-
7. Mỗi con người dường như luôn tự mâu thuẫn với chính mình.
Có một danh nhân nói rằng : “Tự mâu thuẫn, tâm lý kỳ cực vô lý, thiên kiến, bất thường….thường thấy mỗi con người. Ai không hiểu điều đó thì không thể hiểu thấu tâm lý người khác được.”
Đức Khổng Tử một lần có khách đến thăm, sai người nhà bảo khách mmình đi vắng. Nhưng khi khách mới quay gót, bèn lấy đàn ra gẩy, ngầm cho khách biết mình có nhà.
Một người bạn trai mới quen một cô gái, anh ta mạnh dạn đến nhà chơi. Vì nhận biết được tình cảm của bạn gái kia cũng có biểu hiện thích mình, bạn trai ngỏ ý mời đi xem ca nhạc. Bạn gái cũng nhận lời. Suốt buổi chiều hôm đó chàng trai vui như ngày hội, chờ mong trời tối. Còn bạn gái kia cứ ra vào băn khoăn, “Không biết mình quá vội vàng không nhỉ,” tại sao mình lại dễ dàng để con trai chinh phục như thế…” rồi cô ta không đến chỗ hẹn.
Tự vấn lương tâm, tự dằn vặt mình là điều thường thấy ở mỗi con người. Cách đây trên 20 năm, một quả chuông và một lư hương bằng đồng tại đình làng tôi tự nhiên không cánh mà bay.
Dân làng tức giận truy tìm kẻ lấy, có nhiều cụ già cầu khấn thánh vật chết đứa bất lương đó, nhưng tuyệt nhiên không có kết quả. Kẻ nào đó lấy trộm, vẫn bình yên. Thời gian bẵng đi. Bỗng cách đây mấy tháng, có người từ một làng khác tự nhiên mang chính quả chuông và lư hương đó đến trả, tự thú nhận là đã mấy lần định cậy cửa đình trả lại vì người lấy đã quá cố. Khi trối trăng chỉ một mong muốn : “Con cháu hãy tìm mọi cách trả lại…Còn cả bạn tôi đã bao lần “bụng bảo dạ” đừng làm thế, đừng đến nhà người ta luôn thế, nhưng dường như lý trí nhiều khi bất lực trước những cảm xúc cuộn trào…Tại sao ? Tại sao vậy ?
-
Món quà tặng mẹ
Không biết bao giờ và ở đâu, nhưng có người đã kể tôi nghe một câu chuyện thế này:
Một thanh niên đến hỏi mua quả gì đấy ở một bà bán hàng nọ. Bà kia, khi thấy bảo là mua cho mẹ, liền vội vàng chọn cho anh ta một quả to nhất, ngon nhất và nói:
- Từ sáng đến giờ biết bao người mua hàng của tôi, nhưng anh là người đầu tiên hỏi mua cho mẹ. Vì lòng tốt của anh và vì người mẹ đã sinh ra anh, tôi xin biếu anh quả này...
Bây giờ, bất chợt nhớ đến câu chuyện trên, tôi đi lại một bà bán dừa, bảo bà ta chọn cho tôi một quả thật ngon, nhắc to hai lần là để mang về Diễn Châu cho mẹ.
Bà bán dừa ngước nhìn lên, suy nghĩ một lát rồi thản nhiên bảo tôi:
- Mua cho mẹ thì anh phải tự mình chọn lấy. Và cũng không nên quá nhiều lời như thế về món quà anh sắp tặng mẹ.
-
Hai chiếc gương
Tình cờ, nhà tôi có hai chiếc gương giống nhau - cả kích thước, khung gỗ, ngày, nơi sản xuất, thậm chí cả tờ giấy cứng dán phía sau cũng thế. Nghĩa là hoàn toàn giống nhau, duy có một điều là khác, khác cơ bản: Một chiếc cho ảnh thật, còn chiếc kia thì không, ai soi vào cũng thấy mình đẹp hơn. Tất nhiên anh sẽ có cảm tình với chiếc gương biết chữa các khuyết tật bẩm sinh này. Có lẽ anh sẽ nâng niu sử dụng nó suốt đời, nếu không vì một cảm giác bất tiện, âm ỉ không để anh yên, rằng nó là... một kẻ nói dối. Một kẻ nói dối dịu dàng và đáng yêu!
