PDA

Xem đầy đủ chức năng : TÂy Du KÍ



Hiennie*
20-04-2007, 12:18 AM
Hồi 1
Khí thiêng kết tụ sanh khỉ đá
Tâm thành tu niệm đạo nhân gian
Cứ theo truyền thuyết Trung Hoa thì kẻ sanh trước loài người là ông Bàn Cổ làm chúa thiên hạ. Kế đó là vua Thiên Hoàng , Địa Hoàng và Nhơn Hoàng, gọi là Tam Hoàng. Rồi đến vua Phục Hi, Thần Nông , Huỳnh , Nghiêu và Thuấn gọi là Ngũ Đế.

Thuở ấy, Trung quốc chia làm bốn châu : Đông Thắng Thần châu , Tây Ngưu Hạ châu, Nam Thiện Bộ châu , Bắc Cư Lư châu.

Đặc biệt là nơi ven biển lại có một nước tên Ngao Lai. Trong nước ấy có một hòn núi gọi là Hoa Quả Sơn (Núi có nhiều thứ hoa quả lạ) đứng sừng sững giữa trời, bao phủ đồi cây gò đất. Trong cảnh hùng tráng âm u ấy có một tảng đá rất lớn , bề cao ba mươi sáu thước năm tấc, chu vi hai mươi bốn thước, trên mặt có chín lỗ thông thiên, bốn bên có tám hang thông ra rừng rậm!

Thật là một tảng đá dị thường, "Cấu Tạo từ thuở khai thiên lập địa" mà loài người không ai có thể tưởng tượng nổi. Với chiều cao vượt lên muôn vật trên mặt đất ấy tảng đá không bị che khuất , hứng chịu sức nóng và lạnh của nhật nguyệt, lần lần tụ tinh nứt ra một viên trứng đá.

Trong lâu năm, trứng ấy tượng hình, rồi gặp một trận gió lớn nỡ ra một con Khỉ đá , giống tạc hình người, đủ tai, mắt, miệng, mũi và tay chân rất lanh lẹ.

Khỉ đá đi đứng khắp vùng, cặp mắt chói lòa như hai cái đuôi sao Bắc Đẩu.

Gặp lúc Ngọc Hoàng đang ngự nơi Linh Tiêu điện, thấy hào quang từ địa giới chói lên lấy làm lạ , sai thiên thần đến hỏi :

- Vì cớ gì lúc nầy nơi trần gian lại có hào quang chói sáng ?

Thiên thần không ai biết.

Ngọc Hoàng liền sai Thiên Lý Nhãn, Thuận Phong Nhĩ ra cửa trời xem thử.

Hai thần tuân lệnh đi do xét một lúc, trở về báo :

- Tâu Thiên Hoàng ! Hào quang đó là đôi mắt của một con Khỉ đá !

Ngọc hoàng ngạc nhiên nói :

- Cõi trần gian, sao có loài khỉ phi thường ?

Hai thần tâu :

- Nơi Đông Thắng Thần Châu có một hòn đá trên núi Hoa Quả, cảm khí âm dương, chứa hơi nhật nguyệt, nứt ra một trứng đá. Trứng ấy nở ra một con Khỉ , đôi mắt sáng quắc. Mỗi khi hắn ngó lên trời là hào quang chói lọi.

Ngọc Hoàng hỏi :

- Thế thì phải làm cách nào để tiêu diệt luồng nhãn khí đó ?

Hai thần tâu :

- Chẳng hề chi ! Hiện nay nó đang sống bằng hoa quả. Hạ thần tưởng chắc một thời gian đôi mắt nó sẽ mờ đi.

Ngọc Hoàng an lòng bỏ qua câu chuyện đó.


Thời gian qua trong cánh núi rừng hoang vắng, Khỉ đá đói ăn trái cây khát uống nước suối, ngày dạo khắp núi non, tối tìm hang động ẩn thân, làm bạn với loài hươu nai , khỉ, vượn khác.

Cái thời gian ấy cũng chẳng ai biết là bao lâu , người ta chỉ thấy Khỉ đá lúc ẩn, lúc hiện , Từ nơi nầy đến nơi khác, lúc ở nơi thanh vắng, lúc lại đến gần những vùng lân cận làng mạc xa xôi, để bắt chước lối sanh hoạt và tiếng nói của loài người.

Cũng trong thời gian đó, Khỉ đá gần gũi với bầy khỉ bạn, tập tành nhau lối ăn nói, xử sự trong có vẻ giống người.

Ngày kia, gặp lúc khí trời nóng bức, Khỉ đá dẫn cả đoàn ra hóng mát nơi bóng cội tùng.

Gió rừng ào ạc, trộn lẩn vối tiếng róc rách của dòng suối chảy xa xa.

Khỉ đá bảo bầy khỉ nhỏ :

- Chúng ta hãy tìm suối nước tắm cho mát.

Bầy khỉ nhỏ tán thành , tung tăng nhảy nhót về phía khe sâu. Đó là một con khe lớn, nước trong vắt, uốn quanh theo rặng núi.

Bầy khỉ nhỏ nhìn làn nước nhăn mặt bảo nhau :

- Chưa biết khe sâu cạn, sao dám xuống tắm ?

Khỉ đá nói :

- Đứa nào dám xuống trước ta sẽ tôn làm vua.

Cả bầy khỉ đều lắc đầu kinh sợ.

Khỉ đá nói :

- Để ta xuống đó cho mà xem.

Dứt lời, co chân nhảy ùm xuống nước.

Nhưng lạ làm sao, vừa lặn khỏi làn nước , Khỉ đá mở mắt ra trông thấy dưới đó là một khoảng không gian trống rỗng. Gần đó có một chiếc cầu ẩn khuất trong kẹt đá. Bên cầu cũng cây cũng trái xanh tươi, dưới cầu cũng nước trong veo chảy nghe róc rách. Cảnh lạ đó gợi vào tánh tò mò, Khỉ đá uốn mình nhảy vọt lên cầu, chạy ngược vào trong. Càng vào sâu, phong cảnh càng thêm u nhã.

Bên trong, sừng sững một toà nhà rộng lớn, trước cửa cổ một tấm biển, khắc mấy dòng chữ :

" Hoa Quả Sơn phước địa

Thủy Liêm động , động thiên "


Nghĩa là :


" Núi hoa qua đất phước

động Thủy Liêm hang trời "

Vừa bở ngỡ vừa mừng thầm, Khỉ đá trở lại cầu, tung mình nhảy lên mặt nước, mặt mày hân hoan, nhìn lũ khỉ nhỏ khịt mấy cái.

Lũ khỉ nhỏ thấy Khỉ đá ló đầu lên, đã vội xúm đến, quấn quít hỏi :

- Suối nước sâu cạn ? Có gì lạ chăng ?

Khỉ đá nói :

- Không sâu, không cạn, vì dưới đó không phải nước mà là một cảnh phi thường.

Lũ khỉ nhỏ ngạc nhiên, nhao nhao hỏi :

- Cảnh thế nào mà phi thường ?

Khỉ đá vừa đưa tay ra dấu vừa giảng giải :

- Có một cái cầu rất đẹp, bên cầu cỏ một tòa nhà uy nghi, lộng lẩy.

Một con trong lũ khỉ nhỏ hỏi :

- Trong ngôi nhà ấy có giêng gì chiếm cứ chăng ?

Khỉ đá nói :

- Không có gì cả ! Chỉ có lò , chén, nói, chảo, giường, ghế. Tất cả đều bằng đá.

Nghe chuyện lạ, bầy khỉ nhỏ hớn hở nói :

- Thế thì chúng ta đem nhau xuống đó làm chổ dung thân tránh cơn mưa gió phủ phàng nơi núi rừng hoang lạnh.

Khỉ đá gật đầu :

- Đúng vậy ! Trời đã dành riêng chổ đó cho chúng ta, bỏ qua uổng lắm.

Bầy khỉ nhỏ nói :

- Vậy anh nhảy xuống trước, chúng tôi theo sau.

Khỉ đá co chân nhảy ùm xuống, lũ khỉ con răm rắp nhảy theo.

Chúng vừa nhảy xuống hang, vội vã lên cầu, chạy qua toà nhà lớn.

Rồi cùng nhau vào, đùa bưng nồi , đứa lấy chén, đứa lên giường, đứa xuống bếp, lăn xăn ..phá phách một hồi rồi ngồi lại rung đùi, nhịp vế.

Khi ấy Khỉ đá mới gọi cả lũ vào hỏi :

- Lúc còn ở trên núi, chúng ta có hứa nhau, ai xuống trước sẽ tôn làm vua, bây giờ bây quên lời đó sao ?

Lũ khỉ nhớ trực lại, vội vàng đến trước mặt Khỉ đá quì xuống, tôn làm đại vương.

Khỉ đá mỉm cười truyền rằng :

- Từ nay, ta làm vua lấy hiệu là Mỹ Hầu Vương, phong cho Vượn và Khỉ Đột làm tả, hữu Thừa Tướng.

Khỉ đá cùng ở với các khỉ con , sống trong cảnh thanh nhàn, sáng lên chơi núi Hoa Quả , chiều về ngủ động Thủy Liêm, không còn chung chạ với các thú nơi rừng núi hoang lạnh. Hưởng phước lạc gần ba trăm năm.

Một hôm trời trong gió mát, lũ khỉ bày tiệc linh đình , vui chơi hỉ hả. Nhưng Khỉ đá không vui, đôi mắt lờ đờ nhìn mây gió rồi hai dòng lệ tuôn ròng. Lũ khỉ con ngạc nhiên hỏi :

- Tiệc vui này, có điều gì làm cho Đại vương buồn chán ?

Khỉ đá gạt lệ nói :

- Ta nay tuy sung sướng nhưng còn lo nghĩ nhiều về mai hậu

Bọn khỉ cười nói:

- Thế này là chúng ta diễm phúc lắm rồi, có nhà cao cửa rộng , có hoa quả bốn mùa, ấm no đầy đủ, còn đòi gì hơn?

Khỉ đá nói :

- Các ngươi thấy sao mừng vậy, đâu nghĩ gì đến ngày mai ! Tuy ta sống ẩn náu nơi động, không vướng phép vua, không sợ loài thú dữ, nhưng rồi chúng ta có thể sống mãi không già chăng ? Chừng đó tử thần chờ trước cửa, làm sao giữ lại những ngày vui như vậ?y ?

Bầy khỉ nghe hỏi, đứa nào cũng sợ chết ngồi khoanh tay rầu rĩ !

Giữa lúc ấy, một con vượn già ngồi phắt dậy nói lớn :

- Đại vương biết trước lo xa, quả là phi phàm vậy ! Trên đời ai tránh khỏi chết, trừ ba bậc : Tiên, Phật, Thánh Thần, có phép trường sanh bất tử kia.

Hầu vương nghe nói, hỏi :

- Ba bậc ấy ở đâu, nhà ngươi có biết chăng ?

Vượn tâu :

- Bậc siêu phàm ấy thường ở nơi non tiên, động đá.

Hầu Vương như nhẹ cơn buồn, khoan khoái nói với các khỉ nhỏ :

- Mai nầy ta từ giả các ngươi , thả bước phiêu lưu nơi chân trời, góc biển, tìm cho kỳ được thuốc trường sanh bất tử.

Bầy khỉ rú lên khen :

- Hay lắm ! Đại vương đi thành công, chúng ta sẽ được sống mãi, an hưỡng nơi động nầy.

Một khỉ đột nói :

- Chúng ta hãy cùng lên núi Hoa Quả tìm nhiều trái quý về thết tiệc tiễn hành Đại vương.

Lũ khỉ nhỏ gật đầu hy vọng vị Đại vương của chúng sẽ tìm ra thuốc trường sanh bất tử, cứu cho cả loài tránh khỏi cái chết.

Sáng hôm ấy chúng rủ nhau lên núi Hoa Quả hái trái đem về, nào là bàn đào, quả mận, nào là hạ lê , hoài sơn , huỳnh tính đặt tiệc ê hề.

Hầu vương ngồi trước , dưới là quan chức , tiếp đến là khỉ con vừa ăn vừa đàm luận suốt ngày, không qua câu chuyện trường sanh bất tử.


Hôm sau , Hầu vương dậy sớm , bảo lũ khỉ bẻ nhiều tre kết làm bè. Rồi từ giả , chống bè ra biển cả, mặc cho gió dập sóng dồi , đêm sương ngày nắng !

Trót mấy ngày bơ vơ trên mặt biển, Hầu vương nhìn chân trời bát ngát bao la, không biết đến nơi nào, đành nhắm mắt ngồi liều, phó mặc cho trời đất ! Gió ngàn vi vút thổi, khiến bè tre tấp vào bến Nam Thiện Bộ Châu. Nghe tiếng chim kêu lẩn với tiếng người văng vẳng, Hầu vương mở bừng mắt, xem thấy đất bằng, làng mạc lưa thưa, lòng mừng khắp khởi.

Hầu vương bỏ bè bước lên bờ , mấy ngư phủ vừa thấy , ngỡ là loài yêu quái rùng rùng bỏ chạy ! Một ông lão khiếp đảm, quýnh chân nằm chết điếng trên bải biển. Hầu vương chạy tới lột hết quần áo mặc vào , giả người đồng nội , lần mò đến tỉnh thành , học thêm tiếng người xứ ấ?y.

Rồi Hầu vương lại tiếp tục cuộc hành trình ngày đi, đêm nghĩ cố tìm cho được động Tiên, cửa Phật.

Nhưng than ôi ! Đi mãi chỉ gặp bọn đồ đanh, mưu lợi, không hề biết đạo là gì !

Hầu vương lưu lạc chín năm vất vả, vượt núi băng ngàn mà chưa đem lại một kết quả nào ! Lòng buồn chán ngán !

Mấy tháng sau, đi đến Tây Dương biển cả. Hầu vương nhìn ra khơi mây nước bao la , lòng thầm nghĩ :

- Ta đi khắp bốn phương trời, sá gì mặt biển này ?

Nghĩ vậy, Hầu vương tìm cây kết bè chống ra ngoài khơi, phó mặc cho mưa gào gió thét.

Sóng vỗ bè trôi , Hầu vương ngày nào cũng chỉ thấy mây xanh và nước biếc ! Thĩnh thoảng một vài con cá rựa chạy sóng sượt trên mặt nước. Hầu vương tưởng là Hà thần hiện lên. Có lúc trời chớp lạch , Hầu vương cũng ngỡ là thần tiên hiện đến !

Mấy ngày sau , bè trôi đến miền Tây Ngưu Hạ Châu , Hầu vương lại bõ bè lên bờ , xảy thấy núi cao chót vót, cây cối sum suê, hoa tươi xinh đẹp liền dừng bước lẩm bẩm :

- Núi cao, may ra có " Thánh , Thần , Tiên , Phật "

Hầu vương quay lên núi, thoan thoát chuyển từ cây này qua cây nọ , đu dây vượt suối , không bao lâu đến đĩnh núi.

Nhưng nhìn quanh quất cũng chỉ thấy toàn là cây núi mênh mông , gió rừng rào rạc, không có bóng dáng "thần tiên".

Hầu vương ngồi lên tảng đá, ngước mặt than :

- Thánh thần, Tiên, Phật nào hiểu được lòng ta, lòng của kẻ chân thành đang ngày đêm mơ ước !

Dứt lời , Hầu vương định xuống núi. Bỗng có tiếng hát từ xa vọng lại :

Non xanh rừng rậm,

Gió vàng reo, lấm tấm lá khô bay

Mộng đời, vừng mây bạc

Lòng đời, chung rượu say !

Nghêu ngao vui thú đêm ngày

Búa Tiên củi quế, miễn đầy gánh thôi.

Gặp Tiên thỏ thẻ đôi lời

Đâu nơi Cực lạc đâu nơi Huỳnh đình

Nghe tiếng người hát, Hầu vương mừng quýnh lên, lảm nhảm :

- Thần tiên đây rồi ! May lắm !

Liền chạy men theo tiếng hát. Đến nơi, thấy lão tiều đang hái củi, Hầu vương bước tới thi lễ và cung kính thưa :

- Dệ tử đến ra mắt, có điều chi thất lễ xin thần tiên lượng thứ !

Lão tiều vội bỏ búa, nói :

- Chao ôi ! Ông lầm rồi , tôi vốn người nghèo khổ, làm nghề hái củi đổi gạo nuôi thân, có đâu được bậc phi thường ấy !

Hầu vương ngơ-ngác nói :

- Lạ thật, người không phải thần tiên, sao nói chuyện thần tiên lưu loát vậy ?

Tiều phu phì cười, hỏi :

- Tôi nói chuyện thần tiên bao giờ ?

Hầu vương nói :

- Tiếng ca vừa rồi , tôi có nghe ông hát :

Gặp Tiên thỏ thẻ đôi lời

Đâu nơi Cực lạc đâu nơi Huỳnh đình

Rõ ràng tiều ông là tiên vậy !

Tiều lão cười, đáp :

- Tôi không giấu gì ông, bài ca ấy của Tiên ông dạy tôi để hát cho khuây khỏa trong giờ mệt nhọc , không ngờ lọt đến tai ông, chắc tôi phải chịu lời khiển trách !

Hầu vương hỏi tiếp :

- Vậy thì Tiên ở đâu, xin tiều lão chỉ hộ cho.

Tiều phu nói :

- Tiên ông hiện ở tại xóm tôi. Cáeh đây không xa mấy, có một dãy núi tên là Linh Đài phương thốn sơn , trong có động Tà Nguyệt Tam Tinh , Tiên ông hiệu là " Cu Bồ Đề Tổ Sư " , ở đấy thu nhận đồ đệ rất nhiều, song các đồ đệ bị đuổi cũng không ít, hiện nay chỉ còn ước độ ba bốn mươi. Ông muốn đến đó phải theo đường nhỏ qua hướng Nam, chừng bảy tám dậm , là tới động.

Hầu vương nhìn ông tiều năn nỉ :

- Đường đi đến động ngoằn ngoèo dễ lộn , mong ông thương đến , dẫn tôi cùng đi về xóm, tôi xin hậu tạ.

Tiều lão lắc đầu đáp :

- Giúp ông tôi không nệ công lao, ngặt vì tôi còn cha mẹ già, sớm chiều lo phụng dưỡng, phải ở lại hái củi đổi gạo , không tiện làm vừa lòng ông !

Nghe lão tiều than , Hầu vương cảm động , đành phải bái biệt ra đi.

Núi rừng thăm thẳm, đá cao chồng chất, chông gai hiểm trở. Hầu vương vốn quen miền sơn dã , đi riết một hồi bảy tám dậm, quả thấy một động lớn , cửa đóng kín không có bóng người thấp thoáng. Trước đó, một bia đá lớn đề mấy chữ " Linh Đài phương thốn sơn Tà Nguyệt tam tinh động "

Hầu vương hớn hở, nhảy nhót tung tăng. Nhìn thấy vườn đào xum trái , liền phóc lên hái mấy quả ăn đở lòng.

Giây lát có tiếng động. Một đồng-tử bước ra hỏi :

- Ai cả gan dám vào đây ăn vụng đào ?

Hầu vương vội vã nhảy xuống nói :

- Tôi từ xa tìm đến đây học đạo , không phải kẻ tộm đào, xin tôn huynh hiễu cho.

Đồng-tử nghi ngờ Hầu vương , nói :

- Anh thật lòng đến đây, tìm sư học đạo sao ?

Hầu vương thưa :

- Đường xa ngàn dặm, không ngại gian lao, ngày đêm lặn lội, tôi chỉ mong được làm đệ tử nơi nầy.

Đồng tử nhìn tướng mạo Hầu vương, mỉm cười, nói :

- Sư phụ vừa thức dậy , sửa soạn giảng kinh, dạy tôi ra rước người tu niệm, có lẽ anh đây là phải ?

Hầu vương mừng thầm, reo lên :

- Tiên ông quả là bậc tiên tri , xin tôn huynh đừng ngần ngại. Chính là tôi vậy.

Đông tử gật đầu bảo :

- Ngươi cùng tôi vào ra mắt sư phụ.

Hầu vương tươi cười, nhí nhảnh theo đồng tử vào động, nhìn thấy quang cảnh uy nghiêm, nào cung châu , điện ngọc, nào phòng đọc sách , nào chổ giảng kinh , đâu đó trang hoàng rực rở. Thẳng đến trước Ngọc đài, thấy Bồ Đề Tổ Sư ngồi trên ghế cao, bên dưới đệ tử đứng hầu hơn ba chục.

Hầu vương bước đến sụp lạy lia lịa, và thưa :

- Tiện nhân mộ đạo đến đây , xin ra mắt thầy.

Tổ Sư hỏi :

- Ngươi tên họ là chi ? Từ đâu đến ?

Hầu vương thưa :

- Tôi ở Đông Thắng Thần Châu, núi Hoa Quả , động Thủy Liêm.

Tổ Sư nạt lớn :

- Kẻ ăn nói trớ trêu, tu hành sao được. Mau đuổi nó đi !

Hầu vương sợ sệt vừa lạy vừa nói :

- Lòng thành thật đâu dám trớ trêu, kính mong thầy thương xót.

Tổ Sư nói :

- Đường từ Đông Thắng Thần Châu đến đây cách hai cửa biển , và một cõi Nam Thiên Hạ Châu làm sao nhà ngươi đi được ?

Hầu vương thỏ thẻ thưa :

- Tôi dùng tre kết bè , vượt qua hai cửa biển , trèo non lặn lội hơn chín năm trời mới đến đây , cúi xin thầy đoái tưởng.

Tổ Sư nói :

- Ngươi đi lâu ngày là phải ! Vậy nhà người tên gì ?

- Tôi không có danh tánh. Nhưng ai rầy tôi không giận , ai đánh tôi không hờn.

Tổ Sư cau mày nói :

- Ta muốn biết danh tánh nhà ngươi, ngươi khai chi về tính nết.

Hầu vương thưa :

- Thưa thầy , tôi không cha mẹ !

Tổ Sư nói :

- Người sao không có cha mẹ, không lẽ cây đá sanh ngươi sao ?

Hầu vương thưa :

- Đúng vậy ! Nguyên nơi núi Hoa Quả có hòn đá lớn , kết tinh nhật nguyệt lâu ngày , rồi một đêm mưa vang lên tiếng nổ , đá ấy nứt hai , sanh ngay tôi từ lúc đó.

Nghe nói, Tổ Sư mừng thầm hỏi :

- Như vậy là thiên địa cấu tạo ra ngươi. Thôi ngươi hãy đi qua lại cho ta xem nào.

Hầu vương đẹp dạ, đứng phắt lên chạy qua lại vài lần, rồi quỳ xuống nghe dạy.

Tổ Sư cười nói :

- Nhà ngươi bộ tịch hệt như khỉ. Để ta xét theo diện mạo mà đặt tên cho.

Hầu vương sụp lạy tạ Ơn. Tổ Sư nói :

- Ta muốn theo hình dung nhà ngươi , đặt họ Hồ nhưng vì chữ hồ bõ khuyển bằng chỉ còn chữ cổ , chữ nguyệt. Cổ nguyệt có nghĩa là trăng già không tốt. Thôi ta đặt cho ngươi họ Tôn , chữ tôn bõ khuyển bằng còn chữ tử, chữ hệ là còn trẻ , còn lớn , còn khôn, tốt lắm !

Hầu vương mừng rỡ cúi đầu lạy tạ và thưa :

- Mong thầy luôn tiện mở lượng từ bi đặt tên luôn cho tôi, để dễ gọi lúc sai khiến.

Tổ Sư nói :

- Trong đạo có mười hai chữ người ta thường dùng " Quảng , Đại , Trí, Huệ , Chơn , Như , Tánh , Hải , Đĩnh , Ngộ , Viên, Giác. Trong mười hai chữ đó tính dồn tới ngươi nhằm vào chữ Ngộ .Vậy ta đặt tên ngươi là Tôn Ngộ Không.

Hầu vương khoái ý cười :

- Tốt lắm ! Tốt lắm ! Từ nay tôi mới biết được tên, xin chịu gọi là Ngộ Không.
Hồi 2
Phép nhiệm nhờ thầy truyền bí thuật
Tài cao về xứ giết yêu ma
Hầu vương từ ngày được tên họ, Tổ Sư truyền học trò đem ra ngoài dạy nghi lễ, cách ăn ở, lối cử xử. Và giao việc quét trước dọn sau , tưới hoa nhổ cỏ, làm suốt gần bảy năm trời.

Một hôm trời trong gió mát, nắng dịu lướt qua cửa sổ, rọi vào điện ngọc long lanh, như thiên tào nhìn xem cuộc giảng kinh nơi tiên động. Tổ Sư ngồi trên , dưới điện học trò lẵng lặng nghe lời giảng dạy.

Ngộ Không nghe kinh thấm ý, cào tai , gải mắt, trợn mắt nhướng mày, khoa tay múa chân đến nổi nhảy dựng ra ngoài hàng mà không biết.

Tổ Sư ngạc nhiên kêu hỏi :

- Nhà người sao vô lễ vậy ? Mau vào hàng nghe giảng đạo.

Ngộ Không thưa :

- Đệ tử nghe lời thầy giảng giải hay quá, khiến cho lòng thành thích ý, nhảy múa không hay.

Tổ Sư nói :

-- Ngươi biết được lời hay của kinh giảng, vậy người ở đây bao lâu rồi, có biết chăng ?

Ngộ Không thưa :

- Đệ tử thưa biết mấy năm mấy tháng. Chỉ nhớ hái củi trên núi này, gặp đào chín ăn được bảy mùa.

Tổ Sư vừa cười vừa nói :

- Núi ấy, tên gọi Lang Đào mỗi năm một mùa trái chín, mà ngươi ăn được bảy mùa, là bảy năm rồi đó. Nay ngươi đã có trí nhớ ta muốn truyền dạy, chẳng biết ngươi thích học môn nào ?

Ngộ Không thưa :

- Mang ơn thầy dạy bảo, đệ tử xin tùy sự lựa chọn của thầy.

Tổ Sư nói :

- Phép đạo có 360 cửa , ngươi có thích học phép chư thuật không ?

Ngộ Không thưa :

- Phép ấy ra sao ?

Tổ Sư nói :

- Phép này biết trước mọi việc lành dữ, phước đức.

Ngộ Không thưa :

- Vậy có sống lâu đời đời chăng ?

Tổ sư nói :

- Không thể sống lâu đựợc !

Ngộ Không lắc đầu không chịu học.

Tổ Sư hỏi :

- Vậy ngươi chịu học phép chư lưu chăng ?

Ngộ Không thưa :

- Phép ấy thế nào xin thầy cho biết ?

Tổ Sư nói :

- Phép chư lưu làm được thầy, được thuốc được vái và tụng kinh niệm Phật... v.v

- Phép ấy có sống đời đời chăng ?

Tổ Sư nói :

- Học phép nầy muốn sống đời, có khác nào trồng cột, tô vách !

Ngộ không sầm nét mặt suy nghĩ giây lâu, rồi nói :

- Thưa thầy , đệ tử vốn người dốt nát không thấu nổi lời cao kỳ , mong thầy phân rõ.

Tổ sư nhìn Ngộ không như dò ý, nói :

- Ngươi muốn cất nhà cao , trồng cột vào vách, ngoài xây tường. Tuy nhà chắc không ngã, nhưng khi hư rồi, cột nằm trong vách cũng mục nát luôn.

Ngộ không buồn bã đáp :

- Việc không bền , tôi không học , xin thầy thứ tội.

Thấy Ngộ không buồn , Tổ Sư bảo tiếp :

- Không hài lòng, ta sẽ dạy cho phép chư linh có sao đâu mà buồn vậy.

Ngộ không ngước mặt lên, nhìn Tổ Sư như van xin :

Phép ấy thế nào ? Nhờ thầy dạy bảo ?

Tổ Sư đáp :

- Phép tịch cốc này gọi là tham thiền, chỉ ngồi làm thinh tịnh dưỡng tinh thần thôi.

Ngộ Không hỏi vội :

- Ngôi làm thinh tịnh dưỡng, có thể sống hoài được chăng ?

Tổ Sư nói :

- Theo phép này, như đất mới vổ để vào lò gạch.

Ngộ Không ngớ ngẩn hỏi :

- Như thế nghĩa là sao ? Xin thầy giảng rõ ?

Tổ Sư phì cười :

- Đất tuy vổ nên hình tấm gạch, song mới để lên lò chưa nung chín, đem ra dùng gặp nước phải rả.

Ngộ Không lắc đầu ý không chịu học.

Tổ Sư bảo :

- Nếu không muốn học chữ tịnh ta lẽ dạy chữ động cho.

Ngộ Không liền cúi đầu thưa :

- Thưa thầy , bất kể động, tịnh , miển được trường sanh bất tử tôi xin thọ giáo.

Tổ Sư nghiêm nét mặt nói :

- Phép ấy, uốn mình, bẻ xương , luyện hơi thở, uống thuốc kim đơn khỏi bệnh, được sống lâu muôn thuở. Mà phép trường sanh đó chẳng khác nào trăng dưới nước !

Ngộ Không vừa mừng vừa ngại, hỏi :

- Đó , thầy vẫn giấu mẹo hoài, đệ tử biết đường nào theo !

Tổ Sư nói :

- Trăng trên trời rọi xuống nước, tuy có bóng nhưng không có thật.

Ngộ Không ngước lên nhìn Tổ Sư thưa :

- Vật như hư, đệ tử theo học cũng hoài công vô ích !

Tổ Sư đập bàn hét lớn , tay cầm thước bước xuống ghế, chỉ vào mặt Ngộ Không nói :

- Khỉ đột , phép nào cũng chê, mà còn đòi hỏi gì ?

Dứt lời, gõ óc Ngộ không ba cái, chắp tay sau đít quay vào phòng đóng cửa.

Các môn đệ đều thất kinh ! Kẻ oán Ngộ Không, người lo thầy giận.

Còn Ngộ Không chẳng hề sầu não, lại cười giỡn tươi vui.

Vì Ngộ Không biết thầy ra dấu : " Đến canh ba lén vào cửa sau vô phòng thầy truyền phép ".

Đêm hôm ấy, Ngộ Không nằm giả ngủ, chờ mọi người ngon giấc, lén dậy , ngồi nhìn ra cửa sổ. Bấy giờ mây cuộn sao mờ , trăng tà sương đổ , chốc chốc có tiếng gió thổi rì rào, như báo hiệu một đêm đầy hy vọng.

Ngộ Không đợi đúng canh ba lén vào ngõ sau, thấy cửa mở hé một cánh.

Bước vào phòng, Ngộ Không thấy thầy đang quay mặt vào vách ngủ liền quì sát bên giường không hề kinh động. Một lúc sau, Tổ Sư thức dậy duỗi chân ra ngâm mấy vần thơ :

Nhật nguyệt phôi pha nặng cõi trần

Nhàn lai vô sự kiếp tiên nhân

Linh đơn đạo thuật hầu chưa dễ

Chỉ dễ cho ai được hưởng phần

Lời thơ vừa dứt, Ngộ Không cất tiếng thưa :

- Tôi đến chờ thầy từ lúc gà giục gáy.

Tổ Sư nghe Ngộ Không nói, ngồi dậy nạt lớn :

- Loài khỉ, giờ này chưa ngủ, còn đến đây làm gì ?

Ngộ Không cúi đầu cung kính thưa :

- Lúc ban ngày thầy có dạy tôi , vào khoảng canh ba lén đến ngỏ sau thầy truyền phép, nên tôi mới bạo dạn vào phòng giữa lúc đêm khuya , xin thầy lượng thứ.

Tổ Ssư nghe nói, thầm nghĩ :

- Thằng nầy quả làa trời sanh, không phải phàm tục, nên đoán được mẹo ra dấu của ta.

Ngộ Không thấy Tổ Sư trầm ngâm suy nghĩ , liền hỏi :

- Ở đây không có ai, xin thầy truyền phép, tôi chẳng dám quên ơn.

Tổ Ssư nói :

- Ta mến người có phúc, thương kẻ thành tâm. Vả lại ngươi đã đoán ra mẹo của ta, rõ là kẻ phi thường, ta sẳn lòng truyền phép trường sanh bất tử cho.

Ngộ Không vui mừng, lạy tạ, rồi quì bên giường nghe lời chỉ dạy.

Tổ Sư giảng những câu khó hiểu, tưởng như Ngộ Không chậm biết.

Nhưng Ngộ Không vốn trời sinh ra có khiếu thông minh sẳn. Vả lại, ở động tiên lâu ngày đã am tường lời của Tổ Sư, nên Ngộ Không nghe qua thì hiểu liền, bèn lạy tạ lui ra nhà trước, ngồi lâm râm môt mình học thuộc lòng. Từ đó cứ đêm đến canh ba, ngày thì đứng bóng, Ngộ Không lén vào thọ giáo tập luyện mãi được ba năm.

Một hôm, Tổ Sư đang giảng kinh nói về việc báo ứng nhân quả , khái lược đại cương , trực nhớ đến Ngộ Không, liền hỏi :

- Ngộ Không đâu, có mặt đây chăng ?

Một tiếng dạ trong đám môn đệ vang lên, Ngộ Không bước đến quì thưa :

- Tôi có đây, thầy cần điều gì dạy bảo ?

Tổ Sư nói :

- Bấy lâu luyện ngươi đã luyện tập như thế nào ?

Ngộ Không thưa :

- Mấy lời thầy dạy đệ tử ngày đêm luyện tập không thiếu sót điều chi.

Tổ Sư đưa mắt nhìn đám môn đệ rồi quay lại nói :

- Tuy ngươi đã thông suốt nguồn cơn, nhưng con ba điều tai nạn đáng lo !

Ngộ Không hồi hồi suy nghĩ. Một lúc sau mới nói ra lời :

- Trong kinh dạy ai học được phép tiên , sánh cùng trời đất, sống lâu muôn thở , tinh thần đầy đủ, không bao giờ bệnh hoạn. Sao còn điều tai biến nào nữa, xin thầy chỉ cho đệ tử biết.

Tổ Sư mĩm cười, nói :

- Đạo tiên mênh mông rộng lớn ! Ai cướp máy tạo hoá, cải định mệnh trời, qui? thần không lượng thứ. Nay ngươi vừa luyện đặng phép sống lâu nhưng khó bề tránh khỏi ! Thầy đã đoán biết năm trăm năm về sau, ngươi sẽ bị trời đánh. Nếu ngươi tránh khỏi thì năm trăm năm nữa bị trời đốt. Lửa ấy không phải của trời hay của người, mà do âm khí xông lên, từ bàn chân ngươi ót thấu óc, ngủ tạng đều cháy ra tro, rất uổng công tu luyện ! Ngươi có thần thông tránh qua được tai hoa. ấy , thì cách năm trăm năm nữa, trời cho gió thổi. Gió này độc dữ , không phải gió của bốn phương, mà gió phát xuất từ óc ngươi thổi ngược về quả đất , đi qua lục-phủ ngủ tạng, lồng vào cửu khiếu, làm cho thịt xương rời rã ! Vậy ngươi nhớ lấy lời này, tránh ba tai nạn, kẻo bỏ mình !

Nghe nói Ngộ Không rởn ốc quì xuống thưa :

- Trăm lạy thầy, mở lượng từ bi thương người chân thật, truyền thê m phép lạ, tránh ba điều tai nạn. Tôi nguyện thọ Ơn thầy trọn đời.

Tổ Sư cảm động nói :

- Điều đó tưở ng chẳng khó gì, chỉ sợ nhà ngươi không gia công luyện tập.

Ngộ Không mừng rỡ vội sụp lạy, thưa :

- Lâu nay lòng tôi mong ước luyện được phép trường sinh bất tử dầu khó khăn gian lao, quyết không sờn chi.

Tổ Sư nói :

- Đạo tiên có ba mươi sáu phép thiên cang, bảy mươi hai phép địa sát. Nhà ngươi muốn luyện phép nào ?

Ngộ Khôngó thưa :

- Tôi xin gắng công học bảy mươi hai phép địa sát để được rộng bề tiện dụng.

Tổ Sư liền gọi Ngộ Không đến gần tai nói nhỏ một hồi. Các môn đệ ngơ ngác không hiểu nói gì có lẻ nhìn Ngộ Không như ganh ghét, có người muốn tò mò nghe ngóng.

Ngộ Không đã sẳn thông phép trước , nên nhớ ngay dễ dàng không một lời thiếu sót.

Từ đó Ngộ Không ngày đêm lo luyện tập bảy mươi hai phép biến hóa thần thông...

Một chiều nắng êm, gió dịu. Vườn đào lá rung rào rạc , cánh bướm chập chờn với muốn hoa đua nở. Trước động , Tổ Sư ngồi xem học trò thi nhau luyện môn vật lộn. Ngộ Không ngứa nghề tung tăng chạy từ chổ ngay qua chỗ khác..

Tổ Sư thấy thế hỏi :

- Bảy mươi hai phép, nhà ngươi luyện tập xong chưa, mà mãi lo nhảy nhót vậy ?

Ngộ Không thưa :

- Nhờ ơn thầy truyền phép, tôi luyện tập không sót môn nào, ngoài ra còn bay được lên không trở về như chim én.

Nghe nói, Tổ Sư gọi lại bảo :

- Hãy bay thử ta xem nào ?

Ngộ Không co chân nhảy vọt lên không, bay được hơn ba dậm, rồi quay về đáp trước mặt Tổ Sư, và nói :

- Thưa thầy, đằng vân như vậy đã đúng phép chưa ?

Tổ Sư cười lớn nói :

- Lối bay của ngươi là vong vân, chưa phải đằng vân. Phép đằng vân của thần tiên " Sớm mai " ở biển Bắc, chiều trở lại Thương Ngô. Mỗi ngày đi khắp bổn biển.

Ngộ Không thưa :

- Theo lời thầy nói, thì phép đằng vân khó lắm.

Tổ Sư nói :

- Trên đời không có việc gì là khó. Chỉ kkhó ở lòng người không chịu cố công.

Ngộ Không hăm hở đến thưa :

- Lượng thầy đã mở , chỉ còn chút phép đằng vân , xin thầy thương tình chỉ dạy.

Tổ Sư bảo Ngộ Không đứng dậy và nói :

- Phép đằng vân của thần tiên , phải ngồi xếp bằng niệm chú bay đi , khác với lối nhảy dựng của ngươi khi nãy. Ta sẽ dạy cho phép Cân Đẩu Vân bay nhanh hơn tên bắn.

Ngộ Không đắc ý, tưởng như mình đang ngồi tít trên mây xanh đôi mắt mơ màng thích thú.

Tổ Sư ghé vào tai Ngộ không truyền thần chú, và bảo :

- Hãy niệm chú cho mau !

Ngộ Không y lời niệm chú, hai tay nắm chặc lại. Bỗng thân mình vụt bay lên, như vũ bão, giây lát quay về tính hơn mười muôn dặm.

Đoạn thầy trò đem nhau về động. Đêm ấy Ngộ Không tập luyện thông thạo. Tổ Sư lòng mừng, được người học trò phi phàm, tuyệt thế.

Từ đó, Tổ sư không còn hỏi han, hay nhắc nhở gì đến Ngộ Không nữa. Dođó Ngộ Không được tự do hiên ngang trời bể , sáng đến núi đào , chiều về tiên động.

Một hôm, các học trò cùng chơi dưới cội tùng, thấy Ngộ Không xúm đến, vổ vai hỏi :

- Hiền hữu tốt phước quá được thầy dạy bảy mươi hai phép biến hoá, nay luyện tập đã tinh thông chưa ?

Ngộ Không cười vuốt vai các bạn nói :

- Tình bạn không giấu nhau làm gì. Kể ra nhờ thầy chỉ dạy , tôi tập tành gắng công, nên phép nào cũng được tinh xảo.

Các môn đệ rối rít bảo :

- Nay thì giờ nhàn rổi hiền hữu thử ít phép coi chơi.

Ngộ Không vui vẻ đáp :

- Muốn thử phép chi các bạn cho biết ?

Các môn đệ lanh quanh bàn tán. Sau cùng bảo Ngộ Không :

-Muốn xem hiền hữu biến ra cây tùng được chăng ?

Ngộ Không liền niệm chú lâm râm, rùng mình một cái. Thốt nhiên hiện ra cây tòng, lá xanh cành rậm.

Bọn môn đệ thấy phép lạ, vổ tay reo hò vang dậy.

Tiếng vang vọng đến tiên điện. Tiên ông chống gậy bước ra hỏi :

- Chuyện chi reo hò như vậy ?

Nghe Tổ Sư hỏi, Ngộ Không thất kinh, hiện nguyên hình chạy vào nhập bọn.

Các môn đệ bước đến cúi đầu thưa :

- Chúng con chơi nhau vui miệng reo cười, mong thầy thứ lổi.

Tổ Sư nghiêm nét mặt quở :

- Bay la ré vang rền, làm náo động nơ i tiên cảnh, sao gọi là tu hành.

Lũ môn đệ sợ sệt thưa :

- Chúng tôi không dám giấu thầy , vì nghe Ngộ Không luyện được phép biến hoá thần thông, nên khi nảy có bảo Ngộ Không hoá ra cây tùng xem chơi. Ngộ Không chỉ niệm chú, rùng mình một cái đã hoá ra cây tùng sừng sững, vươn mình theo gió. Phép lạ khiến chúng tôi không nhịn cười được

Nói xong, cả bọn bước đến cúi đầu răm rắp lạy.

Tổ Sư nói :

- Thôi, chúng bay chờ đây.

Đoạn gọi Ngộ Không tới mắng :

- Sao nhà ngươi đã vội khoe khoang, biến ra cây tùng cho chúng coi ? Khi người ta biết ngươi pháp thuật cao cường , đem lòng ganh ty. đồ mưu ám hại thì còn gì !

Ngộ Không khiếp sợ, sụp lạy thưa :

- Đệ tử non lòng dại dột? Mong thầy thương tình tha lổi.

Tổ Sư nói :

- Ngươi là đứa khoe khoang, gàn dở , ta không quở phạt làm gì, song ngươi phải ra khỏi chốn này.

Ngộ Không nghe thầy nói, khóc tức tửi thưa :

- Xin thầy mở lượng từ bi dung thứ cho đệ tử được gần thầy ngày đêm hầu hạ. Nếu thầy quyết đuổi, đệ tử biết về đâu !

Tổ Sư lắc đầu nói :

- Thuở trước ngươi ở đâu, nay về đó cho an phận.

Ngộ Không sực nhớ cảnh củ, nhưng không muộn về cứ đứng khóc lóc van xin mãi :

- Sống nơi đây hơn mấy năm trời, mến thầy nhớ bạn, lẻ nào nhất đán thầy nỡ đuổi đệ tử về quê để ôm lòng sầu cách biệt.

Ngươi đừng nói nữa vô ích, đi cho kíp thì còn hồn , nán lại ta không dung thứ.

Ngộ Không biết thầy quá giận, khó bề năn nỉ ! Đành phải cúi đầu bái biệt và từ giả các bạn.

Ngộ Không vừa bước chân đi. Tổ Sư kêu nói :

- Ngươi về xứ cũ ắt làm việc chẳng lành, nhưng lành hay dữ tùy ngươi đeo họa lấy. Ta chỉ cấm ngươi đừng xưng là đệ tử của ta, nếu ngươi nói nữa lời, sẽ bị thu hồi phép và hồn ngươi bị bắt giam cầm nơi địa ngục.

Ngộ Không thưa :

- Lời thầy đã nghiêm cấm đệ tử chẳng dám hở môi.

Sau khi bái biệt, Ngộ Không dùng phép Cân Đẩu Vân bay một giờ ra tới biển Đông, nhắm hướng núi Hoa Quả bay về.

Tuy bao năm trời cách biệt, động Thủy Liêm vẫn còn tiếng chim kêu vượn hú, gió ngàn vi vút như tự thuở nào.

Thấy bầy khỉ nhỏ ra vào nơi cửa động, Ngộ Không đáp xuống gọi :

- Chúng bay ! Chúng bay đâu ! Ta đã về đây.

Nghe kêu, bọn khỉ lớn nhỏ rùng rùng chạy tới có hơn muôn ngàn con đứng vây quanh Ngộ Không, ríu rít hỏi :

- Đại-vương ơi ! Đại vương có biết xa chúng tôi đã bao năm rồi chăng ? Chúng tôi ở nhà trông 'bè' Đại vương như đói cơm , khát nước !

