-
Bó hoa và tấm thiếp
Tuổi 40, chị vẫn sống độc thân. Mấy đứa thanh niên trong cơ quan gọi chị là "bà cô vui tính", chị chỉ cười. Chiều chiều, chị vẫn mải miết đạp xe về nhà. Thú vui duy nhất của chị là nấu mấy món ăn ưa thích rồi nghe nhạc cho đến khi đi ngủ. Chị tốt nghiệp đại học, rồi làm luận án tiến sĩ, rồi bao nhiêu công việc ở cơ quan như hút hết tâm trí của chị.
Tuổi trẻ vùn vụt trôi qua, và thấp thoáng trên khuôn mặt chị đã có những nét già nua của năm tháng. Tóc chị bắt đầu xơ ra khiến chị phải đi ép tóc, rồi đôi lần chị đã phải nhuộm lại để che đi những sợi bạc đã bắt đầu lốm đốm. Trên đuôi mắt đã bắt đầu có vết rạn chân chim.
Đêm, khi nằm vò võ một mình, chị cũng ước ao có một người đàn ông như chị từng tưởng tượng đến với chị. Chị cũng khát khao một mái ấm gia đình có tiếng trẻ nô đùa, có giận hờn trách móc... Nhưng đàn ông chỉ ngưỡng mộ học thức và sức làm việc của chị chứ không đến gần chị, cũng chẳng có một cử chỉ nào tỏ ra họ thích chị.
Bằng linh cảm của người phụ nữ, chị hiểu được điều ấy. Nhưng phụ nữ khi muốn chứng tỏ mình không hề yếu thế, họ thường tỏ ra cao ngạo. Chị cũng vậy. Sau giờ làm việc chị ra khỏi cơ quan với vẻ vội vã lắm, nhưng thực ra chỉ đi khuất con phố chị lại đi thật chậm. Về nhà cũng không biết làm gì. Rồi chị cũng kể bóng gió rằng, tối nay chị có một cuộc hẹn, hay ngày mai có một anh bạn từ Sài Gòn ra... Chúng tôi đều hiểu cả nhưng lặng thinh để chị khỏi nhận ra.
Thế rồi gần đến ngày 8.3, bọn thanh niên ở cơ quan tíu tít với trò tặng hoa, quà... rồi đi chơi. Bỗng nhiên chúng tôi nhớ đến chị, rằng gần 10 năm qua ở cơ quan cứ đến ngày 8.3 chị chẳng bao giờ được nhận hoa. Thế rồi chúng tôi nghĩ ra một cách.
Bưu điện Hà Nội nhận đưa hoa đến tận địa chỉ người nhận. Chúng tôi viết một tấm thiếp bằng nét bút đàn ông thật khỏe khoắn với lời lẽ cũng rất chân tình: "Gửi tới Uyên Ly lời nhắn gửi từ trái tim...".
Buổi sáng ngày 8.3, chúng tôi làm việc trong tâm trạng thật hồi hộp. Thế rồi nhân viên bưu điện cũng xuất hiện, trên tay ôm một bó hoa, người nhận Uyên Ly. Chị ký lên tờ biên nhận tay vẫn còn run run. Tất cả chúng tôi đều làm ra vẻ ngạc nhiên và chúc mừng chị. Nhìn chị trẻ lại tới 10 tuổi, đôi mắt ngời lên.
Một đứa tinh nghịch nhất đánh bạo hỏi chị: "Hoa của ai gửi cho chị đấy?". Chẳng một chút nghi ngờ chị trả lời: "Anh ấy gửi cho chị từ tận Sài Gòn. Mấy năm rồi anh ấy mới dám tặng hoa cho chị...".
Chiều chị về sớm hơn thường lệ. Chị ôm bó hoa, đi rất nhanh. Có lẽ rất lâu rồi chị mới hạnh phúc như vậy, chúng tôi nghĩ thế.
Đêm, chị cắm bó hoa vào bình, rồi lặng lẽ ngồi trong góc phòng. Có người đàn ông nào gửi hoa cho chị đâu. Chị nhận ra điều đó ngay khi nhận bó hoa.
Chị gọi điện cho tôi vào tối ngày 9.3, có lẽ chị cho tôi là đứa đáng để tâm sự nhất: "Cảm ơn các em đã nghĩ đến chị, nhưng tấm thiếp...".
Nói đến đó chị khóc.
-
nhỏ và lớn
đầu kì 2 năm học thứ 3, để xả hơi sau kì thi căng thẳng và xua bớt nỗi buồn trĩu nặng trong lòng, tôi quyết định theo xe hàng của anh tôi , từ HP vào HÀ TĨNH , khi xe dừng lại để giao hàng , anh lái xe của công ty anh tôi trong khi đứng chờ bốc hàng, đã nhặt lên một cái vòng bằng sắt ở gốc cây, có lẽ ai đó sửa máy và bỏ đi vì không dùng được nữa.
tôi ngạc nhiên hỏi anh nhặt cái đó làm gì? anh bảo để lát nữa cho cái người bốc hàng thuê, anh nói "mình có cơm ăn thì cũng mong cho người ta có cháo !" (vì anh thấy người ấy lam lũ quá ), nhưng khi anh đưa cho thì người ấy lại không lấy và ném sang vệ đường, một thoáng ngạc nhiên, anh nhặt lại chiếc vòng sắt và chúng tôi lên xe đi tiếp...được một quãng anh cho xe đi chậm lại và đưa cái vòng sắt cho 1 cô thu mua sắt vụn trông cũng rất lam lũ vất vả...
giá trị của cái vòng sắt thật nhỏ nhưng tôi thấy ở anh một tấm lòng nhân hậu, bao dung đẹp đẽ , đáng để học tập phải không các bạn!
-
MÓN QUÀ GIÁNG SINH
Đó là đêm cuối cùng trước ngày lễ giáng sinh.Tôi vội vã đến siêu thị để mua vài món quà còn lại mà trước đó đã không đủ thời gian để mua.Trong siêu thị lúc ấy rất đông đúc, người ta đang xếp hàng rồng rắn ở quầy tính tiền. Nhìn cảnh tưởng đó, tôi bắt đầu tự than vãn với mình rằng việc mua sắm rồi sẽ kéo dài lê thê trong khi còn rất nhiều việc đang chờ tôi ở nhà...