Vâng, nhà tôi có hai chiếc gương như thế. Nhưng trong một căn phòng nhỏ mà treo hai chiếc gương lớn (hơn nữa lại giống nhau) là thừa. Thế là chúng tôi (tôi và hai cô em của tôi) quyết định cất đi một chiếc. Chiếc nào? Tất nhiên không phải chiếc cho ảnh thật - chúng tôi là những người biết yêu chân lý và căm ghét giả dối.
Tôi biết chắc hai cô em tôi, tuy không nói ra, nhưng trong lòng rất tiếc khi phải tháo bỏ chiếc gương đáng yêu kia. Với tư cách là anh cả, tôi bắt chúng phải làm việc đó, nhưng chúng cứ ùn đẩy nhau mãi. Cuối cùng một đứa đề nghị cứ để treo cả hai, mặc cho ai ưa nịnh tha hồ soi vào chiếc gương giả dối. Tôi đồng ý.
Cho đến nay, cả hai chiếc gương vẫn ở nguyên vị trí cũ trong căn phòng bé nhỏ của chúng tôi. Hai chiếc kề bên nhau. Vô tình, chiếc gương thứ hai đã trở thành sự cám dỗ đầy thử thách đối với mỗi chúng tôi. Cũng dễ hiểu: ai chẳng muốn được thấy mình xinh đẹp, nhất là phụ nữ và một người bề ngoài không mấy hấp dẫn như tôi. Thành ra, nhiều khi phải vất vả lắm tôi mới không bỏ chiếc gương này để sang soi vào chiếc gương khác.
Một vài lần tôi bắt gặp các em tôi lén lút đứng trước chiếc gương giả dối. Nhưng tôi lờ như không nhìn thấy, phần sợ chúng xấu hổ, phần nghĩ con gái vốn yếu đuối, điều này đôi lúc có thể tha thứ được.
Còn tôi? Là đàn ông, tôi cương quyết không để bị cám dỗ. Tôi có thể tự hào mà nói rằng tôi đã luôn đứng vững, trừ một lần, vâng, chỉ một lần thôi, ấy là khi tôi chuẩn bị cho buổi hẹn đầu tiên với một cô gái.
Tôi ăn mặc rất chỉnh tề, hết sức chải chuốt, nhưng khốn nỗi, như đã nói, tôi không thuộc loại người đẹp trai, hơn thế lại bắt đầu già, nên tất nhiên chiếc gương thật đã không làm tôi hài lòng. Tôi giận mình, rồi giận lây cả nó. Thế này thì tôi không thể đi gặp người yêu được. Tôi lại bỏ đi thay quần áo, lại chải chuốt. Mấy phút sau, tôi đã cố tình nhầm, đến đứng trước chiếc gương giả dối đáng yêu kia (thì hai chiếc rất giống nhau mà!) Lập tức tôi thấy tôi dễ coi hơn, các nếp nhăn trên trán dãn ra, các đường nét trở nên thanh tú hơn. Chỉ lúc ấy tôi mới đủ can đảm đi đến chỗ hẹn.
-
CÂU CHUYỆN CỦA CÂY BÚT CHÌ
Khi ra đời, 1 cây bút chì luôn thắc mắc rằng cuộc sống bên ngòai xưởng làm bút chì sẽ ra sao bởi thỉnh thỏang nó nghe những ng` thợ nói chuyện với nhau. Bút chì băn khoăn mãi, anh em của nó cũng ko biết gì hơn. Cuối cùng, trước hôm được mang đến các cửa hàng, bút chì hỏi ng` thợ làm bút rằng nó và anh em của nó sẽ ra sao ở bên ngòai cuộc sống rộng lớn kia.