Ngộ Không nói :

- Nhưng quê nhà ta vẫn bình yên chứ ?

Bọn khỉ nói :

- Động ta vừa bị một con yêu đến chiếm cứ, chúng tôi đánh không lại, nó giết và bắt rất nhiều. Nếu Đại vương không về , xứ sở nhà ta sẽ về tay chúng cả !

Ngộ Không nghe nói, lửa giận phừng phừng nói :

- Con quái vật này ở đâu , cả gan phá phách. Ta quyết phanh thây nó trả thù cho chúng bay.

Bầy khỉ nói :

- Nó đến xưng là Hổn Thể Ma vương về hướng Bắc.

Ngộ Không hỏi :

- Từ đây đến đó bao la ?

Bầy khỉ thấy Đại vương mình hăm hở trả thù lòng mừng khấp khởi, đáp :

- Nó nương mây đi tới, theo gió trở về , chúng tôi không biết phương nào ! Xin Đại vương chờ nơi động sẽ gặp nó.

Ngộ Không căm tức, dậm mạnh chân xuống đất nói :

- Ta quyết tìm cho được nó, giết quách đi mới yên tâm.

Vừa dứt lời, Ngộ Không dùng phép Cân Đẩu Vân bay qua phương Bắc.

Bay giây phút, nhìn thấy núi Khảm Nguyên cao lớn, có tiếng người nói, liền đáp xuống tìm kiếm.

Ngộ Không đi vòng qua núi, thấy một động lớn , đề ba chữ " Thuỷ Tang động ".

T rước sâu động, mấy con yêu nhỏ tung tăng nhảy múa.

Chúng vừa thấy Ngộ không, sợ sệt bỏ chạy vào trong đóng cửa.

Ngộ không kêu :

- Chúng bay hãy vào báo với Ma vương biết, có ta là Chúa động Thủy Liêm đến vấn tội.

Lũ tiểu yêu nghe nói thất kinh , hối hả chạy vào báo :

- Tâu Đại vương, họa đã tới rồi ! Họa đã tới rồi ! Ngoài cửa động một con khỉ đột to lớn, xưng là Chúa động Thủy Liêm đến đây vấn tội Đại vương.

Hổn Thế Ma vương vẫn điềm nhiên cười nói :

- Ta từng nghe bày khỉ nói, Chúa nó đi tu , có lẽ tiếc bần nên nay về đó. Bay thấy nó có khí giới gì chăng ? Và ăn mặc như thế nào ?

Tiểu yêu quì thưa :

- Con khỉ này đầu sói , mặc áo đỏ hoe hoe, lưng thắt dây vàng , chân đi giày đen, nữa in trần tục, nữa giống nhà tu, đang diệu võ giương oai, nhưng không khí giới, chỉ múa may không làm trò khỉ ngoài cửa.

Hổn Thế Ma vương nghe xong, mặc giáp cầm siêu, dẫn tiểu yêu xông ra ngoài cửa, hỏi lớn :

- Yêu hầu không biết danh ta sao, dám cả gan đến đây chọc giận ?

Nghe nói , Ngộ Không quay nhìn thấy Ma vương mặt áo giáp sắt, đầu đội kim khôi, chân mang hia đen, tay cầm siêu bạc, mình cao ba trượng , lưng lớn mười vây, sức mạnh có thừa, liền chỉ vào mặt Ma vương, hét :

- Loài qui? sứ mắt to như chân tượng, không thấy được ta sao ?

Ma vương cười ha hả nói :

- Ngươi hình thù nhỏ bé, tuổi tác ít oi , đến đây không mang khí giới, dám nói chuyện chống trời , e cho đầu lìa khỏi cổ.

Ngộ Không đỏ mặt, mắng :

- Quân khốn kiếp, ăn cướp động Thủy Liêm, gây tang tóc chẳng lành. Nay gặp ta không biết sửa mình chịu trói, còn buông lời sấc láo !

Ta quyết phanh thây mi ra muôn mảnh.

Nói xong nhảy phốc tới thoi vào mặt Hổn Thế Ma vương. Ma vương lách mình tránh khỏi và nói :

- Hãy khoan ! Ta lớn mi nhỏ , ta dùng đao, mi tay không, dù ta thắng cũng mang tiếng cười chê để ta bõ đao đánh cùng mi cho biết sức.

Vừa dứt lời Ngộ không nhảy tới đánh đùa. Ma vương dình dang trở tay chậm chạp, bị Ngộ Không đánh tiếp mấy thoi, mặt mày sưng húp. Ma vương túng thế lấy siêu chém, Ngộ Không lách mình tránh khỏi, rồi bứt năm sợi lông bỏ vào miệng, niệm chú lâm râm, phun ra một cái biến thành vô số khỉ, vây phủ Hổn Thế Ma vương.

Con thì đeo cổ , con cắn tai , con níu chân, Ma vương khiếp đảm tinh thần, day trở không kịp, bị Ngộ Không giật siêu chém làm hai khúc.

Đoạn kéo rốc vào động giết hết bầy tiểu yêu rồi rùng mình thu lông lại. Ngộ Không tìm các khỉ con bị Hỗn Thế Ma vương bắt nhốt, đem ra ngoài , rồi nổi lửa đốt động Thủy Tang cháy rụi. Thấy động đã cháy, Ngộ Không quay bảo mấy khỉ nhỏ :

- Chúng bây mau mau nhắm mắt, ta làm phép đưa về động.

Bọn khỉ nhỏ đều nhắm mắt, Ngộ Không dùng phép Cân Đẩu Vân , phát lên một trận gió bay đi ráo. Về tới núi Hoa Quả sa xuống, Ngộ Không bảo lũ khỉ nhỏ mở mắt ra xem. Bầy khỉ mở mắt ra, thấy núi Hoa Quả động Thủy Liêm, lòng hớn hở, dắt nhau vào. Bọn khỉ ở trong động chạy ra đón rước, bày tiệc thết đải.

Vượn và khỉ đột hỏi Ngộ Không :

- Đại vương đánh với Hỗn Thế MạVương thắng phụ dường nào ?

Ngộ Không thuật lại việc chiến thắng vừa rồi. Tất cả khỉ trong động đều vổ tay khen và hỏi :

- Đại vương tìm học phép tiên nơi nào mà giỏi quá vậy ?

Ngộ Không đem chuyện đường xa ngàn dậm, tầm sư học đạo kể lại cho bầy khỉ nghe.

Bầy khỉ reo lên nói :

- Đại vương phước lớn lắm và có chí mới thành quả như vậy !

Ngộ Không cười nói :

- Bây ơi, ta được thầy tiên cho tên họ mới là vinh dự chớ !

Bầy khỉ nghe Ngộ Không nói có tên họ, xúm nhau hỏi :

- Họ gì vậy, Đại vượng ?

Ngộ không nói :

- Ta nay họ Tôn tên là Ngộ Không, vậy từ nay các ngươi nghe ai nói đến Tôn Ngộ Không là ta đó.

Bầy khỉ vổ tay cười ầm và nói :

- Đại vương là Đại Tôn, thì chúng tôi cũng được gọi là Tiểu tôn.

Tiếng cười lại nổi lên, bên ngoài gió rít rào rạc, nguồn vui trở lại với động Thủy Liêm như dạo nào thuở trước.

Hồi 3
Thiên động ngàn non đều sợ phép
Diêm quang mười cửa thảy kiêng oai
Từ khi Hầu vương dẹp an Thủy Tang động , giết Ma vương lấy được cây đao lớn, cả ngày cầm coi, lại bảo bầy khỉ nhỏ lấy tre vạt nhọn, làm gươm giáo. Rồi hằng ngày dạy chúng võ nghệ , phân ra đội ngũ, hệt như binh lính của nhà vua.

Một hôm Tôn Ngộ không ngồi than :

- Ở đời lắm kẻ ác tâm , lắm người tham nhũng , không riêng gì Hổn Thế Ma vương. Mà ở động ta toàn thanh tre vạt nhọn, gậy gộc tầm vông, làm sao chống nổi những cuộc chiến bất ngờ xảy đến ! Ta muốn tìm khí giới bằng sắt, ngặt không biết nơi nào !

Mấy con khỉ nhỏ sợ sệt ngồi ủ rủ. Chỉ có bốn con khỉ già dõng dạc đến quì thưa :

- Đại vương muốn tìm khí giới, chúng tôi tưởng không khó gì ! Phía Nam núi này cách hai trăm dậm , có nước Ngọa Lai nhiều đồng sắt , lại lắm thợ rèn. Đại vương đến đó mua đồng sắt , thuê thợ làm binh khí , đem về luyện tập chúng tôi tinh thông võ nghệ , thì có lo gì không chống nổi kẻ thù.

Ngộ Không nghe qua lòng hớn hở , liền niệm chú nổi gió bay qua hướng Nam.

Giậy phút Ngộ Không nhìn xuống thấy chợ búa dẩy đầy lâu đài chất ngất, thành trì to lớn.

Bèn nghĩ thầm :

- Chắc trong thành này có nhiều kho binh khí, ta nên tìm cách lấy một số tiện hơn.

Nghĩ thế , Ngộ Không quay lại hớp hơi bên hướng Tốn , thổi mạnh về hướng Nam .Tức thì gió thổi ầm ầm , cát bay đá chạy , sấm sét vang rền , khiến cho dân chúng thàng Ngọa Lai kinh hồn hoảng vía , kẻ đóng cửa chỏi nhà , người tìm nơi ẩn núp.

Ngộ Không nhảy xưống mở cửa kho, thấy binh khí qua nhiều và đủ cỡ , lòng mừng rỡ nghĩ thầm :

- Chỉ mình ta thì lấy được bao nhiêu cái ! Phải dùng phép thần thông mới được.

Liền nhổ nắm lông , niệm chú phun ra biến thành vô số khỉ.

Chúng vào kho vác hết đồ binh khí. Đoạn Ngô Không bay bổng lên trời , đọc thần chú lâm râm thu hết bầy khỉ đem về động. Bây giờ đồ vũ khí chất chồng la liệt trước cửa Thủy Liêm.

Ngộ Không dõng dạc kêu lên :

- Chúng bay ra đây lãnh binh khí.

Bầy khỉ nhảy ra, con thì dành gươm, con dựt búa, con lấy giáo , con mang cung. Hơn bốn ngàn, con nào cũng có vũ khí , nhảy múa tung tăng xem chừng đắc ý lắm.

Từ đó, Ngộ Không luyện binh, tập võ, diển hành các vùng lân cận , oai thế lẩy lừng, chúa yêu, vua thú thẩy khiếp sợ, kéo nhau đến hàng phục cả thảy mươi hai động, tôn Hầu vương làm chúa , thường năm cống lễ.

Núi Hoa Quả lúc này đồn lũy đắp ngăn, quân binh rèn tập, rộn rịp muôn phần , hệt như một thế giới văn minh trong thời đó vậy.

Một sáng sớm , Ngộ Không thức dậy điểm tâm xong leo ngồi trên bệ , gọi bọn khỉ đột đến hỏi :

- Nay chúng bay thao lược gồm đủ, võ nghệ tạm thông, nhưng còn cây xiêu đao của ta nhẹ lắm, cầm chẳng xứng tay , biết tìm đâu ra thứ tốt.

Bốn khỉ đột thưa :

- Đại vương là thần tiên dùng đồ phàm tục e khó xứng. Song chưa biết Đại vương xuống nước được chăng ?

Ngộ Không nói :

- Ta đắc đạo tiên ông, thần thông biến hóa, thăng thiên độn thổ , vào lửa không biết nóng, xuống nước chẳng ngạt hơi, thì đi đâu không được.

Bốn khỉ đột tâu :

- Đại vương thần thông diệu pháp, lo chi không tìm được vũ khí xứng đáng ! Dưới cầu sắt này, thông với Đông Hải Long cung, Đại vương xuống đó , thẳng đến Long vương xin vũ khí ắt người thuận ý.

Nghe qua, Ngộ Không cả mừng nói :

- Tốt lắm ! Ta đi thử xem sao.

Nói xong Ngộ Không nhảy ra cầu sắt niệm chú thủy độn, biến mình lặn theo giòng nước, thẳng đến đáy biển , gặp lũ Dạ xoa tuần biển cản lại hỏi :

- Ông ở đâu bôn ba qua đường này ? Nên nói thật, để chúng tôi về phi báo với Long vương nghênh tiếp.

Ngộ Không đáp :

- Ta là Ngộ Không vốn con trời sanh , có quen biết với Long vương, nay đến viếng thăm.

Lũ Dạ xoa về tâu lại, Long vương Ngao Quảng vội vã ra nghênh tiếp và nói :

- Thỉnh thượng tiên vào Long đình đàm đạo.

Ngộ Không theo Long vương vào cung điện, trà nước hồi lâu Ngao Quảng hỏi :

- Chẳng hay thượng tiên tầm sư học đạo lúc nào ?

Ngộ Không nói :

- Ta đi tu từ thuở nhỏ , đã học được phép trường sanh. Nay Ta luyện tập binh sĩ , bảo toàn sơn động, ngặt vũ khí không xứng tay. Nghe nói quí cung nhiều bửu bối, nên đến xin một món cầm tay.

Ngao Quảng liền truyền quân đem ra một đại đao.

Ngộ Không lắc đầu nói :

- Ta không thích đánh đao, phiền Vương cung cho đổi thứ khác

Ngao Quảng cho khiêng chĩa ba đến. Ngộ Không cầm múa tít một hồi, rồi để xuống cười, nói :

- Bửu bối này nhẹ lắm, cầm chưa xứng tay, cho đổi thứ nào nặng nhất.

Ngao Quảng nói :

- Vì thượng tiên nóng nảy, chưa xem kỷ. Chĩa ba nầy có đề nơi cán mấy chữ " nặng ba ngàn sáu trăm cân ". Như thế đã nặng lắm rồi.

Ngộ Không đáp :

- Dẩu mấy trăm cân mà ta cầm còn nhẹ tay, chưa vừa ý.

Ngao Quãng không dám nói thêm, liền truyền khiêng cây Phương Thiên Họa Kích nặng tới bẩy ngàn hai trăm cân.

Ngộ không lấy múa sơ vài hiệp , rồi cắm ngay giữa sân chầu mà nói :

- Còn nhẹ lắm chưa dùng được.

Ngao Quảng thất kinh nói :

- Trong cung tôi chỉ có cây kích đó nặng hơn cả, xin thượng tiên dùng tạm.

Ngộ Không nói :

- Nơi Long vương có nhiều bửu bối, tiếng đồn khắp bốn phương. Vậy quí vương cho người khiêng ra, dù đắc giá mấy, tôi cũng xin trả.

Ngao Quảng nói :

- Nơi Long cung này không còn vật nào nặng hơn Phương Thiên Họa Kích. Thật tình vậy, mong thượng tiên xét cho.

Nói xong, Ngao Quảng quay vào trong. Long bà và Long nữ tâu rằng :

- Tôi coi ông thánh ấy có sức mạnh phi thường, nơi Long cung không còn loại vũ khí nào nặng hơn nữa, chỉ còn sắt thần trấn nơi đáy biển nặng trên trăm ngàn cân, mấy bửa nay lại có hào quang chiếu sáng hay là số nó về tay ông thánh đó chăng ?

Ngao Quảng nói :

- Sắt đó từ thuở vua Đại Võ đi trị thủy dùng làm trái đo để biết nơi sâu cạn , sau khi đo xong, bỏ nơi đáy biển cho bớt sóng. Sắt to quá sức, thánh thần nào dùng được.

Long bà nói :

- Dùng được hay không miễn ông ta thuận nhận đi ra khỏi cung này cho im chuyện.

Ngao Quãng nghe lời, ra thuật lại với Tôn Ngộ Không.

Ngộ Không đắc ý nói :

- Vậy thì đem ra cho ta xem.

Ngao Quảng mỉm cười lắc đầu, nói :

- Chao ôi ! Cây sắt nặng mấy muôn người khiêng không nỗi mà bảo đem ra sao được ! Xin mời thượng tiên đến đó xem mới biết.

Ngộ Không vừa cười, vừa nói :

- Nhân vật thủy cung sao mà yếu đuối vậy ? Thôi cứ dẫn ta đến đó thử xem.

Ngao Quảng đưa Ngộ Không đến giữa rún biển, lấy tay chỉ nơi hào quang chiếu sáng, nói :

- Vật báu, hiện hào quang chiếu lên đó, mời thượng tiên đến xem.

Ngộ Không bước đến , xăn tay áo cầm lắc mấy cái rồi nhìn kỷ là cây cột sắt lớn cả ôm, dài hơn hai trượng.

Ngộ Không nhìn trụ sắt nói :

- Cây nầy lớn và dài quá ! Phải chi ngắn đi một ít thì dễ nhổ , vừa dứt lời , cột ấy thun lại mấy thước.

Ngộ không vừa lạ lùng vừa thích thú nói tiếp :

- Còn phải nhỏ đi một ít mới được.

Tức thì bề tròn cây sắt nhỏ theo

Ngộ Không hí hửng lắc mấy cái, nhổ lên , thấy toàn bằng sắt , hai đầu bịt vàng , chính giữa có khắc mấy chữ " Như ý kim cô bảng , trọng nhứt vạn tam thiên ngũ bá cân ".

Ngộ Không mừng rỡ nghĩ thầm :

- Theo lời đã khắc thì thiết bảng nay ta muốn sao được vậy. Tốt lắm !

Nghĩ thế Ngộ Không vừa đi vừa ước : nó nhỏ lại một ít nữa mới vừa cầm tay.

Vừa dứt lời, cây thiết bảng chỉ con bằng một trượng hai thước, mình tròn còn bằng thước, Tôn Ngộ Không cầm vừa tay , bèn múa một hồi, lượn bay trong nước, hệt như con rồng uốn mình , lướt sóng qua Long cung vậ?y.

Vừa múa Ngộ Không vừa lướt thẳng về Thủy Tinh cung, khiến cho triều thần Long vương, lớn nhỏ đều khâm phục.

Ngộ Không cầm thiết bảng đến ngồi hiên ngang trước mặt Ngao Quảng nói :

- Tôi mang ơn hiền lân quá nhiều ! Nhưng có thiết bảng cầm tay, phải có y giáp mới dễ coi. Vậy hiền lân giúp luôn cho vuông tròn ơn nghĩa.

Ngao Quảng ngẩm nghĩ rồi nói :

- Ở Long cung giáp mới không có , biết lấy gì giúp cho. Mong thượng tiên lượng tình miển trách.

Ngộ không gắt giọng nói :

- Không lẻ để ta tìm xin nơi khác, phải chịu ơn hai chủ ! Nếu hiền lân không giúp được, Ngộ Không này quyết chẳng ra khỏi Long cung.

Lời nói cứng rắn khiến Ngao Quảng sợ sệt năn nỉ :

- Thật ra chẳng có y giáp, chảng phải tôi hẹp dạ, thượng tiên xét tình nghĩ cho !

Ngộ không nói :

- Dù sao cung phải kiếm cho tôi một bộ , đừng để nói nhiều, sinh việc không hay.

Ngao Quảng một mạch từ chối, nói :

- Không có đồ mới , xứng đáng với thượng tiện, tôi biết tìm sao đặng bây giờ !

Ngộ Không dộng thiết bảng, nói lớn :

- Nếu không có ta đập một thiết bảng xem nào.

Ngao Quảng hoảng hốt nói :

- Khoan tay ! Khoan tay ! Để tôi hỏi lại liệc đệ xem sao, nếu có xin đem dâng lập tức !

Ngộ Không hỏi :

- Liệc đệ Ở đâu ?

Ngao Quảng thưa :

- Ba anh em tôi là Nam Hải Long vương, Ngao Khâm ; Bắc Hải Long vương, Ngao Thuận ; Tây Hải Long vương, Ngao Thân.

Ngộ Không nói :

- Ta khồng hề đi đâu xa nữa, lời tục có nói : Làm ơn cho trót , để người trả ơn. Hơn nữa tánh ta chẳng muốn lân la cùng bốn biển ! Vậy hiền lân giúp luôn đừng lựa lời từ chối.

Ngao Quảng nói :

- Tôi không dám bảo thượng tiên đi nhiều chổ. Ở đây sẵn có trống sắt chuông vàng, nếu có việc còn gióng trống, giọng chuông thì các Vương đệ về đây lập tức.

Ngộ Không nói :

- Thế thì hay lắm. Hãy cho người đánh trống, giọng chuông đi.

Tức thì Ngao Quảng truyền lệnh giống trống, giọng chuông. Giây phút quả có ba vị Long vương về đến, còn chờ lệnh ngoài ngọ môn.

Ngao Quảng ra đón tiếp. Ngao Khâm nóng tính hỏi :

- Chẳng hay Vương huynh có điều chi dạy bảo ?

Ngao Quảng nói :

- Hiền đệ đừng nói lớn , họ nghe được khó lòng. Trong cung có ông thánh trời sinh, ở núi Hoa Quả sơn làm quen hỏi xin đồ binh khí. Ta đưa món nào cũng chê nhẹ, túng cùng phải chỉ cây Thần Trân Thiết nơi đáy biển, hắn lấy lên thu gọn lại làm thiết bảng cầm tay. Lại đòi ta giúp y giáp , thực tình nơi Long cung này không có , nên ta mời các em về thương nghị ! Vậy ai có y giáp đem tống nó đi cho rảnh.

Ngao Khâm nổi giận nói :

- Nó chỉ trơ trọi một mình, ta đủ bốn anh em, còn có cả muôn ngàn binh tướng , sao không bắt nó hành hình , để chi cho gai mắt.

Ngao Quảng khoát tay nói :

- Thôi , thôi ! Hiền đệ đừng nóng tính, nó có phép thần thông biến hóa , còn thiết bảng này đánh xuống thành cung hư, lũy cũng nát , đừng nói chuyện đến thịt xương.

Ngao Thuận nói :

- Theo lời của Vương huynh , hiền đệ tưởng nhị ca cũng không nên gây chuyện. Tốt hơn, chúng ta chung đồ tống nó đi, rồi làm biểu dâng lên thiên đình, xin Ngọc Hoàng trừng trị. Tôi có đôi hia vừa đi may về xin thí cho nó đây.

Ngao Thân nói :

- Tôi sẵn mặc bộ giáp vàng này, cũng xin cởi ra thí cho nó, để nó đi cho rảnh.

Ngao Khâm nói :

- Bộ mão chuồng cánh phụng của tôi đây, xin cũng bõ ra không tiếc gì.

Ngao Quảng vui mừng nói :

- Vậy bốn anh em ta cùng đem vào bố thí.

Đoạn ba anh em đồng cởi đồ đem vào ra mắt Ngộ Không , và nói :

- Chúng tôi là ba vị Long vương xin dâng nạp giáp y cho thượng tiên.

Ngộ Không xem qua đẹp ý, liền đội mão, mang hia, mặc giáp, nai nịt xong. cầm thiết bảng vừa đi , vừa múa và nói :

- Tôi làm phiền các ông nhiều quá ! Thôi xin từ giả nhé !

Dứt lời, vụt bay về hướng núi Hoa Quả.

Bốn long vương căm tức hợp nhau làm biểu dâng lên Ngọc Hoàng , xin vấn tội Ngộ Không, và hỏi rõ căn cội vị thượng tiên ấy.

Bấy giờ nơi cầu sắt , bầy khỉ chờ đợi Ngộ Không , con thì đứng môi cầu con thì dòm xuống nước, Ngộ Không vừa về đến , chúng hối hả bâu quanh. hỏi :

- Đại vương ăn mặc oai nghiêm, rất xứng đáng một vị chúa tể nơi động này.

Ngộ Không đắc ý để thiết bảng xuống nhảy phóc lên cao ngồi.

Bầy khỉ thấy thiết bảng xúm nhau ôm lắc nhưng không nhúc nhích.

Chúng reo lên :

- Cha chả là nặng ! Nặng như núi đá mà Đại vương cầm nhẹ như vông , thật sức mạnh phi thường , khó có người bì kịp.

Ngộ Không hỏi :

- Vật quí tìm chủ quí ! Mấy ngàn năm bửu bối nằm đáy biển.

Long vương không biết dùng nên mới cho ta. Bửu bối có hào quang chiếu sáng dài hơn hai trượng, lớn trót một ôm. Ta chê dài và lớn, nó liền thu ngắn và nhỏ , chính giữa có hàng chữ "Như ý kim cô bảng, trọng nhứt vạn tam thiên ngủ bá cân ". Chúng bay dang ra, ta bảo nó biến hóa cho xem.

Bọn khỉ vừa lui ra, Ngộ Không liền nói :

- Nhỏ, nhỏ, hết sức nhỏ.

Tức thì thiết bảng chuyển mình thun lại còn bằng cây kim. Ngộ Không lấy dắt vào mép tai.

Bầy khỉ kinh ngạc nói :

- Đại vương còn gì hay hơn, xin làm phép nữa xem chơi.

Tôn Ngộ Không móc kim ra để lên bàn tay nói :

- Lớn ! lớn , hãy lớn lên.

Kim bung ra lớn dài như trước.

Bầy khỉ vổ tay reo lên lần nữa. Ngộ Không thích ý, nhãy ra sân động , chống thiết bảng, niệm thần chú, hóa mình cao lớn, đứng chững chạc bảo :

- Cao, cao, cao lên nữa. Tức thì mình cao muôn trượng, đầu to như núi, răng hé như gươm, mắt lòa như chớp; thiết bảng cũng cao vút mây xanh, hào quang chiếu rực trời.

Bảy mươi hai động yêu, thấy hào quang chiếu sáng tìm đến xem , thảy đều khiếp sợ, cúi đầu khâm phục.

Giây phút, Ngộ Không niệm chú thu lại nguyên hình, rồi vào động ngồi.

Bảy mươi hai Yêu vương đến quì ra mắt.

Ngộ Không tõ ý khoe khoang truyền khua chuông, đánh trống diễn binh , gươm giáo tuốt trần , cờ bay rợp đất.

Ngộ Không ngồi trên bệ , y phục chỉnh tề truyền phong quan chức như sau :

Bốn khỉ già làm tứ kiện tướng. Hai khỉ ngựa to đuôi làm Mã lưu nhị nguyên soái. Hai con vượn cân vá làm Bảng bá nhị tướng quân. Binh quyền giao cho Tứ kiện tướng quân thống quản.

Từ đó, Ngộ Không xưng là Mỹ Hầu vương thường ngày đằng vân giá vũ, đi khắp nơi, cùng chơi thân với sáu vị Ma vương sau đây, sớm tối luận bàn thế sự : l) Ngưu ma vương 2) Giao ma vương 3) Bàng ma vương 4) Sư đà vương 5) Nhĩ hầu vương 6) Ngô nhung Vương.

Một đêm trăng thanh gió mát, Ngộ Không bày tiệc thết đãi các Ma vương. Ăn uống suốt đến canh khuya, tiệc mới tàn. Sáu Ma vương giả từ về động, Ngộ Không men nồng say ngủ; nằm ngáy vo vo như sấm dậy. Tứ kiện tướng dàn binh hầu hạ.

Trong giấc nồng , Ngộ Không chiêm bao thấy hai người : một người cầm vòng, một người nắm giấy, có đề ba chữ "Tôn Ngộ Không" , và hối hả tròng vòng vào cổ , dắt Tôn Ngộ Không đi. Đến một nơi cung điện nguy nga, hồn Ngộ Không ngó lên thấy bảng đề ba chữ : "U Minh Giái", thất kinh lẩm bẩm :

- Nơi đây là âm-phủ sao dắt ta đến đây làm gì ?

Hai Kẻ kia nói :

- Nhà ngươi tới số phải trở về Diêm chúa, nên hai ta là qui? vô thường, vâng chỉ đến bắt ngươi đây.

Tôn Ngộ Không nói :

- Ta không thuộc ngũ hành, vượt ngoại vòng tam giái, thập điện vô phép bắt ta, hãy coi chừng cung này tan vỡ.

Hai qui? vô thường không đáp, dắt Ngộ Không đi mãi. Ngộ không nổi giận, móc kim ở lổ tai ra, niệm chú lớn thành thiết bảng, đập chết hai qui? vô thường, rồi xông vào đập phá cung thành.

Ngưu Đầu khiếp vía, Mã Diện kinh hồn, mạnh ai nấy chạy.

Bọn qui? sứ vội chạy tới thập điện phi báo :

- Có thiên lôi giáng hạ phá đền đài, đập chết qui? vô thường rồi !

Thập Điện đang ngồi thương nghị , nghe tin chẳng lành, liền kéo ra xem, thấy Ngộ Không hung hãng dữ tợn, bèn kêu lớn :

- Xin thượng tiên cho biết tên họ trước khi phá điện này.

Tôn Ngộ Không hói :

- Chúng bây biết là thượng tiên sao còn vô lễ , cho ngươi đến bắt. Ta là thánh trời sanh, tên là Tôn Ngộ Không ở núi Hoa Quả, động Thủy Liêm. Còn chúng bay tên chi ? Mau xưng lên kẻo tan hồn.

Thập điện đồng xá, và nói :

- Chúng tôi là Nhứt điện Trần quảng vương , Nhị điện Sở giamg-vương, Tam điện Tống đế vương, Tứ điện Ngũ quang vương, Ngủ điện Diêm la vương , Lục điện Bình đẳng vương , Thất điện Thái sơn vương , Bát điện Đồ nhị vương , Cửu điện Biện thành Vương, Thập điện Chuyển luân vương.

Tôn Ngộ Không nói :

- Các ngươi là vương vị, sao không hiễu lẻ trời, làm điều trái phép, ta là thần tiên ngoài tam giái, vượt khỏi ngủ hành, sao các ngươi còn sai qui? đến bắt ?

Thập điện nói :

- Mong thượng tiên bớt giận, vì thiên hạ lắm kẻ trùng tên , nhiều người giống tuổi nên vô thường lầm lỡ, thượng tiên nghĩ tình lượng thứ

Tôn Ngộ Không nói :

- Còn nói trớ trêu, ta đập một thiết bảng tan hồn. Hãy lấy bộ sinh tử ra đây ta xem sao ?

Thập điện sợ sệt thưa :

- Xin thượng tiên quá bước, lên điện này xem sổ.

Tôn Ngộ Không cầm thiết bảng nhãy phóc lên Sum la điện. Phán Quan sợ sệt lật đật dâng sổ bộ.

Ngộ Không lật ra tra các bộ Vỏ trùng, Mao trùng, Lân trùng, Giáp trùng, mãi tới Côn trùng là cào , chấu, bướm , ong, cũng không thấy tên mình. Tra tới loài Viên hầu : vượn, khỉ. Đến chữ hầu, số một nghìn ba trăm năm mươi hiệu, dưới có hàng chữ : " Tôn Ngộ Không mãi thị thiên sản thạch hầu , cai thọ tam bá thập nhị tuế thiên chung "

Xem mấy hàng chữ, Tôn Ngộ Không căm tức , liền lấy viết chấm mực gạt bôi lia lịa và nói :

- Ta chẳng cần sống mấy trăm năm đó.

Đã bôi tên mình còn bôi luôn cho các vượn, khỉ kia nữa.

Đoạn, quăng viết ném sổ và nói :

- Từ nay các ngươi đừng nhắc đến tên ta nữa đó !

Dứt lời huơi thiết bảng phóng mình ra khỏi điện Sum la , trở về dương thế.



Thập điện vương ai nấy đều lo sợ họp nhau qua cung Túy Vân bàn với Địa Tạng vương Bồ tát làm sớ dâng biểu cáo với thiên đình.

Tôn Ngộ Không về đến dương trần, thấy vấp chân giật mình thức dậy mới hay là chiêm bao !

Thấy Ngộ Không đã tỉnh rượu, tứ kiện tướng hỏi :

- Đại vương quá chén say lắm sao, mà ngủ đến một ngày một đêm vậy ?

Ngộ Không kể lại việc đến Sum la điện, phá, bôi sổ vừa rồi , và cười lớn nói :

- Thế là từ nay chúng ta chẳng còn sợ chết, và khỏi lo Diêm vương sai đi bắt nữa.

Bầy khỉ nghe nói mừng rỡ kéo nhau đến lạy tạ Ơn. Từ đó về sau loài khỉ sống chết không có số mạng nữa.


Ngày kia, Ngọc Hoàng đang ngự nơi Linh Tiêu điện, chư thần , chư tiên chầu đủ mặt.

Bỗng thấy Thần hoằng tế chơn chơn tâu :

- Có Đông Hải Long vương Ngao Quảng đến dâng biểu , còn đứng ngoài chờ1ệnh.

Ngọc Hoàng truyền cho vào.

Ngao Quảng bước đến quì lạy dâng sớ.

Tiên đồng tiếp sớ dâng lên, Ngọc Hoàng mở ra xem.

Văn biểu viết như sau :

" Thủy nguơn hạ giái ở Đông Thắng Thần Châu, Đông Hải tiểu Long vương, Ngao Quảng cúi dâng : Yêu tên Tôn Ngộ Không ở động Thủy Liêm núi Hoa Quả đến hiên ngang nơi thủy giái , khi dễ Thủy long , tước đoạt thần trân làm vũ khí cầm tay , sau áp bức đòi cho được y quan, y giáp. Thật là hành động ngang tàng , xin Ngọc Hoàng thu về thượng giới để tránh tai họa về sau. Kính dâng "



Ngọc Hoàng xem sớ xong, liền phán :

- Thôi, Long thần yên tâm về cõi , để ta sai tướng xuống bắt Tôn Ngộ Không về vấn tội.

Ngao Quảng tạ Ơn, bái biệt trở về thủy giới.


Phút chốc lại có đạo đồng Tiên ông vào tâu :

- Có Tần Quảng vương thừa lệnh U Minh giáo chủ Địa Tạng vương đến dâng biểu.

Ngọc nữ vội tâu sớ dâng lên.

Ngọc Hoàng cầm chương biểu xem :

" U Minh giáo chủ Địa Tạng vương kính dâng : Thiết nghĩ : Trời có thần, đất có quỉ, âm dương thay đổi , sống thác có mạng , muôn vật đều chịu kiếp luân hồi , không có vật gì trường tồn mãi mãi.. Đó là đạo lý.

Nay tại núi Hoa Quả , động Thủy Liêm , trời sanh khỉ đá thọ khí âm dương ba trăm năm rồi , tên là Ngộ Không , tài phép phi thường , hiên ngang quá lẻ. Vừa rồi Ngộ Không xuống Sum la điện giết qui? vô thường , mắng vua Thập điện , lại xóa bôi sổ bộ Viên hầu , làm tuyệt đường sinh tử.

Thần kính dâng sớ nầy xin Ngọc Hoàng nhậm ngôn sai thiên binh xuống bắt Ngộ Không trị tội , thì chốn âm phủ mới khỏi mang họa ".


Ngọc Hoàng xem xong liền phán :

- Thôi , Tần Quảng vương lui về âm phủ , ta sẽ khiến tướng bắt Ngộ Không.

Trần Quảng vương vui mừng lạy tạ , lui ra.

Tiếp đó , Ngọc Hoàng phán hỏi :

- Thạch hầu sanh bao lâu, học được phép tiên nơi nào, mà tài giỏi như vậy ?

Thiên Lý Nhãn và Thuận Phong Nhĩ tâu :

- Cách chừng ba trăm năm chục năm nay, núi Hoa Quả có khối cẩm đá do khí âm dương nhật nguyệt kết tựu , sanh ra khỉ đá. Còn việc học phép thần thông chúng tôi chưa được rõ.

Ngọc Hoàng phán :

- Yêu hầu sanh chuyện , làm kinh động hạ giới , phải bắt về trừng trị. Vậy thần tướng đủ sức lãnh chiếu thu hồi Tôn Ngộ Không về trừng trị chăng ?

Thái Bạch Kim Tinh quì tâu :

- Thạch hầu là giống trời sanh , tu đã lâu năm thần thông biến hóa. Hạ thần thiết tưởag khó nổi thu hồi , chi bằng đòi về phong chức , lưu giữ tại thiên cung , nếu nó có hung hăng dễ bề trị tội. Xin Ngọc Hoàng lấy lượng khoan hồng , giáo dục vật linh dày công tu luyện.

Ngọc Hoàng ngẫm nghĩ một lúc , rồi gật đầu khen phải, truyền cho Văn Khúc Tinh Quân tả chiếu , giao cho Thái Bạch Kim Tinh hạ giới chiêu an.

Thái Bạch Kim Tinh lảnh mệnh thẳng đến động Thủy Liêm.

Đến nơi Thái Bạch Kim Tinh gọi bầy khỉ nhỏ đến nói :

- Ta là Thiên sứ , lãnh chiếu Ngọc Hoàng , đến đây mời Đại vương các ngươi lên trời lãnh chức. Mau vào báo gấp cho Đại vương các ngươi ra hầu thiên chỉ.

Lũ tiểu hầu vội vã chạy vào báo. Tôn Ngộ Không mừng rỡ cười lớn , nói :

- May lắm ! Ta có ý định lên trời chơi, nhưng chưa kịp đi, lại có thiên sứ đến rước.

Liền sửa soạn áo mão ra nghinh tiếp.

Thái Bạch Kim Tinh vào động. Đứng giữa truyền thiên chỉ.

Tôn Ngộ Không chẳng hề lạy tạ , đứng cười ha hả :

- Ông phụng chỉ đến đây, đã dày công khó nhọc. Vậy ta cho lũ nó đãi tiệc nhé !

Thái Bạch nói :

- Ta dâng thiên chỉ không dám trễ lâu. Hầu vương mau theo ta về trời gấp.

Tôn Ngộ Không quay lại dặn bọn khỉ :

- Tứ kiện tướng hãy ở đây chăm sóc việc quân binh, bảo toàn Thủ động. Ta về trời thăm dò đàng sá nếu tiện sẽ dẫn bay lên đó chơi cho biết

Tứ kiện tướng vâng lời.

Tôn Ngộ Không đằng vân theo Thái Bạch.









Hồi 4
Chức phong Bậc Mã lòng chưa muốn
Hiệu gọi Tề Thiên dạ mới đành
Tôn Ngộ Không dùng phép cân đẩu vân bay nhanh cơn gió.

Thái Bạch đuổi theo nhưng không kịp !

Ngộ Không bay trước tới cửa Nam Thiên , muốn xông vào, bỗng có Tăng trưởng Thiên vương cùng tám vị Thiên Quân là : Ban Thiên Quân, Lưu Thiên Quân, Trương Thiên Quân, Đào Thiên Quân, Tuân Thiên Quân, Đặng Thiên Quân, Tân Thiên Quân và Tất Thiên Quân, dàn thiên binh đón lại.

Tôn Ngộ Không tức giận nói lớn :

- Lão Kim Tinh xảo trá ! Gạt lão tôn lên đây Cho ngươi ngăn cản !

Vừa dứt lời , Thái Bạch Kim Tinh vừa tới.

Tôn Ngộ không nổi giận nói :

- Lão tặc dám gạt ta sao ? Ngươi nói Thượng Đế chiêu an , thỉnh ta lên lãnh chức, sao còn có kẻ ngăn đường chận ngõ ?

Thái Bạch Kim Tinh cười , nói :

- Hầu vương bớt giận, lão không phải người lừa gạt ! Vì Hầu vương chưa từng đến Thiên Đình, nên Thiên tướng chưa quen mặt, không dám cho vào. Khi Hầu vương đã lãnh chức, ra vào sẽ không còn ai cản nữa.

Tôn Ngộ Không nói :

- Nếu vậy ta không muốn vào làm gì.

Thái Bạch Kim Tinh liền nắm tay Ngộ Không nói :

- Xin Hầu vương nguôi giận đi vào, kẻo Ngọc Hoàng chờ đợi.

Đoạn gọi lớn :

- Mở cửa cho mau , ta vừng chiếu chỉ chiêu an, với tiên trung giới về đây.

Tiếng kêu vừa dứt, cánh cửa mở tung ra. Thái Bạch Kim Tinh dẫn Tôn Ngộ Không qua khỏi Nam thiên môn , thẳng đến điện Linh Tiêu.

Đến nơi , Tôn Ngộ Không không quì , chỉ đứng lóng tai nghe !

Thái Bạch Kim Tinh quì lạy Ngọc Hoàng , tâu :

- Hạ thần vâng thánh chỉ , đã đòi yêu tiên về đó , xin trình cùng Thượng Đế.

Ngọc Hoàng phán hỏi :

- Yêu tiên là ai ? Cớ sao chưa ra mắt ?

Tôn Ngộ Không bước đến vái và nói :

- Lão Tôn có đây , cần ta việc gì ?

Các vị thần tiên đều sửng sốt thì thầm :

- Con Khỉ rừng thật là vô lễ ! Đến không quì lạy, tung hô , còn xưng ta xưng lão !

Ngọc Hoàng phán :

- Ngộ Không vốn là yêu tiên sống nơi hoang.dã chưa từng biết lễ nghi , trẫm cũng rộng dung. chẳng hề cố chấp.

Chư tiên thấy vậy bảo Ngộ Không :

- Thượng Đế khoan dung , sao không đến lạy tạ Ơn ?

Ngộ Không bước lên bái rồi lui ra không chịu lạy.

Tuy nhiên , Ngọc Hoàng không hề giận, ngồi mĩm cười và phán :

- Trong hàng văn võ còn khuyết chức nào, dùng Ngộ Không vào làm chức đó ?

Võ Khúc Tinh Quân tâu :

- Muôn tâu Thượng Đế , chức tước hiện nay đều đũ cả , chỉ còn khuyết chức Bậc Mã Ôn là Chánh Ngự Mã Giám , không biết Ngộ Không có vừa lòng chăng ?

- Vậy bổ Ngộ Không vào làm chức ấy.

Chư tiên bảo Ngộ Không tạ Ơn.

Ngộ Không cũng chỉ bước đến bái như lần trước.

Ngọc Hoàng bảo Mộ Đức Tinh Quân dẫn Ngộ Không đến sở Ngự Mã Giám.

Mộ Đức Tinh Quân vâng lịnh dẫn Ngộ Không đến giao cho viên chức trong sở , rồi lui về.

Giám Thừa , Giám Phổ, Điểu Bộ , Lực Sĩ bốn người đến thĩnh tân Bậc Mã Ôn là Tôn Ngộ Không lên ngồi trên , rồi đem sổ bộ giao trình xét.

Ngộ Không từ lãnh chức ấy, ngày đêm lo chăm sóc mọi việc , chỉ hoàn hảo chức Điểu Bộ lo lúa cỏ cho ngựa , chức Giám Thừa, Giám Phó thính tùng Bậc Mã Ôn để sai khiến, còn Lực Sĩ lo coi tắm ngựa.

Tôn Ngộ Không ở đó được nữa tháng , ngựa mập vô cùng. Các viên chức đều hoan nghênh , thết tiệc ăn mừng. Giữa tiệc Ngộ Không hỏi các quan :

- Chức Bậc Mã Ôn của ta như thế nào ?

các quan nói :

- Chức ấy ở sở Ngự Mã nầy to hơn hết.

Tôn Ngộ Không hỏi :

- Vậy chức nầy thuộc về phẩm trật thứ mấy ?

Các quan thưa :

- Chức ấy không có phẩm-trật gì cả.

Tôn Ngộ Không trợn mắt nói :

- Không có phẩm-trật nghĩa là lớn hết thảy phải không ?

Các quan nói :

- Chức tước nầy là hạng bét nơi thiên triều chỉ có quyền điều khiển chúng tôi, và toàn thể ngựa trong sở này thôi. Cũng may ông sung bổ vào đây ngựa mập béo mới được tiếng khen và được thết tiệc ăn mừng. Nếu rủi ngựa ốm thì không khỏi bị quở phạt.

Tôn Ngộ Không nghe xong, nổi giận nghiến răng, đập bàn nói :

- Ngọc Hoàng khi ta lắm ! Lão Tôn đang ở núi Hoa Quả xưng vương, thế mà lại gạt đến đây làm tên giữ ngựa , khinh bạc quá lẻ ! Thôi ta về kẻo mang tiếng sĩ-nhục !

Dứt lời, hét lên một tiếng, lấy cây kim dắt nơi vành tai thổi lân , hóa ra cây thiết bảng múa tít. Vừa múa vừa tiến ra cửa Nam thiên. Các thiên tướng biết mặt Bậc Mã Ôn không hề ngăn cản.

Tôn Ngộ Không ra khỏi Nam thiên môn dùng phép cân đẩu vân bay về núi Hoa Quả.