" Năm qua tháng tới, lễ giáng sinh càng trở thành một sự kiện gì đó đầy ồn ào náo nhiệt và phiền toái. Tôi chỉ ước sao mình được nằm dài ra ngủ và chỉ thức giấc sau tất cả những náo nhiệt phiền toái ấy..."
Dù vậy tôi cũng cất bước tới khu bán đồ chơi, rồi không dứt lời ta thán về giá cả các món hàng, tự hỏi liệu bọn trẻ có thật sự cảm thấy vui thích khi chơi đùa với những thứ đồ chơi đắt tiền đến thế không. Chợt tôi chú ý đến một cậu bé con khoảng 5 tuổi tay đang ôm chặt một con búp bê vào ngực.Cậu không ngừng vuốt ve mái tóc búp bê, gương mặt trông thật buồn.Tôi ngạc nhiên không biết một con búp bê như vậy dành cho ai. Cậu bé quay sang bà lão đứng cạnh:
" Bà ơi, cháu không đủ tiền thật sao bà?"
Tiếng bà lão đáp lại:
" Bé con này, cháu biết rõ là cháu chẳng đủ tiền mua con búp bê này mà."
Rồi bà lão bảo cậu bé đứng đợi trong chốc lát để bà đi ngó quanh quất ở vài quầy hàng khác xem có thứ gì đó thích hợp hơn không. Đoạn bà nhanh chóng bỏ đi. Chú bé vẫn giữ chặt con búp bê trong tay. Tôi tiến về phía cậu bé:
" Vậy cháu muốn tặng con búp bê này cho ai?"
" Đây là con búp bê mà em gái của cháu thích nhất và rất muốn có trong dịp giáng sinh này đấy.Em cháu tin chắc rằng ông già Noel sẽ mang nó đến và tặng cho em cháu"
Tôi đáp lời cậu bé rằng cuối cùng ông già Noel có lẽ sẽ mang quà tặng này đến, và vì vậy chú chẳng việc gì phải lo lắng như thế. Nhưng chú đáp lại lời tôi bằng một giọng thật buồn:
" Không đâu, cô ơi, ông già Noel chẳng thể nào đem quà giáng sinh đến được tận nơi mà hiện nay em cháu đang ở đâu. Cháu phải đưa búp bê cho mẹ để mẹ trao cho em cháu khi mẹ đi đến đấy"
Mắt cậu thật buồn khi thốt lên những lời ấy.
" Em cháu đã lên đường về với chúa, Bố bảo rằng chẳng bao lâu nữa mẹ cũng sẽ đi gặp Chúa.Vì vậy cháu nghĩ mẹ có thể đem con búp bê này đến cho em cháu."
Tôi lặng người đi trong chốc lát, tim tưởng chừng như ngừng đập.Cậu bé ngước lên nhìn tôi:
" Cháu đã bảo bố khuyên mẹ đừng đi vội và hãy đợi cho đến khi cháu từ siêu thị trở về "
Nói đoạn cậu bé chìa cho tôi xem một tấm hình rất dễ thương chụp ảnh cậu đang cười thật tươi.
" Cháu cũng muốn mẹ đem tấm hình này theo để mẹ không bao giờ quên cháu. Cháu yêu mẹ lắm và cháu luôn mong ước mẹ sẽ không bao giờ rời xa cháu nhưng bố bảo rằng mẹ phải đi với em."
Cậu bé lại lặng lẽ nhìn con búp bê với đôi mắt rất buồn.Tôi nhanh chóng móc ví, lấy ra vài tờ giấy bạc:
" Nào chúng ta cùng thử kiểm tra lại xem sao, biết đâu cháu sẽ có đủ tiền?"
" Vâng ạ, cháu cũng mong là cháu có đủ tiền"
Tôi nhét mấy tờ giấy bạc vào số tiền của cậu bé và chúng tôi bắt đầu đếm. May quá, đã có đủ tiền để mua búp bê, thậm chí còn thừa ra một ít.Cậu bé bảo tôi:
"Cám ơn chúa đã cho cháu đủ tiền"
Cậu bé lại nhìn tôi;
" Hôm qua, trước khi đi ngủ cháu đã cầu chúa cho cháu đủ tiền mua con búp bê này để mẹ cháu có thể đem tới cho em cháu. Vậy là chúa đã nghe lời cầu nguyện của cháu."
" Cháu cũng muốn có đủ tiền để mua một bông hồng trắng cho mẹ nữa, nhưng cháu lại không dám đòi hỏi quá nhiều nơi chúa.Nhưng ngài đã ban cho cháu đủ tiền để mua cả búp bê lẫn hoa hồng.Cô biết không, mẹ cháu yêu hoa hồng trắng lắm"
Vài phút sau bà lão quay lại.Tôi từ biệt hai bà cháu và tiếp tục đẩy chiếc xe chở hàng đi.Tôi hoàn tất việc mua sắm
-
Những bài học của các nhà kinh doanh (tôi rất tâm đắc bài này, vì nó cũng đã cho tôi 1 bài học quý báu để trở nên như bây giờ,)
Một nhà kinh doanh người Ạnh kể rằng.
Vào năm 1969, tôi dành toàn bộ tài sản để mở một cửa hàng thực phẩm nhỏ. Khoảng một tuần sau ngày khai trương, tôi đang đứng ở lối ra vào thì một bà khách giận dữ đi đến và nói : " Hộp rượu trứng này mua ở cửa hàng ông bị chua". Tôi đón lấy hộp rượu nặng nửa cân mở ra nếm thử thấy chẳng làm sao cả.
- Bà nhầm rồi rượu được đấy chứ.
Rồi để chứng mình là bà ta sai thực sự, tôi dấn thêm :
- Tuần vừa rồi chúng gói bán 300 hộp và chỉ có mình bà là người duy nhất phàn nàn.
Bà khách nổi khùng lên đòi lại tiền và tuyên bố sẽ không bao giờ trở lại mua hàng tại đây nữa.
Đêm đó, đầu óc tôi bị ám ảnh sự việc trên đấy. Ngẫm kỹ lại, tôi đã nhận thấy mình phạm sai lầm. Đã không lắng nghe bà khách, tôi lại còn thách thức và làm nhục bà ta bằng việc dẫn ra 300 khách hàng không phàn nàn về món rượu trứng của tôi.