Ng` thợ làm bút mỉm cười. Ông nói:
-Có 5 điều cháu và các anh em của cháu nên nhớ khi bắt đầu cuộc sống. Nếu cháu nhớ và làm dược thì cháu sẽ trở thành cây bút chì tốt nhất.
“Thứ nhất: cháu có thể làm được những điều kì diệu nhất nếu cháu nằm trong bàn tay 1 ng` nào đó và giúp họ làm việc.
Thứ hai: cháu sẽ cảm thấy đau đớn mỗi khi bị gọt, nhưnng phải như thê cháu mới tốt hơn và có thể tiếp tục cuộc sống của mình.
Thứ ba: nếu cháu viết sai 1 lỗi cháu hãy nhớ để sửa lại được.
Thứ tư: điều quan trọng nhất đối với cháu và những ng` dùng cháu ko phải là nước sơn bên ngòai cháu mà là những gì bên trong cháu đấy.
Và cuối cùng, trong bất cứ trường hợp nào, cháu cũng phải tiếp tục viết. Đó là cuộc sống của cháu, cho dù cháu gặp tình huống khó khăn như thế nào cũng vẫn phải viết thật rõ ràng, để lại những dấu ấn của mình.”
-
Con Ruồi Già
Con ruồi già cứ húc đầu vào tấm kính cửa sổ.Nó húc như vậy suốt một giờ rưởi đồng hồ,vừa húc nó vừa kêu vo vo.
Phía đằng kia có con ruồi trẻ đang đậu,nó nín thở chăm chú theo dõi việc làm của con ruồi già. Nó không sao hiểu được con ruồi già húc như vậy để làm gì trong lúc cửa sổ bên cạnh mở toang.
Con ruồi già dủng cãm chiến đấu suốt một tiếng đồng hồ,cho đến kỳ cửa kính rung lên và nó kiệt sức ngả xuống. Con ruồi già lết đến chổ cửa sổ mỡ,rơi xuống cái mái đua, nằm dài thẳng cẳng.
Con ruồi trẽ đến bên,thẻ thọt hỏi :
-Cửa sổ mỡ mà sao chị cứ húc đầu vào tấm kính ?
Con ruồi già khó nhọc đáp :
-Mày thật là ngu ! vì mày hãy còn trẽ, chổ cửa sổ mỡ thì tên ngốc nào cũng có thể bay qua được, bay như vậy thì có gì thú ? Ôi giá mày hiểu được là hiện giờ tao vui như thế nào ?
Con ruồi trẽ có không nhìn vào cái đầu sưng húp của con ruồi già, con ruồi già liến nói tiếp :
- Bố tao đã suốt đời húc đầu vào tấm kính,bà mẹ đã chết của tao cũng húc như vậy và bà đã trối trăng lại với tao. Có vượt được khó khăn, thì mới cảm thấy mình là con người. Mày hiểu chưa ! Nào cửa sổ kia, bắt đầu đi !
-
Ba người thầy vĩ đại
Trí tuệ không phải là trí tuệ nếu chỉ được rút ra từ sách vở
(Horace)
***
Khi Hasan, một nhà hiền triết Hồi giáo sắp qua đời, có người hỏi ông: “Thưa Hasan, ai là thầy của ngài?”
Hasan đáp: “Những người thầy của ta nhiều vô kể. Nếu điểm lại tên tuổi của các vị ấy hẳn sẽ mất hàng tháng, hàng năm, và như thế lại quá trễ vì thời gian của ta còn rất ít. Nhưng ta có thể kể về ba người thầy sau của ta.
Người đầu tiên là một tên trộm. Có một lần ta đi lạc trong sa mạc, khi ta tìm đến được một khu làng thì trời đã rất khuya, mọi nhà đều đi ngủ cả. Nhưng cuối cùng ta cũng tìm thấy một người, ông ta đang khoét vách một căn nhà trong làng. Ta hỏi ông ta xem có thể tá túc ở đâu, ông ta trả lời: “Khuya khoắt thế này thật khó tìm chỗ nghỉ chân, ông có thể đến ở chỗ tôi nếu ông không ngại ở chung với tên trộm”.