Vừa về đến, thấy Tứ Kiện tướng , cùng các Yêu vương đang diễn binh, Nhị hầu vương coi tập võ, Tôn Ngộ Không kêu lớn :

- Lão Tôn về đây, chúng bay mau đón tiếp.

Các Yêu vương nghe tiếng rần rộ kéo ra.

Ngộ Không vào động , ngồi trên bệ, Yêu vương và khỉ con đem rượu lên mừng, và nói :

- Đại vương đi mười lăm năm, có được toại ý không ?

Tôn Ngộ Không buồn bã nói :

- Ta đi mới vừa nữa tháng sao lại gọi là mười lăm năm , chúng bay quả không hiểu gì ngày tháng !

Nhị Hầu vương nói :

- Đại vương chưa rõ, trên trời một ngày, thì trung giới một năm vậy.

Tôn Ngộ Không ngẩm nghĩ khen :

- Nhị hầu vương thông minh lắm ! Vậy từ nay cho cai trị Tứ Kiện tướng.

Tứ kiện tướng hỏi :

- Chẳng hay Ngọc Hoàng cho thiên sứ vời Đại vương lên Thiên Đình nhận lãnh chức chi ?

Tôn Ngộ Không lắc đầu nói :

- Thượng Đế không biết dùng người , phong ta làm Bậc Mã Ôn. Ta nghe tên tốt nhận lầm , làm tới mười lăm ngày. Sau hỏi rõ thì chức ấy hèn mọn lắm , nên căm giận đạp bàn bõ về đây.

Các khỉ nói :

- Đại vương là chúa tể nhất phương , sớm tối có kẻ hầu người hạ ,sang trọng như thế này mà Ngọc Hoàng cho làm chức chăn ngựa , đáng buồn thay ! Thôi , chúng tôi đem thêm rượu cho Đại vương giải khuây !

Bấy giờ trời chiều nắng nhạt , động Thủy Liêm gió thổi rạc rào, lẫn tiếng nước reo nơi cầu như những điệu nhạc du dương.

Ngộ Không ngôi uống rượu , lòng căm tức chuyện đã qua , vừa buồn vừa giận , muốn có một chức tước ngang với Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Bỗn có tiểu hầu vào báo :

- Tâu Đại vưong , có Độc Giác Qui? vương xin vào ra mắt , còn chờ lệnh ngoài cửa động.

Ngộ Không truyền cho vào Độc Giác qui? vào lạy thưa :

- Nghe Đại vương chiêu hiền từ lâu , tiếc rằng tôi chưa có dịp ! Nay nghe Đại vương lãnh chức trời vinh qui hồi động , nên đến đây xin chịu hầu dưới trướng. Nếu Đại vương nhận lời, tôi nguyện đem hết tài năng phò tá.

Tôn Ngộ Không mừng rỡ, truyền ban áo mão, và phong Độc Giác Quỉ-vương làm chức Tiên phong.

Độc Giác Qui? vương bước tới lạy tạ thưa :

- Chẳng hay Đại vương nhận chức chi tại Thiên triều ?

Tôn Ngộ Không nói :

- Thượng Đế cạc đãi người hiền , không biết chọn tài phong tướng , nên cho ta làm chức Bậc Mã Ôn !

Độc Giác Qui? vương nói :

- Đại vương thần thông biến hóa có một không hai, lẽ nào làm chức chăn ngựa. Đáng ra phải chức tước ngang trời mới xứng.

Ngộ Không nói :

- Chính thế ! Tài ta đâu thua kém Ngọc Hoàng.

Liền cho Tứ Kiện tướng dựng giữa sân một cây cờ cao, đề bốn chữ lớn Tề Thiên Đại Thánh và truyền bảy mươi hai động phải kêu Ngộ Không bằng cái chức tước đó.

Cả thảy đều tuân lệnh.



Giữa lúc ấy, trên thượng giới, Ngọc Hoàng lâm triều, bỗng có Trương thiên sư Giám thừa và Giám phó đến bái yết , vào tâu :

- Bậc Mã Ôn Tôn Ngộ Không chê chức nhỏ không nhận, hôm qua đã trốn về trung giới.

Ngọc Hoàng còn đang ngơ ngác thì lại có Tăng trưởng Thiên vương và các Thiên tướng vào tâu :

- Chẳng biết vì cớ gì Bậc Mã Ôn bõ ra cửa Nam thiên, đến nay chưa thấy trở lại.

Thượng Đế phán :

- Thôi, các khanh hãy lui về , để trẫm sai thiên binh đi bắt nó.

Tháp tháp Lý Thiên vương và Na Tra tam thái tử quì tâu :

- Chúng tôi tuy bất tài xin tình nguyện đi bắt con yêu hầu ấy.

Thượng Đế nhậm lời, phong Lý Thiên Vương làm chức Hoàng Mã Eại nguyên soái , Na Tra làm Tam Đàng Hải Hội Đại thần dẫn thiên binh đuổi theo Ngộ không truy nã.

Lý Thiên vương cùng Na Tra vốn là hai cha con , cùng ở chung một điện.

Sau khi được lệnh, Lý Thiên vương cùng Na Tra trở về kiểm điểm thiên binh , chọn Cự Linh thần làm tiên phong, Ngự Đổ Dược Xa làm tướng cạnh , nhắm núi Hoa Quả thẳng tiến.

Đến nơi, Lý Thiên vương truyền hạ trại cách hai mươi dặm rồi sai Cự Linh thần đến khiêu chiến.

Cự Linh thần vác búa đồng chạy đến động Thủy Liêm hét như sấm, kêu Ngộ Không nói :

- Bậc Mã Ôn, ta vâng lệnh Thượng Đế đến đây bắt ngươi trị tội, hãy mau đem xác ra mà nộp.

Tiểu yêu thất kinh chạy vào báo :

- Có tướng trời sai xuống bảo Tề Thiên Đại Thánh ra hàng, bằng không nó giết chết cả động.

Tôn Ngộ Không nổi giận, xách thiết bảng chạy ra hỏi :

- Đứa nào cả gan dám đến đây hổn láo với Tôn ông ?

Cự Linh thần nói :

- Con Khỉ khốn nạn kia ! Mày biết ta là ai mà dám hung hăng như vậy ?

Ngộ Không hét :

- Ngươi là tên thần đê tiện ở đâu, Tôn ông biết đến làm gì ? Hãy nói tên đi kẻo ta đập vỡ sọ !

Cự Linh thần giận dữ nói :

- Loài Khỉ xem ra xấc láo thật. Ta là tiên phuông của Lý Thiên Vương tên Cự Linh thần đây. Hãy bỏ vũ khí quy hàng , bằng không sẽ tan xương nát thịt.

Tôn Ngộ Không mắng :

- Cái thứ thần mạt đó lẻ ra ta cho một thiết bảng cho rồi đời. Ngặt vì giết ngươi không biết sai ai trở về báo tin. Ngươi về báo với Thượng Đế rằng :

- Thượng Đế không biết dùng người hiền , lão Tôn tài năng vô địch, sao lại cho làm chức giữ ngựa !

Cự Linh thần hỏi :

- Ý của ngươi muốn Thượng Đế phong chức chi ?

Ngộ Không chỉ cây cờ trước động nói :

- Ngươi hãy coi bốn chữ trên cây cờ kia mà về tâu với Thượng Đế phong cho ta. Nếu không ta đem binh đập phá cửa trời, chiếc ngai vàng của Thượng Đế cũng chưa vững, đừng nói đến chuyện bắt ta nữa.

Cự Linh thần nghe nói, ngó lên, thấy có đề bốn chữ Tề Thiên Đại Thánh , liền cười nói :

- Con Khỉ nầy muốn loạn thiên cung, nên mới dám đề Tề Thiên Đại Thánh. Vậy ta đập một búa cho xong đời , để chi sanh chuyện.

Liền vung búa chém xuống, Tôn Ngộ Không đưa thiết bảng lên đỡ, chạm vào cán búa Cự Linh gãy hai !

Cự Linh hoảng hồn quay đầu chạy riết.

Ngộ Không cười, nói :

- Ta chẳng thèm giết làm gì ! Đừng sợ chạy. Hãy về báo lại cho đúng lời ta.

Cự Linh chạy thẳng về trại thở hào hển thưa :

Be-mã~ l"e mạNgọc Hoàng tài cao, tôi sút thế gãy búa , xin về đây chịu tội !

Lý Thiên vương nổi giận nói :

- Ngươi làm mất oai ta phải chém đầu làm gương cho kẻ khác.

Na Tra vội vã thưa :

- Xin phụ thân bớt giận lượng thứ cho Cự Linh thần , để con ra trận mới rõ tài cao thấp.

Lý Thiên vương y lời, tha tội cho Cự Linh và truyền Na Tra ra trận.

Na Tra nai nịt, kiểm điểm thiên binh kéo tới động Thủy Liêm khiêu chiến.

Tôn Ngộ Không vừa đánh Cự Linh chạy , chưa kịp vào động, bỗng thấy một tướng nhỏ, thân hình vạm vỡ, lướt tới như bay, liền hỏi :

- Ngươi con nhà ai ? Thân xác bé mọn , đến đây làm gì đó ?

Na Tra nạt lớn :

- Yêu hầu chớ vô lễ , ta là Na Tra tam Thái tử con thứ ba của Lý Thiên vương, nay vâng thánh chỉ đến bắt ngươi về nạp thiên đình trị tại.

Tôn Ngộ Không mỉm cười nói :

- Bé ơi ? Miệng còn hôi sửa. ta giết không đành. Ngươi hãy xem cờ của ta kia, về tâu với Thượng Đế phong ta chức ấy , bằng không ta phá tới thiên cung, đừng trách ta vô đạo.

Na Tra ngước mắt ngó lên thấy cờ đề bốn chữ , cả giận hét :

- Ngươi thần thông bao nhiêu, dám xưng danh ngang hàng thượng đế ? Ta quyết chém một gươm cho mất mạng.

Tôn Ngộ Không nói :

- Ta đứng trơ ra đây cho ngươi tha hồ chém.

Na Tra nổi giận niệm chú biến ra ba đầu sáu tay, cầm sáuu môn binh khí , gươm chém yêu, dao chém yêu , trái cầu thêu , chày bàn yêu , bánh xe hóa lửa. Sáu tay đều đánh vãi vào Ngộ Không một lượt.

Ngộ Không giật mình nói :

- Cha chả , thằng con nít nầy cũng biết biến hóa. Song đừng láu táu mà bõ mạng ! Hăy coi phép của ta đây.

Liền hét lên một tiếng tức thì hóa ra ba đầu sáu tay , cầm sáu thiết bảng xốc tới đập Na Tra. Bửu bối đụng nhau vang lên như trời long đất lở !

Đánh hơn bốn mươi hiệp. Na Tra niệm chú biến ra muôn ngàn thứ binh khí nữa, bay liệng đầy trời , Tôn Ngộ Không thấy thế liền quăng thiết bảng lên biến ra muôn ngàn thiết bảng , đánh vẹt hết những tinh khí của Na Tra.

Thừa dịp ấy Tôn Ngộ Không nhổ một sợi lông biến ra hình giả, cho đánh với Na Tra, còn mình thì nhảy vòng ra sau lưng giơ thiết bảng đập xuống.

Na Tra thất kinh, thu hình bỏ chạy.

Lý thiên vương đang ngồi lượng kế , bỗng thấy con hơ hải chạy về liền hỏi :

- Con Khỉ ấy thần thông bậc nào mà con phải thua chạy vậy ?

Na Tra sụp lạy tạ tại và thuật lại đầu đuôi !

- Như vậy, ta khoan đánh với nó đã. Hãy về tâu lại xin thêm binh tướng đến vây bắt mới đặng.

Na Tra vâng lời. Cha con cùng nhau lục tục kéo binh về.

Tôn Ngộ Không thắng trận, quay về động.

Bảy mươi hai Yêu vương đều đến chúc mừng và bày tiệc linh đình thết đãi.

Trong bàn tiệc Tôn Ngộ Không thấy có sáu vị Ma vương tụ hội bèn nói :

- Ta đã xưng là Tề Thiên Đại Thánh , vậy sáu anh em cùng xưng Đại Thánh luôn.

Sáu người vâng lời cùng xưng :

Ngưu Ma vương xưng Bình Thiên Đại Thánh.

Giao Ma vương xưng Phúc Hải Đại Thánh.

Bàng Ma vương xưng Hổn Thiên Đại Thánh.

Sư Đà vương xưng Di Sơn Đại Thánh.

Nhĩ Hầu vương xưng Thông Phong Đại Thánh.

Ngộ Nhung vương xưng Khu Thần Đại Thánh.


Bảy vị Đại Thánh ngang tàng nầy tự xưng theo ý muốn , không gì đến trời đất nữa.

Cha con Lý Thiên vương về tới Thiên Đình, vào yết kiến Ngọc Hoàng , rồi quì tâu :

- Thần vâng chỉ xuống bắt Yêu hầu. Nhưng vì nó tài cao xuất chúng sức mạnh khóổ đương ! Thần đành phải về tâu lại. Xin Bệ hạ sai thêm binh tướng, may ra mới bắt nó được.

Ngọc Hoàng ngơ ngác nói :

- Sá gì con yêu ấy, tài phép là bao mà phải xin thêm binh tướng ?

Na Tra vội và quì tâu :

- Xin Ngọc Hoàng tha tội, hạ thần mới dám tâu ! Tôn Ngộ Không có thiết bảng thần thông, Cự Linh thần khiếp hồn bỏ chạy , hạ thần cũng bị đánh trúng vai nên bại tẩu ! Nó đề cờ bốn chữ Tề Thiên Đại Thánh , bảo thần về tâu lại với Ngọc Hoàng phong chức ấy thì nó mới đầu hàng , bằng không nó đánh tới Linh Tiêu điện.

Ngọc Hoàng nghe tâu giật mình phán :

- Loài yêu nghiệt, cả gan dám xúc phạm thiên trào ! Các thiên tướng mau xuống bắt nó đem về đây.

Thái Bạch Kim Tinh tâu :

- Yêu hầu háo danh nói bướng, nó không biết chức nào lớn nhỏ. Nếu sai binh tướng đi bắt nhọc công , mà chưa chắc đã bắt được ! Xin Ngọc-hoàng hạ chỉ chiêu an, phong chức ấy cho nó, tưởng cũng không tốn gì lương bỗng, mà cũng chẳng hại gì của thiên triều. Chẳng qua đó chỉ là một hư danh.

Ngọc Hoàng phán hỏi :

- Sao gọi là hư danh ?

Thái Bạch Kim Tinh tâu :

- Thuở nay có chức Tề Thiên Đại Thánh bao giờ. Nay phong cho nó là hữu danh vô vị, không có phẩm trật nào , không có quyền cai trị ai. Như vậy nó sẽ an lòng, khỏi còn phá phách.

Ngọc Hoàng y tấu truyền viết chiếu, sai Kim Tinh hạ giới chiêu an lần nữa.

Thái Bạch Kim Tinh phụng chiếu , đằng vân thẳng xuống núi Hoa Quả , vào động Thủy Liêm thấy trước dinh lẩy lừng sát khí, rực ánh hào quang , yêu tinh vác đao xách búa, vượn khỉ múa gậy trương cung.

Chúng vừa thấy Thái Bạch đến , liền xốc tới bao vây , đứa nào, đứa ấy vẻ mặt hầm hầm dữ tợn.

Thái Bạch Kim Tinh nói :

- Chúng bay mau vào báo với Đại Thánh , có ta là Thiên sứ , phụng sắc chiêu an, mau ra tiếp chiếu.

Các yêu vào báo Tôn Ngộ Không nói :

- Vậy thì tốt lắm ! Lần trước Thái Bạch mời ta lên Thiên đình, tuy phong chức nhỏ , song cũng giúp ta thuộc đường hiểu lối. Lần nầy chịu khó đến nữa, chắc Ngọc Hoàng thuận ý phong ta chức lớn.

Liền truyền quân sắp hàng hai bên rồi bước ra động chào Thái Bạch và hỏi :

- Xin mời Lão tinh vào động.

Thái Bạch vào đứng giữa động nói lớn :

- Ngày trước Đại Thánh chê chức nhỏ , bõ trốn về đây, nên Ngọc Hoàng sai Lý Thiên vương và Na Tra xuống vấn tội. Hai người ấy trở về báo rằng : Đại Thánh dựng cờ đòi phong chức Tề Thiên. Các thiên tướng đều giận dữ , muốn đem thiên binh xuống bắt Đại Thánh. Riêng tôi năm lần , mấy lượt, tâu Ngọc Hoàng xin tha tội cho Đại Thánh , và xin cho Đại Thánh được lãnh chức ấy. Ngọc Hoàng đã nhận lời, vậy Đại Thánh theo ta về trời nhận chức.

Tôn Ngộ Không cười lớn nói :

- Lần trước Lão tinh đã tốn công , lần nầy nữa gíúp nữa, tôi xin đa tạ. Nhưng không biết trên trời có chức Tề Thiên Đại Thánh chăng ?

Thái Bạch Kim Tinh nghe hỏi cười thầm , nói :

- Bởi có, nên tôi mới tâu phong, xin Đại Thánh đừng nghi kỵ , mau lên lãnh chức kẻo Ngọc Hoàng mong chờ.

Tan Ngộ Không muốn mời thiên sứ dự yến, nhưng Thái Bạch tìm cách từ chối rồi hai người cùng đằng vân, bay thẳng đến Thiên - đình.

Đến cửa Nam thiên các thiên tướng đều vòng tay nghinh tiếp, không hề ngăn đón như lần trước.

Thái Bạch Kim Tinh đi fhẳng vào bệ ngọc quì tâu :

- Hạ thần vâng chỉ đòi Bậc Mã Ôn về đến đây, xin Ngọc Hoàng dạy bảo.

Ngọc Hoàng đòi Ngộ Không đến trước bệ phán :

- Nay ta chiều theo ý muốn, phong cho ngươi chức Tề Thiên Đại Thánh là tột bực rồi. Vậy từ nay đừng gây chiến mà phạm tội.

Tôn Ngộ Không nhe răng đắc ý, rồi chỉ trả lời gọn hai tiếng : Tạ Ơn !


Ngọc Hoàng liền truyền Lò Bang và Trương Bang cất một biệt dinh gọi là Tề Thiên Bàng Thánh gần vườn đào. Trong dinh chia làm hai phòng : Ân Linh tự và Ninh Thần tự , có tiên lại ở thường xuyên để chầu chực. Tiếp đó Ngọc Hoàng ban cho Tề Thiên hai ve ngự tửu , mười cái bông vàng, và sai Ngủ Đẩu Tinh Quân đưa Tề Thiên về tư-phủ.

Về đến phủ, Tề Thiên bày tiệc rượu đải Ngủ Đẩu Tinh Quân và các tiên.

Tiệc mản , ai về dinh nấy, còn Tề Thiên ở lại hưởng cảnh thanh nhàn muốn ra vào chẳng ai cấm ngăn.

Hồi 5
Phá vườn đào, Ðại Thánh trộm linh đơn
Loạn cung trời, chư thần bị bại trận
Nói về Tôn Ngộ Không làm chức Tề Thiên Đại Thánh, không thuộc ngạch nào, chẳng biết phẩm chi, thấy trước cửa có đề năm chữ Tề Thiên Đại Thánh Phủ, thì tin là chức ấy, ngày ăn tối ngủ, có hai vị tiên lại chầu hầu, dạo chơi khắp cả thiên cung, môt mình thong thả, gặp Tam Thanh thì kêu bằng tướng công, thấy Tứ Đế thì chào rằng Bệ Hạ! Còn Cửu Diện là chín sao Bắc đẩu, năm tướng Ngủ phương, bốn vị Thiên vương, Nhị thập bát tú, Lục đinh, Lục giáp, năm ông Ngũ lão, các vị thiên thần đều quen biết, kêu bằng anh em! Nay tới hướng Đông, mai chơi phía Bắc, cứ việc dạo chơi hoài, các vị thiên thần đà lát mặt!




Ngày kia Thượng Đế lâm trào, có Tinh Dương Hứa Chân quân tâu rằng:

- Tề Thiên Đại Thánh mỗi ngày dạo khắp các nơi, ở không ắt sanh sự, xin Bệ Hạ cấp cho nó coi một việc mà cầm chân, để khỏi lo sanh tệ.

Thượng Đế nạp tấu, bèn đòi Tề Thiên Đại Thánh vào chầu.

Tề Thiên đến bái rồi tâu rằng:

- Chẳng hay Bệ Hạ đòi Lão Tôn đến ban thưởng vật chi?

Thượng Đế phán rằng:

- Trẫm thấy khanh ở không, chẳng có phần chi cai trị cho vui, nên đòi khanh vào đây, trẫm giao vườn Bàn đào cho khanh cai trị, coi giữ cho thường, chớ nên sơ hở để chúng phá phách.

Tề Thiên mừng rỡ, tạ Ơn rồi lui ra.

Về gần tới phủ, ghé vườn Bàn đào, mới đến cửa ngõ, có Thổ Địa giữ vườn ấy đón lại hỏi rằng:

- Đại Thánh đi đâu đây?

Tề Thiên nói:

- Ta mới vâng chỉ vườn này, nên đến mà tra xét.

Thổ Địa làm lễ, rồi kêu các lực sĩ ra dẫn Tề Thiên vào vườn, Thổ Địa cũng theo hầu.

Tề Thiên đi coi khắp hết, rồi hỏi Thổ Địa vườn này có mấy cây đào?

Thổ Địa thưa rằng:

- Nội vườn cộng hết thảy là ba ngàn sáu trăm cây, phía trước một ngàn hai trăm cây bông trái nhỏ, ba ngàn năm mới chín một kỳ, ăn nó thì thành tiên, nhẹ mình mà thêm sức. Còn giữa vườn một ngàn hai trăm cây, bông trái có từng, trái ngọt lắm, sáu ngàn năm mới chín một kỳ, ăn nó thì bay như chim mà trường sinh bất lão. Còn phía sau một ngàn hai trăm cây, chín ngàn năm mới chín một kỳ, trái có gân màu tía, nhỏ hột hơn hết, ăn nó thì sống bằng trời đất.

Tề Thiên nghe nói thì mừng thầm, đếm y số rồi trở về phủ.




Từ đó về sau không đi chơi đâu hết, hễ năm ba bữa thì ra vườn đào một lần, đi thì có Thổ Địa và Lực sĩ với Tiên lại theo hầu.




Ngày kia thấy vườn đào có trái chín, tìm tâm muốn nếm cho biết mùi, ngặt quan hầu theo hoài, làm sao mà ăn lén cho đặng.

Tề Thiên kiếm kế mà nói rằng:

- Thôi, các ngươi ra ngoài cửa mà giữ cửa vườn, để ta ở nhà mát mà nghỉ một chút.

Ai nấy đều vâng lệnh mà lui ra hết.




Chừng đó Tề Thiên lại nhà mát cởi đồ y phục ra, nhảy phóc lên cây đào, lựa trái nào chín mùi thì hái mà ăn tươi, làm một bụng lứ lừ mới nhảy xuống, bận áo đội lại xong rồi, ra cửa kêu Tiên lại về phủ.



Từ đó sắp sau, bắt bén, làm thế đó hoài, làm riết gần hết vườn đào!




Ngày kia Vương Mẫu nương nương ở cung Diêu Trì tại hướng Tây (Bà này là chúa mấy vị tiên nữ), đến kỳ đào chín sửa soạn làm hội Bàn Đào, bèn sai bảy nàng tiên bận bảy sắc áo, là: Thanh y tiên nữ, Huỳnh y tiên nữ, Tạo y tiên nữ, Tố y tiên nữ, Hồng y tiên nữ, Tử y tiên nữ, Lục y tiên nữ, xách giỏ lam đi hái trái Bàn đào.




Khi bảy nàng tiên đến cửa vườn, thì thấy có Thổ Địa, Lực sĩ và Tiên lại giữ cửa.

Bảy nàng tiên nói:

- Chúng tôi vâng lệnh Vương Mẫu đến đây hái đào về làm hội.

Thổ Địa nói:

- Khoan vào đã, các cô! Xưa khác nay khác. Vả Thượng Đế có sai Tề Thiên Đại Thánh cai trị vườn này, chờ chúng tôi thưa lại đã.

Thất tiên hỏi:

- Tề Thiên Đại Thánh bây giờ ở đâu?

Thổ Địa nói:

- Đại Thánh ở trong vườn, đương ngủ trong nhà mát.

Thất tiên nói:

- Chúng tôi đi có giờ khắc, chẳng dám trễ lâu, xin ông dắt vào nhà mát mà ra mắt, chớ biết chừng nào ngài dậy mà chờ!

Thổ Địa nghe các tiên nói phải, liền dắt Thất tiên nữ vào nhà mát, thấy áo mão để đó mà không biết Đại Thánh đi đâu, kiếm cùng vườn mà chẳng thấy!

Té ra Đại Thánh ăn vụng no rồi biến hình ra nhỏ còn hai tấc, chun nằm trong hột đào mà ngủ, nên kiếm không đặng.



Còn Thất tiên nữ nóng về nên nói rằng:

- Chúng tôi vâng lệnh Vương Mẫu đến đây, mà kiếm Đại Thánh chẳng đặng, lẽ nào dám về không!

Tiên lại nói:

- Đại Thánh hay dạo đã quen, chắc là đi tìm bạn, các cô vâng chỉ thì hái lần đi, chừng Đại Thánh về, chúng tôi sẽ thưa lại.

Thất tiên nữ y lời, ra vườn trước hái đầy ba giỏ. Rồi lại vườn sau không thấy đào chín, còn những trái xanh, là bị Tề Thiên ăn hổn!

Thất tiên nữ nói:

- Lạ này, hội này là hội lớn, chánh chín ngàn năm, sao vườn này không có trái chín, hái sao cho đầy một giỏ.


Bởi vườn sau trái ít, nên hái đặng bảy giỏ mà thôi. Ba thứ đào vì sao lại chín một lượt? Là vì ba ngàn năm chín một thứ, hái hai giỏ, hội nhỏ; sáu ngàn năm chín một thứ nữa, hái hai thứ đặng sáu giỏ thì hội trung, đến chín ngàn năm chín một thứ nữa, đặng bảy giỏ nên chín ngàn năm thì đại hội.




Khi Thất tiên nữ kiếm khắp vườn, thấy phía nam trái đào ở trên nhành nửa xanh nửa đỏ.

Thanh y tiên nữ kéo nhành ấy xuống, Huỳnh y tiên nữ hái rồi, Thanh y tiên nữ buông nhành đào bật lên.

Tề Thiên té nhào xuống, giật mình thức dậy, hiện hình rút thiết bảng hét lớn rằng:

- Chúng bây là yêu quái ở đâu? Sao dám cả gan hái đào trộm.

Thất tiên nữ hãi kinh đồng quỳ xuống mà thưa rằng:

- Chúng tôi không phải yêu quái, thiệt là Thất tiên nữ vâng lệnh Vương Mẫu hái đào làm hội, có trình Thổ Địa, vào kiếm Đại Thánh không đặng, chị em tôi sợ trễ nên phải hái lần, xin Đại Thánh bớt giận và tha tội.

Tề Thiên nghe rõ thì đổi giận làm vui mà nói rằng:

- Thôi, các tiên nga chờ dậy. Chẳng hay Vương Mẫu làm tiệc đãi ai?

Thất tiên nữ thưa rằng:

- Lệ thường thì mời Phật Tổ bên Tây Phương, Quan Âm bên Nam Hải, Sùng Ân bên Đông huê, Huỳnh Linh bên Bắc địa, Huỳnh Giác ở Trung ương và Tam Thanh, Tứ đế, Thái Ất, Bát tiên, Địa tạng vương, Thập điện, Tứ Hải long vương, và các vị thần tiên tinh tú, đồng hội tề, rước Thượng Đế qua phó Bàn Đào.

Tề Thiên hỏi:

- Có thỉnh ta chăng?

Thất tiên thưa:

- Chúng tôi không nghe nói.

Tề Thiên nói:

- Ta làm chức Tề Thiên Đại Thánh lại có công giữ vườn sao không mời ta dự tiệc.

Thất tiên nữ thưa rằng:

- Lệ cũ thì vậy, chớ kỳ này không biết thế nào?

Tề Thiên nói:

- Phải, thôi, các cô đứng cho vững đã.

Nói rồi niệm chú làm phép định thân, chỉ các tiên nga mà nói rằng:

- Đứng đó, đứng đó!

Thất tiên nữ đứng như trời trồng.


Tề Thiên thấy các tiên nữ trơ trơ dưới cội đào, liền nhảy vào nhà mát mặc áo đội mão, rồi cân đẩu vân đi phó hội trước, xảy gặp Xích Cước đại tiên.

Tề Thiên sinh ra một kế, liền bái mà hỏi rằng:

- Chẳng hay ông đạo đi đâu?

Xích Cước đại tiên nói:

- Tôi đi phó hội Bàn Đào.

Tề Thiên nói:

- Thượng Đế khen tôi có tài cân đẩu vân hay lắm, nên sai tôi đón các thần tiên mà dặn rằng: "Lệ này phải hội tề tại đền Thông Minh; tập lễ xong rồi, sẽ hội Bàn Đào luôn thể".

Xích Cước ngỡ là thiệt cải lệ, nên quay lại đi qua Thông Minh điện.




Còn Tề Thiên thấy Xích Cước đi xa rồi niệm chú... Biến hình ra Xích Cước, rồi riết qua hội Bàn Đào.

Khi vào tới Bửu các, thấy tiệc dọn chỉnh tề, những đồ mỹ miều kể đà không xiết, mà không có rượu với đào, và chưa thấy ai dự tiệc.

Tề Thiên muốn làm lén ba miếng, xảy có mùi rượu bên phía Đông phất qua thơm nực mũi, Tề Thiên bước qua thấy hũ rượu rất ngon thì bắt thèm, ngặt có quan canh, biết làm sao đặng! Liền nhổ lông bỏ vào miệng nhai nhỏ phun ra, hóa ra con buồn ngủ bay đậu trên mặt quân canh, quân liền ngủ gục hết.



Lúc này Tề Thiên làm lộng, lựa mấy ngón nhất hạng bưng qua phía Đông mà ăn, nên cổ bàn lỡ hết.

Tề Thiên ăn đồ no nốc, uống rượu say mềm! Nghĩ rằng:

- Không xong, khi mình giữ vườn thì lựa đào ngất ăn hết, nay lại ăn vụng làm lỡ hết cổ bàn, khui hết mấy chinh rượu mà uống! Nếu đến chừng khách tới, thì chúng bắt chẳng sai, chi bằng lén lén về dinh mình mà ngủ, dầu có lậu ra cũng dễ chối.

Làm tuồng tỉnh táo riết về phủ Tề Thiên, nhằm lúc say ba ngù, đi lạc qua cung Đâu Suất.



Khi ấy Tề Thiên thấy bảng đề Đâu Suất cung thì sực nhớ rằng:

- Cung Đâu Suất là chỗ Thái Thượng lão quân ở, nếu vậy mình đã đi lạc xa rồi! Xưa rày cũng lâu đến ông này, sẳn dịp ghé thăm luôn thể.

Nói rồi sửa bước vào, chẳng dè ông Thái Thượng mắc giảng kinh trên lầu với ông Nhiên Đăng, các đệ tử đều đứng hầu nghe giảng, nên Tề Thiên vào cung Đâu Suất không thấy một người, liền đi thẳng vào phòng, thấy trong năm cái bầu đựng những thuốc kim đơn.

Tề Thiên mừng quá nói rằng:

- Từ mình thành tiên tới nay, biết thứ thuốc này là quý, song chưa đặng luyện chế mà cứu người, may gặp vật này, mà không có chủ, vậy mình uống thử ít viên.

Nói rồi trút bầu thuốc bỏ vào miệng nhai nuốt.

Tề Thiên làm một hơi sạch trơn trong bầu chẳng còn huờn nào hết, nhờ thuốc dã rượu hết say giựt mình ngẫm nghĩ rằng:

- Không xong rồi, họa lớn bằng trời, không phải dễ! Nếu Thượng Đế hay đặng ắt tánh mạng chẳng còn! Chi bằng chạy về động Thủy Liêm mà trốn.

Nói rồi nhảy tới Tây Thiên Môn, tàng hình ra khỏi cửa, cân đẩu vân nhảy xuống Hoa Quả Sơn, kêu lớn rằng:

- Chúng bây ôi! Ta đã về đây!

Yêu tinh và quần hầu quỳ lạy mà thưa rằng:

- Đại Thánh nỡ nào bỏ chúng tôi lâu quá vậy!

Tề Thiên nói:

- Không bao lâu mà!

Vừa nói vừa đi vào động, Tứ kiện tướng lạy mừng rồi hỏi rằng:

- Đại Thánh đã ở trên trời một trăm mười một năm, chẳng hay làm chức chi vậy?

Tề Thiên nói:

- Ta nhớ đâu ba bốn tháng, mà dưới thế này đến một trăm mười một năm! Nói cho phải, chuyến này khá. Thượng Đế hậu đãi và phong cho Tề Thiên Đại Thánh.

Lại thuật hết các công chuyện từ khi đi cho đến về đây. Yêu quỷ và quần hầu mừng rỡ, rót rượu nước dừa dâng lên. Tề Thiên hớp một miếng, rồi phun phèo phèo, nhăn mặt mà rằng:

- Uống không đặng! Hồi sớm ta lại cung Diêu Trì uống những quỳnh tương tiên tửu, hơi thơm ngát, vị ngạt ngào, thương hại cho chúng bây biết làm sao mà uống cho đặng đồ quý ấy! Vậy thì ta lén lên trộm về vài hủ các ngươi uống một đứa một chút cũng đặng trường sinh.

Yêu quỷ và quần hầu tạ Ơn, Tề Thiên Đại Thánh ra khỏi cửa động làm phép tàng hình, cân đẩu vân lén vô cung Diêu Trì, thấy quân canh còn ngủ!

Tề Thiên lựa hai hủ lớn cập nách, còn hai tay xách hai hủ nữa là bốn hủ, rồi tàng hình đem về động, làm hội tiên tửu uống với yêu quái và quần hầu.








Nói về Thất tiên nữ tới mười hai giờ mới tan phép định thân, đồng xách giỏ hoa lam về tâu với Vương Mẫu rằng:

- Chúng tôi hái hai vườn đào trước y số, đến vườn đào sau không còn một trái. Chắc Tề Thiên Đại Thánh ăn vụng hết. Chị em tôi đương kiếm đào, xảy đâu Đại Thánh nhảy ra hành hung muốn đánh, hỏi hội này mời ai, chúng tôi nói theo lệ cũ, rồi Đại Thánh làm phép định thân, đến bây giờ chúng tôi mới tỉnh hồn về đặng.




Lúc ấy Vương Mẫu nghe nói nổi giận, liền vào tâu với Thượng Đế...

Xảy có quân canh vào tâu:

- Không biết ai ăn vụng lỡ cổ bàn hết, và uống rượu, lại lấy mất hết bốn hủ quỳnh tương lớn.

Kế Tứ đại tiên sư vào tâu rằng:

- Tôi chế thuốc Cửu Chuyển kim đơn, đặng làm hội Đơn Ngươn, chẳng biết ăn trộm ở đâu mà trút hết năm bầu. Xin Thượng Đế cho người tra xét.

Thượng Đế nghe tâu lấy làm lạ.

Xảy thấy Tiên lại vào tâu rằng:

- Tề Thiên Đại Thánh đi dạo hôm qua tới bữa nay chưa về.

Thượng Đế sanh nghi!

Kế Xích Cước đại tiên vào tâu rằng:

- Hôm qua tôi vâng lệnh Vương Mẫu phó hội Bàn đào, gặp Tề Thiên Đại Thánh nói với tôi rằng: Bệ Hạ dạy tôi đến Thông Minh điện diễn lễ rồi sẽ phó hội Bàn đào, tôi trở lại đền Thông Minh hôm qua tới nay, mà chẳng thấy tin giá ngự nên tôi phải đến đây đợi lệnh.

Thượng Đế kinh hãi phán rằng:

- Trẫm không truyền chỉ đòi hiền khanh, chắc là Ngộ Không nó gạt khanh đó. Vậy thì Linh Quan đi xét bắt Ngộ Không về đây coi nào!




Giây lát Linh Quan đi xét ra rõ cớ ấy, trở về mà tâu rằng:

- Các việc ấy đều nơi Tôn Ngộ Không hết; nay nó đã trốn về núi Hoa Quả động Thủy Liêm, đang làm tiệc tiên tửu ở dưới là rượu nó ăn trộm đó.


Thượng Đế nghe qua nổi trận lôi đình, hạ chỉ đòi bốn vị Thiên tướng, Lý Thiên Vương, Na Tra, Nhị thập bát tú, Cửu Diện tinh quân, Ngũ Phương yết đế, bốn vị Công Tào, các vị Thiên thần dẫn mười muôn thiên binh xuống vây núi Hoa Quả, bắt cho được Tôn Ngộ Không đem về trị tội.




Khi ấy chư thần tướng dẫn mười muôn binh xuống vây núi Hoa Quả, Lý Thiên Vương truyền trên bủa lưới khắp trời, gọi là Thiên la, dưới bủa lưới khắp đất, gọi là Địa võng, trên chín lớp lưới, dưới chín lớp lưới, cộng lại là mười tám lưới.

Trước sai mấy vì sao dữ tợn, kéo binh tới trước động Thủy Liêm khiêu chiến.

Khi tới động, Cửu Diện tinh quân kêu rằng:

- Đại Thánh ở đâu? Chúng ta vâng chỉ đến đòi Đại Thánh về trời, nếu bất tuân thì bị giết cả động.

Tiểu yêu về báo lại...

Tề Thiên đang nhậu với Tứ kiện tướng quân và các Yêu vương, nghe báo chẳng hề sợ sệt, lại ngâm thơ rằng:




Ngỏa nguê tiệc rượu lại ngâm thi,

Bao quản ngoài tai tiếng thị phi.




Ngâm đặng hai câu, có quân vào báo rằng:

- Cửu Diện hung thần nhục mạ lắm!

Tề Thiên cười rằng:

- Kệ nó đừng báo làm chi, cứ đóng cửa cho chặt.

Nói rồi ngâm hai câu nữa:




Thơ rượu sẳn vui ngâm lại nhậu,

Công danh chỉ tính kiếp cùng chầy.




Kế tiểu yêu vào hớt hải báo rằng:

- Đại Thánh ôi! Không xong! Chín vị hung thần phá hư cửa động rồi.

Tề Thiên nổi giận nói rằng:

- Ta say quá, thôi Độc Giác quỷ vương dẫn bảy mươi hai chúa động ra trước, còn ta với Tứ kiện tướng theo sau. Độc Giác quỷ vương vâng lệnh dẫn bảy mươi hai chúa động xông ra, bị Cửu Diện chận đánh nên phải thối lại, ra không khỏi động!

Kế Tề Thiên xách thiết bảng tới hét lớn rằng:

- Tránh Tránh.

Độc Giác và bảy mươi hai chúa động tránh vẹt hai bên.

Tề Thiên xông ra đánh Cửu Diện phải lui ra cửa động.

Cửu Diện nói rằng:

- Bật Mã Ôn không sợ chết, ngươi phạm tội trời:



1.) Ăn vụng Bàn đào.

2.) Uống lén rượu ngự tửu.

3.) Ăn vụng cổ bàn của Vương Mẫu.

4.) Lén uống thuốc kim đơn của Lão quân.

5.) Ăn trộm ngự tửu đem về làm tiệc, nay còn cự chống cho thêm tội nữa sao?




Tề Thiên cười ngất nói rằng:

- Năm điều đó quả có, ta không thèm chối , mà bây giờ chúng bây muốn cái gì?

Cữu Diện nói:

- Nay Thượng Đế sai chúng ta xuống bắt ngươi, ngươi mau chịu phép, kẻo liên lụy cả động.

Tề Thiên nổi giận nói rằng:

- Chúng bây là đồ khốn, tài phép bao nhiêu mà nói lớn lối! Ta đập một cây cho rồi đời.

Cửu Diện hổn chiến, bị Tề Thiên mạnh mẽ qua, Cửu Diện đánh không lại vụt chạy hết, về trại thưa rằng:

- Hầu yêu mạnh bạo vô cùng, chúng tôi đánh không lại.

Lý Thiên Vương sai bốn vị Thiên Vương dẫn Nhị thập bát tú kéo binh ra vây phủ.

Tề Thiên chẳng hề nao núng, dẫn bốn tướng mạnh và Độc Giác quỷ vương với bảy mươi hai động chủ ra cự địch.


Đánh từ giờ thìn cho đến mặt trời lặn, Độc Giác quỷ vương và bảy mươi hai chúa động đều bị thiên thần bắt hết, trừ ra có Tứ kiện tướng chạy khỏi.



Còn đó Tề Thiên đương đánh với Tứ vị Thiên vương, Lý thiên Vương và Na Tra thái tử, Tề Thiên nhổ một nắm lông bỏ vô miệng nhai nhỏ phun ra, hóa hình Tề Thiên vô số, đều cầm thiết bảng trợ chiến với mình.

Tứ vị Thiên vương, Lý Tịnh Na Tra đều bại tẩu! Tề Thiên dùn mình thâu lông lại, về tới cửa động, thấy Tứ Kiện Tướng dàn quân nghinh tiếp.

Tứ Kiện Tướng khóc ba tiếng, rồi cười ba tiếng.

Tề Thiên hỏi:

- Vì cớ nào đã khóc lại cười?

Tứ Kiện Tướng thưa rằng:

- Khóc là khóc bảy mươi hai chúa động và quỷ vương bị bắt, còn cười là mừng Đại Thánh thắng trận mới về.

Tề Thiên nói:

- Sự chinh chiến thắng bại là việc thường, hơi nào mà buồn bực. Chúng ta ăn cho no, ngủ cho khỏe, mai bắt Thiên Vương lại mà báo thù.

Chúng khỉ đều thỉnh lệnh.




Nói về Lý Tịnh thâu binh, các Thiên Vương về dưng yêu quái hổ hang rất nhiều, mà bắt không đặng một con khỉ.

Lý Thiên Vương truyền Thiên binh treo lục lạc theo Thiên la Địa võng, hễ nghe rung lục lạc thì đón bắt, đừng cho yêu hầu trốn thoát.

Hồi 6
Quan Âm phó hội hỏi căn do
Tiểu Thánh ra oai trừ Ðại Thánh
Nói về Quan Âm Bồ Tát ở núi Phổ Đà tại Nam Hải. Khi Vương Mẫu mời phó hội, thì Quan Âm đi với đệ tử là Lý Mộc Tra pháp danh Huệ Ngạn, đồng đến cung Diêu Trì, thấy cổ bàn đã lỡ hết! Tuy có mấy vị Thiên tiên, mà không ai ngồi tiệc, cứ bàn luận chuyện Tề Thiên...

Quan Âm ra mắt các tiên, các tiên đáp lễ, rồi thuật chuyện lại...

Quan Âm nói:

- Nếu không dự tiệc thì các vị theo bần tăng vào chầu Thượng Đế coi thể nào!

Các tiên y lời, theo đến Thông Minh điện, có bốn vị Tiên sư và Xích Cước đại tiên nghinh tiếp.

Quan Âm và các tiên bước vào, thì có Thái Thượng lão quân và Vương Mẫu còn ở đó.

Chào hỏi với nhau rồi, Quan Âm quì tâu rằng:

- Bây giờ tính hội này làm sao?

Thượng Đế phán rằng:

- Kỳ hội nào cũng vui, kỳ nầy bị yêu hầu quấy rối? Nên trẫm giận sai mười muôn thiên binh đi bắt nó, chưa thấy trở về, không biết thắng hay là bại.

Quan Âm nói rằng:

- Vậy thì Huệ Ngạn xuống núi Hoa Quả thăm coi thắng phụ thế nào! Nếu gặp đánh thì trợ chiến, rồi về báo tin.

Huệ Ngạn vâng lời xách thiết côn giáng hạ. Tới núi Hoa Quả thấy Thiên la Địa võng bủa giăng, liền kêu lớn rằng:

- Ta là Nhị Thái Tử Lý Mộc Tra xin vào thám thính.

Lý Thiên Vương mở cửa dinh.

Huệ Ngạn vào lạy cha và ra mắt bốn vị Thiên vương.