Sự việc này đã tác động rất lớn tới cuộc đời doanh nghiệp của tôi. Tôi đã rút ra được 2 bài học và quyết định khắc chúng vào phiến đá nặng 6.000 cân Anh đặt trước cửa hàng, nơi hàng tuần 100.000 khách hàng có thể trông thấy. Chúng tôi gọi nó là "hòn đá cam kết". Trên đó khắc 2 điều luật :
"Điều 1 : Khách hàng luôn luôn đúng.
Điều 2 : Nếu khách hàng sai, hãy xem lại điều 1" .
Việc áp dụng những nguyên tắc này đã giúp tôi mở rộng kinh doanh từ một cửa hàng 300 m2 thành một cửa hàng 30.000m2, cửa hàng thực phẩm lớn nhất thế giời với mức doanh thu đạt 100 triệu đô le.
Ngày nay chúng tôi thực sự vui mừng khi khách hàng đến phàn nàn. Chúng tôi coi họ là nhưng người bạn, bởi vì chính họ đã giúp chúng tôi có cơ hội phát triển.
Những khách hàng "không phàn nàn" có thể họ không bao giờ trở lại mua hàng nữa.
Chúng tôi thấm nhuần tinh thần phục vụ khách, ngay khi tuyển những người bán hàng. Đức tính hàng đầu là thái độ tốt, rồi mới đến kinh nghiệm, trình độ, quá trình đào tạo, học vấn hoặc diện mạo. Thường thường phải phỏng vấn từ 15 - 25 người xin việc mới chọn được một người ưng ý.
Hãng Sony của Nhật thì cho rằng : "khi tuyển nhân viên ngoài khả năng tâm lý có thích hợp với tập thể mà họ sẽ được nhận vào hay không.
Tài giỏi mấy mà không biết giao tiếp với mọi người thì không mấy ai dám nhận, vì chính người này là ngòi nổ tạo ra sự mâu thuẫn, xung đột trong tập thể.
Khả năng phối hợp hành động của mình với các đồng nghiệp là tiêu chuẩn cao nhất khi tuyển chọn, còn kiến thức thói quen nhiều khi xem là thứ yếu.
-
Rất hay:
"Điều 1 : Khách hàng luôn luôn đúng.
Điều 2 : Nếu khách hàng sai, hãy xem lại điều 1"
_chính sác 100% , khách hàng là người quyết định mặt hàng đó được chấp nhận hay không chấp nhận. Có tốt mấy nhưng không đúng thị hiếu thì cũng để kho sau đó vào thùng rác. Còn có dở nhưng nó vẫn bán chạy bởi nó đúng thị hiếu người tiêu dùng.
_Về mặt nhân sự thì theo riêng mình tôi thôi. Trách nhiệm với công việc là quan trọng nhất. Mỗi công việc và mỗi địa vị có cách thể hiện và tỏ rõ người đó có trách nhiệm đến đâu. Cái đó phải phụ thuộc vào công việc mới quyết định chính sác được. Không thể bắt tay lập trình phải nói liên mồm và cười toe toét bên màn hình. Không thể bắt anh tiếp thị nhăn mặt và đăm chiêu đứng trước khách hàng. Đó là 2 ví dụ điển hình rõ nhất. Khi con người ta có tránh nhiệm rồi thì người đó biết mình phải làm gì để đạt được thành công nhất. Nhưng trong một tập thể cũng không thể thiếu sự tôn trọng lẫn nhau. Nhìn nhận đúng quyền lợi và trách nhiệm của mình. Mất lòng trước còn hơn mất lòng sau. Tất cả đều thoải mái khi đã vào công việc , thì không thể cái tập đoàn đó không thành công. Tôi chỉ nghĩ đơn giản thế thôi , và cách nhìn nhận của riêng bản thân tôi thôi. Các bạn đừng cười và chê nhé.Một nhà lãnh đạo hoặc thủ trưởng sử dụng người thích hợp với công việc là vấn đề mấu chốt dẫn tới thành công.Người cầm đầu không cần quá xuất sắc , mà chỉ cần biết sắp sếp mọi thứ đúng nơi , đúng chỗ. Tất cả sẽ phát huy hết cỡ khả năng trong con người họ khi họ có niềm đam mê công việc và có trách nhiệm với công việc của mình.
-
Về hưu
Về hưu, Ba Long cảm thấy cuộc sống bỗng dưng thay đổi đột ngột. Ba tháng sau, ông vẫn chưa quen với cuộc sống hàng ngày. Ông vẫn thức dậy từ lúc 5 giờ sáng. Tập thể dục. Đi ăn sáng. Uống một ly cà phê sữa đá hoặc ca cao. Nhưng ông không phải vội vã đến cơ quan làm việc, không phải bận rộn xem lại các hợp đồng, công văn, dự án hoặc lịch làm việc của ngày hôm đó. Điều làm cho ông thoảng thốt nhất, là không có tiếng chuông gọi cửa của người tài xế vào lúc 7 giờ kém 15… Thói quen làm cho ông mệt mỏi, chờ đợi…
Không có những cuộc điện thoại gọi đến mời đi ăn điểm tâm, mời ăn trưa, ăn chiều… Ông mất cả đi thói quen nói lời từ chối, cũng như sự chọn lựa để nói lời chấp thuận. Người ta phớt lờ ông, như ông chưa bao giờ hiện diện trong cuộc sống của họ, như ông đã biến mất không để lại một chút gì trong tâm tưởng của họ. Tại sao? Tại ông hay tại cuộc sống vốn dĩ là như vậy?