Người đàn ông ấy thật tuyệt vời. Ta đã nán lại đấy hẳn một tháng! Cứ mỗi đêm ông ta lại bảo: “Tôi đi làm đây. Ông ở nhà và cầu nguyện cho tôi nhé!” Mỗi khi ông ta trở về ta đều hỏi: “Có trộm được gì không?” và ông ta đều đáp: “Hôm nay thì chưa, nhưng ngày mai tôi sẽ cố, có thể lắm chứ.” Ta chưa bao giờ thầy ông ta trong tình trạng tuyệt vọng, ông ta luôn hạnh phúc.
Có lần ta đã suy ngẫm và suy ngẫm trong nhiều năm ròng để rồi không ngộ ra được một chân lý nào. Ta đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, tuyệt vọng đến nỗi ta nghĩ mình phải chấm dứt tất cả những điều vô nghĩa này. Ngay sau đấy ta chợt nhớ đến tên trộm, kẻ hàng đêm vẫn quả quyết: “Ngày mai tôi sẽ làm được, có thể lắm chứ!”
Người thầy thứ hai là một con chó. Khi ta ra bờ sông uống nước, có một con chó xuất hiện. Nó cũng khát nước. Nhưng khi nhìn xuống dòng sông, nó thấy cái bóng của mình nhưng lại tưởng là một con chó khác. Hoảng sợ, nó tru lên và bỏ chạy. Nhưng rồi khát quá nó bèn quay trở lại. Cuối cùng, mặc nỗi sợ hãi trong lòng, nó nhảy xuống sông và cái bóng biến mất. Ta hiểu đây là một thông điệp đã được gởi đến cho ta: con người phải biết chiến thắng nỗi sợ hãi trong lòng bằng hành động.
Người thầy cuối cùng là một đứa bé. Ta đến một thành phố nọ và thấy một đứa bé trên tay cầm một cây nến đã thắp sáng để đặt trong đền thờ.
Ta hỏi đứa bé: “Con tự thắp sáng cây nến này phải không?” Đứa bé đáp: “Thưa phải.” Đoạn ta hỏi: “Lúc nãy nến chưa thắp sáng, nhưng chỉ một thóang sau đã cháy sáng. Vậy con có biết ánh sáng từ đâu đến không?”
Đứa bé cười to, thổi phụt ngọn nến và nói: “Ngài thấy ánh sáng đã biến mất, vậy ngài bảo ánh sáng đã đi đâu?”
Cái tôi ngạo nghễ của ta hoàn toàn sụp đổ, pho kiến thức kim cổ của ta cũng sụp đổ theo. Lúc ấy ta nghiệm ra sự dốt nát của bản thân. Và từ đó ta vất đi tất cả những tự hào về kiến thức của mình.
Đúng là có thể nói ta không có một ai là thầy, nhưng điều này không có nghĩa ta không phải là một học trò. Ta xem vạn vật là thầy. Tinh thần học hỏi của ta luôn rộng mở hơn tất cả các người. Ta học hỏi từ tất cả mọi vật, từ cành cây ngọn cỏ đến đám mây trên trời kia. Ta không có một người thầy vì ta có hàng triệu triệu người thầy mà ta đã học được mỗi khi có thể. Điều thiết yếu trong cuộc sống là luôn làm một học trò. Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là có khả năng học hỏi, luôn sẵn sàng học để biết chấp nhận ý nghĩa của vạn vật. Người thầy là người thông qua đó ta bắt đầu học cách học hỏi.
-
Tiếng Chim Hoạ Mi.
Một sớm đầu Xuân, ông Bân trở dậy, thấy phấn chấn lạ thường và ông chợt nhận ra tiếng chim hoạ mi hót ríu rít, điều mà hơn chục năm qua ông mới thấy lại. Bỗng thằng Hiếu, cháu nội duy nhất của ông ùa vào như một cơn gió:
- Ông có nghe thấy tiếng hoạ mi hót không? Cháu thấy bảo chim hoạ mi báo hiệu tin vui đến mọi người. Chắc bố cháu sẽ trở về.