Lý Thiên Vương hỏi:

- Con ở đâu tới đây?

Huệ Ngạn thưa rằng:

- Con theo Bồ Tát phó hội Bàn đào, thấy hư hết cổ bàn, nên Bồ Tát vào chầu Thượng Đế. Thượng Đế thuật chuyện... , nên Bồ Tát sai con đi thám thính.

Đang nói nửa chừng, kế có quân vào báo rằng:

- Tề Thiên dẫn hầu tinh đến khiêu chiến.

Huệ Ngạn thưa rằng:

- Bồ Tát dạy con đi thám và trợ chiến, con xin ra trận coi yêu quái thế nào?

Lý Thiên Vương nói:

- Con đi thì phải cho cẩn thận.

Huệ Ngạn huơi thiết côn ra khỏi cửa, rồi hỏi rằng:

- Tề Thiên là ai?

Tề Thiên nói:

- Lão Tôn đây! Còn ngươi là ai đó?

Huệ Ngạn nói:

- Ta là học trò Quan Âm bồ tát, con thứ hai của Lý Thiên Vương tên là Mộc Tra tự Huệ Ngạn đây.

Tề Thiên nói:

- Sao ngươi không ở Nam Hải mà tu, đến đây làm gì?

Huệ Ngạn nói:

- Ta vâng lệnh thầy đi thám thính, thấy ngươi khiêu chiến, nên ta ra mà bắt ngươi.

Tề Thiên nói:

- Mi chớ khoe tài, ta đập mi một cái cho biết.

Huệ Ngạn giơ côn ra đỡ, đánh đặng sáu mươi hiệp Huệ Ngạn chạy dài.

Tề Thiên thâu quân về động.



Còn Huệ Ngạn chạy về thở dốc mà rằng:

- Tề Thiên thiệt có tài, con cự đà không lại.

Lý Thiên Vương hoảng kinh truyền viết biểu cầu cứu, sai Đại Lực quỷ vương theo Huệ Ngạn về trời dâng biểu.




Khi ấy Huệ Ngạn về thuật chuyện cho Quan Âm nghe , Quan Âm còn suy nghĩ.

Còn Đại Lực quỷ vương dâng sớ Thượng Đế coi rồi phán rằng:

- Sá gì một con quỷ mà mười muôn Thiên binh làm không lại, mà phải xin tiếp cứu! Bây giờ tính sai đạo binh nào?

Quan Âm chắp tay tâu rằng:

- Bệ Hạ chớ lo! Bần tăng dâng một vị thần, bắt yêu hầu nháy mắt.

Thượng Đế phán hỏi:

- Bồ Tát cử ai?

Quan Âm tâu rằng:

- Người ấy kêu Bệ Hạ bằng cậu ruột. Nhị Lang hiền thánh tên Dương Tiễn, khi trước giết sáu con yêu, lại có sáu người anh em bạn tại Mai Sơn, sẳn có 1200 thần thảo đầu, thần thông quảng đại, bây giờ ở tại vàm Quán Châu, va có tánh kiêu, như sai đi đánh thì đi, nếu đòi về trào mà sai thì chắc không chịu! Xin Bệ Hạ xuống chiếu sai va, thì chắc va phụng mạng.

Thượng Đế y lời truyền viết chiếu điều binh rồi sai Đại Lực quỷ vương đi.




Khi Đại Lực quỷ vương tới vàm Quán Châu, đến trước dinh, Nhị Lang hiển thánh tiếp sứ, rồi thiết hương án quì đọc chiếu như vầy:

" Tề Thiên Đại Thánh là Tôn Ngộ Không ở tại động Thủy Liêm núi Hoa Quả, hội Bàn đào nó phá rã rời, Thiên Binh Thiên Tướng bị đà xững vững. Xin hiền khanh ra sức cùng nghĩa đệ giúp công Trị bình, trẫm sẽ phong, chỉnh đốn rồi ta ban thưởng."




Nhị Lang hiển thánh vâng lời tạ Ơn; rồi nói rằng:

- Vậy Thiên sứ về trước tâu lại, rằng tôi phụng chỉ đề binh.

Nói rồi kêu sáu anh em: Khượng thái úy, Trương thái úy, Giao thái úy, Lý thái úy, Quách Thân tướng quân, Trực Kiện tướng quân, bảo đem 1200 thần thảo đầu cho sẳn, đem cung tên khí giới theo, đồng nổi gió, bay qua núi Hoa Quả, thấy Thiên la Địa võng bủa giăng.

Nhị Lang hiển thánh kêu lớn rằng:

- Ta là Nhị Lang hiển thánh chân quân, vâng chỉ đem quân trợ chiến.

Lý Thiên Vương nghe báo truyền mở cửa dinh nghinh tiếp.

Nhị Lang hiển thánh vào hỏi việc chinh chiến thể nào?

Lý Thiên Vương thuật chuyện lại, Nhị Lang hiển thánh cười rằng:

- Để nó giỏi nó thần thông với tôi. Các ông hãy mở Thiên la Địa võng ra, hễ đánh đâu vây đó mà thôi, xin Thác Tháp thiên vương hay là Tam Thái Tử cầm kiếng chiếu yêu đứng trên mây soi xuống, đặng tôi coi mà theo nó, dẫu nó biến ra vật chi cũng biết, đừng cho nó sẫy khó lòng.

Nhị Lang hiển thánh dặn các thần thảo đầu cột chó, cầm ó lại, chờ khi hổn chiến sẽ thả ra.

Dặn rồi dẫn sáu tướng tới động Thủy Liêm khiêu chiến. Thấy bầy khỉ đóng binh như rồng uống khúc, trước cửa động dựng cờ đề chữ Tề Thiên Đại Thánh, Nhị Lang hiển thánh nói:

- Loài yêu hầu vô lễ, muốn địch thể với trời!



Khi ấy tiểu hầu vào báo, Tề Thiên nai nịch cầm thiết bảng xông ra hỏi rằng:

- Người là tiểu tướng ở đâu, dám cả gan đến đây khiêu chiến?

Nhị Lang hiển thánh nạt rằng:

- Mi có mắt mà không ngươi, ta là cháu kêu Thượng Đế bằng cậu, chức Chiêu Huệ Tịnh hiển vương, là Nhị Lang hiển thánh chân quân, vâng chỉ đến bắt ngươi đây.

Tề Thiên nói:

- Ờ ta có nghe em Thượng Đế muốn chồng, xuống phàm trần kết đôi với Dương quân, sinh đặng một trai tên là Dương Tiễn sức mạnh nhổ núi Giao Sơn, có phải là mi đó chăng? Mi là con nít nhảy mũi ta không nỡ xuống tay, ta tha cho mi về kêu Lý Thiên Vương ra đây cự chiến.

Nhị Lang nổi giận mắng rằng:

- Yêu hầu cà xốc, ta chém một đao.

Hai đàng đánh nhau, ba trăm hiệp sức cũng cầm đồng.

Nhị Lang hiển thánh hóa mình cao muôn trượng, tóc đỏ, mặt xanh, nanh dài, mũi lớn, cầm đao lớn bằng hòn núi chém bổ Tề Thiên.

Tề Thiên cũng biến hình cao muôn trượng, cầm thiết bảng lớn như núi Thái Sơn cự với Nhị Lang hiển thánh.

Lúc nầy binh yêu hoảng vía hết chờn vờn, tướng khỉ run en thôi cà thọt!




Chừng ấy sáu tướng của Nhị Lang hiển thánh mới thả chó và ó ra, trên nhành ó liện, dưới gốc chó râm, binh tướng săn nà, làm cho bầy khỉ quăng gươm ném giáo, con vọt vô rừng, con nhảy vào động.



Tề Thiên thật không sút chi Nhị Lang hiển thánh, song thấy quần hầu vỡ tan, phải hiện nguyên hình chạy về tiếp cứu!

Nhị Lang hiển thánh đuổi theo.

Tề Thiên không muốn cự bởi nóng bầy khỉ nên riết về, ai dè về gần cửa động, bị sáu tướng của Nhị Lang đón lại mà rằng:

- Con khỉ khốn chạy đâu?

Phần chó với ó nó vải theo, Tề Thiên túng thế, thâu thiết bảng giắt vào mép tai, rồi biến ra con se sẻ bay lên ngọn cây mà đậu! Sáu tướng kiếm không đặng.

Kế Nhị Lang hiển thánh chạy đến hỏi rằng:

- Các em rượt tới đâu mà mất nó.

Sáu người nói:

- Chúng tôi vây nó tại đây, không biết nó biến đi đâu mất!.

Nhị Lang hiển thánh trợn mắt ngó lên, thấy trên ngọn cây có yêu khí, biết là Tề Thiên biến ra se sẻ ấy, liền hiện nguyên hình lại, rồi dùn mình biến ra con bù cắt, bay lên mổ se sẻ, se sẻ sợ bay bỗng hóa ra con cò ngà bay lên mây.

Bù cắt biến ra hạc biển bay theo. Cò ngà hoảng kinh xẹt xuống suối hóa ra con cá. Hạc biển bay theo xuống suối không thấy con ngà, thì chắc con ngà đã biến ra tôm cá, liền hóa ra con séo mà xom, con cá thấy con séo xom lia xom lịa, thì nghi là Nhị Lang biến ra, liền lội thối lại.

Con séo thấy con cá chày mà đuôi không đỏ, biết là Tề Thiên liền chạy theo mà mổ. Con cá thấy con séo sao chân không đỏ, biết chắc là Nhị Lang theo mình liền lặn xuống biến ra con rắn nước, nhảy vọt lên bờ, lủi vô cỏ rậm. Con cò séo mổ hụt, lại thấy rắn nước nhảy lên bờ, thì chắc là Tề Thiên hóa rắn mà trốn, séo liền hóa ra hạc xám theo mổ rắn nước, rắn nước chạy vọt lên triền núi hóa ra chim nắt nước, đậu theo mé khe, Nhị Lang hiển thánh thấy Tề Thiên biến ra vật hèn mọn, thì không thèm hóa ra vật khác làm chi, liền hiện hình người lấy cung mà bắn. Chim nắt nước lẹ mắt, liền nhào xuống chân núi, hóa ra một cái miểu Thổ Địa, cái miệng làm cửa, hai hàm răng làm cánh cửa, cái lưỡi làm cốt Thổ Địa, cặp mắt làm cửa sổ, còn cái đuôi không biết làm sao phải hóa làm cột cờ dựng sau miễu!

Nhị Lang hiển thánh tới gặp miễu Thổ Địa sau miễu có dựng cờ.

Nhị Lang ngẫm nghĩ cười rằng:

- Con khỉ nó gạt ta đây! Ta khi nào mắc kế, thuở nay miễu Thổ Địa đời nào dựng cờ sau lưng, Tề Thiên gạt ta chun vào để nó cắn. Ta không thèm vô cửa, ta đánh phá cho hư gãy cánh, rồi ta sẽ vào.

Tề Thiên nghe nói nghĩ rằng:

- Nếu để nó đập phá cửa, thì gãy răng đui mắt mình còn gì.

Nghĩ rồi vùng biến mất! Nhị Lang hiển thánh kiếm hết sức không đặng!



Kế bốn Thái Úy, hai tướng quân chạy tới hỏi rằng:

- Anh bắt đặng Tề Thiên chưa vậy?

Nhị Lang hiển thánh cười mà thuật chuyện vậy vậy...

Sáu người đều sửng sờ!

Nhị Lang hiển thánh nói:

- Vậy các em ở đây coi chừng, để ta lên mây kiếm nó.

Nói rồi nhảy lên nửa chừng, thấy Lý Thiên Vương và Na Tra đang ở trên mây soi kiếng.

Nhị Lang hiển thánh nói:

- Thiên Vương có thấy yêu hầu chăng?

Lý Thiên Vương nói:

- Nó không có lên đây, ta đang soi gương mà tìm nó.

Nhị Lang hiển thánh thuật chuyện lại, Lý Thiên Vương nghe nói, thì cầm kiếng mà soi, rồi cười ngất mà rằng:

- Con khỉ nó qua vàm Quán châu là chỗ Chơn quân ở kia kìa, Chơn quân trở về bắt nó cho mau.

Nhị Lang hiển thánh nghe nói xách đao đi riết.




Nói về Tề Thiên gần tới vàm Quán Châu, liền giả hình làm Nhị Lang hiển thánh, đi thẳng vào cửa miếu, Quỷ sứ ngỡ là chủ về, kéo ra làm lễ rước vào.

Tề Thiên ngồi giữa bảo đem sổ bộ ra xem, thấy đề Lý Hổ đem tam sanh cúng trả lễ, Trương Long cầu gia đạo bình an, kẻ tới cầu con, người xin cứu bệnh.

Đương xem sổ bộ, kế báo gia gia về nữa! Quỷ sứ nghe báo chạy ra sững sờ!

Nhị Lang hiển thánh hỏi:

- Có Tề Thiên tới đây không?

Quỷ sứ thưa rằng:

- Có một gia gia hình dung như vậy, đương xem bộ sổ ở trỏng.

Nhị Lang hiển thánh nghe nói xông vào.

Tề Thiên xem thấy hiện hình mà nói rằng:

- Nhà ngươi đừng láu táu, miễu này về Lão Tôn rồi!

Nhị Lang hiển thánh chém một đao, Tề Thiên đưa thiết bảng ra đỡ.

Hai người đánh với nhau ra khỏi cửa, vừa đánh vừa chạy đến chân núi Hoa Quả!

Đã sức cầm đồng thì chớ, lại còn sáu người trợ chiến và thiên binh thiên tướng phủ vây.



Lúc này Đại Lực quỷ vương về tâu... Thượng Đế với Quan Âm, Thái Thượng, Vương Mẫu và các tiên còn ở lại đền bàn luận, Thượng Đế nghe Đại Lực quỷ vương tâu chuyện thì hỏi rằng:

- Nhị Lang hiển thánh đánh cả ngày sao không nghe tin thắng bại?

Quan Âm chắp tay tâu rằng:

- Xin Bệ Hạ, ngự ra cửa Nam Thiên với Thái Thượng đạo tổ để xem thắng phụ dường nào.

Thượng Đế khen phải, liền ngự ra Nam Thiên Môn, mở cửa trời xem xuống, thấy Lý Thiên Vương cầm kiếng đứng trên mây với Na Tra. Các thiên binh thiên tướng thì vây phủ Tề Thiên, còn Nhị Lang hiển thánh với sáu người em vậy đánh Tề Thiên, mà cũng trật vuột làm không xuể!

Quan âm nói với Thái Thượng rằng:

- Tôi tiến cử Nhị Lang là thần thông quảng đại, mà còn bắt không đặng Tề Thiên. Thôi, để tôi giúp Nhị Lang một phép đặng bắt nó cho rồi.

Thái Thượng hỏi:

- Bồ tát làm sao mà giúp?

Quan Âm nói:

- Tôi quăng cái Tịnh bình xuống đập đầu con khỉ, dầu không chết cũng té nhào thì Nhị Lang bắt đặng.

Thái Thượng nói:

- Cái tịnh bình của Bồ Tát bằng ngọc, như đánh nhằm thì tốt, rủi có trật bể uổng! Thôi, để tôi giúp cho.

Quan Âm hỏi:

- Đạo tổ dùng vật chi?

Thái Thượng cởi cái vòng trong tay tả mà rằng:

- Cái vật này bằng gang, tôi tẩm luyện đã linh lắm, nhờ đeo trong mình, nên rất quý! Nước ngâm không ướt, lửa cháy không mềm, quăng đụng vật chi thì nó quấn chặt cứng nên gọi là Kim Cang trát, một tên riêng là Kim Cang sào. Năm trước, tôi qua khỏi cửa Hàm cốc cũng nhờ nó, mới độ nước Tây Vực thành Phật nhiều lắm. Để tôi quăng xuống cho mà coi.

Nói rồi quăng xuống.




Khi Tề Thiên đương mê trận, chẳng dè Kim Cang sào rớt nhằm đầu, Tề Thiên té nhào, bộ như chết hụt, lồm cồm chờ dậy, bầy chó nhảy vô cắn xé, trì kéo lăng nhăng, nên Tề Thiên nằm dưới đất la chó, vừa la vừa chờ dậy, bị Nhị Lang hiển thánh và sáu anh em xúm lại bắt Tề Thiên đè xuống lấy ngoéo sắt móc eo ếch, xỏ tiên thằng trói lại hết thế vùng vẫy.




Khi ấy Thái Thượng thâu Kim Cang sào, rồi mời Thượng Đế với Vương Mẫu, Quan Âm về điện Linh Tiêu. Còn bốn Thái Úy và hai tướng quân dẫn Tề Thiên vào trại. Các Thiên Vương và Thiên tướng đồng khen rằng:

- Thiệt là nhờ công lao Tiểu thánh, mới bắt đặng yêu hầu.

Nhị Lang hiển thánh nói:

- Nhờ hồng phước của Thượng Đế và oai lực các ông, chớ tôi có tài chi mà khen ngợi.

Sáu người em bạn thưa rằng:

- Xin anh để chúng tôi dẫn yêu hầu nạp cho Thương Đế.

Nhị Lang hiển thánh nói:

- Các em chưa có sắc phong, không nên chầu Thượng Đế, để sai thần Lục đinh lục giáp giải nó lên Thiên Tào, còn các em vào núi này trừ cho hết yêu quái. Còn ta theo các vị Thiên tướng lên Đế đình lãnh thưởng, sẽ về phân phát cho nhau.

Sáu người đều vâng lệnh, đi xuống Hoa Quả Sơn.




Còn Nhị Lang hiển thánh đi với Thiên Tướng Thiên Binh về tới Thông Minh điện. Thiên sứ tâu rằng:

- Nhị Lang và Thiên Binh Thiên Tướng bắt đặng Tề Thiên giải về.

Thượng Đế truyền Đại Lực quỷ vương, Lục đinh, Lục giáp, với các tướng trời, dẫn Tôn Ngộ Không tới đài trãm yêu mà phân thây muôn đoạn.
Hồi 7
Ðại Thánh trốn khỏi lò Bát quái
Thích ca nhốt yêu núi Ngũ hành
Khi ấy chúng thần dẫn Tề Thiên tới đài trãm yêu, trói vào cột hàng yêu, gươm chém mẻ gươm, giáo đâm mẻ giáo, hỏa tinh đốt không cháy, Thiên Lôi đánh không sờn! Đại Lực quỷ vương và các Thiên tướng tâu lại...

Thượng Đế phán rằng:

- Không biết yêu hầu học phép hộ thân ở đâu mà đặng như vậy! Bây giờ liệu làm sao?

Thái Thượng tâu rằng:

- Con khỉ ấy ăn bàn đào, uống ngự tửu, lại nuốt hết năm bầu thuốc kim đơn của tôi, nên nó thành mình vàng rồi làm sao giết cho chết! Vậy xin Bệ Hạ giao nó cho tôi bỏ vô lò bát quái, dùng lửa phép mà hầm nó, hễ chảy thuốc kim đơn ra hết, thì nó phải ra tro.

Thượng Đế phán rằng:

- Vậy thì giao Tề Thiên cho Lão quân khiển sát.

Thái Thượng vâng chỉ...




Rồi Thượng Đế với Nhị Lang hiển thánh lên điện, thưởng một trăm bông vàng, một trăm ve ngự tửu, một trăm hột hườn đơn và gấm thêu châu báu...

Nhị Lang hiển thánh tạ Ơn, rồi lãnh phần thưởng lui về miếu cũ.




Còn Thái Thượng về cung Đâu Suất mở trói cho Tề Thiên, bỏ vô lò bát quái đậy nắp lại, truyền Lục đinh Lục giáp và một đạo sĩ coi chụm lửa cho đủ bốn mươi chín ngày đêm.

Nguyên lò bát quái là tám cung: Cung Càn, cung Khảm, cung Cấn, cung Chấn, cung Tốn, cung Ly, cung Khôn, cung Đoài, mà cung Tốn ở trên gió.

Tề Thiên nép bên cung Tốn cho khỏi lửa, tuy không lửa thì mặc lòng, chớ cũng bị khói un hai con mắt nâu hết, nên thành mắt lửa tròng vàng!.




Đủ bốn mươi chín ngày đạo sĩ dỡ nắp ra coi, trong ý tưởng Tề Thiên tiêu rồi, còn thuốc kim đơn chảy ra cả khối.

Ai dè Tề Thiên đương dụi con mắt, nghe tiếng dỡ nắp lản cản, trên miệng lò trống lỗng! Tề Thiên vùng nhảy thót ra, đá ngã lò rớt xuống trung giới, sau thành Hỏa Diệm sơn, làm đạo sĩ phải đọa.



Khi thình lình Đạo sĩ đậy nắp không kịp. Còn Lục đinh Lục giáp a lại nắm Tề Thiên mà kéo, Tề Thiên vụt lăn cù!

Lúc ấy Tề Thiên như cọp sút rọ.

Thái Thượng nóng mũi chạy theo níu lại, bị Tề Thiên xô ngã sấp! Rồi lấy thiết bảng ra riết tới thiên cung loạn đả! Chín vì sao lo đóng cửa, bốn Thiên Vương chạy tan.

Tề Thiên đánh đến chỗ nào thì tan chỗ nấy, không ai dám cự, đánh tới Linh Tiêu bửu điện, nhờ có bộ hạ Ông Hựu Thánh chơn quân là Vương Linh Quan giữ điện, thấy Tề Thiên loạn đả.

Linh Quan rút roi vàng cản lại hỏi rằng:

- Con khỉ khốn đi đâu? Có ta đây không đặng ngang dọc.

Tề Thiên không thèm nói lại, hươi thiết bảng đập nhầu, Linh Quan lấy sức chống cự, chưa biết hơn thua.




Khi ấy Hựu Thánh chơn quân cho đòi 36 vị lôi công tới ví Tề Thiên hổn chiến.

Tề Thiên không nao núng hóa ra ba đầu sáu tay cầm thiết bảng đánh như chong chóng.

Linh Quan và 36 vị lôi công vây ngoài xa không dám xáp lại.

Thượng Đế kinh hãi, liền truyền chỉ sai Du Diệc linh quan và Duật Hành chơn quân, đồng qua Tây Phương đặng thỉnh Phật Tổ Như Lai cứu giá.




Nói về hai vị thiên sứ đằng vân đến Lôi Âm tự, cậy bốn vị Kim cang, và tám vị Bồ tát; dẫn tới trước tòa sen, hai vị đảnh lễ rồi, Thích Ca hỏi:

- Thượng Đế sai nhị thánh đến đây có việc chi?

Hai vị thuật chuyện và bạch rằng:

- Bởi có sự gấp rút như vậy, nên phải cầu Phật Tổ từ bi cứu giá.

Thích Ca nói:

- Các vị Bồ Tát ở đây, để ta đi cứu giá.

Dặn rồi kêu Ấ Nang tôn giả và Ca Diếp tôn giả đi theo, hóa hào quang bay gần tới Linh Tiêu bửu điện, nghe khua khí giới điếc tai, ấy là 36 vị lôi công vây đánh Tề Thiên mà không đã ngứa!

Thích Ca dạy Lôi công bãi chiến, rồi kêu Tề Thiên ra hỏi.

Tề Thiên hiện nguyên hình, lướt tới hét lớn rằng:

- Ngươi là kẻ thật thà ở xứ nào tới đây khuyên giải?



Thích Ca cười rằng:

- Ta ở nước Cực lạc hiệu Thích Ca Như Lai, nghe đồn ngươi ngang dọc làm phản cung trời, nên ta đến hỏi thăm cho biết, chẳng hay ngươi sinh tại đâu, thành đạo năm nào, vì cớ chi mà sanh loạn như vậy?

Tề Thiên nói: - Ngươi muốn rõ cội rễ của ta, thì nghe ta ca đây.

Ca rằng:




Thinh không trời đất nứt sanh ta,

Hoa Quả non tiên thiệt cửa nha

Ở động Thủy Liêm tài tót chúng

Học thầy Tây Thổ phép cao xa

Luyện chước sống đời tày nhực nguyệt,

Ra công giúp chúng khiếp yêu ma

Vì ở trung thần chê siển thổ,

Dốc lên thượng giới ngự chương tòa

Hơn thua cuộc thể lòng không chát,

Dời đổi ngôi trời chí đã sa

Có đức có tài thì có vị,

Ai thua gì nhượng nghiệp hoàng gia.




Thích Ca nghe rồi cười rằng:

- Ngươi bất quá một con khỉ thành tinh, sao dám cướp ngôi Thượng Đế? Vả Thượng Đế tu tới 1550 kiếp, mỗi kiếp đều nhiều năm, ngươi công đức bao nhiêu, phòng muốn tranh ngôi báu? Sao ngươi không sợ chết, phải lo việc tu hành, nếu còn làm thói dọc ngang, gặp kẻ đạo cao thì uổng mạng?

Tề Thiên nói:

- Tu nhiều kiếp thì mặc dầu, không lẽ làm vua hoài hủy. Lời tục nói: Ngồi lâu còn dời chỗ, ngôi báu cũng đổi thay. Ngươi hãy bảo Thượng Đế dọn đồ đi mà nhường ngôi cho ta, bằng không thì ta đánh mãi.

Thích Ca nói:

- Ngươi trừ phép trường sanh và biến hóa ra, còn phép chi hay nửa chăng, mà dám nhường ngôi Thượng Đế?

Tề Thiên nói:

- Ta có phép rất nhiều, 72 phép huyền công, luyện đặng trường sanh bất tử, và cân đẩu vân cũng hay, nhảy một nhảy hơn 108000 dặm. Tài phép như vậy làm vua trời không xứng hay sao?

Thích Ca nói:

- Vậy thì ta đánh cuộc với ngươi, nếu ngươi nhảy khỏi bàn tay hữu của ta, thì ngươi hơn, ta bảo Thượng Đế nhượng thiên cung cho ngươi, khỏi bề chinh chiến, còn ngươi nhảy không khỏi bàn tay ta, thì ngươi trở về trung giới tu ít kiếu nửa sẽ lên tranh đoạt.

Tề Thiên nghe nói cười thầm rằng:

- Thích Ca thiệt quê mùa quá! Lão Tôn nhảy một cái 108.000 dặm, sá chi bàn tay, dầu bao lớn, lại nhảy không khỏi.

Nghĩ rồi hỏi lớn rằng:

- Ngươi làm chủ việc ấy chắc không?

Thích Ca nói:

- Chắc.

Nói rồi xòe bàn tay hữu ra, bằng lá sen.

Tề Thiên cất thiết bảng, rồi co giò nhảy qua! La lớn rằng:

- Ta qua khỏi rồi.

Ngó quanh quất thấy năm cây cột đỏ như thịt, trên ngọn có mây xanh.

Tề Thiên nói:

- Mình nhảy xa quá, tới đây cùng đường rồi, thì Thích Ca bảo Thượng Đế nhường ngôi cho mình chắc lắm! Song mình phải làm dấu, phòng sau đối nại với Thích Ca. Nghĩ rồi nhổ lông hóa viết mực, đề tại cây cột giữa, tám chữ rằng: "Tề Thiên Đại Thánh đáo thử nhứt du". Nghĩa là: Tề Thiên đi chơi tới chỗ đó.

Đề rồi lại đái xuống gốc cột thứ nhất một vũng, rồi cân đẩu vân trở lại, té ra cũng còn đứng trong bàn tay Thích Ca mà nói rằng:

- Ngươi là con khỉ đái vất! Ra không khỏi bàn tay ta mà còn múa mỏ!

Tề Thiên nói:

- Ngươi có theo ta đâu mà biết, ta đi tới chân trời, thấy năm cây cột đỏ, trên ngọn có mây xanh, ta có làm dấu, ngươi không tin đi mà coi?

Thích Ca nói:

- Ta chẳng đi đâu hết, ngươi hãy cuối đầu xuống mà coi?

Tề Thiên trợn mắt dòm xuống, thấy ngón tay giữa của Thích Ca có đề tám chữ: Tề Thiên Đại Thánh đảo thử nhứt du, dưới cộng tay cái còn bọt, nước đái!

Tề Thiên hoảng kinh nói rằng:

- Kỳ không kìa! Ta đề tám chữ đó nơi cây cột chống trời, sao lại ở nơi tay nọ! Chắc họ có phép tiên tri, làm vậy đặng gạt mình, ta chẳng hề tin, đi coi lại một nữa.

Nói rồi nhảy lên một cái bị Thích Ca lật bàn tay xuống đất, năm ngón tay Thích Ca hóa ra năm hòn núi Ngũ Hành, chụp đè trên lưng Tề Thiên Đại Thánh!

Các vị lôi thần và Ấ Nang, Ca Diếp chắp tay khen rằng:

- Hay lắm!

Thích Ca bảo Ấ Nang, Ca Diếp từ giã ra về.




Xảy thấy Thiên Bồng Thiên Hựu chạy đến tâu rằng:

- Xin Phật Tổ nán chờ Thượng Đế ra mắt.

Thích Ca ngó lại thấy xe rồng tán phụng hương báu nhạc trời.

Thượng Đế ngự ra tạ Ơn rằng:

- Nhờ Phật Tổ trừ đặng yêu hầu, xin nán lại dự tiệc, ngỏ dùng lễ mọn tạ Ơn.

Thích Ca chắp tay tâu rằng:

- Lão tăng vâng chỉ tới trợ lực với chư thần, có công lao bao nhiêu mà phòng cảm tạ.

Thượng Đế truyền mời các thần tiên đồng phó hội tạ Ơn Phật Tổ, lại truyền tiên nữ dọn yến, bàn đào, ngự tửu, cùng đồ trân tu quý báu không biết bao nhiêu.




Giây phút các thần tiên đến trước Phật Tổ mà bạch rằng:

- Phật Tổ từ bi đại đức trừ đặng yêu hầu, chúng tôi cảm tạ. Xin Phật Tổ đặt tên hội này là hội chi, theo dèo cuộc nầy.

Thích Ca nói:

- Nay trên trời đã an, thì đặt An thiên hội cũng đặng.

Các thần tiên đều khen hay!

Lúc ngự yến có tiên nữ ca vang, nhạc trời trỗi chặp.

Vương Mẫu dẫn các tiên nga đến dâng bàn đào, mà bạch rằng:

- Khi trước bị yêu hầu phá hội bàn đào. Nay nhờ Như Lai trừ nó, lại làm hội An Thiên, tôi chẳng biết lấy chi tạ Ơn, nên rửa tay hái ít trái bàn đào đem dâng lấy thảo". Thích Ca chắp tay tạ Ơn.

Vương Mẫu dạy tiên nga ca múa.




Giây lâu có Nam Cực tiên ông cỡi hươu đến ra mắt Thượng Đế, rồi đến trước mặt Phật Tổ mà bạch rằng:

- Khi trước tôi nghe Lão Quân dẫn yêu hầu về mà đốt, tưởng họa tán đà tiêu rồi, không dè nó thoát ra được, đánh phá cung trời làm cho kinh động Thượng Đế, nay nhờ Phật Tổ trị an, lại thiết An Thiên hội, nên tôi đem cỏ thoạt bông hương, kim đơn châu bích, xin Như Lai nhiệm lễ mọn.

Thích Ca thâu lãnh.

Kế Xích cước đại tiên đến ra mắt Thượng Đế, rồi bạch với Phật Tổ rằng:

- Nhờ ơn Phật Tổ trị đặng yêu hầu, tôi xin dâng hai ttrái giao lê, ít trái lão táo gọi là chút tạ Ơn.

Thích Ca cũng lãnh, rồi dạy Ấ Nang , Ca Diếp thâu lễ vật, đặng từ tạ ra lui về.

Xảy thấy Linh Quan đi tuần về báo rằng:

- Tề Thiên ló đầu ra khỏi núi!

Thích Ca nói:

- Không hề chi.

Liền lấy một tờ giấy trong túi ra có đề sáu chữ vàng là: Án ma ni bát di hồng.

Sai Ấ Nang tôn giả đi dán trên chót núi Ngũ Hành, năm hòn núi tự nhiên chắc cứng, như trên có câu đầu, dưới có ràng cẳng rút vô vậy! Tuy ló đầu ló tay ra, mà dậy không nổi.

Xong rồi Thích Ca giã từ Thượng Đế và các thần tiên ra về, tuy vậy mà lòng cũng từ bi, sai Thổ Địa và Ngũ Phương Yết Đế canh giữ Tề Thiên, dặn có đói thì cho ăn sắt cục! Khát thì nấu đồng tiêu ra cho uống! Chờ hết tội sẽ cho người đến cứu.

Dặn xong rồi về chùa Lôi Âm, bên bước Cực Lạc.

Hiennie*
20-04-2007, 12:22 AM
Hồi 8
Như Lai tạo kinh truyền Cực Lạc
Quan Âm vâng chỉ xuống Tràng An
Nói về Phật Tổ từ tạ Ngọc Đế về đến Lôi Âm bửu sái, để các vị Bồ Tát Kim Cang cầm tràng phan bửu sái ra tiếp giá.

Như Lai lên ngồi tòa sen, hào quang sáng lòa.

Các Bồ Tát Kim Cang chắp tay làm lễ hỏi:

- Phá cõi trời, làm rối bàn đào hội, là ai vậy?

Như Lai phán các việc đầu đuôi, hết thảy nghe nói đều mừng rỡ lui chầu.



Ngày kia Phật Tổ kêu các vị Ấ La, Yết Đế, Bồ Tát, Kim Cang mà nói rằng:

- Từ thâu đặng yêu hầu tính lại đặng năm trăm năm dưới phàm. Nay ta có một bửu bồn, kêu là Vu Lan bồn có đủ trái ngon bông lạ cho các ngươi hưởng nhờ, ý các ngươi muốn chăng?

Hết thảy chắp tay tạ Ơn.

Phật Tổ biểu Ấ Nang Ca Diếp phân phát cho đại chúng.

Hết thảy cảm tạ rồi, xin Như Lai giảng dạy.

Như Lai giảng tam thừa kinh phép chánh quả rồi nói với chúng rằng:

- Ta xem trong bốn cõi đại bộ châu, con người lành dữ khác nhau. Tại Đông Thắng thần châu kính trời đất, có lòng hiền, Tây Ngưu hạ châu không tham ái; Bắc Cư lư châu hay sát sanh vọng ngữ, còn Nam Thiện bộ châu tham dâm dục, hay đâm chém, miệng lưỡi hung dữ độc ác. Nay ta có ba tạng chân kinh khá khuyên người lành. Chư vị Bồ Tát chắp tay hỏi:

- Ba tạng kinh thế nào?

Như Lai nói:

- Một tạng nói về việc trời, một tạng nói về trời đất, môt tạng nói về việc đất, còn một tạng thì cứu ma độ quỷ. Ba tạng cộng lại là 25 bộ cai ra một muôn năm ngàn một trăm bốn mươi bốn cuốn (15.144) thiệt là phép chu nhân thánh thiện. Ta muốn cho về Đông Độ, e thiên hạ ngu dại chê bai phép Phật, chẳng biết kinh du là chánh tông. Phải đặng một người tài phép giỏi qua Đông Độ khuyên dạy chúng sanh, sẽ đặng có công đức như non. Ai muốn lãnh đi?

Quan Âm Bồ Tát nói:

- Tôi tuy bất tài, xin qua Đông Độ kiếm một người đi thỉnh kinh.

Như Lai cả đẹp nói:

- Quan Âm thần thông biến hóa đi đặng. Như có đi thì đi trên mây, mà chớ đi cao lắm, ngươi tuy có lòng mà cũng khó đi đặng, nay ta cho ngươi năm phép báu.

Liền dạy Ấ Nang Ca Diếp lấy cà sa và Cữu huờn tích trượng đặng cho người thỉnh kinh bền lòng đi, khi bận áo cà sa khỏi đọa luân hồi, cầm tích trượng khỏi bị hại. Quan Âm lạy mà lãnh.

Như Lai lấy ba cái cô nhi là cái vòng, nói rằng:

- Ba cái cô nhi nầy như một, cái nầy đọc chú ba lần thì biến hóa mà trừ yêu. Như gặp yêu thì nhờ phép nầy khuyên dạy nó phải đi theo người lấy kinh làm học trò. Như nó không chịu thì cho nó đội cái nầy trên đầu tự nhiên dính vào thịt gỡ ra không đặng. Nó không vâng phục thì đọc chú cho nó nhứt đầu chịu không nỗi, thì nó mới đầu vào phép ta.

Quan Âm lãnh rồi làm lễ lui ra, kêu Huệ Ngạn đi theo.



Quan Âm gói áo cà sa lại, đưa Huệ Ngạn cầm, lại cất Kim Cô, tay cầm Tích trượng, xuống khỏi Linh Sơn. Tới gần núi có Ngọc Chân Quân Kim Đãnh đại tiên rước vào pha trà hỏi:

- Chẳng hay Bồ Tát đi đâu?

Quan Âm nói:

- Tôi vâng chỉ Như Lai đến Đông Độ tìm người lấy kinh.

Đại tiên hỏi:

- Chừng nào người lấy kinh đi tới?

Quan Âm nói:

- Chưa biết chừng độ hai ba mươi năm thì tới.

Liền từ giã đại tiên đi nửa chừng mây, ngó xuống sông Lưu Sa thấy ba người chết chìm.

Quan Âm nói với Huệ Ngạn rằng:

- Người phàm khó qua chỗ nầy đặng mà lấy kinh.

Xảy thấy nổi sóng gió, một con yêu rất xấu xa, hét lớn một tiếng nhảy lên bờ cầm bửu trượng xốc lại đánh Quan Âm.

Huệ Ngạn cầm côn chận lại nạt rằng:

- Quái vật chớ chạy.

Hai người hổn chiến hơn mười hiệp chưa phân hơn thua.

Yêu ấy đỡ lại rồi hỏi rằng:

- Ngươi ở đâu mà dám đến cự với ta?

Huệ Ngạn nói:

- Ta là Nhị Thái Tử của Lý Thiên Vương là Mộc Tra đây, ngươi sao dám đón đường?

Quái ấy nói:

- Ta nhớ ngươi theo Nam Hải Quan Âm tu hành, sao lại đến làm chi?

Mộc Tra nói:

- Trên kia là thầy ta đó.

Quái ấy nghe nói liền chạy tới trước mặt Quan Âm cúi đầu lạy thưa rằng:

- Xin tha tội cho tôi thú thiệt: Nguyên trước tôi hầu Ngọc Đế làm chức Quyện Liêm đại tướng, nhân hội bàn đào lỡ tay làm bể đèn lưu ly nên Ngọc Đế bắt tội đánh 800 roi, đày xuống hạ giới, biến ra xấu xa, còn bảy ngày có gươm bay đến đâm hông tôi một lần, đau đớn quá chừng. Lại thêm đói lạnh chịu không nỗi, nên làm sóng gió bắt người qua lại mà ăn thịt, nay rủi phạm nhằm Bồ Tát.

Quan Âm nói:

- Ngươi đã có tội lại ăn thịt người ta, tội càng thêm nặng. Nay ta lãnh sắc Phật Tổ qua Đông Độ tìm người lấy kinh. Ta muốn ngươi đợi đây theo người lên Tây Phương thỉnh kinh, ta kêu gươm bay đó không đâm ngươi nữa. Sau này nên công hết tội, đặng phục chức cũ, ngươi nghĩ thế nào?



Quái ấy nói:

- Tôi xin quy y làm lành. Từ trước đến nay mấy người đi lấy kinh qua đây đều bị tôi ăn hết, còn cái đầu bỏ chìm xuống sông, không dè mấy sọ ấy không chìm cứ nổi trên mặt nước. Tôi lấy làm lạ, lấy dây xỏ lại treo chỗ trống kia, tính ra chín người đi lấy kinh bị hại rồi.

Quan Âm nói:

- Ngươi khá đem mấy cái đó treo trên chót núi, đợi người lấy kinh tới sẽ có việc dùng.

Quái vật vâng lời dạy dỗ, cải ác quy y.



Quan Âm thí phát cho con yêu ấy rồi. Lấy sông Lưu Aa làm họ, nên đặt họ Sa, đặt tên thánh gọi là Ngộ Tịnh.

Khi ấy Ngộ Tịnh đưa Quan Âm và Huệ Ngạn khỏi sông rồi, răn lòng không ăn ai nữa. Dùng trái cây đỡ dạ mà đợi kẻ thỉnh kinh.



Còn Quan Âm và Huệ Ngạn đi một hồi lâu xảy thấy núi cao chớn chở, hơi dữ bay lên núi mịt mù, đi qua không được.

Quan Âm tính đằng vân mà qua núi.

Xảy đâu trận gió thổi tới, hiện ra một con yêu tinh đầu heo tướng dữ tay cầm Cào cỏ (đinh ba) đập lại Quan Âm.

Mộc Tra cản lại hét một tiếng lớn rằng:

- Đồ yêu quái đừng vô phép, coi gậy sắt đây nè.

Con tinh trả lời rằng:

- Hòa Thượng này không biết sợ chết, coi cào cỏ ta đây.

Hai người đánh dưới chân núi, chưa biết hơn thua.

Quan Âm ở nữa lừng bỏ bông sen xuống cản ngang, hai người đánh không đặng nữa; con tinh thất kinh mới hỏi:

- Ngươi là Hòa Thượng ở đâu hóa bông sen mà dọa bợm?

Huệ Ngạn nói:

- Ngươi là thú thai phàm mắt thịt, nên không biết ta. Ta là học trò Phật Quan Âm, thầy ta bỏ bông sen mà ta không biết.

Con tinh hỏi:

- Quan Âm ở Nam Hải là một vị Phật quét ba tai, trừ tám nạn phải không?

Huệ Ngạn nói:

- Vậy chớ ai?

Con tinh nghe nói, bỏ cào cỏ lạy Huệ Ngạn mà hỏi thăm rằng:

- Chẳng hay Quan Âm ở đâu, xin anh làm ơn dắt tôi ra mắt!

Huệ Ngạn ngước mặt chỉ mà nói rằng:

- Ngươi coi có phải là Phật Bà không?

Con tinh ngó thấy cúi đầu lạy mà nói lớn rằng:

- Xin Phật Bồ Tát tha tội.

Quan Âm hiện xuống mà hỏi rằng:

- Ngươi là Ông Chãng thành tinh, hay là heo rừng sanh quát, mà đón ta vậy?

Con tinh nói:

- Tôi không phải heo rừng, cũng không phải Ông Chãng (heo rừng lâu năm quá, mọc nanh bó hàm, tục sợ như hùm, kêu tưng bằng Ông Chãng) tôi là Thiên Bồng nguyên soái ở sông Ngân (Thiên Hà) bởi say rượu đi lạc vào cung Nguyệt mà chọc Hằng Nga, bị Ông Linh Quan bắt giải về Thượng Đế, Thượng Đế bắt tội đánh tôi hai ngàn dùi, rồi đày xuống Trung Giai. Tôi đi đầu thai lạc đường nhằm heo rừng nái, mới ra thân thể như vậy. Tôi tức giận cắn heo nái chết tươi, và giết bầy heo rừng tuyệt tộc. Chiếm cứ hòn núi nầy, ăn thịt người đở đói, không dè nay gặp Phật Bồ Tát, xin cứu độ làm ơn.

Quan Âm hỏi:

- Núi nầy gọi là gì?

Con tinh nói:

- Núi nầy gọi là núi Phước Lăng, có một cái động gọi là động Vân San, chủ động ấy gọi là Mão Nhị Thơ thấy tôi có nghề võ, vời tôi tới làm người lớn trong nhà. Ở coi giúp việc gần một năm, nàng ấy tới số gia tài về tôi, ở không ăn mãi núi lở non mòn, túng cùng phải ăn người cho qua bữa, xin Bồ Tát cứu độ mà làm ơn.

Quan Âm nói:

- Người xưa rằng: Muốn có đường đi tới, thì đừng làm mất đường lui. Nếu mất đường đi tới, thì phải cùng đường. Khi ngươi ở cõi trên đà phạm phép, thì nay phải đọa mà không bỏ lòng hung, lại giết người hại vật, thì một tội sinh hai, ấy là muốn cùng đường đó.

Con tinh nói:

- Còn cùng chẳng còn cũng không cần. Nếu cử ăn thịt người thì thấy ngáp gió, hèn chi người ta nói: Y theo phép quan thì đánh chết, y theo phép Phật thì đói chết. Là phải lắm mà. Tính bề đi phức cho xong thê. Thà bắt chúng đi đường, ăn mỡ tươi béo lắm, cần gì 2 tội, 3 tội, ngàn tội, muôn tội nà.