Sự chống chếnh của khoảng thời gian trống rỗng, sau khi ly cà phê sữa đá đã cạn, thường làm cho ông hốt hoảng. Ông thấy sờ sợ một cái gì đó. Sự cô độc. Để trốn chạy cảm giác đó. Ông đọc báo, tin thời sự. Cuộc chiến dai dẳng giữa Palestines và Israel. Những thương vong, mất mát tiếp diễn hàng ngày sau cuộc chiến của Iraq. Những vụ án tham nhũng động trời trong nước. Những quyền lực giấu mặt tiếp tay cho xã hội đen đang bị lôi dần ra ánh sáng… Những trẻ em đường phố bơ vơ, bị hiếp đáp, lợi dụng. Những cô gái thanh xuân thơ ngây, bị kéo vào cuộc sống nhơ nhớp, nhầy nhụa của đồng tiền. Để rồi như những kẻ bất hạnh nhất thế gian, họ chìm nghỉm, trôi nổi giữa đám sình lầy nghiện ngập và bệnh tật…
Ông đã khóc. Những giọt nước mắt ẩn sâu trong đáy mắt ông, từ mấy chục năm qua bây giờ càng chảy xuống chậm rãi, nhức buốt như để lại trên mặt ông vết hằn rát bỏng. Ông xem chương trình "Vì những người nghèo" trên truyền hình. Những người sống trong bóng tối, đã nhìn thấy ánh sáng, nhờ những tấm lòng từ thiện, những trái tim biết yêu thương nỗi đau của người khác. Ông đã khóc, khi thấy một người đàn ông bị bệnh ung thư sắp chết cũng làm từ thiện… Một cặp vợ chồng, tháng nào cũng đi bán máu, họ bán sự sống của chính mình, để đi tìm sự sống cho đứa con thơ dại, bé bỏng đang mỗi ngày quằn quại chống đỡ với nỗi đau của bệnh tật….
Những điều ấy, khi còn tại chức vẫn thường tiếp diễn trong cuộc sống của ông, đi qua những suy nghĩ của ông, tái tạo rất rõ ràng, qua sự xô bồ mà cuộc sống đang trải rộng trước mắt ông. Nhưng giống như một người xa lạ với cộng đồng con người mà ông đang sống và làm việc. Ông thấy dửng dưng. Ông thấy không phải là chuyện của ông. Thế giới của ông là công việc. Là đổ bê tông thật vững chắc vào chiếc ghế mà ông đang ngồi. Là những hợp đồng béo bở. Những phe cánh, chướng ngại cần loại bỏ. Làm từ thiện ư? Thì làm. Ở đâu? Bao nhiêu? Làm gì? Đã có kế toán và trợ lý của ông lo. Với lại cũng chẳng phải tiền túi ông. Tiền vô tội vạ đổ từ túi này sang túi khác. Mà hương thơm lại bay đến chỗ ông ngồi. Ông không mất mát gì. Ông không có khái niệm về sự từ thiện. Ông bận bôn ba cho danh vọng và sự nghiệp của ông. Ông bận tranh giành chức tước và quyền lợi. Ông thật sự bận rộn… Cũng như bao nhiêu vị chức tước khác đang lo toan, bận rộn với công việc của họ trong cuộc đời. Ông đi nhà hàng, bia ôm, ôm những cô gái nhỏ hơn cả con gái út của mình, ban đầu cũng còn chút hổ thẹn, cũng day dứt lương tâm, nhưng sau rồi mọi sự quen dần. Lòng ông mỗi ngày, mỗi dửng dưng: "Bánh ít trao đi, bánh chì trao lại". Những cô gái ham tiền. Những người đàn ông ham gái. Một sự trao đổi. Một hợp đồng. Thanh toán xong là chấm hết.
-
Về hưu rồi. Thời gian đột nhiên trống rỗng. Ông tìm cách nói chuyện với vợ, nhưng bà không có nhiều thời gian dành cho ông, cuộc sống của bà từ lâu, đã trôi như một dòng chảy bình lặng, đều đặn. Buổi sáng thức dậy, dọn dẹp nhà cửa, đi chợ, làm thức ăn và ăn cơm. Buổi chiều, bà giặt giũ, tưới cây, làm thức ăn. Buổi tối, bà chơi với cháu ngoại và cháu nội, khi cha mẹ chúng đi làm ca đêm hoặc đi học thêm tiếng nước ngoài, chương trình quản lý kinh doanh, đi nhà hàng, khiêu vũ… Ông thấy cô đơn.
Ông chú tâm xem phim. Toàn phim Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan làm ông chán… Phim Việt Nam chiếu trên tivi quá ít ỏi, mà đâu phải phim nào cũng hay. Ông loay hoay mãi chẳng biết làm gì, giữ cháu cũng không quen, thôi thì xem thời sự, tin thế giới… Có một đoạn tin thời sự trong chương trình vì những người nghèo, ông nghe mà không tin ở tai mình… Đoạn tin nói về một ông lão về hưu, đã hiến tặng toàn bộ tài sản mà ông đã dành dụm suốt cuộc đời mình cho quĩ từ thiện vì những người nghèo. Gồm có 90 cây vàng và 82 triệu đồng. Còn bản thân ông ta thì sống bằng tiền trợ cấp hưu trí của Nhà nước. Ba Long nghe xong cảm thấy bần thần, ngơ ngác. Số tiền đó đối với Ba Long không phải là lớn. Trong suốt thời gian làm việc, ông còn kiếm được nhiều lần hơn thế. Nhưng ông không tin. Dù đó chỉ là điều đơn giản nhất, từ một tấm lòng của con người. Ông không bao giờ thấy đủ, dù đã quá nhiều tiền. Ông cũng không biết nương tay, thương xót. Nếu một kẻ nào đó muốn tranh đoạt với ông, dù thua hay thắng, ông vẫn không từ một thủ đoạn nào. Chẳng riêng gì ông, bọn kia cũng thế thôi. Ông nhếch mép cười trước bản tin thời sự đó, cười rất nhạt, nhưng nụ cười cứ méo xệch trên môi, cho đến không ông cảm thấy cổ họng mình đắng ngắt, khô khốc. "Cứ như chuyện cổ tích ấy nhỉ?". Ông tự nói với mình như thế, nhưng rồi ông lại giật mình, ngơ ngác nói tiếp "Vẫn có những con người như thế trong cuộc sống này sao? Có tin không? Có nên tin không? Không thể nào tin được. Nhưng…".