Ông Bân lặng lẽ quay mặt dấu dòng nước mắt. Cách đây 10 năm vợ ông mất đi. 2 năm sau, thằng Trung con ông tòng quân vào chiến trường Miền Nam và chỉ sau 3 tháng đơn vị đã gửi giấy báo tử cho ông. Điều may mắn duy nhất là Trung đã kịp để lại cho ông thằng Hiếu, giọt máu duy nhất của dòng họ. Hoạ vô dơn chí, mẹ nó đã mất ngay khi nó cất tiếng khóc chào đời. Nén nỗi đau, ông Bân cắn răng thay bố, thay mẹ nuôi thằng Hiếu nên người. Ông vẫn dấu thằng Hiếu về cái chết của bố nó và nó vẫn mong mỏi ngày bố nó chiến thắng trở về.
Một năm trở lại đây ông Bân ốm liệt giường. Thế mà chỉ nghe tiếng hoạ mi hót ông bỗng thấy khoẻ khoắn lạ thường và ông lại hy vọng vào điều thằng Hiếu nói, biết đâu có sự lầm lẫn gì chăng. Và tiếng chim hoạ mi đã mang lại niềm vui, niềm hy vọng cho hai ông cháu suốt những ngày đầu Xuân.
Bỗng đâu, ở làng đồng rừng yên tĩnh lù lù xuất hiện một gã vô công rồi nghề, trên tay luôn lăm lăm khẩu súng săn. Gã có tài bắn bách phát bách trúng và việc nhìn thấy các con chim bị bắn toác đầu, gãy cánh là sở thích duy nhất của gã. Kể từ khi gã xuất hiện, tiếng chim hoạ mi dứt hẳn và ông Bân lại thấy buồn, trống vắng một điều gì đó. Thằng Hiếu cũng buồn lắm, nó lang thang khắp nơi với hy vọng timg được một con hoạ mi sót lại mang về cho ông. Một sớm, nó bỗng nghe thấy tiếng hoạ mi lảnh lót trên một bui cây cao. Nó tiến lại cố tìm kiếm. Bỗng thấy từ trên cây tụt xuống một thằng bé cỡ tuổi nó. Một ý nghĩ loé lên trong đầu nó. Và suốt ngày hôm đó, thằng nhỏ dạy cho thằng Hiếu cách bắt chước tiếng hoạ mi. Nó tập đến tứa máu lưỡi và cuối cùng cũng tự bằng lòng với tiếng hót của mình.
Lại một buổi sáng, ông Bân thấy ấm áp bởi tiếng hoạ mi lảnh lót. Ngạc nhiên, ông cứ nằm nghe với một tâm trạng hứng khởi lạ thường. Một lát sau, ông thấy thằng Hiếu chui vào nằm cạnh ông, người thấm đẫm hơi sương, và ông chợt hiểu ra tất cả nhưng ông vẫn im lặng vì ông không muốn tước đi cái niềm vui duy nhất của thằng Hiếu là làm cho ông được vui.
Hôm nay, nghe tiếng hoạ mi mà ông Bân thấy bồn chồn khác thường. Bỗng như có 1 luồng điện chạy dọc sống lưng ông. Cố gắng tìm cây gậy ông lết ra sân nhưng không kịp nữa rồi, 1 tiếng súng vang lên và ông gần sụp xuống khi thấy gã thợ săn mặt cắt không còn hột máu, phủ phục bên xác thằng Hiếu, miệng mếu máo:
- Cháu xin lỗi, cháu không nhận ra đó là tiếng hót của một con người.
Không biết bằng cách nào ông Bân qua nổi trong đám tang của thằng Hiếu. Một ngày nọ, ông đi tìm đất sét và sơn màu và làm một con hoạ mi rất đẹp. Bao nhiêu tinh lực ông dồn cả vào con chim làm cho nó sống động như thật. Nhưng điều làm ông thất vọng là con chim không làm sao có được tiếng hót. Một đêm ông Bân chợt bừng tỉnh vì tự nhiên các đèn trong phòng được bật sáng, một bóng người kỳ dị xuất hiện trong phòng ông:
- Ông Bân, tôi hiểu điều ông đang làm. Tôi sẽ làm tiếng hót hoạ mi đích thực cho ông chứ không phải tiếng hót giả dối mà ông đang cố tìm kiếm. Nhưng để đổi lại ông phải cho tôi linh hồn của ông.