Quan Âm nói:

- Lòng người muốn phải, trời cũng thuận theo. Như ngươi tu theo phép, ta cũng có món nuôi mình được, trái cây, rau, gạo, ăn cũng no lòng, lựa phải ăn mỡ người ta mới sống?

Con tinh nghe nói như tỉnh giấc chiêm bao, lạy Quan Âm mà nói rằng:

- Tôi muốn giải nghiệp mà đi tu, song mắc lấy tội trời, cầu sao cho khỏi?

Quan Âm nói:

- Ta vâng sắc Phật Tổ, xuống cõi trần mà tìm kẻ thỉnh kinh. Nếu ngươi chịu làm đệ tử người thỉnh kinh, mà tới Tây Phương thì phước đủ trừ tội, ta cứu ngươi nạn khỏi tai qua.

Con tinh nói:

- Chịu theo, chịu theo" Quan Âm thí phát (thế phát) xong rồi cứ theo dèo đặt họ, gọi là Trư, đặt tên thánh là Ngộ Năng, giữ theo phép Phật, phải ăn chay cử mặn và cử ngũ uẩn (năm món như đồ mặn là: Hành, hẹ, tỏi, nén, kiệu và ngò) ở đợi thầy thỉnh kinh đi tới.

Quan Âm dặn rồi liền đi với Huệ Ngạn.

Đi một hồi lâu thấy một con rồng Bạch bị treo tại cửa trời. Rồng Bạch thấy Quan Âm, liền cả kêu xin cứu.

Quan Âm hỏi:

- Ngươi là rồng ở đâu mà bị treo ở đó?

Rồng Bạch nói: "Tôi là Thái Tử con Long vương Ngao Thận ở biển Tây. Bởi tôi nổi lửa đốt trái châu trước đền, cha tôi giận tâu với vua Trời, rằng tôi ngỗ nghịch. Nên Thượng Đế treo tôi giửa thinh không đánh ba trăm roi, và đợi ít ngày xử trãm. Xin Phật Bồ Tát cứu mạng làm nhơn.

Quan Âm nghe nói liền đằng vân ới Huệ Ngạn mà lên trời, cậy Khưu Thiên Sư và Thượng thiên sư dắt ngài vào điện.

Quan Âm tâu rằng:

- Tôi vâng sắc Phật Tổ, xuống Đông Độ tìm kẻ thỉnh kinh, gặp rồng có tội bị treo, nên tôi vào tấu, xin Bệ Hạ tha tội rồng ấy mà cho theo tôi, đặng đỡ gót kẻ thỉnh kinh ra công mà chuộc tội.

Thượng Đế nghe tấu, ruyền tướng trời mở trói nghiệt long (rồng dữ) giao cho Bồ Tát. Quan Âm từ tạ, rồng nhỏ cũng lạy tạ Ơn.

Quan Âm dẫn rồng nhỏ xuống núi dặn rằng:

- Ngươi ở khe này, đợi thầy thỉnh kinh đi ngang qua, sẽ hóa thành ngựa kim đỡ gót. Rồng con vâng lệnh ở đó mà chờ.




Còn Quan Âm đi với Mộc Tra, đi hèn lâu mới tới năm hòn núi. Ngó thấy hào quang muôn trượng, hơi ấm ngàn trùng.

Huệ Ngạn hỏi:

- Núi Ngũ Hành mà có hào quang, có khi tại bùa của Phật Tổ.

Quan Âm nói:

- Phải, Tề Thiên Đại Thánh phá hội Bàn Đào, phản thiên cung năm xưa, nên bị núi đè tại đó. Thầy trò lên núi, thấy lá bùa sáu chữ chân ngôn là: Án, Ma, Ni, Bát, Di, Hồng.

Quan Âm xem rồi than thở chẳng xiết, liền ngâm một bài kệ.



Thơ rằng:




Thương hại yêu hầu bỏ phép công,

Năm xưa làm loạn cậy sức hùng

Kể từ Phật Tổ dằn năm núi,

Bao thuở ra ngoài lại cõi Đông.




Đại Thánh nằm sấp dưới chân núi cả kêu rằng:

- Ai ngâm thơ trên non mà ngạo ta đó?

Quan Âm nghe hỏi liền đi lần xuống mà xem, ngó thấy dưới chân núi, có thần núi và Thổ Địa canh giữ.

Các thần đều nghinh tiếp Quan Âm và dắt đến trước mặt ĐạiThánh.

Quan Âm thấy Đại Thánh nằm dưới núi ló đầu ra, miệng nhóp nhép lia mà cục cựa không đặng.

Ngài mới hỏi rằng:

- Họ Tôn có biết ta chăng?

Đại Thánh trợn cặp mắt lửa tròng vàng, gật đầu mà nói lớn:

- Làm sao mà không biết! Ngài ở Nam Hải núi Phổ Đà, cả làn cả thương, cứu khổ cứu nạn, là Quan Thế Âm Bồ Tát. Cám ơn lắm, cám ơn lắm! Tôi nằm đây coi một bữa bằng một năm, không ai ngó ngàng tới. Chẳng hay Bồ Tát đi đâu mà ghé đây? Quan Âm nói:

- Ta vâng sắc Phật, đi xuống Đông Độ tìm kẻ thỉnh kinh, đi ngang qua đây nên ghé mà thăm đó.

Đại Thánh nói:

- Phật Như Lai nói gạt, đè tôi dưới núi nầy. Gần năm trăm năm, cựa mình không đặng. Xin Bồ Tát làm phước, cứu lão Tôn một phen.

Quan Âm nói:

- Ngươi làm tội đầy trời, nếu cứu ngươi ra, quen thói yêu càng không nên lắm.

Đại Thánh nói:

- Tôi đã ăn năn chừa lỗi, xin ngài cứu độ, tôi chịu đi tu.

Quan Âm nghe nói quá đỗi mừng, mới nói với Đại Thánh rằng:

- Ngươi muốn làm phải thì trời cũng độ cho, ngươi đã quyết tu hành, đợi ta xuống Đại Đường tìm một thầy thỉnh kinh, dặn ghé mà cứu, thì ngươi theo làm đệ tử, giữ phép Phật mà đi tới Tây Phương thỉnh kinh về, cũng thành chánh quả.

Đại Thánh nói:

- Tôi chịu, tôi chịu.

Quan Âm nói:

- Ngươi dốc lòng tu niệm, ta đặt tên thánh cho.

Đại Thánh nói:

- Tôi tên là Ngộ Không khỏi mất công đặt nữa.

Quan Âm nghe nói mừng rằng:

- Khi trước ta có độ hai người tu, cũng lót chữ Ngộ. Nay ngươi cũng lót chữ Ngộ nữa, trùng phái với nhau, tốt lắm, tốt lắm".

Nói rồi từ giã ra về.



Như Đại Thánh là: Thấu tánh sáng lòng theo đạo Phật.



Còn Quan Âm thì: Ra công hết sức kiếm thầy Thần.




Quan Âm cùng Mộc Tra đi xuống Đông Độ. Ngày kia đến đất Trường An là nước Đại Đường, hai thầy trò hiện hình ra hai thầy chùa ghẻ lát mà đi lộn với người và tới chợ Trường An, thì trời đã tối, mới đi ngay vào miễu Thổ Địa.

Ông Địa hết hồn, binh ma mất vía, biết là Phật Quan Âm giả dạng, ra làm lễ rước vào.

Thổ Địa đi báo với Thành Hoàng và thần các miễu, đều vào ra mắt mà rằng:

- Xin Phật Bồ Tát tha tội chúng tôi, vì sự rước trễ.

Quan Âm nói:

- Các ngươi đừng lậu tiếng, ta vâng sắc Phật Tổ, đi tìm kẻ thỉnh kinh, ta ngụ nhờ trong miễu ít ngày, đợi tìm đặng kẻ thỉnh kinh, ta sẽ từ giã.

Các thần ở đâu về đó, còn ông Địa dọn ra ở đở ngoài Thành Hoàng (Thành Hoàng bổn xứ là ông thần ở đình lớn trong tỉnh sở tại).

Còn hai thầy trò giả dạng, ở miễu Thổ Địa thường bữa đi dọ tin.

Hồi 9
Dinh Giang Châu, mẹ con gặp gỡ
Sông Hồng Giang, chồng vợ đoàn viên
Quan Âm tìm kẻ thỉnh kinh lại, bây giờ nghĩa cho rõ sự tích Trường An:

Nguyên thành Trường An tại quận Hiệp Tây; các đời vương thường lập kinh đô tại đó, là từ nhà Châu, nhà Tần, nhà Hớn cho đến nhà Đường, vì sứ ấy tới ba châu (tỉnh), đất đai tốt lắm, nên trên bờ huê kiểng như gấm thêu, còn dưới sông thì giáp tám mối nước, nên thuyền bè đông đảo. Nơi ấy thị tứ không xứ nào hơn, nhằm lúc vua Đường Thái Tôn (Thế Dân) trị vì, xưng hiệu Trinh Nguơn năm thứ mười ba là năm Ất tỵ. Lúc ấy thái bình lắm, tám phương cống sứ, bốn biển làm tôi.

Ngày kia vua Thái Tôn lâm triều, văn võ trăm quan chầu chực.

Thừa tướng là Ngụy Trưng tâu rằng:

- Nay thiên hạ thái bình, tám phương lặng lẽ, xin Bệ Hạ ban phép mở hội khoa thi, kén kẻ tài hiền mà giúp việc nước nhà.

Vua Thái Tôn phán rằng:

- Khanh tâu rất phải.

Khen rồi truyền tống bảng văn, rao trong các phủ, các châu, các huyện, chẳng luận quân dân chi hết, ai văn chương thông thái, đặng vào thi tại đất Trường An.

Khi ấy có một người ở gần biển (Hải Châu) họ Trần tên Ngọc, tên chữ Quang Nhụy thấy bảng văn thì mừng lắm, về thưa với mẹ là Trương Thị rằng:

- Nay Triều chạy châu tri khắp sứ, mở hội thi tại Trường An. Con có công ăn học ít nhiều, cũng muốn vào khoa ứng cử, may nhờ đức cha mẹ mà thi đỗ làm quan thì vinh hiển Tông môn, nở mày đẹp mặt, nên con vào thưa cho mẹ rõ mà lo việc lên đường. Trương Thị nói:

- Con mười năm đèn sách, đi ứng cử đã đành. Song đường xá xa xôi, phải giữ gìn dè dặt. May tên đề bảng hổ, mau về kẻo mẹ đợi trông.

Trần Quang Nhụy hối tiểu đồng sửa sang rương trắp, rồi lạy mẹ mà đi, hèn lâu mới tới Trường An, vào trường thi đỗ. Rồi vào thi trước điện, ba bài văn sách đều hay. Vua Thái Tôn chấm đỗ lấy đậu Trạng nguyên, cởi ngựa khoe quan ba bữa đi ngang cửa ngõ Thừa Tướng là Ân Khai Sơn. Xảy bị trái cầu thêu (trái lăn) quăng nhằm trên mão.

Nguyên Ân Thừa Tướng có một người con gái tên gọi Ôn Kiều, hiệu là Mãn Đường Kiều, dung nhan đẹp đẽ, Ân Thừa Tướng cưng con lắm, cho ở trên lầu quăng trái cầu duyên mà bói duyên (kén chồng) xảy thấy Trần Quang Nhụy cởi ngựa đi ngang. Ôn Kiều biết là Trạng Nguyên khoa mới, đã có tài lại thêm lịch sự; Ôn Kiều đẹp nên mới gieo cầu, thì có dàn nhạc nổi lên,mười mấy con đòi ra nắm dây cương rước Trạng Nguyên vào phủ.

Vợ chồng Thừa Tướng khen đặng rễ đông ràng, truyền dọn đuốc hoa gã tiểu thơ cho quốc trạng.

Vợ chồng làm lễ xong rồi, sắt cầm ăn nhịp.

Rạng ngày vua ngự văn võ vào chầu, vua Thái Tôn phán hỏi rằng:

- Trần Quang Nhụy đỗ Trạng tân khoa, nhắm bổ chức chi cho xứng đáng?

Thừa Tướng Ngụy Trưng tâu rằng:

- Tôi tra các châu các phủ có khuyết một chức Tri châu tại Giang châu, xin bổ Trạng nguyên vào chức đó.

Vua Thái Tôn phong Trần Quang Nhụy làm chức Tri châu, truyền phó nhậm Giang Châu lập tức Trần Quang Nhụy tạ Ơn, về dinh luận bàn việc đi phó nhậm, vợ chồng lạy tạ cha mẹ sửa sang xe ngựa ra đi.

Nhằm tiết tháng ba cảnh tốt, gió hòa đưa liễu lục, mưa nhỏ rưới hoa hồng, mảng xem phong cảnh tốt tươi, xảy thấy đã kề nhà cũ.

Hai vợ chồng vào nhà lạy mẹ, Trương thị rất mừng.

Trần Quang Nhụy thưa rằng:

- Con nhờ đức mẹ, thi đỗ Trạng nguyên. Đi ngang cửa Thừa Tướng họ Ân, Tiểu thơ gieo cầu nhằm trẻ, nên định xong đôi lứa, vua lại phong chức Tri châu. Con trở về nhà rước mẹ đi theo phó nhậm.

Trương thị mừng lắm sửa soạn lên đường; cùng nhau đi đặng vài ngày ghé quán Lưu tiểu nhị mà nghỉ; Trương thị nhuốm bệnh, nói với con rằng:

- Trong mình mẹ không yên, ở nán vài ngày dưỡng bệnh.

Trần Quang Nhụy vâng lời ở đó.


Rạng ngày mai Trần Quang Nhụy thấy có người xách cá chài vảy vàng đi bán, liền kêu vào quán mua cho mẹ ăn, mua rồi thì thấy con cá nháy mắt thì thất kinh mới nói: "Nghe đồn rằng: Con cá, con rằn mà nháy con mắt, là không phải vật tầm thường". Rồi hỏi người bán:

- Con cá nầy ông bắt tại đâu?

Ông chài nói:

- Tôi chài tại sông Hồng giang, cách phủ mười lăm dặm.

Trần Quang Nhụy liền đem cá ấy thả đi, rồi về thuật chuyện lại cho mẹ rõ.

Trương thị nói:

- Phóng sanh là có phước, mẹ rất bằng lòng.


Ngày kia Trần Quang Nhụy vào thưa với mẹ rằng:

- Ở đây ba ngày, mà việc vua gấp lắm, con tính ngày mai dời gót, song chẳng rõ mẹ khá hay chưa?

Trương thị nói:

- Trong mình mẹ chưa khỏe; trời nắng gắt, rán đi e phải bịnh thêm, vậy thời con mướn phố, và để tiền chi phí lại đây, mẹ Ở nán ít ngày, hai vợ chồng đi phó nhậm trước đi kẻo trễ. Đợi sang thu mát mẻ sang rước mẹ về cùng.

Trần Quang Nhụy luận bàn với vợ, mướn phố cho mẹ Ở và để bạc tiền.

Hai vợ chồng lạy mẹ ra đi phó nhậm, ngày đi đêm nghỉ hơn mấy bữa mới tới bến đò Hồng giang, xảy thấy ghe đò của Lưu Hồng với Lý Bưu, hai người đón rước, ấy cũng thời bỉ vận suy của Quang Nhụy biểu tiểu đồng đưa gánh đồ cho chủ đò cất. Vợ chồng đồng bước xuống đò.

Lưu Hồng thấy Ân tiểu thơ mặt như trăng rằm, mắt như sao nháy, miệng cười như búp bông ướm nở; lưng diệu như nhành liễu đương hoằng, hình dung cá lặn nhạn sa, diện mạo huê nhường nguyệt thẹn.

Lưu Hồng liếc thấy, khó dập lửa lòng, mới tính kế với Lý Bưu, chèo qua khúc vắng mà đậu; nửa đêm giết tiểu đồng, rồi đập chết Quang Nhụy, quăng thây xuống sông. Tiểu thơ thấy chồng như vậy, cũng liều mạng nhảy theo.

Lưu Hồng níu lại mà nói rằng:

- Nàng thuận với ta thì thôi, bằng nghịch mạng ta chặt làm hai khúc.

Tiểu thơ thất thế, phải chịu đỡ cho xuôi.

Lưu Hồng chèo tuốt qua sông, giao chiếc đò ấy cho Lý Bưu làm chủ, còn nó đội mão mặc áo của Quang Nhụy, lấy bằng cấp dắt tiểu thơ đi phó nhậm Giang Châu.


Thương hại thây tiểu đồng trôi theo dòng nước, còn thây Quang Nhụy chìm xuống đáy sông.

Quỷ Dạ Xoa đi tìm ngó thấy, về đến báo lại với Long vương rằng:

- Tôi đi tuần tới vàm Hồng Giang, không biết ai đập chết người học trò, bỏ thây chìm xuống đáy nước.

Vua Long Vương truyền khiêng thây đến, xem thấy than rằng:

- Người nầy có làm ơn cứu ta, không biết bị ai giết bỏ, lẻ thường mang ơn thì phải trả, nay ta cứu lại mà đền bồi.

Tức thời viết thơ sai Dạ Xoa đến Hồng châu mà đưa cho Thành hoàng, Thổ Địa, phải lấy hồn (lấy vía) tú tài ấy, mà giao lại cho ta.

Thành hoàng, Thổ Địa miễu Hồng châu sai Tiểu quỷ lấy vía Trần Quang Nhụy mà giao cho Qủy dạ xoa.

Dạ Xoa đem về, vua Long Vương thấy hồn mừng lòng mới hỏi:

- Tú tài tên họ là chi đó, quê quán ở đâu, tới đây có sự gì, mà bị người ta đánh giết? Hồn Quang Nhụy thưa rằng:

- Tôi là Trần Ngọc tên chữ Quang Nhụy, quê ở Hải châu, về huyện Hoằng Nông. Thi đổ Quốc trạng, bổ chức Tri châu tại Giang châu, vợ chồng tôi đi phó nhậm, tên lái đò là Lưu Hồng, thấy vợ tôi có nhan sắc, nên làm mưu độc, đánh tôi chết bỏ thây, xin Đại Vương cứu tôi làm phước.

Vua Long Vương nghe rõ nói rằng:

- Ngày trước ông phóng sanh con cá chài vàng, ấy là tôi đó, nay ông mắc nạn, lẽ nào tôi chẳng cứu ông.

Truyền đem thây Quang Nhụy để trên giường, cạy miệng bỏ hột châu định nhản vào, thây tươi hoài không rả, chờ mản hạn sẽ cho sống lại mà báo cừu, lại nói với Quang Nhụy rằng:

- Hồn của ông sẽ ởø tại đền, mà làm chức việc.

Hồn Quang Nhụy tạ Ơn.


Bây giờ nói Ân tiểu thơ cố oán Lưu Hồng muốn lột da ăn thịt nó đi, mới là đã giận. Song ở với chồng mình đã có nghén không biết gái trai, cùng chẳng đã làm thinh chịu đỡ, đi chừng một buổi đã đến Giang châu.

Nhà tơ thơ lại ra rước vào, các viên quan dọn yến mà đãi tân quan.

Lưu Hồng nói:

- Tôi đến đây nhờ sức các ông giúp đỡ.

Các viên quan nói:

- Quan lớn danh cao hơn thiên hạ chắc là coi dân như quan, ít việc hành phạt kiện thưa, chúng tôi nhờ đức. Ngài nói khiêm làm chi.

Yến tiệc xong rồi ai về dinh ấy.


Tháng ngày thấm thoát đã mấy năm rồi, bữa kia Lưu Hồng có công sự đi xa. Còn Tiểu thơ ở nhà một mình nhớ chồng hết sức, thương nổi mẹ chồng bệnh hoạn không kẻ dưỡng nuôi. Buồn ra nhà mát sau vườn mà khóc lén. Giây lâu đau bụng xây xẫm té nhào.

Xảy nghe tiếng nói bên tai rằng:

- Mãng Đường Kiều nghe ta dặn. Ta là sao Nam Cực, vâng lệnh Quan Âm Bồ Tát đem cho nàng một đứa con nầy, ngày sau phải tầm thường, danh tiếng lớn lắm. Nếu Lưu Hồng về tới chắc giết đứa nhỏ đi, nàng phải hết lòng bảo hộ. Chồng nàng gặp Long vương cứu sống, ngày sau mẹ con gặp gỡ, chồng vợ sum vầy, trả thù báo oán. Thôi nhớ mấy lời ta dặn, tỉnh dậy cho mau.

Nói rồi đi thẳng.


Tiểu thơ tỉnh dậy, nhớ đủ mọi lời, thì đã sinh đặng một trai, nàng ngồi bồng con mà khóc. Trong lòng lo sợ không biết tính làm sao.

Kế Lưu Hồng trở về thấy thằng nhỏ đòi đem đi giết.

Tiểu thơ nói:

- Bữa nay trời tối, để mai liệng xuống sông.

Thời may rạng đông Lưu Hồng đi việc quan khẩn cấp.

Tiểu thơ nghĩ rằng:

- Nếu để Lưu Hồng về nữa thì thằng nhỏ không còn, chi bằng thả trôi sông chẳng may thì chết. Nếu Phật trời phò hộ thì xuôi người gặp mà nuôi. Lại e sau chẳng biết mà nhìn mới cắn ngón tay, lấy máu viết một bức thơ. Viết tên họ của cha mẹ căn cước mọi điều, rồi cắn đứt nửa ngón chân út bên tả con mà làm dấu. Cởi áo lót mồ hôi mà bọc thằng nhỏ. Rồi bồng ra mé sông cái, than khóc một hồi, muốn bỏ dựa mé mà bỏ về. Xảy thấy tấm ván trôi tới.

Tiểu thơ lòng mừng, lạy thinh không mà vái:

- Xin trời Phật cứu độ con tôi.

Rồi để con nằm trên tấm cây, lấy dây thẻo buộc phong thơ trước bụng. Rồi xô êm ra dòng nước, than khóc mà về. Còn tấm ván ấy trôi xuôi theo nước cách phủ đã xa, rồi mắc cạn dựa bực, ngay trước cửa chùa Kim Sơn, cũng thuộc về châu ấy.


Nguyên ông chủ chùa Kim Sơn là Pháp Minh hòa thượng, tu lâu năm cũng đã gần thành. Ngày kia ngồi trong liêu, nghe tiếng con nít khóc! Lấy làm sự lạ tìm đến mà xem, tới mé sông thấy thằng con nít mới đẻ nằm trên tấm cây, mà tấp vào bực.

Pháp Minh liền vớt, thấy trên bụng có phong thơ, xem hết đầu đuôi, mới tường gốc ngọn, lấy tích trôi sông đó, đặt tên Giang Lưu, cất áo và thơ, mướn vú nuôi bên tự.


Mặt nhật mặt nguyệt như thoi liệng, Giang Lưu 18 tuổi rồi, Pháp Minh hòa thượng thi phát quy y cho Giang Lưu đặt tên thánh là Huyền Trang, tu hành công quả, tánh trời đã phú, kinh luật đều thông.


Ngày kia nhằm tiết tháng ba, các sãi nhóm dưới cội tòng mà hóng mát. Hỏi kinh hạch luật cùng nhau. Tụi thầy chùa rượu thịt khoe tài, bị Huyền Trang vấn nạn (hỏi chuyện mắc, khó nói).

Mấy sãi ác tăng trả lời không đặng, giận mà rằng:

- Mầy là đồ súc sanh, không biết mẹ cha, chẳng thông tên họ, lại còn làm phách gì nà!

Huyền Trang bị chúng mắng mấy lời, vào chùa quỳ bạch với thầy mà rơi nước mắt: - - Người sinh trong trời đất, nhờ khí âm dương. Lẽ nào có thân thể mà không có cha mẹ! Xin thầy làm ơn cho tôi biết họ tên cha mẹ.

Cứ lạy hoài mà hỏi như vậy, Pháp Minh hòa thượng nói:

- Ngươi muốn tường sự tích cha mẹ, thì đi theo vô liêu.

Huyền Trang theo thầy bén gót.

Pháp Minh lên trên trinh, lấy hộp nhỏ giở ra lấy phong thơ mà đọc, mới biết tên họ, tên cha mẹ, và sự tích oán cừu, đọc rồi ngã lăn mà khóc, bạch với thầy rằng:

- Cừu cha mẹ không trả, sao phải làm người! Mười tám năm nay, không biết cha mẹ, nay mới rõ là mẹ còn. Bấy lâu hỏi thăm người ta nói: Thế cha mẹ chết hết nên thả trôi sông, nếu thầy không cứu vớt dưỡng nuôi, thì đệ tử không còn tánh mạng, xin cho tôi đi tìm mẹ tôi đã, rồi tôi sẽ ngồi kỳ, và tu bổ chùa chiền mà báo đáp ơn thầy nuôi dưỡng.

Pháp Minh hòa thượng nói:

- Ngươi muốn đi tìm mẹ, thì phải đem thơ và cái áo theo. Giả đi phú quyến mà vào dinh tư Giang châu thì mới gặp mẹ.

Huyền Trang vâng lời thầy dạy, giả làm sãi đi phú quyến, thẳng đến Giang châu, may nhằm dịp Lưu Hồng đi khỏi, cũng là trời khiến, mẹ con được gặp nhau.


Còn Ân tiểu thơ đêm trước nằm chiêm bao thấy trăng khuyết lại tròn, giật mình thức dậy, bàn rằng:

- Mẹ chồng tuy bặt tin tức, còn con thì thả trôi sông, nếu có ai vớt mà nuôi, thời nay đã mười tám tuổi, có khi trời cho gặp gỡ, cũng không biết chừng.

Đương ngồi nghĩ một mình, nghe ngoài cửa có thầy đi phú quyến.

Tiểu thơ bước ra mà hỏi:

- Thầy ở đâu mà đến đây?

Huyền Trang nói :

- Tôi ở chùa Kim Sơn, đệ tử Pháp Minh hòa thượng.

Tiểu thơ nói:

- Như vậy thì bước vào đây, biểu dọn cơm chay mà đãi.

Nghe lời ăn tiếng nói, xem nết đứng tướng ngồi, giống chồng mình như tạc, chẳng những giống hình dạng mà thôi.

Tiểu thơ sinh nghi, cố ý sai thế nữ gia đinh đi ra hết thảy, mới hỏi sãi nhỏ rằng:

- Thầy tu hồi còn nhỏ, hay mới tu đây? Tên họ là chi, cha mẹ còn hay mất?

Huyền Trang nói: - Tôi không phải mới đi tu, cũng không phải tu hồi còn nhỏ, tôi nói ra thì cừu sâu như biển, oan lớn bằng trời, tôi bị chúng giết cha mà cướp mẹ, nên thầy tôi biểu đi đến phủ mà kiếm mẹ tôi.

Tiểu thơ hỏi:

- Bà già thầy tên họ chi?

Huyền Trang nói:

- Mẹ tôi họ Ân tên Ôn Kiều, cha tôi là Trần Quang Nhụy, còn tôi tên tộc là Giang Lưu, Huyền Trang tên thánh.

Tiểu thơ nói:

- Ta thiệt là Ôn Kiều, mà ngươi có vật chi làm tin?

Huyền Trang nghe xưng thiệt mẹ liền quỳ dưới đất mà khóc rằng:

- Nếu mẹ chẳng tin con, thì có áo và thơ làm chứng.

Nói rồi lấy áo và thơ dâng lên, Tiểu thơ xem quả thiệt, mẹ con ôm nhau khóc ròng, rồi biểu con đi cho mau kẻo mà lâm hại.

Huyền Trang nói:

- Mười tám năm nay không biết mặt mẹ, nay mới gặp đặng, biểu con đi vội sao cho đành?

Tiểu thơ nói:

- Con phải ngăn lụy mà về chùa, nếu để thằng quỷ về đây ắt là nó giết con chết! Để mẹ giả bệnh, nói rằng hồi trước có vái một trăm đôi giày. Xin đem đến chùa Kim Sơn mà huờn nguyện (cúng trả lễ) chừng ấy mẹ sẽ nói chuyện kín với con.

Huyền Trang vâng lời ra về am tự.


Còn tiểu thơ nửa mừng nửa sợ, ngày kia giả bệnh, bỏ cơm bỏ nước, nằm liệt trên giường.

Lưu Hồng về dinh hỏi làm sao vậy?

Tiểu thơ nói:

- Tôi hồi nhỏ có vái thí một trăm đôi giày vớ cho thầy chùa, hồi canh ba chiêm bao thấy ông sãi cầm đao đến đòi giày; thức dậy liền sinh bệnh.

Lưu Hồng nói:

- Chuyện nhỏ mọn sao không nói sớm, để mà nằm liều.

Nói rồi truyền quân rao cho dân sự:

- Mỗi nhà phải nộp một đôi giày và một đôi vớ thầy chùa, hạn năm ngày cho kịp.


Cách năm ngày dân sự nạp đủ số.

Tiểu thơ nói với Lưu Hồng rằng:

- Giày tuy đủ số rồi, không biết đây có chùa nào đặng đi huờn nguyện?

Lưu Hồng nói:

- Đây có hai kiểng chùa là chùa Kim Sơn, với chùa Tiêu Sơn, muốn đi cúng chùa nào tự ý.

Tiểu thơ nói:

- Nghe đồn chùa Kim Sơn tử tế lắm để đi chùa Kim Sơn.

Lưu Hồng sai hai tên lính sắm sửa ghe thuyền.

Tiểu thơ dắt thế nữ xuống ghe mà đi trả lễ.


Còn Huyền Trang về chùa bạch hết sự tình cho thầy rõ.

Pháp Minh hòa thượng rất mừng, bữa sau thấy thế nữ vào chùa bạch rằng:

- Có phu nhân đến cúng.

Các sãi ra ngoài nghinh tiếp.

Tiểu thơ vào lạy Phật biểu thế nữ bưng mâm giày để trước chùa mới thắp nhang lạy vái, rồi giao cho Hòa Thượng phân phát giày vớ cho mấy thầy.

Huyền Trang thấy các sãi lãnh giày vớ đi tản, liền quỳ lạy mẹ.

Tiểu thơ bảo Huyền Trang cởi vớ mà coi chân, thấy chân trái mất nửa ngón út, mẹ con níu nhau mà khóc, rồi lạy tạ Ơn Hòa Thượng nuôi dưỡng con mình.

Pháp Minh hòa thượng nói:

- Nay mẹ con gặp gỡ, mừng rồi về phủ cho mau, kẻo người dữ hay tin mà mắc họa!

Tiểu thơ nói:

- Con ôi! Mẹ đưa cho con một chiếc vòng vàng con đi qua Hồng châu phía Tây Bắc chừng một ngàn rưỡi dặm có tiệm Vạn Hoa vốn chỗ bà nội con là Trương thị ngụ đó mà thăm bà; và đưa chiếc vòng rồi con cầm phong thơ nầy đi xuống Trường An, phía bên tả thành vua có dinh quan thừa tướng Ân Khai Sơn là ông ngoại con đó, con trao thơ nầy cho ông ngoại đặng ông ngoại tâu vua xin phép, đem quân tới vây bắt Lưu Hồng, một là cứu mẹ, hai là báo cừu cha, mẹ không dám ở lâu sợ nó nghi ngại". Nói rồi từ giã mà xuống ghe.


Còn Huyền Trang lạy thầy, qua Hồng châu mà đi tìm bà nội, đến tiệm Vạn Hoa hỏi thăm.

Lưu Tiểu Nhị là người chủ tiệm rằng:

- Năm trước quan Tri châu có mướn phố cho bà mẹ Ở, bây giờ còn sức khỏe hay không?

Lưu Tiểu Nhị nói:

- Năm trước ở phố tôi, sau tối hai con mắt, ba bốn năm không trả tiền phố, nay ở trong lò gốm bể phía Nam; thường ngày xin ăn qua bữa. Ông quan ấy đi lâu lắm, không biết cớ nào đó, biệt tin biệt tích đến nay.

Huyền Trang nghe nói, tìm vào lò gốm hỏi thăm.

Trương Thị nói:

- Tiếng mầy giống tiếng con tao là Trần Quang Nhụy!

Huyền Trang nói:

- Tôi không phải Trần Quang Nhụy, thiệt là cháu nội của bà; Ôn Kiều tiểu thơ là mẹ.

Trương Thị hỏi:

- Sao cha mẹ cháu chẳng đến đây?

Huyền Trang thưa:

- Cha tôi bị quân dữ giết rồi, bắt mẹ tôi làm vợ. Mẹ tôi có gởi lời thăm Bà nội, và gởi một chiếc vòng đây nè.

Trương Thị cầm chiếc vòng khóc lên mà nói:

- Con ta vì công danh mà ra thế ấy! Bấy lâu tưởng là bạch ngãi vong ân. Hay đâu bị người ta giết. Nhờ trời phò hộ cháu sức khỏe mà tìm bà.

Huyền Trang hỏi bà:

- Vì cớ nào mà bệnh con mắt?

Trương thị nói:

- Bà nhớ ông và cháu lắm, khóc hoài nên tối mắt đi!

Huyền Trang nghe nói, quỳ lạy trời mà vái rằng:

- Xin trời phật thương tôi, 18 năm chưa báo cừu cho cha mẹ, nay mẹ tôi sai đi tìm bà nội; Phật trời thương đến xin cho bà tôi sáng mắt ra.

Vái rồi le lưỡi mà rà con mắt cho bà.

Trong một giây Trương Thị thấy đặng mà hỏi rằng:

- Quả thiệt là cháu bà, nên giống Trần Quang Nhụy lắm, Huyền Trang mừng rỡ, dắt bà về tiệm Vạn Hoa, lấy tiền mướn phố cho bà ở.

Lại đưa tiền dụng cho bà mà nói rằng:

- Tôi đi ngoài một tháng rồi trở về đây.

Lạy tạ Ơn rồi ra đi, lâu ngày mới tới dinh Thừa Tướng, nói với quân rằng:

- Có sãi nhỏ đến phủ mà tìm bà con.

Quân hầu vào bẫm cùng Thừa Tướng.

Thừa tướng nói:

- Lạ nầy, mình không bà con với ai hết, sao có sãi đến thăm?

Phu nhân nói:

- Hồi hôm tôi chiêm bao, thấy con về viếng, có khi thơ rễ gởi về chăng?

Thừa Tướng biểu vời hòa thượng vào, Huyền Trang bước vô, lạy ông bà mà khóc, rồi mới trao thơ, Thừa Tướng coi thơ rồi khóc lớn.

Phu nhân hỏi:

- Thơ có chuyện chi mà ông khóc thất thanh đi vậy?

Thừa Tướng nói:

- Sãi nầy là cháu ngoại của mình, rễ mình bị thằng chèo đò giết, rồi bắt con mình làm vợ.

Phu nhân nghe nói khóc róng lên, Thừa tướng khuyên rằng:

- Phu nhân phiền não làm chi, để mai vào tâu cho vua hay, đem binh ra bắt nó rồi cứu con và báo cừu cho rễ.


Sáng ngày Thừa tướng vào tâu rằng:

- Rễ tôi là Trần Quang Nhụy, vâng lệnh đi phó nhậm Giang châu, bị tên lái đò là Lưu Hồng đánh chết, cướp con tôi làm vợ, lấy bằng cấp giả làm Quang Nhụy, làm quan 18 năm nay, rày có tin về, thiệt là loạn lắm, xin Bệ Hạ cho tôi đem binh mà ra đánh báo cừu.

Vua Thái Tôn nghe tâu giận lắm, cấp quân ngự năm sáu muôn cho Thừa Tướng đi đánh, Thừa Tướng vâng lệnh lãnh binh về phủ, rồi kéo ra Giang châu, đi hèn lâu mới tới mé sông Hồng Giang đóng trại, cho mời lén quan Đồng Tri đến tỏ hết sự tình, sai đi êm mà bắt vây cánh nó.


Còn Thừa Tướng lén qua sông lớn hừng đông đem binh tới vây dinh, Lưu Hồng còn đang ngủ. Xảy thấy nghe tiếng súng, chiêng trống gióng lên quân trào áp tới nhà tư, Lưu Hồng trở tay không kịp, bị quân bắt trói mèo, Thừa Tướng truyền bắt tụi nó dẫn ra pháp trường.

Thừa Tướng cho đòi Tiểu thơ ra mắt, Tiểu thơ hổ thẹn không ra, lấy dây đi thắt cổ. Huyền Trang nghe quân nói lật đật chạy vào mở dây đem xuống, lạy mẹ mà khóc và nói rằng:

- Nay ông ngoại đem binh đến, đã bắt đứa dữ mà trả oán cho cha tôi, sao mẹ đi tự ái; nếu mẹ thác, tôi không sống làm chi?

Thừa Tướng nghe tin cũng bước vào khuyên giải.

Tiểu thơ nói:

- Phận đàn bà con gái thì một chồng đến thác mà thôi, chồng tôi nó bị Lưu Hồng nó giết đi, lẽ nào tôi theo nó, vì có thai nghén, liều mình e tuyệt tự của chồng, cùng chẳng đã phải thờ đứa oán, nay con tôi khôn lớn, cha bắt đặng đứa thù mà báo cừu, tôi còn mặt mũi nào mà ra mắt cha, thà liều mình mà đáp nghĩa họ Trần dưới chín suối!

Thừa Tướng nói:

- Con chẳng phải chê chồng mà bỏ tiết. Ấy là gặp biến, túng phải tùng quyền, nào có lỗi chi mà hổ thẹn.

Nói rồi cha con khóc òa.

Huyền Trang cũng khóc, Thừa tướng khuyên dỗ rằng:

- Thôi, hai mẹ con bây chẳng khóc làm chi hoài, nay bắt đứa thù rồi, để lo mà xử.

Xảy thấy quan Đồng Tri bắt Lý Bưu giải tới; Thừa Tướng mừng lắm truyền dẫn đến pháp trường, đem Lưu Hồng và Lý Bưu ra mà khảo một trăm, chúng nó khai thiệt hết.

Thừa Tướng truyền lấy đinh đóng Lý Bưu trên lừa bằng cây mà lắt thịt (xử bá đao) rồi chém bêu đầu mà răn kẻ gian hùng, rồi dẫn Lưu Hồng tới khúc sông Trần Quang Nhụy năm trước, mổ lấy tim gan mà tế Quang Nhụy, đọc văn tế rồi đốt, ba người cả tiếng khóc òa.


Quỷ Dạ Xoa đem văn tế về dâng cho Long Vương, Long Vương xem rồi, sai Nguơn soái Trạnh mời hồn Quang Nhụy vào cung, Long Vương thấy mặt mừng mà nói rằng: - Mừng cho ông lắm! Nay có Phu nhân và Công tử với ông nhạc của ông, mổ gan tim Lưu Hồng tế ông tại mé sông cái, nay cho ông trái châu như ý và trái châu tẩu bàn với mười cây hàng tốt, một sợi đai ngọc và đưa ông về sum hiệp với vợ con. Hồn Quang Nhụy tạ Ơn.

Long Vương sai Dạ Xoa đem thây Quang Nhụy lên mà huờn hồn lại.


Còn Tiểu thơ cúng rồi khóc than thảm thiết, vùng nhảy xuống sông, Huyền Trang nhảy theo kéo lại, ai nấy xúm lại khuyên giải, xảy thấy thây Quang Nhụy nổi lên tấp lại mé sông.

Tiểu thơ nhìn quả thây chồng, hối quân vớt lên ôm thây mà khóc lớn, ai nấy lấy làm lạ, áp lại mà coi.

Trần Quang Nhụy tỉnh lần, lồm cồm ngồi dậy, ai nấy hãi kinh lấy làm lạ!

Trần Quang Nhụy mở mắt thấy vợ và cha vợ, với sãi nhỏ đồng ngồi khóc bên mình, mới hỏi rằng:

- Làm cái gì lạ vậy?

Tiểu thơ nói hết tự sự cho chồng nghe, rồi hỏi thăm rằng:

- Chẳng hay vì cớ nào mà mình sống lại?

Quang Nhụy nghe rõ, liền tạ Ơn cha vợ, và thuật chuyện cho vợ con nghe rằng:

- Nhờ thả cá vàng tại tiệm Vạn Hoa, chẳng ngờ là rồng sông ấy, khi thằng ăn cướp đánh chết mà xô thây xuống nước, nhờ vua rồng (Long Vương) ấy cứu ta, đến nay đưa lên và cho đai ngọc, hàng, châu, buộc vào lưng ta đó, không dè sinh con đã bây lớn, nhờ ơn cha đến báo cừu, chi xiết nỗi vui mừng, thiệt hết suy tới thạnh.

Ai nghe cũng mừng rỡ, Thừa Tướng truyền dọn tiệc mà đãi quan quân.


Bữa sau đồng kéo binh về, đi ngang tiệm Vạn Hoa, Trần Quang Nhụy truyền dừng binh, dắt con đi tìm mẹ.

Còn Trương Thị chiêm bao thấy cây khôn mà trổ bông, sáng ngày nghe quạ kêu inh ỏi sau hè, bèn nói rằng:

- Có khi cháu đà về đó.

Giây lâu thấy cho con Quang Nhụy vào lạy mừng tỏ hết mọi điều, níu nhau mà khóc, rồi tính nợ thượng niên trả tất, kẻ xe người ngựa về tới Trường An.

Đến dinh rồi, hai vợ chồng dắt mẹ và con vào ra mắt Phu nhân trong phủ.

Phu nhân mừng rỡ dọn tiệc đãi đằng.

Thừa Tướng nói:

- Tiệc này là tiệc đoàn viên (sum hiệp) ăn uống cùng nhau hỉ hạ.


Bữa sau Thừa Tướng vào chầu, tâu rõ các việc, và xin cho Trần Quang Nhụy làm quan tại trào; vua Thái Tôn nhậm lời, phong Quang Nhụy làm Hàn lâm học sĩ, coi việc trong trào, phán rồi bãi chầu, ai về dinh nấy.


Huyền Trang về nhà lại cha mẹ, đem bạc tiền làm chùa lại, và đền ơn thầy xong, rồi về thăm không chịu ở thế, nên cha mẹ biểu vào chùa Hồng Phước mà tu cho gần. Huyền Trang đi tu rồi, sau Tiểu thơ ở nhà uống thuốc độc mà chết êm.

Chuyện ấy chẳng nói chi cho kỹ.

Hồi 10
Long Vương phạm tội Thiên Tào
Ngụy Trưng gởi thơ Âm phủ
Bây giờ nói chuyện gần thành Trường An, có sông Kinh nước trong lắm, dựa mé sông có nhà ông chài là Trương Lão, gần rừng có nhà Lý Định là Ông Tiều, hai người ấy học giỏi mà không thi, cứ việc ngư tiều vui thú.

Ngày kia hai người uống rượu trong quán, rồi dắt nhau về; đi dọc đường Trương Lão nói với Lý địng rằng:

- Anh Lý, tôi nghĩ như vầy, kẻ giành danh vì danh bỏ mạng, người cướp lợi bỏ lợi liều mình, mang ơn vua như bọc rắn mà đi, ăn lộc chúa như tôm hùm mà nhủ, tính lại thua chúng ta hết thảy, non xanh nước biếc, thong thả thảnh thơi, lạc lẻo qua ngày, tuy không vinh mà khỏi nhục.

Lý Định nói:

- Anh Trương phân phải lắm, nhưng vậy mà nước biếc đó còn thua núi xanh đây. Trương Lão nói:

- Tôi lại e non nhơn không bằng nước trí.

Lý Định nói:

- Thôi, anh với tôi làm thơ liên vịnh thử nào, (thơ liên vịnh là mỗi người làm một câu nối nhau).

Trương Lão nói:

- Như vậy hay lắm.


Liền ngâm trước như vầy:

Trương Lão ngâm: Thuyền xông dòng bích trong sương sớm

Lý Định ngâm: Nhà ở non xanh dựa bá tòng

Trương: Riêng mến bên cầu chiều nước nhảy

Lý: Rất ưa trên đảnh sáng mây đông,

Trương: Thuyền còn nằm ngữa xem hàng nhạn

Lý: Nẻo tắt đi ngang lóng tiếng hồng

Trương: Gánh lợi danh kia ta chẳng có

Lý: Biển dòng sông nọ tớ đành không,

Trương: Bên thuyền thường máng chài như gấm,

Lý: Trên đá năng mài búa tợ bông

Trương: Trăng rạng làu làu trăm cá ngóng.