Ba Long không tin là phải. Ông đã quá xa lạ với cuộc sống mà ông đang sống. Ông đã quá xa lạ với nỗi đau của kẻ nghèo đói, đang sống trong nỗi bất hạnh và tuyệt vọng. Quả thật là như thế. Ba Long nhớ lại khoảng thời gian một tuần sau khi về hưu. Vào một buổi sáng, sau khi tập thể dục xong, ông gọi điện cho người cộng sự cũ của mình: "Chú mày đang làm gì đấy, đến nhà hàng Mỹ Lan ăn sáng với anh nhé". Đầu dây bên kia từ chối thẳng thừng, cũng giống như ông đã từng từ chối những người khác, mà ông biết họ đang cần ông. "Bận quá anh Ba ơi, để hôm khác nhé". Điện thoại cúp. Ba Long giận điên người, lầm bầm rủa: "Cái quân trở mặt, mọi hôm thì cứ dạ thưa, dạ thít, lít xít quanh đít tao. Bây giờ mày bày chuyện từ chối hả? Mày…". Ba Long cũng đã thấy nỗi đắng cay xộc vào mũi, xộc vào tim, xộc vào tâm can ông nhức nhối. Ông cố gọi một người khác. Ở đời, có phải ai cũng bạc bẽo như cái tên đốn mạt kia đâu. Nhưng Ba Long đã gặp phải một buổi sáng xui xẻo, chưa từng thấy trong cuộc đời. Người này bận, kẻ kia cũng bận. Họ đua nhau bận cùng một lúc, khi ông gọi điện thoại mở lời mời. Không lẽ khi ông về hưu rồi, cái cơ quan của ông lại đâm ra siêng năng làm việc đến thế sao? Ông thui thủi, đi xe đến nhà hàng Mỹ Lan ăn sáng một mình. Ai dè đến đó, ông lại thấy bọn họ, những kẻ hết sức bận rộn kia, đang ngồi kín bàn, bên tay giám đốc mới vừa thay thế ông, họ nói cười rôm rả. Lòng ông tê tái, đau đớn. Nỗi đau đớn của một con người, bị chính những người thân của mình đánh vào xương thịt. Nỗi đau của một kẻ lẻ loi, đang đối diện với sự phản bội. Ông vội vã quay xe trở về trong nỗi bẽ bàng của kẻ xuống ngựa. Đoạn đường trở về, sao lại dài hun hút đến thế, khó nhọc và vất vả đến thế. Có lẽ, đó cũng là đoạn đường khủng khiếp nhất, mà ông vừa trải qua trong cuộc đời mình. Về đến nhà ông đổ ập xuống giường. Đổ ập vào nỗi đau đớn mà ông không thể ngờ, không đoán trước được cho đến ngày hôm ấy.
Ông năm đó, như trôi vào một đám sương mù u ám và tăm tối. Ông để mặc. Nhưng chính những giây phút bình yên như thế đã khiến ông dần dần hồi tỉnh lại… Và một điều rất nhỏ bé mong manh từ tâm hồn ông chợt thoáng ra, như hơi thở của ánh sáng nhẹ nhàng xua đi đám mây mù, để từ đó nó toả ra một thứ hương thơm của niềm hạnh phúc kỳ lạ mà ông chưa từng bắt gặp, chưa từng biết đến, nó như một bông hoa nhỏ nhoi đã nở giữa một vùng cát trắng, nóng bỏng…
Ông bệnh. Cơ quan cũ của ông gửi người đến thăm, tặng đường, sữa, trái cây. Người cộng sự của ông cũng đến, vài ba kẻ khác cũng đến. Ông cũng biết là không nên quơ mọi người vào một đám. Nhưng ông không muốn tiếp ai. Vợ ông, đã làm thay ông những công việc đó. Ông nằm trong phòng, nghe những câu thăm hỏi nhạt nhẽo, giả nhân, giả nghĩa, ông lặng lẽ cười. Họ đến thăm ông, đặt quà cáp lên bàn của ông một cách thản nhiên, chứ không như trước nữa. Ngày trước ông còn đương chức, họ cầu cạnh, nịnh bợ… Còn bây giờ, nó giống như ngày xưa ông đi làm từ thiện vậy, hờ hững, vô tâm.
Buổi tối. Con cái đến thăm ông đông đủ. Cô con dâu cả trêu bố chồng như trêu đồng nghiệp: "Bố ơi, bố bệnh thật hay là làm nũng mẹ đấy. Chắc lâu rồi không có cô nào mát xa cho bố phải không?". Ông nghiêm mặt mắng: "Nói bậy". Nhưng cô con dâu lại cười nắc nẻ, một cách vô tâm. Đến lượt cậu con rể, thì ông đành ngậm bồ hòn. "Bố ơi, không lẽ về hưu, lại làm bố buồn phiền, đến đổ bệnh ra như thế này sao? Hay là chúng con mở một công ty gì đó, để bố làm việc cho vui, bố nhé". Ông nhắm mắt giả vờ ngủ. Đến khuya, trước khi về, con trai cả lại nói: "Bố hãy bình tâm. Rồi mọi chuyện lại trở lại bình thường bố ạ". Ông giật mình. Một câu nói thật đơn giản, nhưng chứa đựng biết bao nhiêu điều ở trong đó. Con trai ông hiểu như thế nào về ông? Ông nhìn con chằm chằm, nhưng người con trai cả chỉ thản nhiên cười, nụ cười hiền lành.
Người ta vẫn nói về những tật xấu khó thay đổi của con người, như "Ngựa quen đường cũ". Không phải Ba Long quen đường cũ, mà ông có một chốn cũ trong tâm hồn. Nơi ông thường đến, để trút bỏ ưu phiền, mệt mỏi trong công việc, nơi ông cảm nhận được sự ngọt ngào, êm dịu, nồng nàn của một thứ tình cảm rạo rực, giữa một người đàn ông và một người đàn bà, mà vợ ông đã không mang lại cho ông. Với ông, người đàn bà nơi chốn đó, là thứ quý báu nhất, ông nâng niu cất giấu, là viên ngọc đẹp, ông đã nhặt ra giữa cuộc đời bụi bặm này và giữ nó cho riêng mình, trau chuốt cho tâm hồn ông. Sau ngày về hưu, Ba Long chưa biết giải quyết thế nào, nên ông vẫn còn ngần ngừ chưa đến gặp người ấy. Cuộc sống của người đàn bà đó, không khiến ông phải lo lắng. Cái làm ông buồn phiền là làm sao cho người đàn bà này hạnh phúc mà không làm khô héo người đàn bà kia. Không làm tiếng tăm của ông nhơ nhuốc. Ông không muốn con cái chuốc lấy sự nhơ nhuốc của bố. Mỗi ngày, ông vẫn gọi điện thoại, và cảm thấy tâm hồn mình bay bổng khi nghe tiếng cười trong vắt, lanh lảnh của người ấy. Giọng nói ngọt ngào đó, nhẹ nhàng rót mật vào lòng ông. Ông luôn tưởng tượng đến sự thông minh, sắc sảo, đôi mắt đen láy và làn da trắng mịn như sữa. Ông luôn ước muốn đến được với người ấy, từng giây phút, buông thả trong niềm đam mê, hoan lạc, trút bỏ tất cả niềm rạo rực, nhớ mong. Ông yêu người ấy. Không vụ lợi. Có thể đó là sự chân thật duy nhất trong cuộc sống và ông đã dành riêng cho một người đàn bà.
