thẳm. Điều mộng tưởng
dường như đã ảm ảnh cô mạnh mẽ hơn khi những dây nối buộc cô với tình
bạn và với trần thế đã bị lơi lỏng.
Ngày dần trôi, và dù qua khoảng không xám xịt, họ vẫn thấy chiếc lá đơn
độc bảm vào cuống của nó, dựa vào bức tường. Và rồi, khi màn đêm buông
xuống, gió bắc lại thổi, trong khi mưa vẫn đập vào các cửa sổ, chảy ồng ộc
xuống theo rìa mái nhà kiểu Hà Lan.
Khi đã có đủ ánh sáng buổi tinh sương, Johnsy, con người vô cảm, lại ra
lệnh kéo cái rèm xuống.
Chiếc lá thường Xuôn vẫn còn đấy.
Johnsy nằm một hồi lâu nhìn nó. Và rồi cô gọi Sue, đang quậy nồi cháo ga
trên cái bếp ga. Cô nói:
- Minh là đứa hư, Sue à. Có cái gì đó đã khiến chiếc lá vẫn ở đấy để cho
thấy mình quả là độc ác. Muốn chết là một cái tội. Bây giờ bồ có thể mang
cho mình chút cháo, và ít sữa pha chút rượu vang póc-tô, và... không, mang
trước cho mình cái gương soi cầm tay, rồi chèn ít cái gối quanh mình, rồi
mình sẽ ngồi lên để xem bồ nấu nướng.
Một giờ sau, cô nói:
- Sue à, một ngày nào đấy mình sẽ vẽ cảnh vịnh Naples.
Ông bác sĩ đến vào buổi xế chiều, và khi ông trở ra Sue có cớ để đi ra ngoài
hành lanh. Ông nắm lấy bàn tay gầy, run rẩy của Sue đặt trong tay ông.
- Cơ may ngang bằng. Với công chăm sóc tận tuỵ của cô, cô sẽ thắng. Và
giờ tôi phải đến thăm một ca khác ở tầng dưới. Người bệnh là Behrman –
tôi nghĩ chừng đâu là một hoạ sĩ. Cũng viêm phổi. Ông ta già cả, yếu đuối,
cơn bệnh lại là cấp tính. Không có hi vọng gì, nhưng tôi sẽ đưa ông đến
bệnh viện để được thoải mái hơn.
Ngày kế, ông bác sĩ bảo Sue:
- Cô ấy qua khỏi cơn nguy rồi. Cô đã thắng. Bây giờ chỉ cần dinh dưỡng và
chăm sóc – chỉ có thế thôi.
Buổi chiều ấy, khi Johsy đang đan một cái khăn quàng len mầu lam thật
đậm và xem vẻ rất vô dụng, Sue đến bên giường cô, đặt cánh tay quanh cô
và cũng quanh mấy cái gối.
- Mình có chuyện này nói cho bồ biết, cái con chuột trắng ơi. Ông Behrman
qua đời hôm nay ở bệnh viện vì chứng viêm phổi. Ông ấy nhuốm bệnh chỉ
trong có hai ngày. Người gác dan tìm thấy ông sáng ngày đầu tiên trong căn
phòng tầng dưới, thất thủ với cân đau đớn. Đôi giầy và quần áo ông ấy bị
ướt cả, lạnh như nước đá. Họ không thể hiểu nổi ông đã đi đâu trong một
đêm kinh hoàng như thế. Và rồi họ tìm thấy cái đèn bão, vẫn cháy, và một
cái thang đã bị rời khỏi nơi cất giữ, vài cây cọ tơi tả, và nghiên mầu mới ít
mầu xanh và vàng, bồ nhìn ra ngoài cửa sổ xem, nhìn chiếc lá thường Xuân
cuối cùng trên bức tường đấy. Bồ có đặt nghi vấn tại sao nó không bao giờ
bay lất phất khi có gió thổi không? Cưng ơi, đó là kiệt tác của ông Behrman
đấy - ông đã vẽ nó đúng vào đêm chiếc lá cuối cùng rơi rụng.
Regards, Guest!