Lý: Rừng sâu thăm thẳm một mình xông

Trương: Tôm nhiều đổ ruợu nàng say với

Lý: Củi thạnh thêm ve trẻ uống cùng

Trương: Ghe chở anh em nhiều thủy thu?

Lý: Tiệc vầy bậu bạn những sơn ông

Trương: Đỗ thuyền đánh tữu kêu thêm chén

Lý: Dẹp búa làm banh hối họ chung

Trương: Sắc nước pha trà, trà đẹp miệng

Lý: Đào non nấu cháo, cháo no lòng

Trương: Lánh đời lui bước làm câm điếc

Lý: Dấu nọ chôn tên giả dại khùng.


Trương Lão nói:

- Tôi nãy giờ làm hổn ngâm trước, nay nhường lại cho anh làm đầu thử nào!

Lý Định nói:

- Lẽ thường trên núi dưới sông. Tôi làm đầu thuận lắm.


Lý Định ngâm: Non núi trăng gió dạo chơi đừng lẳn khứ

Trương Lão ngâm: Biển hồ qua lại nước trong xanh

Lý: Thảnh thơi có số đà vui ve?

Trương: Phải quấy không nghe cũng thái bình

Lý: Xem nguyệt ta nằm lều cỏ rách,

Trương: Che mưa mình máng áo tơi lành,

Lý: Tánh ưa tòng trước nên danh tốt

Trương: Ý đẹp cò le kết bạn thanh

Lý: Trong dạ không mơ cầu lợi lộc

Trương: Ngoài tai chẳng hứng tiếng tranh hành

Lý: Xuân sang nhắm liễu theo đường lô.

Trương: Hè đến xem sen dựa mé kinh

Lý: Sương xuống gà sung dầu xáo luộc

Trương: Cúc đơm cua mập mặt nham canh

Lý: Bóng xây ngủ nướng nằm nhừ tư?

Trương: Trời lặng lăn quay uốn ấp sanh

Lý: Tám tiết non cao như lão cụi

Trương: Bốn mùa sông rộng thể ông Hoành

Lý: Rầu người gánh cuổi ham thi khóa

Trương: Ưa kẻ gieo câu lánh thị thành

Lý: Ngoài ngỏ bông rừng thơm phưng phức

Trương: Trước thuyền nước biển nhảy minh minh

Lý: Ba công chẳng đổi lưỡi rìu nguyệt

Trương: Muôn lượng không buông miệng lưới kình.


Hai người vừa ngâm vừa đi. Tới ngỏ tẻ mới bái nhau mà từ giả.

Trương Lão nói chơi rằng:

- Anh Lý ôi! Đi lên rừng phải coi chừng hùm cọp cho lắm. Nếu anh có lẽ nào đi nữa ắt là tôi. Ngày mai đầu chợ thiếu người quen, đó anh à!.

Lý Định nghe nói cả giận rằng:

- Chú thật độc ác lắm! Bậu bạn tử tế, người ta chịu chết thế cho nhau. Sao chú lại rủa tôi như vậy? Tôi nói cho mà giữ hồn. Nếu hùm dữ ăn tôi, thì sóng thần nhận chú.

Trương Lão nói:

- Đời nào sóng thần nhận tôi đặng.

Lý Định nói:

- Biết chừng ở đâu. Trời khi gió khi mưa, người khi phước khi họa, sao chú chắc là chìm xuồng kìa?

Trương Lão nói:

- Tuy anh nói như vậy, mà không chắc gì, chớ nghề làm ăn của tôi vững lắm.

Lý Định nói:

- Chú làm ăn chân trời mặt nước, hiểm nghèo quá đổi, mạng có ba phân, sao chú gọi là vững?

Trương Lão nói:

- Anh không hiểu, để tôi cắt nghĩa cho anh nghe, tại chợ Trường An, phía bên Tây, có ông thầy bói linh lắm! Mỗi ngày đem cho thẩy một con cá Chài Vàng, thì coi cho một quẻ. Chỉ hướng nào cá nhiều, vãi trăm chài không sai một. Bữa nay tôi có đi coi quẻ, biểu tôi bủa lưới trên ngọn Sông Kinh phía Đông qua mé bên Tây, chài thì trúng, quả như lời nói, chở tôm cá khẩm ghe. Để mai ra chợ gặp anh sẽ mua rượu uống chơi, bây giờ xin kiếu.


Thiệt lời xưa nói không sai: Trên đường nói chuyện trong bụi có người. Nguyên có quỷ Dạ Xoa ở tại Sông Kinh đi tuần dưới nước. Nghe ông chài nói rằng: Vãi trăm chài không sai một, thì lật đật về cung Thủy tinh mà báo rằng: "Bệ Hạ Ôi! Có họa, có họa!"

Long vương sông Kinh liền hỏi:

- Có họa gì?

Dạ Xoa nói:

- Ngoài chợ Trường An có ông thầy bói hay lắm! Mỗi bữa ông chài đem cho thầy bói kia một con cá chài lớn, thì coi quẻ chỉ chỗ cho, vãi trăm chài không sai một. Nếu thường thường như vầy, thì hết binh tướng lấy ai mà giúp được vua?

Long Vương nghe nói giận lắm, rút gươm vía ra đi, quyết đến Trường An đặng giết thầy bói giỏi.

Có Rồng con, Rồng cháu, tướng Trạnh, quan Cua, quân Sư Cháy, Thừa Tướng Chài đồng hè ra tấu:

- Xin chúa công bớt giận, lời huyển bỏ qua chớ khá nghe. Nếu chúa công đi xuống chợ, thì nổi giông tố mây mưa. Sợ dân ở Trường An khốn hại, có khi trời bắt tội chẳng không? Thà biến ra Tú Tài đến chợ Trường An coi thử. Quả như thời giết, bằng không thiệt thì thôi.

Long Vương nhận lời bỏ gươm và chẳng làm mưa gió, lên bờ giả Tú Tài áo trắng đi xuống chợ Trường An, thấy thiên hạ đứng vậy mà coi quẻ.

Tú Tài hỏi thăm rõ, thầy bói ấy là Viên Thủ Thành, chú ông là quan thiên văn Viên Thiên Cang, hình dung xinh tốt, thể thống oai nghi.

Tú Tài quyết vào Viên Thủ Thành chào hỏi.

Đãi trà xông xã, mới hỏi thăm ông bói chuyện chi?

Tú tài nói:

- Tôi bói bữa nào mưa?

Viên Thủ Thành gieo quẻ đoán rằng "

Mây che đỉnh núi, mù tỏa non Đoài,

Hỏi thăm mưa rưới, chắc tại ngày mai.


Tú tài hỏi:

- Mai giờ nào, nước dâng lên mấy thước mấy tấc?

Viên Thủ Thành nói:

- Giờ Thìn thì kéo mây, giờ Tỵ nổi sấm, giờ Ngọ mưa, cuối giờ Mùi tạnh. Nước dâng ba thước ba tấc, có lẽ ra bốn mươi tám giọt bốn phân bốn ly.

Tú tài cười rằng:

- Lời này không phải nói chơi, ngày mai quả có mưa, giờ khắc và nước dâng y như lời đoán, thì ta thưởng bạc năm chục lượng chẳng sai. Nếu không mưa, hay là mưa mà không y lời đoán, ta nói thiệt cho thầy hay, phá nát cửa thầy, và xé tấm vải treo tức thì đuổi khỏi chợ Trường An, không cho ở đây gạt chúng nữa.

Viên Thủ Thành mừng mà đáp rằng:

- Tôi dám cuộc, tôi dám cuộc.

Tú Tài liền kiếu ra về.


Các Thủy thần thấy Long Vương về đồng ra nghinh tiếp mà hỏi thăm rằng:

- Chúa công đi kiếm thầy bói đặng không?

Long Vương nói:

- Có, có, thầy bói ấy khua mỏ kiếm tiền, ta hỏi thử chừng nào trời mưa và nước dâng lên mấy thước, nó nói giờ Thìn kéo mây, giờ Mùi tạnh, nước lên cao ba thước ba tấc có lẽ bốn phân tám ly, ta cuộc với nó rằng: "Hễ quả như lời, ta thưởng năm mươi lượng bạc, nếu sai một chút thì ta phá nhà, xé bảng đuổi ra khỏi chợ Trường An".

Các tướng cười mà rằng:

- Chúa công là vị thần coi tá cái sông mà hay việc mưa gió, nếu có mưa không mưa thì Chúa công biết trước, thầy bói biết sao mà đặng mà nói bướng kìa, mười phần nó phải thua hết cả mười.

Nói cười chưa dứt tiếng thì nghe tiếng kêu:

- Long Vương mau ra tiếp chiếu trời.

Long Vương thất kinh lật đật ra tiếp chiếu, ngó lên mây thấy thần Lực Sĩ mặc áo vàng, tay cầm phong chiếu chỉ bay xuống cung Thủy tinh.

Long Vương đặt bàn mà lạy mà lãnh chiếu.

Lực Sĩ đi về lập tức, Long Vương mở chiếu chỉ ra xem, thấy trong chiếu chỉ dạy như vầy:

Rồng tám sông vâng lệnh, y theo giờ khắc ban,

Ngày mai không đặng trễ, mưa tại sứ Trường An

"Hẹn giờ Thìn kéo mây, giờ Tỵ nổi sấm, giờ Ngọ mưa,

cuối giờ Mùi tạnh, nước dâng ba thước, ba tấc, bốn phân, tám ly".


Long Vương thất kinh hồn vía, nói với các tướng rằng:

- Trên đời có người linh quá, thông trời thấu đất, chắc mình phải chịu thua.

Quân sư Cháy tâu rằng:

- Xin chúa công đừng lo, muốn ăn nó cũng không khó, tôi dùng một kế thì nó cứng họng đi.

Long Vương hỏi:

- Quân sư có kế chi?

Quân sư Cháy tâu rằng:

- Mưa sái giờ và bớt nước, thầy không y lời đoán, sao nó cũng phải thua.

Long vương y kế.


Bữa sau kêu Thiên lôi, Thần gió,Bà chớp, Anh mây, đồng kéo tới Trường An. Truyền giờ Tỵ mới kéo mây, giờ Ngọ mói nổi sấm, giờ Mùi mưa, giờ Thân tạnh, nước có ba thước lẻ bốn phân, rồi truyền các thần về hết.


Long Vương hóa Tú Tài như trước, tới chỗ Viên Thủ Thành.

Tú Tài không hỏi gì hết, đập nghiêng quăng viết, xé tấm vải treo.

Viên Thủ Thành ngồi trên ghế làm thinh, như không hề không biết.

Tú Tài giận phá cửa lấy ván xốc lại giá mà mắn rằng:

- Mày là đồ mị, nói gạt chúng mà ăn tiền, coi quẻ không linh, đặt điều nói bậy. đoán sái giờ, dư nước, còn ngồi làm tỉnh kìa. Đi mau mau kẻo ta đập chết.

Viên Thủ Thành cười hả hả rằng:

- Không sợ, không sợ, tôi không phạm tội chết, e cho ai chết kìa, ông gạt ai chớ ông gạt tôi sao được, ông không phải Tú Tài áo trắng, ông là Rồng Bạch sông Kinh, không dám cải lệnh trời, tráo giờ bớt nước, phạm tội gần chết chém, lại còn mắng tôi sao?.

Tú Tài nghe nói nhởn tóc gáy, vỡ mật hết hồn, buông tấm ván cửa, xốc áo quỳ lạy mà nói rằng:

- Xin thầy chớ trách, hồi nãy tôi giả ngộ nói chơi, tôi tưởng làm chơi, chẳng ngờ sanh thiệt. Tôi đã phạm luật, lạy thầy xin cứu mạng tôi.

Viên Thủ Thành nói:

- Tôi cứu ông sao đặng, nhưng chỉ chỗ cho ông cầu khẩn họa may.

Tú Tài nói:

- Xin thầy chỉ chỗ làm ơn.

Viên Thủ Thành nói:

- Giờ Ngọ mai ông sẽ bị Ngụy Trưng xử trảm, mà Ngụy Trưng làm Thừa Tướng phò Hoàng Đế bây giờ, ông cầu Hoàng Đế nói giùm, có khi cũng được.

Tú Tài lau nước mắt từ tạ ra đây, mặt nhực đã chén, vầng trăng ló mọc, Long Vương không về phủ, ở lững đửng nửa lừng, đợi tới canh ba hiện vào cung cấm thấy vía vua Thái Tôn đi dạo.

Long Vương hiện hình người ra trước mặt mà nói rằng:

- Xin Bệ Hạ cứu tôi làm phước.

Hồn Thái Tôn hỏi:

- Ngươi là ai đó? Nói cho ta rõ đặng ta cứu cho.

Long vương nói:

- Bệ Hạ thiệt Rồng, còn tôi là rồng có tội. Trời sai Ngụy Trưng là tôi hiền của Bệ hạ, giờ Ngọ mai chém tôi.

Hồn Thái Tôn nói:

- Như về phần Ngụy Trưng chém ngươi, thời trẫm cứu được. Thôi ngươi yên dạ mà về.

Long vương mừng rỡ quá chừng, lạy tạ mà đi về thẳng.


Vua Thái Tôn thức dậy, nhớ điềm chiêm bao ấy rõ ràng, đến sáng lâm triều, các quan chầu chực.

Vua Thái Tôn xem rõ từ người, bên văn thì: Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối, Từ Mậu Công, Hứa Kỉnh Tông và Vương Khuê, còn bên võ thì: Mã Tam Bửu, Đoàn Chí Hiền, Ân Khai Sơn, Trình Giảo Kiêm, Lưu Hồng Cơ, Huất Trì Cung, Tần Thức Bảo.

Ai nấy đủ mặt, mà thiếu Thừa tướng Ngụy Trưng!

Vua Thái Tôn vời Từ Mậu Công lên điện mà phán rằng:

- Trẫm nằm chiêm bao lạ lắm! Thấy một người đón trẫm mà lạy xưng rằng Long vương phạm tội thiên tào, trời sai Ngụy Trưng xử trẫm, lạy xin trẫm cứu, trẫm hứa lở lời, bữa nay vì cớ nào Ngụy Trưng không đi chầu vậy?

Từ Mậu Công tâu rằng:

- Bệ hạ đã hứa lỡ, thì phải đòi Ngụy Trưng vào chầu, đừng cho Ngụy Trưng đi đâu, mãn ngày nay thì cứu Long vương ắt được.

Vua Thái Tôn mừng lắm, mới sai hoạn quan đi mời Ngụy Trưng.


Còn Ngụy Trưng đi coi thiên văn (coi sao) hồi hôm, xảy nghe tiếng hạc kêu, ngó thấy xứ trời hiện xuống, truyền chiếu chỉ rằng:

- Giờ Ngọ mai Ngụy Thừa Tướng phải thiếp mà chém Rồng Bạch tại sông Kinh.


Ngụy Trưng lạy tạ Ơn về dinh tắm gội. Lo mài gươm phép nên chẳng đi chầu, xảy thấy sứ vào mời, trong lòng lo sợ, không dám cãi lệnh phải sửa sang mão áo vào chầu, bước tới sân son, lạy vua mà chịu tội.

Thái Tôn phán rằng:

- Trẫm tha khanh khỏi tội.

Một lát bãi chầu rồi, bá quan đều về hết, vua Thái Tôn cầm một mình Ngụy Trưng ở lại mà thôi, mời vào đền trong luận bàn việc nước, qua đầu giờ Ngọ, vua truyền mỹ nữ lấy cờ sắp trên bàn xong xã, Ngụy Trưng lạy tạ, rồi ngồi lại đánh cờ, dục dặc gần nửa giờ mà chưa thắng bại.

Ngụy Trưng gục đầu trên bàn mà ngáy pho pho.

Vua Thái Tôn không kêu, để cho Ngụy Trưng ngủ, chừng một lát Ngụy Trưng thức dậy, quì dưới đất lạy vua mà tâu rằng:

- Tôi đáng tội thác, khi bần thần ngủ quên không biết có điều chi thất lễ. Xin Bệ Hạ tha tội cho tôi.

Vua Thái Tôn cười rằng:

- Khanh có tội chi mà ngại, thôi, dậy mà đánh cờ.

Ngụy Trưng lạy tạ Ơn rồi sắp cờ đánh nữa. Xảy nghe tiếng la lớn ngoài cửa đền, thấy Tần Thúc Bảo xách đầu rồng Bạch chảy máu ròng ròng, quì tại sân mà tâu rằng:

- Muôn tâu Bệ hạ! Có thấy sông khô cùng biển cạn, việc nầy lạ lắm thiệt chưa từng. Vua Thái Tôn hỏi:

- Vật đó ở đâu?

Tần Thúc Bảo tâu rằng:

- Đầu rồng trên trời rớt xuống tại ngã tư, nên tôi phải đem dâng cho Bệ hạ.

Vua Thái Tôn thất sắc, phán hỏi Ngụy Trưng rằng:

- Thừa tướng bàn chuyện ấy đặng không?

Ngụy Trưng quỳ lạy tâu rằng:

- Tôi mới thiếp đi chém đó.

Vua Thái Tôn thất kinh mới hỏi:

- Khi khanh ngủ, tay không chuyển động, cũng không có gươm đao, vậy làm sao mà chém đặng rồng ấy?

Ngụy Trưng tâu rằng:

- Tôi vâng chiếu thượng đế hồi hôm truyền giờ Ngọ này thiếp xuống chém rồng có tội. Bệ Hạ đòi tôi hầu cờ nên đi không đặng, túng phải thiếp xuống lấy gươm phép chém kịp giờ.

Vua Thái Tôn nghe nói:

- Nửa mừng nửa buồn, mừng là đặng tôi hiền có phép buồn là vì lời hứa không xong, phải gượng gạo mà truyền cho Tần Phúc Bảo rằng:

- Đem đầu rồng treo tại chợ Trường An mà răn lê thứ.

Lại ban thưởng Ngụy Trưng. Hai tướng tạ từ về hết.


Vua Thái Tôn vào cung trong lòng buồn bực, bần thần thao thức nằm đến canh hai, xãy nghe tiếng khóc ngoài cửa cung, Thái Tôn càng kinh hãi, mơ màng ngó thấy Long vương tay vịn đầu, máu chảy dầm dề, kêu Thái Tôn mà đòi đền thường mạng, nói rằng:

- Đêm hôm qua chịu cứu ta chắc chắn, sao lại sai Thừa tướng chém ta?

Nói rồi lại níu Thái Tôn, biểu đi xuống âm ti cho Diêm vương phân xử.

Vua Thái Tôn cứng họng đỗ mồi hôi hột dầm mình, Long vương níu cứng không buông, xãy thấy bên phía Nam có người đàn bà đi tới, tay cầm nhánh dương liễu mà quét thinh không, Long vương ngó thấy thất kinh, ôm đầu chạy mất.


Nguyên là Quan Âm Bồ Tát ở tại miễu Thổ thần nghe tiếng quỷ khóc thần rên nên tới đuổi ma rồng mà cứu Thái Tôn khỏi hại.

Còn hồn Long vương đi xuống kiện dưới Diêm la.

Khi Thái Tôn giựt mình thức dậy, la hoảng rằng: "Có quỷ , có quỷ ".

Ba cung, sáu viện, Thái giám, cung nga ai nấy sợ mà thức luôn đến sáng.


Rạng ngày trăm quan chầu chực, không thấy vua ngự ra, chờ tới mặt nhựt 3 sào, mới có chiếu chỉ ra truyền lại:

- Nay mình Trẫm không khỏe, các quan khỏi đi chầu.


Như vậy, bảy ngày các quan đều lo sợ. Những quan lớn vào thăm, xảy thấy Thái hậu đòi ngự y vào trị bệnh, các quan nhóm cửa đền, đợi ngự y mà hỏi thăm nhẹ nặng, ngự y ra nói:

- Bệnh Bệ Hạ mạch đi không chánh, đi yếu mà mau, cho nên nói cuồng và thấy quỷ mạch nhảy 9 cái rồi ngừng lại. Ngủ tạng đã tuyệt rồi, sợ chừng trong 7 bữa.

Các quan nghe đều sửng sốt.

Lại nghe Thái hậu truyền rằng:

- Vua đòi Từ Mậu Công, Tần Thúc Bảo và Khuất Trì Cung.

Ba ông vâng chỉ vua vào cung mà lạy.

Vua Thái Tôn gượng nói rằng:

- Các khanh ôi! Trẫm thuở mười chín tuổi: Đánh Nam, dẹp Bắc, chinh Đông, phạt Tây, không hề thấy tà ma chi hết, nay lại thấy quỷ , mới là lạ cho.

Khuất Trì Cung nói:

- Bệ Hạ gầy dựng giang san, giết người cả vạn, mà còn sợ ma sao?

Thái Tôn phán rằng:

- Khanh chẳng thấy nên không tin, chớ trời tối thì ma quỷ khóc ngoài cửa cung, vác gạch ngói liệng vào nườm nượp. Ban ngày hởi còn phá, ban đêm làm lộng quá chừng!

Tần Thúc bảo tâu rằng:

- Xin Bệ Hạ an lòng, đêm nay Khuất Trì Cung canh cửa với tôi, coi ma quỷ thế nào cho biết.

Vua Thái Tôn mừng lắm! Các quan lạy tạ ra về.


Đêm ấy Tần Thúc Bảo cầm búa, Khuất Trì Cung cầm giản, cùng nhau nai nịt hẳn hòi giữ cửa cung không thấy tà ma, nên vua Thái Tôn ngủ đặng.


Rạng ngày vua đòi hai tướng vào thưởng phán rằng:

- Trẫm bệnh chẳng ngủ hơn mấy đêm, hồi hôm nhờ hao sức hai khanh, nên trẫm ngủ thẳng giấc, thôi hai khanh lui về mà nghỉ cho khỏe, tối này sẽ đến giúp dùm.

Hai tướng tạ Ơn về phủ.


Từ ấy thường đêm tới canh cửa.

Vua thấy hai tướng khó nhọc như vậy thì cảm động nói rằng:

- Trẫm thấy hai khanh khó nhọc, trẫm chẳng an lòng. Trẫm muốn đòi thợ khéo vào vẽ chân dung hai người dán tại cửa, cho khỏi nhọc công canh giữ.

Các quan vâng lệnh, đòi hai thợ khéo tức thời. Hai tướng nai nịt như xưa. Hai thợ cứ theo mà vẽ, hình dung như sống. Tuy dán vào cửa mà ai nấy cũng lầm, yên được hai ba đêm, rồi lại nghe gạch ngói quẳng vào cửa sau lộp độp.


Sáng ngày, vua đòi các tôi vào mà phán rằng:

- Cửa trước mới êm, ngõ sau nó lại liệng gạch, như vậy trẫm nằm sao êm?

Từ Mậu Công tâu rằng:

- Không lẽ vẽ hình hai tướng nữa? Vậy xin cho Ngụy thừa tướng canh giữ ngõ sau. Thái Tôn y lời truyền Ngụy Trưng canh giữ.


Đêm ấy Ngụy Trưng nai nịt, cầm cây gươm chém Rồng Bạch ngày trước mà giữ cửa sau, thiệt cũng oai linh, quỷ không dám liệng, tuy cửa trước cửa sau lặng lẻ, mà bệnh vua càng thêm.

Ngày kia Thái Hậu đòi các quan vào mà lo thói!

Vua Thái Tôn giao việc nước cho Từ Mậu Công. Phán rồi tắm rửa thay đồ chờ giờ băng hà.

Ngụy Trưng nắm áo mà tâu rằng:

- Xin Bệ Hạ an lòng, tôi có một điều bảo hộ mình rồng sức khỏe.

Thái Tôn gượng phán:

- Bệnh đã gần miền,mà cứu làm sao được?

Ngụy Trưng tâu rằng:

- Tôi có một phong thơ xin trao cho Bệ hạ, như đến Âm phủ thì trao cho Thôi Giác là Phán quan.

Thái Tôn hỏi:

- Thôi Giác là ai?

Ngụy Trưng tâu rằng:

- Thôi Giáp là tôi vua trước, ban đầu ngồi Tri huyện Từ châu, sau lên chức Thị Lang bộ lễ. Khi còn sống làm bạn hữu với tôi thiết lắm, nay thác xuống làm Phán quan coi sổ dưới Minh vương. Tôi chiêm bao gặp hoài, yêu dấu nhau như sống, nếu Bệ Hạ trao thơ ấy, sao Phán quan cũng nghĩ tình tôi mà kiếm cách đưa hồn nhập xác.

Thái Tôn bỏ thơ vào tay áo, rồi nhắm mắt mà băng hà.

Ba cung, sáu viện, Thái Tử và các quan đều khóc than mà liệm thây, để quan tài tại đền Bạch hổ, cả trào thọ chế cư tang.

Hồi 11
Xuống Âm Ti, Thái Tôn huởn sanh
Ði dâng dưa, Lưu Toàn gặp vợ
Nói về vua Thái Tôn thấy vía đi dạo, ra khỏi lầu Ngũ Phụng. Thấy vua ngự thỉnh vua đi săn; Thái Tôn theo dõi một hồi binh gia đâu mất, còn một mình giữa đồng nội, không biết ngõ mà đi, sợ hết hồn hết vía.

Xảy nghe tiếng kêu lớn hét rằng:

- Tâu Hoàng đế đi lại ngỏ nầy.

Vua Thái Tôn ngó ngoái, thấy người ấy đội mão thẻ ngang, buộc đai da tây tay cầm hốt ngà, mặc áo địa rộng, quì bên đường mà nói rằng:

- Tôi rước trễ, xin Bệ Hạ tha tội tôi.

Vua Thái Tôn hỏi:

- Vậy chớ khanh là ai đó?

Người ấy tâu rằng:

- Khi tôi sống phò vua trước, làm Tri huyện Từ châu; sau lên chức Thị Lang bộ Lễ, tôi họ Thôi tên Giác, nay thác xuống Âm Phủ làm chức Phán quan. Nguyên hôm trước tôi có thấy việc rồng ma đi cáo, nên biết bữa nay có Bệ Hạ xuống đây, tôi mới tiếp giá.

Vua Thái Tôn đở dậy mà nói rằng:

- Cám ơn thầy có công rước Trẫm, mà Ngụy Trưng lại có gởi phong thơ cho thầy đây, may gặp tình cờ.

Nói rồi đưa phong thơ cho Thôi Giác.

Thôi Phán quan tiếp thơ mà đọc , trong thơ nói như vầy:

Thơ gởi cho:

Quan Đại Đô Án là anh họ Thôi xem rõ,

Nhớ xưa làm bạn, hình dạng như thường,

Sau cách âm dương, vắng lời dạy dỗ,

Cảm tình chẳng rõ, cho thấy chiêm bao,

Mới hay anh chức trọng quyền cao,

Hiềm vì nổi kẻ u người hiển,

Nay Thánh Hoàng hầu kiện,

Nhờ huynh trưởng nghĩ tình,

Có phương chi cho đặng huờn sinh,

Nhờ ơn ấy cầm bằng tái tạo.

Em bạn là Ngụy Trưng cúi dâng.

Thôi Phán quan xem thơ mừng mà nói rằng:

- Quân nhân Tào họ Ngụy thiếp chém Rồng Bạch tôi cũng hay rồi, lại nhờ ơn đỡ đầu con cháu tôi trên dương thế, nay gởi thơ cậy tôi như vậy, mà Bệ Hạ còn lo làm chi? Sao sao tôi cũng lo cho Bệ Hạ huờn sinh mà trị nước.

Vua Thái Tôn nói cám ơn, xảy thấy cặp Đồng tử áo xanh, kẻ cầm phướn, người cầm lộng kêu rằng:

- Vua Diêm vương cho thỉnh Hoàng Đế.

Vua Thái Tôn đi theo Thôi Phán quan và hai tên Đồng tử, ngó thấy trước cửa thành, treo một tấm bảng dài đề bảy chữ vàng rằng:

U Minh địa giới quỷ môn quan,

Nghĩa là: Tối mờ cõi đất cửa hồn ma.

Đồng tử áo xanh rung cây phướn mà dắt vua.

Thái Tôn vào khỏi cửa thành, ngó thấy hồn anh là Kiến Thành, hồn em là Nguơn Kiết đồng ré lên rằng:

- Thế Dân xuống đó, Thế Dân xuống đó.

Bên thì Nguơn Kiết, bên thì Kiến Thành áp lại níu hồn Thái Tôn mà đòi thường mạng, hồn Thái Tôn đánh không khỏi, bị hai quỷ kéo lôi.

Thôi Phán quan kêu quỷ sứ nanh bạc mặt xanh nạt Nguơn Kiết, Kiến Thành chạy hết.

Hồn Thái Tôn đi khỏi ước vài dặm đường, thấy đền đài lợp ngói xanh, lầu đài rực rỡ, hồn Thái Tôn đang ngó, xảy nghe tiếng ngọc len ken, mùi hương bát ngát, hai cặp xách lồng đèn đi trước, mười vua Minh chúa ra tiếp rước Thái Tôn.

Hồn Thái Tôn khiêm nhường quá chừng không dám đi trước, mười vua nói:

- Bệ Hạ là vua mười cõi Dương thế, còn chúng tôi là vua cõi Âm ti, nên anh em tôi cung kính Bệ Hạ là thiệt tình, xin đừng ké né.

Hồn Thái Tôn nói:

- Trẫm có tội vào hầu dưới bệ, đâu dám luận người qủy âm dương.

Đồng vào tới đền Sum La, ngồi như chủ khách nói chuyện một lát, rồi vua Nhứt Điện là Tần Quảng vòng tay mà hỏi rằng:

- Ma Rồng ở sông Kinh đi cáo rằng: "Bệ Hạ hứa cứu rồi lại giết đi, là vì cớ nào vậy? Hồn Thái Tôn nói rằng:

- Trẫm chiêm bao thấy rồng cầu cứu thiệt có hứa lời, chẳng ngờ tội đáng hành hình về phần Ngụy Trưng xử trãm. Trẫm đòi Ngụy Trưng vào đánh cờ với trẫm, Ngụy Trưng xuất vía mà chém Long Vương; ấy là Ngụy Trưng có phép hay mà cũng tại Long vương đáng tội chết, chớ trẫm có sai giết ở đâu, sao vu oan mà kiện trẫm? Mười vua trả lời rằng:

- Con rồng ấy hồi mới đầu thai, chúng tôi cũng rõ định số của nó là sau chết về tay Ngụy Trưng, chúng tôi có hay trước, ngặt nó cáo mãi, nên phải vời Bệ Hạ xuống đối nại cho ba cõi công đồng, chớ chúng đã cho nó đi đầu thai hồi sớm, nay nhọc công Bệ Hạ ngự đến xin tha tội trước hồn.

Nói rồi sai Thôi Phán quan đem bộ tử ra tra coi Bệ Hạ còn trị vì mấy kỷ.

Thôi Phán quan vâng lệnh vào soạn bộ mấy vua các nước mà coi lén trước đi, thấy đề rằng:

- Vua Thái Tôn nước Đại Đường ngồi ngôi mười ba năm mãn số.

Thôi Phán quan xem thấy thất kinh, lấy viết chấm mực thêm hai ngang vô chữ nhứt, khi trước nhứt thập tam niên (mười ba năm). Bây giờ thành tam thập tam niên (ba mươi ba năm). Rồi ôm bộ ấy ra trình , mười vua xem thấy số ba mươi ba năm thì thất kinh mới hỏi rằng:

- Chẳng hay Bệ Hạ lên ngôi nay đã mấy mươi năm rồi?

Hồn Thái Tôn nói:

- Trẫm lên ngôi mới đặng mười ba năm.

Mười vua mừng mà nói rằng:

- Bệ Hạ yên lòng chẳng can chi mà ngại. Số còn sống đặng hai mươi năm nữa mới già, nay đối nại đã rồi, cho đưa hồn về nhập xác.

Hồn Thái Tôn nói:

- Tôi đội ơn.

Mười vua sai Thôi Phán quan và Châu Thái úy đua về.

Hồn Thái Tôn đứng dậy, bái tạ mười vua và hỏi thăm rằng:

- Chẳng hay nội trong cung trẫm, có ai tới số chăng?

Mười vua nói:

- Hết thảy đều bình an, song e em gái Bệ Hạ vắn số.

Hồn Thái Tôn nói:

- Trẫm về Dương thế không biết lấy chi mà tạ Ơn vua, xin dâng dưa hấu lấy thảo. Mười vua nói:

- Dưới nầy các thứ dưa đủ hết, còn thiếu một thứ dưa hấu mà thôi.

Hồn Thái Tôn nói:

- Trẫm về tới sai người dâng xuống tức thì.

Nói rồi giã từ dời gót.

Châu Thái úy cầm cây phướn dẫn hồn đi trước, Thôi Phán quan hộ giá theo sau, hồn Thái Tôn ra khỏi đền, rồi coi không phải đường cũ, nói với Phán quan rằng:

- Ngõ nầy có khi sái thì phải?

Thôi Phán quan nói:

- Không sái đâu, đường xuống Âm phủ khi xưa trở về không đặng, nay đưa Bệ Hạ đi về ngỏ nầy một là cho thấy việc Âm phủ; hai là dễ đi hơn.

Hồn Thái Tôn đi theo được ít dặm đường, ngó thấy một hòn núi cao, mây đen mù mịt, hồn Thái Tôn hỏi:

- Núi chi đó?.

Thôi phán quan nói:

- Ấy là núi Bố Âm.

Hồn Thái Tôn thất kinh nói rằng:

- Núi như vậy trẫm đi sao được.

Thôi phán quan nói:

- Xin Bệ Hạ đừng ngại, chúng tôi bảo hộ, không có hề chi.

Hồn Thái Tôn vừa đi vừa run lặp cặp, qua khỏi núi ấy, rồi đi ngang qua mười mấy dãy nhà, đi tới đâu cũng nghe tiếng khóc vang tai, quỷ ma ghê gớm.

Hồn Thái Tôn lấy làm lạ mà hỏi rằng:

- Chẳng hay các cửa nầy là sở chi đó?

Thôi Phán quan nói:

- Ấy là mười tám tầng địa ngục (cửa rạc).

Hồn Thái Tôn hỏi:

- 18 cửa ngục ấy ấy hành những tội gì?

Thôi Phán quán nói rằng:

Xin Bệ Hạ nghe tôi nói:

- Ngục rút gân, ngục u tù, ngục hang lửa, bởi vì khi còn sống làm dữ dư ngàn tội, thác xuống vào trong mấy ngục nầy. Ngục cưa hai, ngục kéo lưỡi, ngục lột da, bởi vì chẳng thảo, chẳng ngay, không tiết hạnh, miệng hiền lòng độc, đọa vào đây, ngục cối xay, ngục cối đá, ngục xe cán, bởi vì mất lẽ công bình làm khuất lấp, nói gian nói dối, hại người ngay. Ngục nước đá, ngục mổ xẻ, ngục rút ruột bởi vì lường thăng trào đấu hay làm thiếu, mua cân già bán cân non, mắc tội vào ngục nầy. Ngục vạt dầu, ngục tăm tối, ngục ngục núi đao, bởi vì dữ tợn hung hăng hay hiếp đáp, co đầu rút cổ thảm như vây. Ngục ao máu, ngục mãn đời, ngục máu cân, bởi vì giết người lấy của làm mưu độc, hại vật làm hàng tội nặng thay, mắc đọa ngàn năm không thoát khỏi, chìm sâu trong kiếp khổ đời đời, ngày kêu trời đất không ai cứu, héo ruột khô gan ủ mặt mày.

Người đời chớ khá ở tà tây

Thần qủy công bình tự thuở nay

Làm dữ đến sau đều trả qua?

Kẻ thời gặp sớm kẻ thời chầy.

Hồn Thái Tôn nghe nói, lòng sợ hãi hùng, đi một hồi lâu gặp quỷ cầm phuớn quỳ dựa lộ mà nói rằng:

- Tôi là kẻ giữ cầu đến rước.

Phán quan biểu quỳ chờ dậy, cẫn hồn vua đi trên cầu vàng, hồn Thái Tôn lên cầu rồi, thấy bên kia có một cái cầu bằng bạc, bèn hỏi Phán quan rằng:

- Những người gì được đi cầu?

Thôi Phán quan nói:

- Những người hiền lành trung hiếu, ngay thẳng công bình, thì có quỷ phướn dẫn qua cầu.

Hồn Thái Tôn ngó thấy bên nọ có một cái cầu, dưới sông sóng máu lao xao, trên mang gió lung vùn vụt, nghe tiếng người khóc kể, ghê gớm dùng mình.

Hồn Thái Tôn hỏi:

Cầu ấy tên chi?

Thôi Phán quan nói:

- Tên là cầu Nại Hà (không biết làm sao) như Bệ Hạ về Dương gian, phải thuật chuyện cái cầu này cho rõ.

Bề mặt hơn ba ngón, bề dài mấy trăm tầm, cầu cao trăm thước có dư, sông thảm ngàn trùng không xiết, trên không tay vịn, dưới có quỷ hờ, bên cầu thần tướng dữ dằn, dưới nước tội nhân lặn hụp, trên mé treo nguyên đồ áo tím quần hồng, dưới sông chững gái xằng chửi cha mắng mẹ, chó bằng đồng rắn bằng sắt giành ăn thây, nước là máu, sóng là dòi, dợn xao lấp mặt.

Hồn Thái Tôn thấy càng thảm thiết, theo Phán quan qua khỏi cầu vàng, đi một hồi lâu đến thành Uổng Tử (thác oan) nghe tiếng nói sạo sự rằng:

- Lý Thế Dân tới đó, Lý Thế Dân tới đó.

Và nghe tiếng kêu oan hỡi oan.

Hồn Thái Tôn nghe kêu run lên rét rét, xảy thấy bầy quỷ cụt đầu, cụt tay, xốc tới đón đường níu hồn Thái Tôn mà đòi thường mạng.

Hồn Thái Tô hoảng, quên xưng trẫm, cứ nói xin thầy cứu tôi, xin thầy cứu tôi, miệng thì nói, tay thì níu Phán quan mà núp.

Thôi phán quan nói:

- Tôi không quyền cai trị những ma vô chủ, biết cứu làm sao? Ấy là hồn oan sáu mươi bốn cõi xưng hùng, bảy mươi hai đảng ăn cướp chết chưa tới số, không ai bắt hồn cho đầu thai nên họ vô thành Uổng Tử mà ở làm ma thương ma đói, không gạo không tiền, Bệ Hạ phải bố thí ít nhiều, tôi nói giùm mới được.

Hồn Thái Tôn nói:

- Trẫm đi mình không xuống đây, tiền đâu cho có.

Thôi phán quan nói:

- Trên Dương gian có một người hay gởi tiền bạc xuống đây, Bệ Hạ viết giấy mượn đở một kho, có tôi bảo lãnh, đặng phân phát cho lũ ma đói thì mới êm.

Hồn Thái Tôn hỏi:

- Người ấy tên chi?

Thôi Phán quan nói:

- Người ấy họ Tướng tên Lương ở Khai Phong, tại đất Hà Nam. Tướng Lương có gởi mười ba kho bạc tại đây, Bệ Hạ tạm mà thí cho cô hồn, rồi về Dương gian trả cho Tướng Lương cũng được.

Hồn Thái Tôn mừng lắm, viết giấy xong rồi, đưa cho Phán quan mượn tạm một kho, cậy Thái úy chia cho oan hồn Uổng Tử.

Thôi Phán quan nói lớn rằng:

- Chúng bây lãnh vàng mà chi dụng, để cho Hoàng đế đi về, bởi số Ngài còn sống lâu lắm. Ta vâng lệnh mười vua mà đưa hồn ngài nhập xác, đặng ngài làm chay lớn chi siêu độ chúng bây, bây không được cản ngăn mà sanh sự nữa.

Các quỷ Dạ Xoa lãnh bạc mà lui.

Phán quan biểu Thái úy rung cây phướn dẫn hồn dắt Thái Tôn ra khỏi thành Uổng Tử.

Ra tới đường bằng phẳng đi qua một đỗi xa, đi tới 6 đường luân hồi thấy đông đảo lắm, những là bục thàn tiên đấu chiếu hào quang; vì quan tước lưng mang đai ngọc, thầy tu, kẻ thế, thú chạy, chim bay, người nghèo, kẻ giàu, bầy yêu, lũ quỷ , tốp nào theo đàng ấy, cứ theo 6 ngã mà đi.

Hồn Thái Tôn hỏi rằng:

- Giống gì đó vậy?

Thôi Phán quan nói:

- Bệ Hạ thông minh nghe nói qua thì nhớ, sau về Dương thế thuật lại mà răn đời. Chỗ nầy gọi là 6 đàng đi đầu thai. Người tu hành công quả thì về đàng Tiên. Người ngay vua thì về đàng Sang. Người có hiếu thì về đàng Phước. Kẻ công bình thì về đàng Người , kẻ có đức thì về đàng Giàu. Đứa hung dữ thì về đàng Quỷ, hay là đàng Vật. Vậy thì 6 đàng ấy là đàng Tiên, đàng Sang, đàng Phước, đàng Giàu, đàng Người, đàng Vật. Mà Bệ Hạ đi về đàng Sang.

Hồn Thái Tôn gật đầu bước tới, Thôi Phán quan đưa đến cửa đàng Sang, lạy vua mà nói rằng:

- Chỗ nầy là chỗ đầu thai. Tôi xin đi về, để Châu thái úy đưa một đổi nữa.

Hồn Thái Tôn rằng:

- Nhọc công thầy đưa xa lắm.

Thôi Phán quan nói:

- Bệ Hạ về Dương thế phải làm chay lớn cho siêu những hồn oan, sao sao cũng nhớ, nếu dưới Âm phủ không tiếng vang siết, thời trên Dương thế có phước thái bình, như có việc chi chẳng lành, phải chừa cải, đời nầy người ở hiền hậu, thời đời sau cơ nghiệp lâu dài.

Hồn Thái Tôn từ giã Phán quan đi theo Thái úy bước vô cửa, thì Thái úy thấy một con ngựa thắng rồi mời Thái Tôn lên ngựa, còn Thái úy dìu đở hai bên.

Ngựa chạy như tên bắn , đến mé sông, thấy cặp cá chày vàng giở trên mặt nước.

Hồn Thái Tôn ngó thấy dừng ngựa coi mê.

Thái úy nói:

- Bệ Hạ đi chút nữa, vô thành cho kịp giờ.

Hồn Thái Tôn cứ làm thinh coi mãi, Thái úy nắm hai giò mà nói lớn:

- Không chịu đi, đợi chừng nào nữa.

Nói rồi xô xuống ngựa, nhào dưới sông một cái đùng, ấy là xô nhập vào xác đó.

Còn nội trào văn võ và Hoàng Hậu, Đông cung Thái Tử đồng nhóm tại đền Bạch Hổ mà khóc than bên linh cửu vua Thái Tôn, nhiều ông luận bàn tôn Đông cung tức vị. Ngụy Trưng nói:

- Khoan đã các ông, đợi nội ngày nay thì vua sống lại.

Hứa Kĩnh Tôn cải rằng:

- Thừa Tướng nói sai lắm, từ xưa rằng: "Nước đổ khó hốt đầy, người thác đâu sống lại, ông nói chi lời huyễn như vầy".

Ngụy trưng nói:

- Chẳng dấu chi thầy, tôi hồi nhỏ có học phép tiên, bói khoa linh lắm, làm sao Bệ Hạ cũng sống lại mà thôi.

Đương cải lẩy với nhau, xảy nghe tiếng la lớn trong quan tài rằng:

- Ngộp nước chết đi, ngộp nước chết đi.

Làm các quan văn võ hết hồn, Hoàng Hậu, Cung phi vỡ mật lánh xa linh cửu, chẳng dám lại gần.

Nhờ có Từ Mậu Công ngay thẳng, Ngụy thừa tướng anh hùng, Huất trì Cung dạng gan, Tần Thúc Bảo lớn mật, áp lại bên linh cửu đứng vây.

Tần Thúc Bảo và Huất Trì Cung kêu lớn mà nói rằng:

- Bệ Hạ còn nói chuyện chi xin nói chúng tôi biết, đừng có làm ma quàng mà nhát bá quan.

Ngụy Trưng nói:

- Chẳng phải hồn ma đâu, ấy là Bệ Hạ sống lại đó, mau mau lấy búa bứt néo, cạy nắp săng lên.