Khi xe ông đến, đỗ trước sân nhà. Ông bấm chuông. Một lát sau, ông nghe tiếng cười trong vắt và bước chân nhẹ nhàng của nàng tiến ra cửa. Nhưng ông lại giật mình vì nghe cả giọng nói của một người đàn ông lạ, trong căn nhà của nàng và ông. Cái vẻ xanh xao, nhợt nhạt đến sững sờ trên gương mặt của nàng làm ông run rẩy. Ông cố nhấc chân lên, nhưng mãi vẫn không nhấc được. "Anh đến sao không báo cho em biết trước". Nàng kêu lên thánh thót. Nhưng ông nghe có cả sự thất thanh, hoảng hốt. Người đàn ông trung niên mỉm cười, rất tự nhiên. Nàng nói: "Anh ấy là con bà cô của em, ở thành phố về chơi đấy". Ông gật đầu chào. Ông nói năng không trôi chảy. Ông đã đánh mất khả năng đó từ lúc nào nhỉ? Nàng mỉm cười duyên dáng, nói với anh nàng. "Anh Ba Long trước là giám đốc công ty xuất nhập khẩu…". Ông khoát tay. "Thôi mà, tôi đã về hưu rồi". Nàng lại mỉm cười nói tiếp: "Anh Ba Long là sếp cũ của em đấy. À, để em làm nước cam cho anh Ba uống nhé". Ông ngồi im thin thít, cứ như cái đinh bị đóng xuống ghế. Ông cũng không hiểu tại sao, hay chính vì những linh cảm trong đầu đang dày vò ông. Không, không thể… Ông anh họ thì cứ ngồi hút thuốc, nhâm nhi ly rượu đang dở dang ở trên bàn, mùi của chai rượu Mac-ten mà ông mang đến cho nàng trước ngày ông về hưu. Nàng lại nhìn ông nhoẻn miệng cười, nụ cười của nàng tươi như một đoá hoa vừa nở: "Một lát nữa chúng em phải lên công ty để giải quyết những hợp đồng xuất hàng đi Malaysia. Anh đi chơi với chúng em nhé". Ông gượng cười, lắc đầu: "Để hôm khác, tôi chỉ ghé qua thăm cô một lát. Thôi hai người cứ đi lo công việc đi, tôi về". Ông đứng dậy ra về, vừa bước xuống bậc thềm, ông nghe một câu nói, như một lưỡi dao, đột ngột cắm phập vào tim ông, đau buốt: "Lão già đó hết thời rồi, em còn để lão đến đây làm gì. Dây dưa nữa, chẳng được gì đâu". Ông lại nghe tiếng cười phá lên như chuông reo của nàng và cánh cửa đóng ập lại sau lưng ông, vang lên một tiếng kêu chát chúa. Tiếng kêu như tiếng sét, xé toang tâm hồn ông thành muôn mảnh vỡ.
Ông bước chới với. Lần đầu tiên ông thấy mình nghiêng ngửa, lảo đảo. Không biết bám bíu vào đâu.
Một thằng bé bán vé số đi ngang qua, chợt hốt hoảng níu lấy tay ông. "Bác ơi, bác làm sao thế?". Ông nghẹn ngào nói như khóc: "Bác già rồi, đi không nổi nữa cháu ơi". Thằng bé cười: "Để cháu cùng phụ dắt xe với bác ra ngoài quán kia ngồi nghỉ một lát là bác khoẻ ngay thôi. Bác mà già ư. Bác còn trẻ hơn cha cháu nhiều, nhưng cha cháu không lớn tuổi hơn bác đâu". Đây cũng là lần đầu tiên trong đời, ông nói chuyện với một thằng bé lang thang ngoài phố. Ông cũng nghe đồn rất nhiều về những đứa trẻ bụi đời, móc túi, thậm chí cả xì ke, ma tuý nữa. Điều ấy chợt làm ông rùng mình. Ông quan sát thằng bé. Mặt đen sì. Dáng người gầy ốm, loắt choắt. Đầu đội chiếc mũ phớt cũ kỹ. Quần áo lem luốc. Đôi mắt đen, có vẻ thông minh, lanh lợi. Thật tình, ông không hiểu lắm về những đứa trẻ ngoài đường phố. Chúng nhan nhản trước mắt ông, nhưng chúng thuộc về một thế giới khác. Chúng hoàn toàn xa lạ với ông. Bây giờ ông đang đi bên cạnh với một trong những thành phần đó, tuy nó yếu ớt, bần cùng, nhưng nó đang tiếp sức cho ông trên đoạn đường khó nhọc, rồi sau đó là gì? Nó có lọc lừa, phản bội như nàng của ông không? Nó có cắm phập vào tim ông nhát dao chí mạng không? Nó sẽ cười phá lên trước cái chết của ông, để nhạo báng sự cả tin của ông. Nó sẽ tính toán tiền công đẩy xe với ông bằng một cái giá cắt cổ, để bù lại khoảng thời gian nó đã đi bên ông mà không bán được vé số? Hay nó lại bắt ông mua vé số? Hay là nó sẽ… Với ông, mọi chuyện có liên quan đến tiền bạc, đều không thành vấn đề. Đây cũng là ván bài mà ông sẽ chơi với đứa bé ngoài phố, khi ông đã về hưu. Ông đang chờ xem.