- Ta không thể bán linh hồn cho quỷ dữ các ngươi vì một điều tầm phào như vậy.
- Ông có biết rằng chính sự lừa dối của ông đã giết chết thằng cháu ông và việc ông đang làm cũng là cố gắng để lương tâm ông thanh thản. Ta lấy đi linh hồn ông cũng chỉ để cho ông không bị dày vò.
Ông Bân lặng lẽ gật đầu và ông chợt thấy nhói đau nơi lồng ngực.
Sáng hôm sau, người hàng sóm sang nhà ông Bân thấy ông tắt thở từ bao giờ nhưng trên môi ông vẫn vấn vương một nụ cười.
-
Hai viên gạch xấu
Đến miền đất mới, các vị sư phải xây dựng, mua dụng cụ và bắt tay vào làm việc. Một chú tiểu được giao xây một bức tường gạch. Chú rất tập trung vào công việc, luôn kiểm tra xem viên gạch đã thẳng thớm chưa, hàng gạch có ngay ngắn không. Công việc tiến triển khá chậm vì chú đặc biệt kỹ lưỡng. Tuy nhiên, chú không lấy đó làm phiền lòng bởi chú biết mình sắp sửa xây một bức tường tuyệt đẹp đầu tiên trong đời.
Cuối cùng chú cũng hoàn thành công việc vào lúc hoàng hôn buông xuống. Khi đứng lui ra xa để ngắm nhìn công trình lao động của mình, chú bỗng cảm thấy có gì đó đập vào mắt: mặc dù chú đã rất cẩn thận khi xây bức tường song vẫn có hai viên gạch bị đặt nghiêng. Và điều tồi tệ nhất là hai viên gạch đó nằm ngay chính giữa bức tường. Chúng như đôi mắt đang trừng trừng nhìn chú.
Kể từ đó mỗi khi du khách đến thăm ngôi đền chú tiểu đều dẫn họ đi khắp nơi trừ đến chỗ bức tường mà chú xây dựng.
Một hôm có hai nhà sư già đến tham quan ngôi đền. Chú tiểu đã cố lái họ sang hướng khác nhưng hai người vẫn nằng nặc đòi đến khu vực có bức tường mà chú xây dựng. Một trong hai vị sư khi đứng trước công trình ấy đã thốt lên: "Ôi, bức tường gạch mới đẹp làm sao!"
"Hai vị nói thật chứ? Hai vị không thấy hai viên gạch xấu xí ngay giữa bức tường kia ư?" - Chú tiểu kêu lên trong ngạc nhiên.
"Có chứ, nhưng tôi cũng thấy 998 viên gạch còn lại đã ghép thành một bức tường tuyệt vời ra sao." - Vị sư già từ tốn.
Đôi khi chúng ta quá nghiêm khắc với bản thân mình khi cứ luôn nghiền ngẫm những lỗi lầm mà ta mắc phải, cho rằng cả thế giới đều nhớ đến nó và quy trách nhiệm cho ta. Chúng ta dã hoàn toàn quên rằng đó chỉ là hai viên gạch xấu xí giữa 997 viên gạch hoàn hảo.
Và đôi khi chúng ta quá nhạy cảm với lỗi lầm của người khác. Khi bắt gặp ai đó mắc lỗi, ta nhớ kỹ từng chi tiết. Và hễ có ai nhắc đến tên người đo, ta lại liên hệ ngay đến lỗi lầm của họ mà quên bẵng những điều tốt đẹp họ đã làm.
Cần phải học cách rộng lượng với người khác và với chính mình. Một thế giới nhân ái trước hết là một thế giới nơi lỗi lầm được tha thứ.