-
HỘP GIẤY THỨ 11
Mục sư Bill Simpson
Bạn nhớ nhất ngày lễ Tạ ơn nào mà bạn đã trải qua trong đời mình? Tôi xin
kể lại câu chuyện của tôi. Vào ngày đó, nhà thờ ghi danh sách mười gia
đình nghèo nhất để phát mười hộp thức ăn. Khi chúng tôi gói những hộp
thức ăn này trong hội từ thiện thì những gia đình đang chờ đợi một cách
sung sướng. Những hộp thức ăn này là những thức ăn ngon nhất đối với họ
trong nhiều tháng nay. Khi họ đang lấy hộp thức ăn của mình, một gia đình
lại vừa mới tới. Cha, mẹ và ba đứa trẻ bước ra khỏi một chiếc xe tải cũ kỹ
và bước vào trong phòng. Họ là một gia đình mới, không có tên trong danh
sách. Họ nghe nói nhà thờ có phân phát thức ăn.
Tôi giải thích rằng chúng tôi không có dư thức ăn cho một gia đình nữa. Khi
tôi cố gắng nói với họ rằng tôi sẽ làm hết sức mình, một điều kỳ diệu đã xảy
ra. Không nói một lời, một người đàn bà đặt xuống hộp thức ăn của mình rồi
nhanh chóng tìm một hộp không để bên cạnh. Bà ta chuyển một số đồ từ
hộp thức ăn của bà ta vào hộp không này. Ngay sau đó những người khác
cũng làm theo bà ta, và những người nghèo khổ này đã có được hộp thứ 11
cho gia đình mới.
-
Vòng tròn cuộc sống
Một buổi chiều nắng đẹp, người đàn ông nọ ra biển câu cá. Ông ta nằm thư giãn trên bãi biển, cắm cần câu trên cát trắng sợi dây câu dài vươn tít ra ngoài xa, bập bềnh với sóng xanh. Ông lim dim mắt tận hưởng nắng chiều ấm áp.
Đúng lúc đó, một nhà doanh nghiệp trẻ từ đằng xa đi tới. Nhìn thấy người đi câu, anh ta bèn lại gần để trò chuyện:
- Bằng cách này ông chẳng thể kiếm được nhiều cá đâu! Lẽ ra ông nên làm việc thì tốt hơn.
Người đi câu ngước nhìn lên:
- Vậy ư? Nếu tích cực làm việc thì tôi sẽ được những gì nào?
- Ông sẽ có tiền và có thể mua được tấm lưới lớn, bắt được nhiều cá hơn - Thương nhân trẻ tuổi đáp.
- Rồi sau đó?
- Ông sẽ kiếm được thêm nhiều tiền từ đó và có thể mua một chiếc tàu. Sản lượng đánh bắt cá sẽ càng cao thêm.
- Tôi còn có thể nhận được những gì nữa? - Người đi câu cười.
Nhà doanh nghiệp bắt đầu khó chịu với câu hỏi của người đi câu:
- Ông sẽ có thể mua được tàu đánh cá to hơn nữa và thuê người làm cho ông.
- Rồi sau đó?
- Ông có thể xây dựng cả một đội tàu đánh cá lớn, đi vòng quanh thế giới và để người lao động đánh bắt cá cho ông.
Một lần nữa người đi câu hỏi:
- Thế lúc đó tôi được gì?
Thương gia đỏ mặt vì giận dữ, hét toáng:
- Chẳng lẽ ông không hiểu? Lúc đó ông trở nên giàu có tới mức ông không bao giờ phải động chân động tay làm việc để kiếm sống nữa. Ông có thể ngồi cả ngày trên bãi biển xinh đẹp này và thưởng ngoạn cảnh hoàng hôn. Ông sẽ không còn một lo lắng nào trên đời nữa.
Người câu cá vẫn mỉm cười, nhìn chàng thương gia trẻ với vẻ thương hại:
- Thế cậu thấy tôi đang làm gì đây?
-
PACO, VỀ NHÀ ĐI CON!
Alan Cohen
Trong một thị trấn nhỏ, một người cha cãi nhau với Paco – đứa con trai nhỏ
của mình. Vào sáng hôm sau, người cha phát hiện đứa con của mình đã bỏ
nhà ra đi.
Tràn ngập hối hận, người cha nhận thấy rằng đứa con trai thật sự quan trọng
hơn tất cả mọi điều trên thế gian này. Ông muốn sửa chữa lại mọi việc. Ông
đi tới một cửa hiệu nổi tiếng nhất thị trấn và treo một tấm biển "Paco, về nhà
đi con. Cha yêu con lắm. Hãy gặp cha ở đây vào sáng mai."
Sáng hôm sau, người cha đi đến cửa hiệu, ở đó đã có bẩy cậu bé cùng tên
Paco và cũng chạy trốn khỏi nhà mình. Những đứa trẻ này đã nghe được
tiếng gọi đầy tình thương, và mỗi đứa đều hy vọng đó chính là người cha
đang gọi mình về nhà với vòng tay rộng mở.