Thằng bé cùng Ba Long đẩy xe đến một quán nước ven đường. Quán nhỏ, nhưng khá sạch sẽ. Ông cảm thấy đỡ đi rất nhiều. Thằng bé nói: "Bác uống gì cháu kêu giùm cho". "Cà phê sữa đá, cháu uống gì kêu luôn nhé". Thằng bé lại mỉm cười, nụ cười của nó, nửa giống con trai ông, nửa lại không.
Ly cà phê được mang ra cho ông, nhưng không có ly cho thằng bé. Ông ngạc nhiên. "Cháu uống gì? Ly của cháu đâu?". "Dạ thôi, cháu vừa uống xong. Một lát nữa, bác đi về một mình có được không? Có cần cháu giúp gì cho bác nữa không?". Ba Long lắc đầu. "Bác khoẻ rồi. Cảm ơn cháu". Nói xong Ba Long móc ví tiền, lấy ra hai tờ mười ngàn cho thằng bé, đó là điều hiển nhiên. Ông nghĩ rằng thằng bé sẽ nhận và nó sẽ rất vui. Nhưng thằng bé đã nói lời cảm ơn và từ chối. "Cháu giúp bác không phải vì tiền đâu. Thôi, cháu đi bán cho kịp chiều xổ đây. Cháu chào bác nhé". Nói xong thằng bé biến đi rất nhanh. Ba Long sửng sốt, rồi ngỡ ngàng nhìn quanh tìm thằng bé. Nhưng không thấy bóng dáng nó đâu nữa. Nó đã trôi vào dòng chảy xô bồ của cuộc sống, để tìm kiếm cuộc mưu sinh. Nhưng trên đoạn đường đang đi đó, nó đã quên bản thân mình, để đưa bàn tay nhỏ bé của mình ra cho kẻ khác đang cần đến. Ông đã quên không hỏi tên nó. Tại sao nó không mời ông mua vé số nhỉ? Dù muốn dù không, chắc chắn rằng ông sẽ mua vé số cho nó, bằng số tiền mà ông đã cho, nhưng nó không nhận. Tại sao? Thằng bé không mang đến cho ông nỗi buồn, cũng không mang đến cho ông niềm vui. Nhưng nó đã mang đến cho ông niềm tin và sự trong sáng dù rất nhỏ nhoi trong lúc này. Nhưng kỳ lạ thay, chính một thằng bé xa lạ, nhem nhuốc lang thang ở đường phố, đã đưa bàn tay bé bỏng của nó ra và mang ông đến một góc của sự bình yên./
-
Bạn à, người đàn ông đó đã nhận được tấm lòng rồi đó. Tiếc rằng ông quen với những lời nói su nịnh thôi. KHi ông ốm , những người đó vẫn biết và đến thăm đó thôi. Những món quà đó không hờ hững đâu. Đó mới là món quà trân tình nhất đó. Nó không cần sự đáp trả lại của ông. Khi người đàn ông đang trức đang quyền thì những món quà không có nghĩa lắm , ở đây người đàn ông lại nhìn nhận như vậy. Ông đã nhìn ra sự thật và đang cố gắng về với đời thường nhưng ông vẫn muốn líu kéo cái thời vàng son của mình. Chẩng qua ông cũng chỉ là con người thôi mà. Thời gian sẽ giúp người đàn ông đó , giúp cho người đàn ông đó nhận ra rằng những lời nói tưởng chừng như lãng xẹt kia , nghe đầy mỉa mai kia lại là những lời nói bình dị vàn gần gũi nhất. Chỉ có những con người thực sự đến với nhau bằng tình cảm mới cảm nhận được lời nói đó là chân tình mà thôi.Người đàn ông đó cần phải có thời gian. Ở đây người đàn ông có một người phụ nữ tuyệt vời. Thầm lặng đi bên chồng và chăm sóc , trong âm thầm mà người đàn ông đó không hay. Chỉ đến lúc này người đó mới nhận ra nhưng theo riêng tôi nghĩ , không có gì là muộn cả. Chỉ sợ người đó không nhận ra mà thôi. Đằng sau một người đàn ông thành đạt là một người phụ nữ đảm đang. Vậy đấy...gia đình là vậy đấy.
Bạn à , bận thế sao mà mỗi hôm bót một đoạn thế. Đây là một câu truyện mà, nhưng đoạn này đọc xong bực cái người đàn ông đó quá. Người này vẫn cố tình tìm lại những gì tội nỗi của ngày xưa. Vẫn tìm về với cái hư danh hão huyền của quyền lợi mang lại. Nụ cười của cậu bé người đàn ông đó không bao giờ nhận ra được hết sự thánh thiện trong đó được khi nào người đàn ông còn chưa thật sự hiểu được đâu là trân lý mãi mãi của một con người. Đó là chỉ là những cái rất tầm thường , tầm thường đến mức chúng ta gặp đâu đó trong cuộc đời nhưng lại bước qua nó và cho nó là tất yếu của cuộc sống. Nhưng những cái đó lại là không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi người , thiếu nó con người ta sẽ sống như là một cỗ máy , một loài ma quỷ. Vậy đấy...cuộc sống là như vậy đấy. Hãy lắng nghe nó thổn thức và bạn sẽ cảm nhận ra được nhiều điều. Một ly cà phê sẽ không đắng khi người uống nó biết thế nào là cà phê. Cà phê không đắng , không ngọt liệu còn là cà phê.Mùi hương vị có nó đặc quánh một mầu đen , nhưng cái mùi đó thật sự quyến rũ. Cậu bé bán vé số là một con người , có thể chỉ là một cái gai trong mắt người đàn ông khi ông còn đang trức đang quyền , nhưng tại soa bây giờ ông lại ngồi nói truyện với nó. Tại sao ông không ngại ngùng , không xo đo? Ông đang cố gắng tìm hiểu cái gì đằng sau nụ cười kia? người đàn ông đó bao giờ mới nhận ra được tất cả nét đẹp trong nụ cười kia? thời gian..chỉ có thời gian mới giúp được người đàn ông đó.
-
Ở một thị trấn nhỏ êm đềm và thơ mộng kia có đôi nam nữ rất yêu nhau. Họ cùng tựa vào nhau trên đỉnh núi cùng ngắm cảnh bình minh và cùng tiễn những ánh chiều tà trên biển. Mọi người nhìn họ với ánh mắt ngưỡng mộ và thầm cầu chúc cho họ hạnh phúc.