Dở ra rồi thấy vua ngồi nhắm mắt, mà miệng còn nói:

- Ngộp nước chết đi, ai vớt Trẫm đó.

Từ Mậu Công và Ngụy Trưng đở dậy mà nói rằng:

- Bệ Hạ sống lại rồi, không hề gì đâu, có chúng tôi hộ giá.

Vua Thái Tôn mở con mắt mà nói rằng:

- Trẫm khốn nạn quá, mới chạy khỏi hồn ma dưới Âm phủ, lại bị té sông chết trôi. Các quan nói:

- Bệ Hạ có té sông ở đâu.

Vua Thái Tôn phán rằng:

- Trẫm nói dối hay sao, trẫm đương cưỡi ngựa tới mé sông, mãi coi cặp cá chày vàng giở dưới sông, bị Châu Thái úy bất nhân xô Trẫm xuống nước, may chớ không chết đi còn gì.

Ngụy Trưng nói:

- Bệ Hạ chưa tỉnh. Mau đòi ngự y vào hốt thuốc cho định tâm thần. Uống vài hớp nước thuốc rồi lần lần ăn cháo ăn cơm biết đủ việc.

Từ hồi băng hà đến khi sống lại, đã trọn ba ngày đêm.

Bữa đó tối rồi, các quan xin vua ngủ sớm cho khỏe, bá quan ai nấy về dinh.

Rạng mai văn võ bỏ hết đồ tang, mặc điều đỏ vào đền chầu chực.

Vua Thái Tôn cũng khỏe, vội vả lâm triều.

Các quan văn võ quỳ tâu rằng:

- Chẳng hay Bệ Hạ chiêm bao thấy những điều chi, mà bèn lâu mới tỉnh?

Vua Thái Tôn đọc hết việc đi hầu tra dưới Âm phủ, cho các quan nghe, lại nói:

- Khi trẫm từ giả mười vua Thập điện, có hứa sự dâng dưa hấu mà tạ Ơn, từ ra khỏi đền Sum La, thấy những tội nhân dưới Âm phủ, là loài chẳng thảo chẳng hay, không lễ không nghĩa, hoài huởn lúa gạo, lường gạt người ta, gia. già gia. non, cân cao ân thấp, tham dâm ở dối, làm dữ hại người, các tội ấy đều bị xay giả nấu dầu, xẻ cưa đốt xác, cả muôn cả triệu, xem thấy cũng thương. Đi ngang qua thành Uổng Tử là thành chứa quỷ thác oan, bị lũ cô hồn đón Trẫm, nhờ Thôi Phán quan bảo lãnh, mượn một kho vàng bạc của Tướng Lương mà phân phác cho lũ oan hồn đặng chúng nó tránh đường Trẫm đi về mới đặng. Thôi Phán quan dặn Trẫm, về Dương thế làm chay lớn, cho siêu rỗi cô hồn.

Các quan nghe rõ đầu đuôi, ai cũng mừng rỡ, vội chạy công văn cho các quan tỉnh biết, đặng dâng sớ mà mừng, vua lại xuống chiếu chỉ những tù tội nhẹ đều tha. Có hơn 400 tù xử tử, tha về xứ một năm, đặng thăm viếng cha mẹ anh em chồng vợ, và gởi gấm nhà cửa xong rồi, đúng một năm phải tựu mà chịu tội.

Lại xuất tiền bạc bố thí cho kẻ đói và con nít mồ côi.

Lại thả 3 ngàn 6 trăm cung nga ra ngoài cho kiếm đôi bạn.

Từ ấy trong ngoài đều mến đức.

Lại ngự chế lời khuyên dỗ, treo bảng khắp xứ mà dạy dân, lời ngự chế trong bảng như vầy:

Âm dương rộng rãi, nhật nguyệt hằng chiếu mọi nơi,

Bờ cõi lộng khơi, trời đất không dung đảng vạy

Độc lòng bày kế, mang tai cũng nội đời này,

Hay thí ít cầu, đặng phước hóa chờ kiếp khác

Ngàn lời dối trá, chi bằng giữ phận thiệt thà,

Muôn mối tham lam, khó sánh theo bể cần kiệm

Lòng lo làm phước, lựa là rán sức xem kinh?

Ý muốn hại người, có phải hoài công đọc sách.

Cả và thiên hạ ai thấy lời ngự chế cũng cảm động mà làm lành.

Vua Thái Tôn lại treo bảng rao khắp mọi nơi, ai chịu xuống Âm phủ mà dâng dưa thì lãnh bảng.

Vua lại xuất một kho vàng bạc, sai Ngạc Quốc công là Huất Trì Kỉnh Đức (Cung) đến khai phong phủ mà trả cho Tướng Lương.

Bây giờ nói qua Lưu Toàn là người nhà giàu ở Quảng Châu, vợ là Lý Túy Liên, tính người khẳng khái, Lý Túy Liên lấy trâm vàng mà bố thí cho thầy sãi.

Lưu Toàn bắt lỗi vợ, nói cũng nhiều điều:

- Sao không giữ phận đàn bà bêu đòi ra cửa, lại đem vật trang sức (nữ trang) mà cho người.

Lý Túy Liên tức mình thắt cổ mà chết, bỏ lại một trai, một gái khóc chèo chẹo tối ngày.

Lưu Toàn tức mình mới lãnh bảng đi dâng dưa cho khuất con mắt.

Khi vua Thái Tôn ngự, thấy Lưu Toàn lãnh bảng vào chầu, tình nguyện dâng dưa dưới Âm phủ.

Vua Thái Tôn truyền cho Lưu Toàn ra quán Kim Đình, đầu đội cặp dưa hấu, trong tay áo đựng giấy tiền vàng bạc, rồi uống thuốc độc mà chết.

Hồn Lưu Toàn đội dưa xuống Âm phủ, nói cùng quỷ xứ rằng:

- Vâng lệnh Hoàøng đế đi xuống dâng dưa.

Quỷ xứ dắt vào đền Sum La mà ra mắt Diêm chúa.

Hồn Lưu Toàn nói:

- Hoàng đế dạy tôi dâng cặp dưa cho Bệ Hạ mà tạ Ơn.

Mười vua khen rằng:

- Vua Thái Tôn có đức nên nói chẳng sai lời.

Khen rồi hỏi tên họ người dâng dưa, Lưu Toàn tâu rằng:

- Tôi họ Lưu tên Hoàng, dân ở Quảng Châu, bởi vợ tôi là Lý Túy Liên thắt cổ mà chết, bỏ hai đứa con dại kêu khóc ngày đêm nên tôi tức mình bỏ của bỏ con, mà đi dâng dưa cho gặp vợ.

Vua Diêm vương truyền lệnh dẫn hồn Túy Liên ra mắt, cho gặp mặt chồng.

Lại truyền Phán quan đem bộ ra xem, thấy số vợ chồng Lưu Toàn sau thành Tiên hết thảy, mới sai quỷ sứ quờn hồn cả hai.

Quỷ sứ tâu rằng:

- Lý Túy Liên chết đã ba tháng, thây đã rả rời, huờn hồn sao đặng.

Vua Diêm vương nói:

- Đường ngự muội Lý Ngọc Anh nay đã mãn số. Vậy thì mượn xác thế vào.

Quỷ sứ vâng lới dẫn hai hồn đem về Dương thế.

Quỷ sứ vâng lệnh Diêm vương dẫn hai hồn đi khỏi Âm phủ lên đến Trường An, đem hồn Lưu Toàn xô vào quán Kim Đình là chỗ xác, rồi đem hồn Lý Túy Liên vào thành vua.

Ngó thấy em gái vua Thái Tôn là Lý Ngọc Anh té xuống, liền bắt hồn đi, rồi xô hồn Lý Túy Liên vào xác.












Hồi 12
Trần Huyền Trang làm chay thỉnh Phật
Quan Thế Âm dạy sãi cầu kinh
Những thế nữ tấy ngự muội đang ngoạn kiểng vùng té xuống chết tươi, thất kinh chạy vào mà báo cùng Hoàng Hậu.

Hoàng Hậu kinh hải vào thuật cho vua nghe.

Vua Thái Tôn gật đầu mà than rằng:

- Chết thiệt rồi đó chớ không phải gió máy chi đâu, trong khi trẫm kiếu mười vua mà về, có hỏi thăm gia quyến thể nào?

Mười vua rằng:

- Ai nấy bình yên hết, sợ một mình ngự muội số chẳng bao lâu, thiệt quả như vậy.

Nói rồi cùng nhau than khóc kéo đến mà xem, thấy Ngọc Anh còn hơi thở như sợi chỉ, Thái Tôn bảo Hoàng Hậu và cung nga đừng khóc, e Ngự muội giựt mình, liền bước lại đỡ đầu Ngọc Anh mà kêu rằng:

- Ngự muội ơi! Ngự muội ơi! Tỉnh dậy, tỉnh dậy.

Ngọc Anh cựa mình mà kêu rằng:

- Mình khoan đi đợi tôi với! Đợi tôi với!

Vua Thái Tôn nói:

- Ngự muội, trẫm đợi nãy giờ đây.

Ngọc Anh mở mắt mà cự rằng:

- Ai níu tôi vậy?

Vua Thái Tôn nói:

- Hoàng huynh, Hoàng tẩu chớ ai.

Ngọc Anh nói:

- Tôi phải là em vua ở đâu mà có Hoàng huynh, Hoàng tẩu?

Tôi họ Lý tên Túy Liên, vợ Lưu Toàn là dân ở Quảng Châu. Bởi vì tôi bố thí cho thầy sãi một cây trâm, chồng tôi mắng hoài, tôi tức mình mà tự ái. Nay Hoàng Đế sai chồng tôi dâng dưa dưới Âm phủ. Vua Diêm vương thương hại, cho vợ chồng tôi trở về, chồng tôi đi mau tôi chạy theo không kịp, tôi rủi chân vấp té, sao các ngươi không biết phép, dám lại kêu tôi kia?

Vua Thái Tôn nói với cung nga rằng:

- Thấy ngự muội bị té hết hồn, nên mới nói sảng.

Truyền thế nữ đỡ vào cung điện, ngự y điều trị thuốc than.

Rồi vua vào lâm triều có quan vào cửa tâu rằng:

- Người dâng dưa là Lưu Toàn đà sống dậy rồi, còn đứng hầu ngoài nhõ.

Vua Thái Tôn thất kinh, truyền đòi vào ra mắt, hỏi thăm công việc dâng dưa.

Lưu Toàn tâu rằng:

- Tôi đội dưa xuống Âm phủ, gặp qủy sứ dẫn tôi đến Diêm vương, mười vua có gởi lời cám ơn, và khen Bệ Hạ không thất tín; lại hỏi tên họ, tôi tâu thiệt và thuật chuyện vợ tôi thác oan, nên tôi tình nguyện dâng vua xuống Âm phủ họa may gặp vợ.

Vua Diêm vương sai qủy dắt hồn vợ tôi vào, lại tra bộ mà nói rằng:

- Số vợ chồng tôi sau đặng theo tiên nên cho quỷ đưa hai đưa tôi về dương thế, tôi đi trước vợ tôi đi sau, tôi sống lại đây, còn vợ tôi nhập vào đâu không biết.

Vua Thái Tôn phán hỏi:

- Vua Diêm vương có nói vợ ngươi làm sao không?

Lưu Toàn nói rằng:

- Vua Diêm vương không nói vợ tôi làm sao, đều tôi nghe quỷ sứ nói Lý Túy Liên chết đã lâu, thây thì rã hết. Vua Diêm vương nói Đường ngự muội là người gì? Cũng không biết nhà cửa ở đâu mà kiếm!

Vua Thái Tôn nghe tâu thiệt thà, trong lòng mừng lắm, phán với các quan rằng:

- Khi trẫm huờn hồn, vua Diêm vương có nói với trẫm: " Số ngự muội chẳng dài. Khi ngự muội té chết giấc tại vườn hoa, Trẫm lại đỡ đầu mà kêu, ngự muội tỉnh lần cũng nói như Lưu Toàn một cách".

Ngụy Trưng nói:

- Sự thay hồn đổi xác nghe cũng có người, xin mời Quốc muội ra đây coi thử nói chi cho biết.

Vua Thái Tôn phán rằng:

- Trẫm mới sai Ngư y đem thuốc, bây giờ không biết ra thể nào?

Nói rồi sai hoạn quan vào cung, mời ngự muội ra mắt.

Bây giờ nói về Ngọc Anh, thấy Ngự y đem thuốc mời uống.

Ngọc Anh nói:

- Ai đâu mà uống thuốc kia?

Day lại cự với Cung nga thể nữ rằng:

- Nhà người ta khoản khoát mát mẻ có đâu mà phòng vàng ngoách như huỳnh đảng. Cửa có rằn như sắc chồn bông, tôi biểu buông ra, đừng có níu nữa đa!

Xảy thấy cung nga và thái giám (hoạn) hơn bốn, năm người áp lại dắt vào bệ ngọc. Vua Thái Tôn hỏi rằng:

- Ngươi biết mặt chồng không?

Nói:

- Hỏi cái gì lạ vậy? Vợ chồng tôi hồi con trai con gái ở với nhau mấy mặt con, làm sao mà không biết mặt kìa.

Vua Thái Tôn truyền hoạn quan, dắt xuống sân chầu.

Ngọc Anh thấy Lưu Toàn, chạy lại níu chồng mà trách rằng:

- Tía nó đi ngõ nào vậy, mà chẳng đợi tôi. Báo hại tôi chạy theo, vấp té nhào đầu nhào óc, bị mấy người làm ngang bắt lại, không thả tôi ra. Không biết họ làm cái gì vậy hả?

Lưu Toàn nghe tiếng nói giống vợ. Ngặt lạ mặt nên chẳng dám nhìn.

Vua Thái Tôn cười mà rằng:

Chác đất lỡ non người có thấy,

Thay hồn đổi xác thể không nghe.

Như vậy, thì chắc là vợ ngươi mà xác em Trẫm. Tuy ngự muội thác mà thân thể hỡi còn. Bởi nguời có công khó dâng dưa, mới đặng duyên lành đó! Thôi, những gia tài của ngự muội, Trẫm cho người chở về nhà, cũng như Trẫm gả em cho đó, và nhiêu sưu thuế, hai vợ chồng về xứ cùng nhau.

Lưu toàn và Ngọc Anh đồng lạy tạ, cùng nhau mừng rỡ ra về.

Đến thành Quảng Châu, thấy nhà cửa như xưa, hai con mạnh giỏi.

Từ ấy vợ chồng giàu có lớn, bố thí cho kẻ nghèo. Hưởng phước thanh nhàn, muôn dân đều mến đức.

Bây giờ nói về Tướng Lương ở phủ Khai Phong, vợ là Trương Thị chuyên nghề đổi nước và bán chậu bán lu. Liệu bề đủ ăn xài, dư tiền bạc bao nhiêu cũng bố thí. Và hay mua giấy tiền vàng bạc để đốt hoài. Nên có tiếng đồn nghèo thứ nhứt và hiền lành cũng thứ nhất. Dè sau là ông bá hộ chứa bạc chứa vàng.

Khi Uất Trì Cung đến phủ Khai Phong hỏi ra tên họ, mới chở chuyên vàng bạc tới nhà. Lại thêm ngựa xe quan sở tại tới nữa. Tuy lều trah trại lá mà đông quá dinh quan.

Hai ông bà thất kinh như câm như dại, quỳ dưới đất mà lạy ngay.

Uất Trì Cung nói:

- Hai ông bà chờ dậy, ta tuy là Khâm Sai mặc lòng, chớ ông có tội chi mà sợ. Tôi vâng lệnh Thiên tử, đem bạc trả cho ông đây.

Tướng Lương run lập cập đáp rằng:

- Tôi có cho vay cho mượn ở đâu mà dám lãnh tiền bạc vàng vòng vô cớ?

Uất Trì Cung nói:

- Ta có hỏi thăm rõ là hai ông bà khó. Song có lòng lành bố thí, nên dưới Âm phủ có cất thế bạc vàng cho. Bởi Thiên tử sống dậy nói: "Có mượn kho vàng bạc của Tướng Lương dưới Âm phủ, có Thôi Phán quan bảo cử rõ ràng. Nên nay tính đủ mà trả cho, sao so cũng phải lãnh đi đặng ta về tâu lại".

Hai vợ chồng lạy mãi mà nói rằng:

- Nếu tôi lãnh của này thì tôi mau chết. Tuy tôi có đốt giấy tiền vàng bạc, ấy là U Minh, Bệ Hạ nói mượn duới Âm phủ thì sự quả quyết rồi, ngặt tôi không lấy tích chi làm cớ, giết thì tôi chịu chết, chớ tôi dám lãnh ở đâu.

Uất Trì Cung không biết làm sao, phải về cụ sớ cho vua rõ.

Vua Thái Tô xem sớ khen rằng:

- Thiệt là kẻ hiền lành.

Nói rồi tuyền cho Uất Trì Cung đem bạc ấy mà lập một kiểng chùa cho hai ông bà nhờ phước, trong chùa dọn hai bàn thờ sống, cũng như trả bạc kia.

Uất Trì Cung vâng lệnh, mua năm mươi mẫu đất mướn thợ cất chùa, gọi là chùa Tướng quốc. Bên tả lên cốt Tướng công (Tướng Lương) mày đậm mắt to như tạc. Bên hữu lên cốt Trương Thị, da đen áo rách, như thường. Chùa cao không biết mấy tầng li vòng lên trên khu ốc. Có dựng bia đá có khắc chữ là Uất Trì Cung coi làm, hoàn thành về tấu cho vua hay.

Vua Thái Tôn mừng phán rằng:

- Các quan vâng lệnh Trẫm, treo bản thỉnh thầy chùa đặng làm chay cho cô hồn siêu rỗi.

Các nơi lựa thầy chùa dâng tới đông lắm.

Vua Thái Tôn truyền cho quan Thái Sư Phó Duyệt (Duợt) chọn một thầy xứng đáng làm thầy cả mà đứng đàng chay.

Phó Duyệt dâng sớ can rằng:

- Phép của nước Tây vức không biết tôi chúa cha con. Bầy ra sáu đàng luân hồi, ba điều hành tội là: Đao nuớc lửa đặng hoài dụ người ngu nhắc tội kiếp xưa, hưởng phước đời khác. Miệng đọc lảnh liếu, cho khỏi thế khỏi xâu. Huống chi sống lâu thác yểu là lẽ tự nhiên, nhân đức hành hình tại nơi vua chúa. Nay kẻ tục nói rằng: Phật định, lầm biết chừng nào? Huống chi đời tam hoàng ngũ đế, đạo Phật chưa truyền, thì vua sáng tôi ngay trị nước lâu dài lắm. Kể từ vua Minh đế nhà Hán mới có Phật ra đời, vua Minh đế lạp chùa mà không thấy phước. Bệ Hạ còn noi dấu làm chi?

Vua Thái Tôn xem sớ rồi, đưa cho các quan coi mà thưa nghị.

Có quan Tể tướng Tiêu Võ tâu rằng:

- Đạo Phật bày từ nhà Hớn, khuên lành răn dữ cũng là có ít cho triều đình lẽ nào dám bỏ, Phật cũng là thánh. Người chê thánh, là người vô phép, xin làm tọi mà răn đời.

Phó Duyệt cải lẽ rằng:

- Lễ là thờ cha mẹ và thờ vua. Đạo Phật bỏ cha mẹ mà đi tu, không biết tới vua chúa. Trọng người dân hơn cha mẹ. Ông không phải là thầy sãi, sao lại trọng cái đạo không chúa không cha, ấy là ông bất trung bất hiếu đó.

Tiêu Võ chắp tay mà nói:

- Mấy cửa ngục để dành cho những kẻ như vầy.

Vua Thái Tôn đòi quan Thái Bộc là Trương Đào Nguyên, và quan Trung Thơ là Trương sĩ Hoàn mà hỏi:

- Trẫm lập chùa bố thí có đáng hay không?

Hai ông ấy tâu rằng:

- Đạo Phật là thanh tịnh hiền lành cho nên vua Võ Đế nhà Châu chia ba đạo trượng trong đời là: đạo Nho, đạo Phật, đạo Tiên gọi là tam giáo. Đại Huệ thiền sư linh hiễn, Ngũ Tổ và Đạt Ma hiện hình. Từ xưa đến nay tam giáo là trọng hơn hết, lẽ nào dám bỏ đi!

Vua Thái Tôn mừng rằng:

- Hai khanh tâu hiệp ý trẫm! Ai còn nói nữa thì làm tội chẳng tha.

Mới sai Ngụy Trưng, Tiêu Võ, Trương Đào Nguyên, đi chọn một thầy cả, ba ông quan vâng lệnh về.

Đến bữa sau ba ông chọn lựa trong các sãi, có một Hòa Thượng tài đức song toàn, Hòa Thượng ấy là ai? Là ông Phật Kim Thiền bởi đi chầu trễ mà phải đọa. Quan Âm cho xuống đầu thai. Mới lọt lòng mẹ bị thả trôi sông, gặp Pháp Minh vớt lên mướn vú nuôi tại chùa, ăn chay hồi dứt sữa. Đến mười tám tuổi thế độ (cạo đầu) quy y. Ông bà cha mẹ ăn lộc Triều đình, mà Hòa Thượng Huyền Trang chẳng mến công danh, vui theo Phật pháp. Tài cao đức trọng kinh sách gồm thông.

Bữa sau vua lâm triều, ba ông dắt Huyền Trang vào đền đồng lạy, ba ông tâu rằng: - Tôi vâng lệnh chọn các sãi, có một hòa thượng nầy tài đức hơn hết là Trần Huyền Trang.

Vua Thái Tôn ngẫm nghĩ hồi lâu, phán hỏi rằng:

- Phải là con quan học sĩ Trần Quang Nhụy hay không?

Huyền Trang lạy vua mà tâu rằng:

- Tôi đó.

Vua Thái Tôn khen rằng:

- Lựa thiệt chẳng lầm.

Liền phong Huyền Trang làm chức:

- Thiên hạ Đại xiển Đô tăng Cang. Nghĩa là: Thầy cả các sãi trong thiên hạ.

Huyền Trang lạy tạ Ơn.

Vua ban cho cái áo Cà sa dệt ngũ sắc và mũ tì lư. Truyền đến chùa Hóa sanh chọn ngày tốt mà giảng kinh chứng đám.

Huyền Trang lạy tạ nữa, vua cho đưa đến chùa Hóa sanh. Đếm đặng một ngàn hai trăm thầy chùa, chia ra ba nhà mà ở. Sửa sang xong xả, chọn ngày vào đám là ngày Quý Mão nhằm mồng ba tháng chín năm Kỉ Tỵ, niên hiệu Trinh Quang thứ mười ba ra hạn từ ngày vào đám đến ngày rồi là bảy cái thất, bốn mươi chín bữa, tụng kinh và thí thực cho siêu độ cô hồn.

Ngày mồng ba vua Thái Tôn và các quan tựu đến chùa Hóa sanh thắp hương lạy Phật.

Thầy Huyền Trang dắt các sãi ra lạy mừng vua. Rồi dâng văn tế cô hồn.

Vua Thái Tôn xem rõ văn tế như vầy:

Đức thánh minh mông,

Cửa thiền lặng lẽ

Sống trên đời tánh qủy hung hăng,

Thác xuống đất hồn ma quạnh quẽ

Nhớ các linh xưa

Mãng tham danh tham lợi,

Không lo lợi phước đôi đàng

Cứ xưng bá xưng vương

Bao quản mất còn hai lẽ

Thương ôi! Xông pha chiến trận

Liều thân mũi đạn đường tên,

Vùng vẫy giang hồ,

Bỏ mạng chân trời góc bể,

Nay chúa ta,

Xem thành Uổng tử,

Khá thương ma đói một đoàn,

Về cõi Dương trần,

Còn nhớ hồn oan nhiều ke?

Lập một trường Thủy Lục,

Đãi đằng chúng qủy xa gần,

Nhóm ngàn sãi trì kinh,

Siêu rỗi vong hồn già tre?

Nhờ ơn tiếp dẫn

Vãng sanh cõi Phật thảnh thơi,

Bỏ thói hành hung,

Phò hộ dân trời sức khỏe,

Có linh xin hưởng.

Vua xem qua vui lòng lắm, nói với các sãi rằng:

- Mấy thầy đừng bê trễ, xong việc rồi trẫm công đức. Không bỏ qua đâu.

Các sãi lạy tạ Ơn.

Vua quan ra về, còn mấy thầy lo cúng.

Bây giờ nhắc việc Quan Âm ở miễu Thổ Địa bấy lâu, mà tìm kẻ thỉnh kinh chưa đặng. Nay nghe vua chọn Huyền Trang làm thầy cả mà chứng đám chay, lấy làm mừng rỡ, thầy trò giả thầy chùa ghẻ lát, đem gậy, áo đi bán tại Trường An, mấy thầy chùa có tiền, thấy hai sãi đầu trần đi bộ ghẻ lát đầy mình, mà cầm quần áo Cà sa rực rỡ. Liền hỏi thăm giá mấy.

Quan Âm nói:

- Áo năm ngàn lượng còn gậy hai ngàn.

Sãi ác tăng giận mắng rằng:

- Hai sãi lát nói khùng, áo với gậy tới bảy ngàn lượng bạc! Dầu bận mà sống đòi hay là thánh Phật, cũng không tới giá nầy! Đi bán đâu thì đi bán cho rảnh.

Quan Âm không nói lại, cứ đi với Mộc Tra, hèn lâu tới cửa Đông Huê, gặp Tể Tướng Tiêu Võ chầu về, quân nạt đường inh ỏi, Quan Âm không tránh mang áo đi ngang.

Tiêu Võ thấy áo có ngời, liền sai quân hỏi giá, Quan Âm cũng nói giá đó.

Tiêu Võ hỏi:

- Có cái chi quý lắm, mà thách giá cao?

Quan Âm nói:

- Áo Cà sa nầy, có chỗ quý, có chỗ không quý, khi đòi tiền, khi chẳng đòi tiền.

Tiêu Võ hỏi sao là quý? Sao lại không quý?

Quan Âm nói:

- Mặc áo nầy chẳng đọa luân hồi, chẳng sa địa nhục, chẳng bị độc hại, chẳng bị hùm beo, ấy là quý đó; nếu kẻ phàm phu tham dâm gây họa không ăn chay lại ngạo Phật chê kinh, thì chẳng hề thấy đặng áo này, ấy là không quý.

Tiêu Võ hỏi:

- Sao có tiền? Sao lại không tiền?

Quan Âm nói:

- Không giữ phép Phật. Ở chẳng hiền lành, mà muốn mua áo và gậy thì đủ 7000 lượng bạc mới bán, ấy là có tiền. Như người đức hạnh chân tu thì tôi cho hết tích trượng Cà sa, ấy là không tiền đó.

Tiêu Võ nghe nói thông, mừng lắm, biết không phải kẻ tầm thường, liền xuống ngựa bái mà nói rằng:

- Tôi thất lễ xin thầy miễn chấp, Bệ Hạ tôi lòng lành trọng Phật đương lập đàng Thủy Lục (Thủy là nước, Lục là bộ, làm việc vớt vong trên bờ và dưới sông) nhóm hơn ngàn sãi mà thầy cả là Trần Huyền Trang, đáng mặc Cà sa nầy, và cầm tích trượng ấy, xin thầy theo tôi đến Bệ Hạ coi thể nào?

Quan Âm chịu đi, Tiêu Võ dắt vào Thiên tử tâu rành công việc tích trượng Cà sa, vua mừng lắm hỏi giá bao nhiêu, hai sãi đứng dưới thềm không lạy, trả lời rằng: "Tích trượng hai ngàn lượng, Cà sa năm ngàn lượng".

Vua hỏi:

- Cà sa có chi báu, mà giá mắc như vậy?

Quan Âm nói:

- Áo Ca sa nầy của tiên nữ dệt, lại thêu bông sen và đính những hột châu; bốn góc bốn hột châu chiếu ban đêm sáng như ban ngày, chính giữa có châu như ý, và châu ngăn gió, viền bằng vàng, nút bằng ngọc, mặc vào khỏi đọa luân hồi, lại thêm sáng láng, bụi chẳng đóng vào, của Phật chế ra, muôn đời truyền để.

Vua nghe nói mừng lắm, hỏi:

- Còn cây gậy báu thể nào?

Quan âm nói:

- Gậy này bằng cây mây của tiên, gậy dài chín lóng, Mục Liên tìm mẹ, cũng nhờ nó mà phá ngục môn, ai cầm gậy này thì đi Tây Phương được.

Vua nghe nói rồi, dở áo ra xem quả là vật báu, mới phán rằng:

- Chẳng giấu chi thầy, nay trẫm làm Thủy Lục tại chùa Hóa sanh có thầy cả giảng kinh là Trần Huyền Trang người đức hạnh lắm, nên mua hai vật này cho thầy cả, xin thầy nói thiệt giá bao nhiêu?

Hai thầy chắp tay:

- Mô Phật! Như người có đức hạnh, tôi cho không chẳng lấy tiền.

Nói rồi dời gót, vua truyền Tiêu Võ kéo lại mà phán rằng:

- Thầy nói giá bảy ngàn lượng bạc, Trẫm mua hết, thầy chẳng ăn tiền, té ra Trẫm ỷ làm vua mà đoạt của nầy sao phải. Trẫm xin trả y giá, thầy không đặng chối từ.

Hai thầy bái mà nói rằng:

- Chúng tôi có lời nguyền cho người đức hạnh, nay Bệ Hạ hiền lành nhân đức, kính Phật chuộng Tăng, chúng tôi xin dâng cho thầy cả giảng kinh, quyết không dùng tiền bạc.

Vua nghe nói hết lời như vậy, truyền dọn tiệc chay mà đãi đằng.

Quan Âm chẳng chịu dùng. Giã từ lui gót, đi về miễu Thổ Thần.

Vua Thái Tôn lâm triều, sai Ngụy Trưng mời Huyền Trang vào điện mà phán rằng: - Trẫm chẳng biết lấy gì mà tạ Ơn pháp sư, hồi sớm mai Tiêu Võ dắt hai sãi vào cúng áo Ca sa và tích trượng. Thiệt à vật báu, nên mời pháp sư đến đặng Trẫm ban cho. Huyền Trang lạy tạ Ơn, vua phán rằng:

- Pháp sư mặc áo này vào cho Trẫm nhắm thử.

Huyền Trang mặc Cà sa, cầm tích trượng oai nghi rực rỡ, châu ngọc làu làu, xem hình như Phật tử, nội trào văn võ khen vang.

Vua Thái Tôn mừng quá, truyền hai đội ngự lâm quân theo Huyền Trang, dạo chợ dường như quốc trạng khoe quan, già trẻ gái trai coi như coi hội, kẻ khen rằng:

- Như Lai giáng thế, người gọi là La Hán xuống phàm, Huyền Trang về chùa Hóa Sanh, các sãi ra rước mới ngó thấy, ngỡ là Địa Tạng đến am, Huyền Trang vào chùa, thắp hương lạy Phật, ít ngày đến đầu cái thất nữa.

Vua và Hoàng Hậu với các quan văn võ đồng tới nghe kinh , thiên hạ đồn vang đi coi như kiến cỏ.

Còn Quan Âm nói với Huệ Ngạn rằng:

- Thầy trò ta giả dạng đi coi, một là xem hội lớn thế nào, hai là coi Kim Thiền có phước mặc áo Cà sa, ba là nghe giảng kinh chi cho biết.

Ba thầy trò vào chùa xem thấy nghi tiết không nhượng cảnh Tây Phương.

Huyền Trang tụng kinh độ vong. Rồi giảng kinh an bang, rồi lại nghe giảng nhân quả, khuuên lành răn dữ.

Quan Âm bước lại vỗ bàn hỏi lớn rằng:

- Hòa Thượng nầy, biết giảng kinh thấp mà giảng nỗi kinh cao không?

Huyền Trang nghe nói mừng rỡ, bước xuống bái mà nói rằng:

- Kẻ đệ tử cam thất lễ, xin sư phụ từ bi thương, chúng tôi giảng kinh thấp mà thôi, cớ kinh cao chưa từng thấy.

Quan Âm nói:

- Mấy cuốn kinh thấp độ không đặng vong hồn, ấy là làm việc qua tang lề mà dối thế ta có ba tạng kinh cao của phật Tổ, cứu người khổ nạn, đã siêu độ vong linh, lại còn thành chánh quả.

Hai đàng đương nói chuyện, quan thắp hương thấy vậy vào tâu rằng:

- Pháp sư đương giảng kinh, bị hai thầy chùa lát ở đâu, vô kéo xuống giàn cãi lẫy. Vua dạy bắt vào, hai sãi đứng trơ trơ không bái, ngước mặt mà nói rằng:

- Bệ Hạ hỏi tôi chuyện chi đó?

Vua hỏi:

- Phải hai thầy bán áo hôm trước không?

Hai thầy nói:

- Phải.

Vua phán rằng:

- Thầy đi coi giảng kinh, thì vào mà dùng đồ lợt, sao lại cãi lẽ với Pháp sư?

Quan Âm nói:

- Pháp sư của Bệ Hạ tụng kinh thấp quá chừng, siêu độ hồn sao nỗi, tôi có ba tạng kinh cao của Phật Tổ, độ mới nỗi vong.

Vua mừng hỏi:

- Kinh cao ấy ở đâu?

Quan Âm nói:

- Ở tại chùa Lôi Âm, bên Tây Phương nước Thiên Trúc, là kinh của Phật Tổ, hay trừ tai nạn, lại độ vong hồn.

Vua nói lên giàn ngồi giảng, Quan Âm và Huệ Ngạn đồng bước lên giàn, rồi đằng vân lên nửa lừng, hiện hình Quan Âm Bồ Tát, tay cầm bình dương liễu còn Huệ Ngạn cầm gậy sắt đứng hầu, vua tôi và các sãi đều thất kinh, rùng rùng quỳ lạy đồng niệm: Nam mô Quan Thế Âm bồ tát vang trời, vua truyền thợ vẽ họa hình, họa vừa rồi Quan Âm và Mộc Tra biến mất, sa xuống một lá thiệp, trên đề chữ như vầy:

Tỏ cùng chúa Đại Đàng,

Kinh tại cảng Tây Phang

Dặm đã xa mười vạn,

Đường thêm lẻ tám ngàn

Kinh cao về nước cả,

Hồn qủy khỏi thành can

Ai có công đi thỉnh,

Ngày sau hóa Phật vàng.

Vua xem lá thiệp rồi, truyền các thầy chùa dẹp đám, đợi thỉnh cao tăng về tới, rồi sẽ làm chay.

Lại phán hỏi các sãi rằng:

- Ai chịu đi qua Tây phuơng mà thỉnh kinh cao cho trẫm?

Hỏi vừa dứt tiếng, Pháp sư quỳ tâu rằng:

- Tôi tuy dở, xin tình nguyện đi thỉnh kinh cao, đặng cầu khẩn cho giang san bền bỉ. Vua nghe mừng lắm, đỡ Huyền Trang dậy mà phán rằng:

- Pháp sư có lòng trung nghĩa, , Trẫm xin gá tiếng anh em.

Nói rồi lạy Huyền Trang bốn lạy mà kêu bằng Ngự đệ là thầy thánh.

Huyền Trang cũng lạy đáp, mà nói rằng:

- Tôi có tài đức chi, mà Bệ Hạ đãi tôi quá lẽ, tôi hết lòng hết sức, đi cho tới Tây Phương mà thỉnh, nếu thỉnh không đặng kinh, chết thì chịu chớ không hề trở lại, bằng tôi nói dối, phải đọa địa ngục chung thân.

Lại thắp hương thề trước bàn, xin Phật làm chứng, vua Thái Tôn mừng rỡ phán rằng:

- Để Trẫm về cung viết điệp (giấy) cấp cho Ngự đệ, tới nước nào trình điệp ấy, thì nước đó cũng phải cho đi, đợi chọn ngày lành, Trẫm sẽ đưa Ngự đệ.

Nói rồi từ giã về cung.

Còn Huyền Trang trở về chùa Hồng Phước, các sãi hay tin ấy can rằng:

- Thầy ôi! Nghe người đồn đường qua Tây Phương nhiều hùm beo yêu quỷ, sợ đi đặng chớ về không đặng đó thầy à.

Huyền Trang nói:

- Tôi đã thề rồi, không thỉnh kinh về, thì đọa địa ngục; đường đi tăm tăm mù mù, khong biết chừng lành dữ; cách đôi ba năm, hoặc năm bảy năm chi đó, coi chừng mấy cây tòng trước cửa núi, trở ngọn qua đông thì ta về đó, nếu không vậy thì các ngươi đừng trông đợi làm chi, các trò nên nhớ.

Bữa sau vua lâm triều, đủ mặt văn võ. Truyền viết điệp thông hành, đóng ấn xong xả. Quan Khâm thiên giám tâu rằng:

- Nay nhằm ngày nhân chuyên, xuất hành tốt lắm.

Kế quan coi cửa vào tâu rằng:

- Có Ngự đệ Pháp sư vào ra mắt.

Vua vời vào điện mà phán rằng:

- Ngự đệ Ôi. Ngày nay xuất hành tốt lắm, Trẫm cấp điệp thông hành và cho cái bình bát vàng, đem theo mà dùng, lại cấp theo hai tên tùng giả, và một con ngựa kim mà đỡ chân.

Huyền Trang lạy tạ Ơn, vua và các quan đưa tới ải, còn các sãi ở chùa Hồng Phước, đem quần áo theo đưa.

Vua Thái Tôn hỏi:

- Ngự đệ hiệu chi?

Huyền Trang tâu rằng:

- Tôi là nguời tu hành, không dám xưng hiệu.

Thái Tôn nói:

- Trẫm nghe Quan Âm nói bên Tây Phương có kinh Tam Tạng (3 tạng) đặt hiệu cho Ngự đệ là Tam Tạng đành không.

Nói rồi đưa chén rượu, Huyền Trang lạy tạ, rồi bưng chén rượu mà tâu rằng:

- Bệ Hạ cho hiệu hay lắm, còn rượu này luật chùa cấm nhặt thuở nay, tôi chẳng dám dùng.

Vua phán rằng:

- Ngày nay chẳng phải như ngày thường, vả lại là rượu nước dừa nữa. Ngự đệ uống một chén là nhậm lễ Trẫm đưa.

Nói rồi cúi xuống hốt bụi cát mà búng vô chén rượu.

Tam Tạng không hiểu ý gì cúi đầu ngẫm nghĩ.

Vua cười mà hỏi rằng:

- Ngự đệ đi chừng nào về?

Tam Tạng nói:

- Chừng lối ba năm thì tôi về tới.

Vua phán rằng:

- Lâu năm chày tháng, dặm hẳn đường xa, ngự đệ uống chén rượu nầy là:

Thà mến đất xứ mình một nắm,

Chớ tham vàng nước khác ngàn cân.

Tam Tạng nghe rồi, mới nghĩ ra sự búng cát vô rượu, uống cạn chén tức thì.

Vua Thái Tôn từ giả về cung; còn Tam Tạng lên yên giục ngựa.

Hồi 13
Nơi Hổ huyệt, Kim Tinh cứu nạn
Lưu Gia Trang, Tam Tạng tụng kinh
Nói về Tam Tạng từ ngày mười hai tháng chín, niên hiệu Trinh Quang năm thứ mười ba.

Vua Đường Thái Tôn và các quan văn võ đồng đưa thầy Tam Tạng ra khỏi ải Trường An, rồi vua quan giả từ trở về.

Còn thầy Tam Tạng lên yên thẳng tới, hai tên tùng giả đi theo; người chẳng cho nghỉ chân, ngựa không dừng vó, mặt trời chen lặn, ghé vào chùa Pháp Vân.

Năm trăm sãi trong chùa Pháp Vân đồng ra nghinh tiếp vào đãi đằng trà nước, lại mời dùng cơm chay, ăn uống xong rồi, các sãi hỏi thăm sau trước.

Tam Tạng thuật chuyện:

- Vâng lệnh Hoàng đế, qua Tây Phương mà thỉnh kinh cao.

Mấy trăm sãi đều lắc đầu, kẻ nói:

- Đường xa biển rộng khó đi, người rằng: Sợ yêu núi cọp rừng hay đón.

Tam Tạng làm thinh không nói, cứ gật đầu mà chỉ cái tim mình, các sãi lấy làm lạ mà hỏi rằng:

- Chẳng hay thầy ra dấu chi đó?

Tam Tạng nói:

- Lòng tưởng Phật thì có Phật, tánh sợ ma thì gặp ma, tôi thề tại chùa Hóa Sanh, làm sao cũng hết lòng mới đặng, quyết đến Tây Phương lạy Phật, xin đem kinh kệ về chùa, trước cầu hoàng đế vững bền, sau độ Oan hồn siêu rỗi.

Các sãi nghe nói đều khen ngợi.

Qua ngày sau cơm nước xong rồi, Tam Tạng mặc áo Cà sa mà lạy Phật, vái rằng: - Tôi là Trần Huyền Trang, đi thỉnh kinh Tây độ, bởi xác phàm mắt thịt, nên không biết Phật sống ra thể nào! Đệ tử nguyện lời này; từ rày sắp sau, thấy cốt Phật thì lạy hoài, gặp tháp chùa thì quét mãi, xin Phật từ bi hỉ xả cho tôi nạn khỏi tai qua, nhẹ gót tới Tây Phương thỉnh kinh về Đông độ.

Lạy rồi bước xuống, giã từ các sãi mà đi.

Một thầy giục ngựa thẳng xông, hai tới mau chân dong ruỗi.

Tháng chín trời thu lạnh lẻo, đi ít ngày tới xứ Cũng châu.

Quan trong thành Cũng châu, ra rước vào thiết đãi.

Sáng dậy giả từ đi nữa, đói thì ăn, khát thì uống, tối thì nghỉ, sáng thì đi, hèn lâu mới tới ải chót, gọi là Hà châu vệ.

Quan Tổng binh trấn ải ấy, cùng các sãi tiếp nghinh, rước về ngủ tại chùa Phước Nguyên.

Tam Tạng nghe gà gáy canh tư, tưởng đâu gần sáng. Có một thầy nóng việc, làm hai tớ cực thân, thầy trò kiếu các sãi ra đi, thấy trăng rạng làu làu, sương sa phay pháy. Đi chừng vài mươi dặm, đà bặt mối đường mòn, núi cao trước mặt chần vần, phải vạch cỏ lần hồi đi tới, đêm hôm tăm tối đường xá gập ghềnh, không có ai mà hỏi thăm đàng, cứ nhắm hướng Tây đi mãi.

Thầy trò đi tầm quấn, cùng nhau sụp xuống một cái hầm!

Nghe tiếng kêu lớn rằng:

- Bắt nó đem đây cho mau.

Ba thầy trò nghe qua mất vía, xảy đâu gió tới ào ào, có năm sáu chục yêu con, xách cổ thầy trò đem nạp.

Tam Tạng sợ run lên phát rét, lén xem chúa động ra thể nào, thấy một mình ma vương ngồi trên, hình thù dữ tợn, tiếng vang như sấm, mắt sáng tợ sao, cặp nanh cong vòng, hàmrăng chom chỏm, râu hai chia như chuột, tay năm vấu tợ hùm, không phải người ta rừng, ấy là ông chúa núi.

Tam Tạng thấy ối tăm mày mặt, hai người theo bủn rủn tay chân, Ma Vương truyền trói hết cả ba, rồi xúm nhau làm thịt.

Xảy thấy có Tiểu qủy vào báo với Ma Vương rằng:

- Có Hùng Sơn Quân và Đặc xử Sĩ hai ông đến viếng Đại vương.

Ma Vương gật đầu bước ra nghinh tiếp.

Tam Tạng liếc thấy người đi trước đen thui như mọi, cậu vô sau mập ú như voi.

Ma Vương rước vào ngồi,cùng nhau nói chuyện.

Hùng Sơn Quân khen rằng:

- Dần tướng quân mần ăn khá lắm.

Ma Vương hỏi rằng:

- Còn hai anh xưa rày khá không?

Hùng Sơn Quân và Đặc xư û Sĩ đồng nói rằng:

- Cũng thường, đủ đấp đổi.

Còn hai người tùng giả bị trói khóc vang.