Nhưng rồi bỗng một hôm, người con trai không may bị thương rất nặng. Anh nằm trong bệnh viện mấy ngày mấy đêm vẫn chưa tỉnh lại. Ban ngày, cô gái luôn ngồi trước giường anh và không ngừng gọi tên anh. Buổi tối, cô tới nhà thờ nhỏ trong thị trấn để cầu nguyện. Cô gái dường như đã khóc cạn nước mắt.
Một tuần trôi qua, chàng trai vẫn chưa tỉnh lại. Cô gái đã rất tiều tụy nhưng vẫn chăm sóc anh rất tận tình. Tình yêu của cô đã làm Chúa Trời cảm động, và Ngài đã quyết định dành cho cô gái một ngoại lệ. Ngài nói: "Ta có thể làm cho người yêu cô nhanh chóng khỏi bệnh, nhưng cô phải hóa thành bướm trong vòng ba năm. Cô có đồng ý như thế không?". Cô gái nghe xong rất cảm động và nói một cách dứt khoát: "Con đồng ý".
Trời sáng, cô gái đã biến thành một con bướm rất đẹp. Cô từ biệt Chúa Trời và bay ngay tới bệnh viện. Quả nhiên, chàng trai đã tỉnh lại. Anh đang trò chuyện với bác sĩ, nhưng rất tiếc cô lại không nói được.
Mấy ngày sau chàng trai xuất viện nhưng không hề vui vẻ. Anh hỏi những người thân về tin tức của cô gái, nhưng không một ai biết người yêu anh bây giờ đang ở đâu. Chàng trai cả ngày không ăn không nghỉ, nhất mực đi tìm người yêu. Trong khi đó, cô gái biến thành bướm kia bay qua bay lại bên cạnh anh; chỉ có điều cô không thể gọi tên anh, không thể trò chuyện cùng anh mà chỉ có thể lặng lẽ đón nhận ánh mắt vô hồn của anh.
Mùa hè qua đi, những cơn gió mùa thu mát mẻ thổi rơi những chiếc lá, cô gái phải rời khỏi nơi này. Ngày cuối cùng cô bay tới đậu lên vai của chàng trai. Cô muốn dùng đôi cánh bé nhỏ của mình vuốt ve lên mặt anh, dùng đôi môi nhỏ xíu của mình hôn lên trán anh, nhưng thân hình nhỏ bé của cô không đủ để anh nhận ra.
Trong chớp mắt, mùa xuân của năm thứ hai đã tới. Cô vội bay về tìm người yêu của mình, nhưng đứng bên cạnh anh lúc này là một cô gái rất xinh đẹp. Cô khựng lại, dường như đang rơi từ lưng chừng trời xuống. Người ta kể rằng vào mùa giáng sinh ấy bệnh của anh càng trầm trọng hơn, người ta cũng kể rằng cô bác sỹ ấy đã chăm sóc anh chu đáo như thế nào và người ta nói rằng tình yêu của họ là lẽ đương nhiên. Tất nhiên người ta cũng không quên miêu tả rằng chàng trai đã vui vẻ trở lại.
Cô gái vô cùng đau khổ, mấy ngày tiếp theo, cô thường thấy người yêu của mình dẫn cô bác sỹ ấy lên đỉnh núi ngắm bình minh và họ cùng ra biển tiễn hoàng hôn. Còn cô không thể làm được gì khác ngoài vài lần đậu trên vai của anh.
Mùa hè năm đó dài đằng đẵng, hàng ngày cô bay rất thấp trong đau khổ, cô không còn dũng khí để đến gần người yêu. Những lời nói thì thầm, những tiếng cười vui vẻ của họ làm cô tủi thân.
Mùa hè của năm thứ ba, bướm đã không thường xuyên bay tới thăm người yêu nữa. Người yêu của cô đã ôm vai, hôn lên má cô bác sỹ và anh chắc cũng không còn tâm tư để hoài niệm về những ngày đã qua.
Thời gian ba năm sắp hết, trong ngày cuối cùng, người yêu của cô đã tổ chức hôn lễ với cô bác sỹ. Cô nhẹ nhàng bay vào trong nhà thờ đậu lên vai của Chúa và nghe thấy người yêu của cô ở dưới thề rằng: "Tôi đồng ý". Cô nhìn thấy anh đeo nhẫn cho vợ, và sau đó là nụ hôn ngọt ngào của họ. Cô đã rơi những giọt lệ xót xa.
Chúa Trời thở dài một cách xót xa: "Con có hối hận không?". Cô lau khô những giọt nước mắt: "Không ạ!". Chúa Trời bỗng vui vẻ nói: "Ngày mai con có thể trở lại thành chính mình rồi". Bướm lắc đầu nói: Hãy cứ để cho con làm kiếp bướm suốt đời.
-
Cảm ơn
Một người nọ mỗi khi cầm tờ báo là mở xem những trang cáo phó chia buồn trước nhất. Anh ta chăm chú đọc từng dòng trên trang cáo phó dù không hề quen biết với người đã mất. Có người bạn thấy thế bèn hỏi nguyên do. Anh ta trả lời:
- À. Tôi chỉ gửi lời cám ơn đến những người này đó thôi.
Người bạn của anh ta trợn mắt ngạc nhiên nói:
- Anh nói điều gì mà tôi chẳng hiểu gì cả. Anh cảm ơn những người đã chết mà toàn là người anh chưa hề quen biết! Cái đầu của anh có vấn đề gì không vậy?
Người nọ thong thả trả lời:
- Đúng vậy. Tôi trân trọng cảm ơn họ. Vì sự ra đi của họ đã nhắc nhở cho tôi đừng quên rằng kiếp người vốn là vô thường. Cái chết đến bất chợt nào ai hề hay biết. Lúc còn sống những người này cũng có những ước mơ toan tính, những tranh giành hơn thua, những vui buồn ganh ghét. Để rồi bỗng dưng trở thành những cái xác vô tri chờ đem hỏa táng hoặc vùi sâu trong lòng đất lạnh. Họ đã đem chính sinh mạng của mình để nhắc nhở cho tôi bài học lớn trong cuộc đời như vậy chẳng lẽ không xứng đáng được nhận một lời cảm ơn hay sao anh bạn?