Hùng Sơn Quân thấy hỏi rằng:

- Ba thằng nầy ở đâu mà bị bắt vậy?

Ma Vương nói:

- Chúng nó đi nạp thịt cho tôi.

Đặc Xử Sĩ cười rằng:

- Tính đãi khách không vậy?

Ma Vương nói:

- Để biểu làm thịt hết, dùng một bữa cho vui.

Hùng Sơn Quân cản rằng:

- Làm hai thằng dùng đỡ bây giờ, mộ để dành mai sáng.

Ma Vương truyền tiểu quỷ rằng:

- Đem hai thằng xấu tướng, mổ bụng lấy đồ lòng, và dâng thủ cấp tức thì với hai tay hai cẳng, còn bao nhiêu xương thịt, bây chia tam chia tứ với nhau".

Tiểu quỷ cứ y lời, tợ làm hàng một thứ.

Tam tạng thấy ăn mà ngán, như cọp ăn dê, chưa từng thấy kẻ ăn thịt người, nên Tam Tạng sợ run chết điếng.

Đến chừng rạng đông nhứt, mấy con yêu quái đi tản rồi, còn Tam Tạng nằm mê như chết giấc.

Có ông già chống gậy đi tới, đầu bạc tợ thúng hong, lấy tay phủi mấy sợi dây, dạy liền đứt hết, thổi một hơi trên mặt, Tam Tạng liền tỉnh dậy tức thì.

Chắc ông già mở trói cho mình, liền quỳ tạ Ơn cứu nạn.

Ông già nói:

- Thôi nhà ngươi chờ dậy, xem đi xét lại, coi có mất vật gì chăng?

Tam Tạng nói:

- Hai người đi theo tôi đều bị yêu ăn hết, hai gói đồ với con ngựa không biết ở đâu!. Ông già chỉ mà nói rằng:

- Một con ngựa kia kìa, hai gói đồ ở đó.

Tam Tạng thấy đồ không mất, mừng rỡ quá chừng, mới hỏi ông già rằng:

- Chẳng hay chỗ này kêu xứ chi? Ba người ấy là vật gì thành quái?

Ông già nói:

- Đây thiệt núi Song Xoa, chỗ này là hang cọp (Hổ huyệt) con yêu đen là gấu ngựa, còn quỷ mập là trâu rừng, còn Ma Vương, Dần tướng quân thiệt là Tinh cọp, mấy con quỷ nhỏ, đều là thú dữ trong rừng, người tu hành dạ thẳng lòng ngay, nên trời khiến nó không ăn thịt. Thôi đi theo ta ra đường lộ, cho khỏi chốn hang hùm.

Tam Tạng buộc hai gói lên yên dắt ngựa đi theo lập tức, một hồi tới đường lộ, Tam Tạng liền lạy tạ Ông già, vừa cúi đầu nghe trận gió thoảng qua, chờ dậy kiếm ông già đâu mất! Thấy cởi hạc bay cao vòi vọi, trên mây bỗng rớt xuống một tấm giấy, có bốn câu thơ rằng:

Ta sao Thái Bạch ở trên trời,

Thương xót người lành xuống cứu ngươi

Đường trước hỡi còn nhiều nguy hiểm,

Cũng đừng thấy khó nhọc mà lơi.

Tam Tạng xem rõ, lạy thinh không mà tạ Ơn, lúc trước ngựa cõng thầy, bây giờ thầy dắt ngựa, đi có một mình, non cao rừng rậm, trèo đèo trèo ải, vịn đá vịn cây, đi hất thơ thất nghiệp, đã lâu không thấy xóm thấy làng chi hết, trong lòng đã đói khát, lại thêm thì đường xá gập ghình.

Đương khi nghèo ngặt, chi xiết thở than, xảy gặp hai hùm cũng sẳn đói, cọp ngồi trước mặt, rắn rượt sau lưng, bên kia chó sói nhăn răng, phía nọ heo rừng hả miệng, thương hại cho thầy Tam Tạng, khác nào mắc nợ tứ giăng, không biết tránh ngõ nào, sợ quá trèo lên lưng ngựa, bởi nó đà lỡ móng, ngựa chở thầy không nỗi liền quỵ, phải bước xuống dắt đi, nó đà nằm vạ, kéo hoài không dậy, nghĩ lại mình có một người một ngựa, tư bề vật dữ rất đông, tính cònmột phép công bình, ngồi xếp bằng giữa lộ, mình đói nó cũng đói, con nào tới trước thì đặng phần, chết thành sống khó thành, danh ấy để sau còn có tiếng. Ai ngờ rắn sau lưng phóng trái, cọp trước mặt nhảy ngang, heo rừng vừa hộc vừa lăn, chó sói vừa la vừa chạy.

Xảy thấy một người vạm vỡ, tay cầm chỉa sắt, lưng dắt cung tên, ở bên kia núi đi qua, thiệt là tay cản dõng, người ấy đi cầm tới.

Tam Tạng thất kinh quỳ xuống, chắp tay mà nói rằng: '

- Xin Đại vương cứu tôi với.

Người ấy quăng cây chỉa xuống đất, đỡ Tam Tạng dậy mà nói rằng:

- Xin thầy chớ hãi kinh, tôi là người săn bắn, hiệu Trấn Sơn thái bảo, họ Lưu tên chữ Bá Khâm, quyết đi săn cọp về ăn, nay lại gặp thầy vừa tới.

Tam Tạng nói:

- Tôi vâng lệnh Đại Đường Hoàng đế, qua Tây Phương lạy Phật thỉnh kinh, đi mới tới đây, bị thú dữ phủ vây bốn phía, nhờ Thái Bảo lướt tới, nên thú dữ chạy đi, thiệt là ơn cứu tử huờn sanh không biết ngày nào đáp nghĩa.

Lưu Bá Khâm nói:

- Tôi là người săn bắn, bắt rắn về uống rượu, thường ngày săn cọp lấy da, thú dữ đã sợ tôi, thấy mặt thời chạy hết, thầy ở trong trào đi tới, tôi là người ngụ cõi ngoài, cũng là một nước với nhau, không hề chi mà sợ, xin thầy ghé lều tranh ngơi nghỉ, ngày mai tôi đưa khỏi núi nầy.

Tam Tạng mừng biết là dường nào, liền đứng dậy tạ Ơn, rồi dắt ngựa đi theo bén gót.

Đi qua vừa khỏi núi, nghe gió thổi vo vo.

Lưu Bá Khâm nói:

- Chỗ gió thổi đằng kia, chắc mèo rừng ở đó, thầy ngồi đây mà đợi, tôi bắt nó kẻo sẩy đi.

Tam Tạng nghe nói sợ run, không dám đi tới nữa.

Lưu Bá Khâm xách chỉa chạy đến như giông; cọp thấy mặt thất kinh, chạy dong đuôi một nước.

Lưu Bá Khâm hét lớn như sấm vang trời:

- Đồ chó chết nà, chạy đi đâu cho khỏi!

Vừa nói vừa rượt như gió như giông, cọp một nước ngoái lại vớ liền, Bá Khâm đưa chỉa đỡ ngang, đánh tung hoành một trận.

Tam Tạng chưa thấy điều ấy, nay xem qua xuất hạn dầm mình.

Còn Bá Khâm đánh với cọp mọt giờ, cọp chụp thì người tràng, người đâm thì cọp bắt, một hồi cọp mệt.

Bá Khâm đâm chết tức thì lông lá xồm xàm, máu me lai láng.

Lưu Bá Khâm nắm tai cọp lôi ra tới lộ, mặt không sắc mệt, mình chẳng đổ mồ hôi, nói với Tam Tạng rằng:

- May quá đổi may! Săn một con mèo rừng, đãi khách mấy ngày cũng không hết, ấy là thầy có phước đức nên có lộc ăn.

Tam Tạng khen rằng:

- Thái Bảo thiệt ông thần núi! Mạnh là cọp còn thua!

Lưu Bá Khâm nói:

- Hay ho gì mà thầy khen, tôi săn cọp như muôn bắt thỏ.

Nói rồi tay trái cầm cây chỉa, tay mặt nắn tai cọp mà lôi, Tam Tạng dắt ngựa đi theo mộ hồi lâu mới tới cửa.

Lưu Bá Khâm buông cọp xuống đó, kêu bầy trẻ mà dặn rằng:

- Chúng bây hãy lọt lấy da, còn thịt xào đem uống rượu.

Nói rồi mời Tam Tạng vào ngồi trong nhà khách, liền thưa cho mẹ hay rằng:

- Hòa Thượng nầy ở với vua, đi thỉnh kinh nơi cảnh Phật, con mới về nghỉ mát rồi mai đưa Hòa Thượng lên đường.

Bà mẹ nghe nói mừng rằng:

- Mai là ngày giáp năm của cha mầy, thỉnh Hòa Thượng tụng kinh siêu độ. Cầm thầy ở một bữa, sáng mốt sẽ đưa đi.

Lưu Bá Khâm là kẻ ngang tàng, mà có hiếu với mẹ lắm. Nghe lời mẹ nói, liền cầm thầy ở lại tụng kinh. Coi trời đã xế chiều, trẻ nhỏ lau bàn dọn tiệc, bưng mấy tộ lên hơi nghi ngút, nguyên là thịt cọp mới xào.

Lưu Bá Khâm đứng dạy mời rằng:

- Xin thầy dùng ba miếng lót lòng, đợi cơm chín sẽ ăn luôn miệng.

Tam Tạng chắp tay nói:

- Tôi giữ gìn ngũ giới không hề nói dối bao giờ, ăn chay hồ mẹ mới sanh, chẳng dám dùng đồ mặn.

Lư Bá Khâm nghe nói ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi thưa rằng:

- Tôi tự bé tới lớn, không từng việc ăn chay, nói vậy tôi mời lỡ thầy, chẳng không nên lắm! Xin nói vạt chay cho rõ, đặng tôi dọn cho thầy dùng.

Tam Tạng nói:

- Muối với cơm cũng đặng, đừng có kiếm vật chi.

Lưu Bá Khâm hỏi:

- Muối không phải đồ mặn sao thầy?

Mẹ Bá Khâm nghe hỏi, kêu con mà biểu rằng:

- Con ôi! Mẹ có sắm đồ chay, biểu vợ con ra mà nấu.

Vợ Bá Khâm bước lại, bà mẹ dặn đành rành. Liền luột rau dọn cơm, sắp dọn trên bàn tử tế. Mời thầy dùng đở dạ, Tam Tạng ngồi lại, niệm kinh cúng cơm rồi mới cầm đũa mà ăm.

Bá Khâm múc thịt hầm đem lại, kẻ ăn chay người ăn mặn; chủ dùng thịt khách dùng rau, ăn uống đàng hoàn, nước nôi xong xả.

Đêm ấy Tam Tạng nằm như chết, ngủ trừ bì tới sáng không hay.

Bữa sau dọn cơm chay kêu thầy dậy đãi đặng tử tế, rồi cầu thầy tụng kinh siêu độ cho cha mình.

Tam Tạng rửa tay rửa mặt rồi, đứng thắp hương bái Phật, nội nhà đồng quì lạy, thầy đốt sớ tụng kinh, công việc xong rồi, mặt trời chen lặn, ngủ một đêm thức dậy, vợ Bá Khâm nói với chồng rằng:

- Hồi hôm tôi thấy cha về, nói bấy lâu mắc tội, ở dưới địa ngục không đặng đầu thai, nay nhờ Hòa Thượng tụng kinh nên tiêu hết tội, vua Diêm vương cho đầu thai tử tế, làm con cháu nhà giàu, chúng bây phải tạ Ơn thầy, chẳng nên làm dối trá, tôi giựt mình thức dậy mới hay giấc chiêm bao.

Lưu Bá Khâm nói:

- Vía ta hồi khuya cũng thấy như vậy, không phải mộng mị, hãy thưa lại cho mẹ rõ mà mừng."

Bà mẹ Bá Khâm đang ngồi, thấy dâu con thuật chuyện, mẹ Bá Khâm nói rằng:

- Hồi khuya ta cũng thấy điềm ấy.

Mẹ con mừng rỡ cười vang, kêu trẻ dậy tức thì. Hối dọn cơm cho sớm, bà mẹ nói với Tam Tạng rằng:

- Bạch Hòa Thượng! Nhờ tụng kinh siêu độ, vong hồn mới đặng đầu thai, chúng tôi xin lạy tạ Ơn, không biết lấy chi đáp nghĩa.

Tam Tạng nói:

- Tôi cứ theo phép Phật, tụng kinh siêu độ mà thôi, đừng lạy tạ mà chi, linh tại chủ chứ tôi không giỏi.

Lư Bá Khâm nói:

- Ba mẹ con tôi thấy chiêm bao như một, nhờ kinh thầy nên vong đặng đầu thai. Tam Tạng nghe rõ mừng rằng:

- Ấy là phước chủ chớ tôi không có tài chi, cũng nhờ kinh Phật hiển linh, lại với lòng người thành kính.

Lưu Bá Khâm để bạc, rằng tôi công đức cho thầy. Tam Tạng từ rằng:

- Tôi là thầy sãi, không lãnh bạc làm chi, như tưởng tình đưa ít dặm đường, hơn làm lễ tạ ngàn lượng bạc.

Lưu Bá Khâm hối vợ dọn cơm nước đãi thầy, rồi sửa soạn gói cơm khô, lại dắt ngựa cho ăn cho uống, kêu ba bốn đứa đầy tớ vác mác thông cầm chỉa theo mình. Tam Tạng giã từ, lên yên giục ngựa.

Bá Khâm với gia tướng theo đưa đón trước sau, đi trọn nữa ngày, ngó thấy núi cao chớn chở.

Đi một đỗi nữa, Bá Khâm nói với Tam Tạng rằng:

- Bạch Hòa Thượng, cứ đường này đi tới, chúng tôi xin kiếu trở về.

Tam Tạng nghe nói thất kinh hồn vía, xuống ngựa năn nỉ với Bá Khâm rằng:

- Xin Thái Bảo làm ơn rán đưa tôi một đỗi nữa.

Bá Khâm nói:

- Bởi Hòa Thượng chưa rõ, tôi xin bạch lại cho rành, núi nầy cao lớn hơn ác núi, gọi là Lưỡng Giới Sơn. Nửa bên Đông nầy, về ranh đất Đại Đường, phía bên Tây thuộc về nước Đác Đác. Cọp phía bển dữ quá, nó không kể đến tôi. Phải chi dám đi ngang, tôi cũng đưa thầy ít bữa.

Tam Tạng nghe nói sửng sốt, nắm tay níu áo Bá Khâm, giọt lụy chứa chan, khó liệu bề lui tới.

Hai người đang dục dặc, xảy nghe tiếng kêu dưới chân núi vang trời:

- Cha chả là may! Thầy tôi đà đi tới.

Tam Tạng nghe tiến kêu như sấm, bắt mọc óc cùng mình.

Lưu Bá Khâm không biết ai kêu, đứng lóng tai nghe thử.

Hồi 14
Núi Lưỡng giới, thần hầu thoát nạn
Ðường Tây Phương, thầy tớ băng ngàn
Khi ấy Tam Tạng và Lưu Bá Khâm đương đứng ngẩn ngơ, lại nghe kêu nữa rằng: - Thầy ta đà tới đó.

Mấy đứa đầu tớ nói:

- Tiếng kêu lớn đó chắc là con vượn già trong hộp đá dưới chân núi.

Lưu Bá Khâm nói:

- Phải đó, phải đó.

Tam Tạng hỏi:

- Sự tích con Vượn già làm sao mà ở trong hộp đá?

Lưu Bá Khâm nói:

- Hòn núi nầy khi trước gọi là núi Ngũ Hành Sơn. Bởi vua Đường đánh Tây liêu rồi cải tên lại là núi Lưỡng giới, ông già bà cả nói lại lúc Vương Mãng soán nhà Hớn, thì hòn núi nầy ở trên trời rơi xuống đây, đè một con vượn thần dưới chân non, nằm trong hộp đá. Nghe đồn có thánh thần ở giữ, cho nó ăn sắt cục, và uống nước đồng, chịu đựng năm trăm năm, đến giờ còn sống, cho nên tiếng kêu dưới chân nó, chắc là con Vượn già. Không hệ gì đâu, thầy đi với tôi mà coi thử.

Tam Tạng nghe lời đi tới chân núi, chừng ba bốn dặm đuờng. Thấy con khỉ đột nằm trong hộp đá ló cổ ra thò tay ngoắt mà hỏi rằng:

- Sao thầy trễ bây giờ mới đến? Thầy tới đây xong lắm, xin làm phước cứu tôi ra, tôi theo thây tới tây phương thỉnh kinh về Đông Độ.

Tam Tạng ngó thấy con khỉ ấy mỏ dài mặt trơn, mắt lửa tròng vàng. Cây mọc trong tai, mốc đơm trên trán.

Ấy là:

Đầu xem hết tóc um sùm cỏ,

Mép thấy không râu xụ xộp rêu.

Lưu Bá Khâm dạn lắm, nhổ dùm cây cỏ rong rêu.

Khỉ ấy nói rằng:

- Xin chú làm ơn mời hòa thượng lại tôi nói chuyện.

Tam Tạng nghe nói, bước tới hỏi rằng :

- Ngươi kêu ta làm chi đó?

Khỉ ấy hỏi:

- Thầy phải Hòa Thượng đi thỉnh kinh chăng?

Tam Tạng nói:

- Ta vâng lệnh vua Đường, đi thỉnh kinh Tây độ, mà người hỏi làm chi?

Khỉ ấy nói rằng:

- Tôi là Tề Thiên Đại Thánh, năm trăm năm trước đánh trời, bị Như Lai đè cổ xuống đây, nghỉ tội mình cũng đáng, khi ấy Quan Âm Bồ Tát đi tìm kẻ thỉnh kinh, ngài ghé thăm tôi hồi lâu, tôi cầu khẩn ngài cứu giúp, Quan Âm dặn tôi rằng: "Đợi thầy thỉnh kinh tới cứu tôi rồi theo làm đệ tử đến Tây Phương. Tôi bấy lâu hằng trông, thầy bây giờ mới đến!

Tam Tạng nghe qua mừng lắm, nói rằng:

- Ngươi đã chịu hồi tâm, ta cũng muốn làm phước. Ngặt không riều búa, biết cứu làm sao?

Đại Thánh nói:

- Không cần rìu búa làm chi. Có sáu chữ bùa dán tại trân chóp núi, xin thầy gỡ lá bùa ấy, thì tôi chờ dậy mà thôi.

Tam Tạng day lại nói với Bá Khâm rằng:

- Vậy thời Thái Bảo đi lên chót núi với tôi.

Lưu Bá Khâm nói:

- Biết thiệt hay không mà đi cho mệt.

Đại Thánh nghe nổi nóng nói lớn rằng:

- Tôi nói thiệt tình, không phải dối trá.

Lưu Bá Khâm dắt Tam Tạng vịn đá trèo non đi một hồi lâu, mới tới trên chót núi.

Ngó thấy hào quang muôn ngọn, hơi ấm ngàn trùng, có một tấm đá vuông, trên dán bùa Lục tự, là câu: Án, ma, ni, bác, di, hồng, sáu chữ bạc bằng vàng.

Tam Tạng quỳ lạy vái rằng:

- Đệ tử là Trần Huyền Trang, vâng lệnh chúa đi cầu kinh về Đông Độ, phải phần tôi gỡ bùa Lục tự mà cứu thần hầu, thì xin cho như lời, đặng dùng người bảo hộ. Nếu nó quen thói dữ mà gạt kẻ tu hành, xin Phật Tổ hiển linh, cho gỡ lá bùa không đặng. Vái lạy rồi đưa tay nhẹ nhẹ, mà gỡ lá bùa, xảy có trận gió thơm, thổi lá bùa vàng lên mây bạc, nghe tiếng nói thinh không rằng:

- Ta là thần giữ gìn Đại Thánh, nay đà mãn hạn, ta đem bùa dâng lại Như Lai.

Tam Tạng và Lưu Bá Khâm nghe nói thất kinh liền dạy, rồi leo xuống nói, lại gần hộp đá dựa chân non.

Tam Tạng nói với Đại Thánh rằng:

- Ta gỡ lá bùa rồi, ngươi tính thế làm sao mà ra đó?

Đại Thánh mừng rỡ nói rằng:

- Xin thầy chạy cho xa, kẻo tôi dậy, đá đè mà chết.

Lưu Bá Khâm nghe nói, dắt Tam Tạng chạy dài, chừng bảy tám dặm đường mệt quá đứng dừng lại mà nghỉ.

Đại Thánh kêu lớn rằng:

- Chạy cho xa nữa.

Hai thầy trò chạy riết một hồi xảy nghe tiếng ầm ầm, dường thể đổ trời lỡ núi.

Tam Tạng đương kinh hãi thấy Đại Thánh đến trước mặt.

Quỳ lạy mà nói rằng:

- Bạch cho thầy rõ, tôi đã ra đây lạy thầy bốn lạy.

Rồi bái Bá Khâm mà nói rằng:

- Cám ơn anh đưa thầy đến đây, lại nhổ giùm rong rêu trên mặt..

Nói rồi liền mang gói, đi dắt ngựa cho thầy, chẳng ngờ con ngựa ấy thấy Đại Thánh trần truồng mặt mày dữ tợn, ngựa sợ quá chân run cầm cập, đứng chẳng vững vàng.

Nguyên là Đại Thánh khi trước làm Bật Mã Ôn, giữ ngựa rồng cho Thượng Đế. Nay ngựa phàm thấy mặt, sao cho khỏi giựt mình.

Tam Tạng thấy Đại Thánh thiệt tình, không làm kiêu cách, liền kêu mà hỏi rằng:

- Trò ôi, nói thử tên họ cho biết?

Đại Thánh nói:

- Bạch Hòa Thượng, tôi thiệt họ Tôn.

Tam Tạng nói:

- để thầy đặt tên thánh cho, mới liệu bề kêu gọi.

Đại Thánh nói:

- Tôi đã có tên thánh, gọi là Ngộ Không.

Tam Tạng mừng rằng:

- Tên ấy tốt lắm, ta thấy tướng nhà gả giống bộ thầy rùa, lấy chữ ấy làm tên ngoài, gọi là Tôn Hành Giả.

Đại Thánh nói:

- Tốt lắm, tốt lắm! Hành giả tên mới, xin cứ đó mà kêu.

Lưu Bá Khâm thấy Tôn Hành Giả mang gói muốn đi chẳng phải nói gạt.

Bá Khâm nói với Tam Tạng rằng:

- Bạch Hòa Thượng, kiếm học trò tốt lắm, tôi hết sức vui mừng, đã có người tùy tùng, tôi xin trở lại.

Tam Tạng cũng từ giã kẻ tới người lui.

Hành Giả mời Tam Tạng lên yên, mình mang gói đi theo sau ngựa; một hồi lâu qua khỏi núi Lưỡng Giới có một con cọp đói, nhảy ra há miệng đập đuôi, hà hà xốc tới. Tam Tạng nhớ lời Bá Khâm nói, ngồi trên yên ngựa mà run.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Thầy sợ nó hay sao? Ấy là nó nạp quần áo cho tôi đó.

Liền để gói đồ xuống, móc cây kim trong lỗ tai ra, cầm trong tay dồi lên lớn gần bằng miệng chén, cầm thiết bảng mà cười rằng:

- Vật báu này hơn nửa ngàn năm, chẳng hề xài đến, nay đem ra đánh thử mà kiếm áo quần.

Rồi chỉ cọp mà nói rằng:

- Tao đố mầy chạy khỏi.

Cọp thất kinh mọp xuống Hành Giả đập bể đầu.

Tam Tạng thấy thất kinh nhào xuống ngựa, cắn móng tay mà than rằng:

- Trời ơi! Hôm qua Lưu Thái Bảo hơn nửa ngày mới đánh đặng một hùm, bữa nay Tôn Hành Giả mới đập một heo mà chết tươi con cọp! Ấy là kẻ mạnh hởi còn kẻ mạnh hơn, anh hùng cũng có anh hùng nữa.

Tôn Hành Giả kéo cọp lại nói rằng:

- Xin thầy ngồi nghỉ chân đợi tôi may quần áo.

Nói rồi nhổ một cái lông, thổi mà làm phép, miệng hô: "Biến biến!" Hóa ra một con dao phay, lấy dao lột da hùm, cắt làm hai tấm, cuốn một tấm cất, rồi còn một tấm làm chăng mà bậu, bức dây cổ rùa làm sợi dây lưng.

Rồi thưa với Tam Tạng rằng:

- Thôi thầy lên ngựa mà đi, đặng kiếm xóm mượn kim may áo.

Nói rồi thâu thiết bảng, còn nhỏ tợ cây kim cút, liền để trong lỗ tay mang gói đi theo sau ngựa, Tam Tạng hỏi:

- Cây thiết bảng đánh cọp, nhà ngươi bỏ đi đâu.

Hành Giả cười rằng:

- Nguyên thầy không rõ, để tôi bạch lại cho rành: Cây thiết bảng này ở dưới Long vương gọi là Như ý kim cô bổng. Cũng nhờ có nó, nên tôi mới dám đánh trời. Nó biến hóa vô cùng. Muốn to thì nó to, muốn nhỏ thì nó nhỏ, tôi mói thâu lại mà cất trong lỗ tai, tới chừng nào có việc mới lấy ra. Dù mình muốn lớn chừng nào, thì nó lớn theo chừng nấy.

Tam Tạng nghe nói mừng thầm mà hỏi rằng:

- Hồi nãy cọp thấy nhà ngươi sao không dám cự?

Tôn Hành Giả nói:

- Tôi là đệ tử không dám dấu thầy, chẳng kì cọp sợ mà thôi, dầu rồng gặp tôi cũng không dám cục kịch, tôi có phép đánh rồng thâu cọp, lại có tài tát biển xô non, tôi biến hóa đủ điều, cộng bảy mươi hai phép, độn thổ đằng vân còn được, sá gì đánh cọp mà khen.

Tam Tạng nghe nói lòng mừng, không sợ yêu tinh bắt nữa. Liền lên yên giục ngựa, đi một hồi lâu, vừng ô lặng khuất non Đoài, bóng thỏ mọc lên hướng Chấn, thấy xa xa có vườn rậm chắc chỗ ấy có nhà người.

Tôn Hành Giả nói:

- Thầy vào đó ngủ nhờ đợi sáng sẽ đi cho thẳng buổi.

Tam Tạng nói phải, giục ngựa đi theo Tôn Hành Giả bước vào kêu chủ nhà mở cửa. Ông già nghe kêu cửa, chống gậy đi ra, mở cửa dòm thấy tướng dị kì, tợ Thiên Lôi mới xuống.

Ông già ấy tay chân bủn rủn, mặt mũi điếng xanh, miệng la bài hải rằng:

- Có quỷ tới, có quỷ tới!

TamTạng thấy vậy nói rằng:

- Xin chủ nhà đừng sợ, nó không phải yêu quỷ, ấy là học trò tôi.

Ông già ấy thấy thầy Tam Tạng mặt mày vui vẻ, lời nói hiền lành, liền hỏi rằng:

- Thầy là người nhân đức sao đem ăn cướp đến nhà tôi.

Tam Tạng nói:

- Tôi là sãi nước Đường, đi thỉnh kinh bên Tây Độ, lỡ đường trời tối, ngủ đậu nhà lành, xin ông chủ làm ơn giúp kẻ lỡ chân trái bước.

Ông chủ nhà nói:

- Thầy thiệt người nước Đường, tôi đành cho ngủ đậu. Còn bột Thần trùng đó, chắc không phải ở nước Đường.

Tôn Hành Giả hét lớn rằng:

- Thằng già này quáng nhản, nên coi chẳng thấy người, thầy ta ở nước Đường, còn ta là đệ tử, không nước phải nước đường nước mật chi hết. Ta là Tề Thiên Đại Thánh, nằm trong hộp đá bấy lâu, nhà ngươi cũng từng xem, nhìn thử phải hay không phải? Ông già ấy nhớ trực nói rằng:

- Tôi coi thì cũng giống vượn già, vì cớ nào mà ra đặng?

Tôn Hành Giả thuật chuyện lại, ông già nghe rõ, liền mời Tam Tạng vào trong, đãi trà đãi nước, rồi hỏi thăm Hành Giả rằng:

- Đại Thánh nè, ông đặng bao nhiêu tuổi?

Tôn Hành Giả hỏi lại rằng:

- Mà mày mấy tuổi đó?

Ông già nói:

- Nhờ trời nhờ phật, tôi sống đặng một trăm ba.

Tôn Hành Giả nói:

- Coi bộ mày già còm, mà tuổi không bằng thằng cháu nội ta đó! Tuổi ta sắp trước không tính làm chi, kể từ nằm trong hộp đá đến nay, năm trăm năm có lẻ.

Ông già nói:

- Tôi có nghe ông nội tôi nói lại rằng, hòn núi này trên trời rớt xuống, đè một vị thần hầu nằm cho tới đời này mới xuất thân ra đặng!

Ai nấy nghe nói đều cất tiếng cười vang, ông già ấy cũng hiền lành, hối trẻ dọn cơm chay mà đãi.

Tôn Hành Giả hỏi:

- Cháu họ chi đó vậy?

Ông già nói:

- Tôi là họ Trần.

Tam Tạng nghe nói mừng rằng:

- Nếu vậy tôi cũng đồng tông với ông đó.

Ông già nghe nói đồng tánh, lại mừng rỡ hơn xưa, Tôn Hành Giả nói:

- Lão Trần quái gì đó, xin làm ơn một phen, ta nằm vạ năm trăm năm nay, không có tắm gội gì hết, xin hâm giùm vài bồn nước, thầy trò ta tắm một hồi, đến chừng gần đi sẽ tạ Ơn luôn thể.

Ông già hối cháu hâm nước đem ra chỗ vắng, thầy trò tắm rửa xong rồi.

Tôn Hành Giả lại nói với ông già rằng:

- Thế nầy phải làm ơn luôn thể, cho mượn chỉ và kim.

Ông già lấy kim, chỉ đem ra trao cho Hành Giả.

Hành Giả ngó thấy cái áo lá của Tam Tạng mới cởi ra đó lấy mà mặc vào mình, rồi mở cái chăn da cọp ra, ngồi chồm hổm mà làm thợ khéo, may cái quần dài lắm, bận tới nách mặc vào tử tế, lại trước mặt Tam Tạng mà thưa rằng:

- Thầy nhắm tôi bữa nay với hôm qua ra thể nào?

Tam Tạng khen rằng:

- Thiệt phải người Hành Giả nên ăn mặc như vầy, thôi, cái áo lá nầy, cho nhà ngươi luôn thể.

Tôn Hành Giả mừng rằng:

- Tôi đội ơn thầy lắm.

Nói rồi cho ngựa ăn cỏ, đến khuya mới nghỉ ngơi.

Vừa rạng ngày sau, thầy trò thức dậy, ông già dọn cơm nữa, thầy trò ăn uống xong rồi, đồng tỏ việc cám ơn.

Tôn Hành Giả dắt đường đi trước, Trần Huyền Trang cởi ngựa theo sau, đi mãn thu qua đông, đà hết mưa tới nắng.

Thầy trò đương đi dựa núi, gặp sáu thằng ăn cướp đón đường thẳng vác giáo, đứa cầm gươm, kẻ cấp cung ba tên xách búa, đồng hét lớn rằng:

- Lão Hòa Thượng đi đâu? Hãy để gói đồ lại đó, và dâng con ngựa mà thế mạng hai người.

Tam Tạng nghe nói thất kinh, té nhào xuống ngựa.

Tôn Hành Giả hai tay đở dậy, mà nói với thầy rằng:

- Không hề gì đâu, chúng nó nạp áo quần cho thầy trò mình đó.

Tam Tạng hỏi:

- Nhà ngươi lãng tai sao vậy? Nó bảo mình nạp gói đồ cho nó, chớ phải nó đem quần áo cho mình đâu!

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Ấy là thầy thiệt thà, không phải tôi điếc lác, xin thầy coi đồ giữ ngựa, để tôi ra sức chống ngăn.

Nói rồi Tôn Hành Giả bước tới, xá sáu thằng ăn cướp mà hỏi rằng:

- Chẳng hay các cha cầm gươm vác giáo mà đón đường thầy sãi làm chi?

Thằng cầm gươm nói rằng:

- Ta là vua núi, thâu thuế đường rừng, nhà ngươi muốn đi qua phải nạp tiền mãi lộ. Tôn Hành Giả nói:

- Ta cũng là vua núi lâu lắm, sao không nghe tiếng các cha?

Thằng cầm gươm nói rằng:

- Nhà ngươi đầu không thấy mặt, song cũng nghe danh, đã một tụi với nhau, chẳng giấu chi tên họ. Ta hiện là Nhản Khán Hỉ còn năm người kia hiệu là Nhỉ Thính Nộ, Bỉ Xú Ái, Thiệt Thường Tư, Ý Kiến Dục, Hân Bổn Ưu.

Tôn Hành Giả nghe nói cười rằng:

- Vậy thì bây là giặc cỏ chưa đáng vua rừng, đã gặp Tôn thần còn xưng tiểu quỷ , cái tội đón đường đó, chúng bây phải tính cho xong, thôi hãy đem đồ tang vật đó đặng ta tính êm cho. Đây chia ra làm bảy phần ta dung toàn sáu mạng.

Lũ ăn cướp đồng ó lớn rằng:

- Hòa Thượng nầy vô duyên quá! Mình chưa chia của nó, nó muốn chia của mình.

Đồng hê một tiếng với nhau, áp lại chém đâm Hành Giả.

Tôn Hành Giả không thèm nói lại, đứng chống nạnh làm thinh để ăn cướp áp đập đầu, như thầy chùa gõ mỏ. S

áu thằng ấy nói rằng:

- Hòa Thượng nầy đầu nhỏ, cớ sao sọ cúng quá chừng! Gươm chém không trầy, búa bửa không bể, cây đập sang sảng, không hề hấm chút nào!

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Bây đánh đả mỏ, để ta lấy kim cho chúng bây coi thử.

Sáu thằng ăn cướp nói rằng:

- Bộ thầy chùa nầy biết lể đạn, nên mới sắm kim, chúng ta không mắc ban cua, hòa thượng đừng quen lể ốc.

Tôn Hành Giả móc trong lỗ tai lấy cây kim nhỏ, dồi lên một cái hóa ra thiết bảng tức thì, cầm giơ lên mà nói rằng:

- Chúng bây đừng chạy, để ta đánh thử một hèo.

Mấy thằng ăn cướp thất kinh, chạy quên tên quên tuổi.

Tôn Hành Giả rượt theo như ngựa, đập chết hết sáu thằng, liền lột áo quần, và lấy tiền bạc cười ha hả, trở lại thưa với thầy rằng:

- Tôi giết hết ăn cướp rồi, xin thầy lên ngựa.

Tam Tạng nói:

- Chúng nó tuy là ăn cướp, giải tới quan có giết có tha, ngươi có tài cao, đánh đuổi đi mới phải, lẽ đâu giết sáu mạng, sao gọi là Hòa Thượng?

Tôn Hành Giả nói:

- Nếu tôi không giết nó, thì nó lại giết thầy.

Tam Tạng nói:

- Ta là người tu niệm, phải giữ việc hiền lành, thà chịu chết cũng ưng, chớ không dám sát nhân hại vật.

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Tôi là đệ tử không dám giấu thầy, năm trăm năm trước, tôi xưng vua xưng chúa, giết người chẳng biết bao nhiêu, nếu nói như thầy, tôi chẳng làm không đặng Tề Thiên đại thánh.

Tam Tạng nói:

- Bởi vì ngươi không kể trời đất, nên Phật đày nằm dưới chân núi hơn mấy trăm năm; nay đã tu hành, phải cải ác tùng thiện. Nếu không chừa thói dữ, thì không đặng là Hòa Thượng, đi sao cho thấu tây phương.

Tam Tạng cằn rằng hoài, cả canh cả buổi.

Nguyên Hành Giả là cốt khỉ, tánh không chịu ai ngầy, thấy Tam Tạng nói nhỏ nói to, cà riềng cà tỏi, nín hoài không đặng, trợn con mắt giộc mà nói rằng:

- Thầy nói tôi làm không đặng Hòa Thượng, đi không tới Tây Phương, thôi thầy chẳng nói cằn rằn làm chi, để tôi trở về cho rảnh.

Tam Tạng chưa kịp nói lại, Tôn Hành Giả nói lớn rằng:

- Tôi đi đó.

Vùng nhảy lên một cái, bay thẳng về hướng Đông.

Còn Tam Tạng bơ vơ quạnh quẻ, gật đầu mà than rằng:

- Cái người làm sao, chẳng biết nghe lời dạy dổ, mình mới nói ít lời ít tiếng, nó liền đi mất dạng mất hình. Tại số mình không có học trò, mặc ý ở đi cũng phải.

Liền ngâm hai câu rằng:

Đã đành liều mạng tìm kinh Phật,

Lựa phải cầu người dẹp lũ ma.

Tam Tạng lấy gói đồ gác lên lưng ngựa, một tay thì chống gậy, một tay cầm cương ngựa dắt đi. Nghỉ vừa khóc vừa than, đi thất thơ thất nghiệp, ước chừng một lát, thấy bà già bên núi bước ra, tay cầm cái áo gấm vải của thầy chùa và một cái mão, Tam Tạng ngó thấy, dắt ngựa tránh bên đường.

Bà già ấy nói rằng:

- Phật ở tại Tây Phương, chùa Đại Lôi Âm, về nước thiên trước, đường xa mười muôn tám ngàn dặm, không phải là gần, không kẻ tùy tùng, đi một ngựa một mình sao tới.

Tam Tạng nói:

- Tôi có một người đệ tử mà tánh dữ như yêu, tôi khuyên dạy vài lời, mà nó không chịu phép, bỏ đi mất, tôi không biết tính làm sao!

Bà già nói:

- Ta có một cái áo vải gấm, và một cái mão vàng, ấy là của con ta lên chức Hòa Thượng ba ngày mà tịch, ta mới qua chùa nó mà khóc một hồi, rồi đem áo mão nầy về, để làm dấu tích, như thầy có đệ tử, ta xin cúng hết vật nầy.

Tam Tạng nói:

- Tôi cũng cám ơn bà, ngặt vì học trò tôi đã trốn rồi, nên không dám lãnh.

Bà già nói:

- Nó đi về phía nào đó?

Tam Tạng nói:

- Nghe nó hú một tiếng, rồi bay về hướng đông.

Bà già nói:

- Ta cũng ở phía đông, chắc là nó ghé nhà ta đó, ta có một ít câu thần chú, gọi là Định tâm chơn ngôn. Thầy phải học thuộc lòng đừng nói cho ai hay hết, để ta đi kêu nó, làm sao nó cũng trở về, thầy cho nó mặc áo ấy, đội mão nầy, sao cũng phải gạt cho nó đội, như nó nghe lời thì tốt, bằng cãi lời thì niệm chú định tâm, niền vàng trên mão bóp riết vô màng tang, nó sợ nhức đầu thì phải chịu phép.

Tam Tạng nghe nói liền lạy tạ Ơn.

Bà già truyền thần chú rồi liền hóa ra hào quang bay về phía mặt trời.

Tam Tạng biết là Quan Âm hiện xuống truyền thần chú, liền lạy thinh không mà tạ Ơn, rồi lấy áo mão cất vào trong gói, ngồi xếp bằng bên lộ, tập mấy câu thần chú cho nhuần.

Còn Tôn Hành Giả từ khi giận thầy, bay về Đông hải, nhảy đùng xuống biển, vào viếng Long vương.

Ngao Quảng hỏi rằng:

- Nghe Đại Thánh đã mãn hạn rồi, có khi về động Thủy Liêm mà sửa sang núi Hoa Quả?

Tôn Hành Giả nói:

- Tôi cũng có ý đó, ngặt vì làm Hòa Thượng lở rồi.

Ngao Quảng hỏi rằng:

- Vì cớ nào làm Hòa Thượng?

Tôn Hành Giả nói:

- Tôi cũng nhờ Quan Âm bồ tát, biểu theo thầy Tam Tạng thỉnh kinh, nên đã làm Hòa Thượng rồi, đặt tên là Hành Giả.

Ngao Quảng nói:

- Tôi mừng cho Đại Thánh, đã bỏ tà theo chánh, thì thành Phật về tiên, sao chẳng tới Tây Phương, lại trở về Đông hải?

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Tại thầy Tam Tạng lạ lắm, tôi giết mấy thằng ăn cướp, thẩy nhiếc tôi không biết bao nhiêu. Tánh tôi không chịu ngầy ngà, nên tính về quê cũ, tiện đường vào uống nước, và thăm viếng người xưa.

Ngao Quảng nghe nói, truyền đem trà nước đãi đằng.

Tôn Hành Giả thấy bức tượng treo phía bên kia, liền hỏi rằng:

- Bức họa đồ chi đó?

Ngao Quảng nói:

- Tích nầy Đại Thành chưa rõ, để tôi cắt nghĩa cho rành: Ông tiên nầy là Huỳnh Thạch Công. Người nhỏ nầy là Trương Lương đời Hán, Huỳnh Thạch Công đi trên cầu Hạ bị làm rớt dép, biểu Trương Lương lượm lên. Trương Lương lấy dép trao liền, Huỳnh Thạch Công đưa chân ra biểu mang luôn thể. Rồi đi vài bước, cũng làm rớt xuống cầu. Huỳnh Thạch Công biểu Trương Lương lượm nữa, làm ba lần như vậy, Trương Lương trao đủ vừa ba. Sau Huỳnh Thạch Công cho Trương Lương ba cuốn binh thơ, đến lớn làm quân sư phò vua Hán Cao Tổ gom thiên hạ về một mối, vua phong đến chức Lưu hầu Đến sau Trương Lương từ chức theo Tiên, là ông Xích Tòng Tử. Nên người vẽ tượng Tị kiều tam tấn lý. Nghĩa là: Tại sông Tị, Trương Lương dâng dép ba lần. Nếu Đại Thánh chẳng nghe lời thầy, ví như Trương Lương không chịu dâng dép, thì làm quỷ khó thành Phật thành Tiên.

Tôn Hành Giả nghe nói, ngồi ngẩm nghĩ một hồi.

Ngao Quảng thấy vậy thì nói rằng:

- Đại Thánh chớ vùng vằng, phải tính cho sấn sướt, nếu vui đâu chúc đó, thì uổng công tu.

Tôn Hành Giả nói rằng:

- Ông đừng nói nhiều lời, tôi xin kiếu đi lập tức.

Nói rồi nhảy lên mặt biển, xảy gặp Quan Âm.

Quan Âm hỏi rằng:

- Ngộ Không! Sao ngươi chẳng theo Tam Tạng, qua cảnh Phật thỉnh kinh? Hãy còn xuống biển lên mây làm công việc chi đó?

Tôn Hành Giả liền cúi lạy mà nói rằng:

- Tôi đội ơn Bồ Tát, thiệt có thầy Tam Tạng, tới gở lá bùa. Tôi ra khỏi núi rồi, cũng làm đệ tử. Tôi đánh chết sáu thằng ăn cướp, bị ngầy ngà cũng nhức xương. Nên tôi đi rảo một hồi, rồi cũng trở lại bảo hộ.

Quan Âm nói rằng:

- Ngươi hãy đi cho kiếp, kẻo thú dữ hại người.

Tôn Hành Giả từ tạ, đằng vân đi theo Tam Tạng.

Nói qua Tôn Hành Giả, về thấy thầy ngồi buồn bực, bước ra trước mặt hỏi rằng:

- Sao thầy không đi Tây Phương, ngồi làm cho đó vậy?

Tam Tạng ngó thấy liền nói rằng:

- Không biết ngươi đi đâu? Nên phải ngồi đây mà đợi.

Tôn Hành Giả nói:

- Tôi khát nước quá, nên xuống Long vương Đông hải mà xin vài chén nước trà. Tam Tạng nói:

- Mình là kẻ tu hành, chẳng nên nói dối, nãy giờ có một lát, lẽ nào qua Đông hải mà về?

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Tôi có phép đằng vân mau lắm, nhảy một cái tới mười muôn tám ngàn dặm, gọi là Cân đẩu vân. Giá biểu đông có bao xa, mà đi không tới.

Tam Tạng dỗ rằng:

- Ta mới nói đặng một chút, mà ngươi bỏ đi. Ngươi có tài kiếm đặng nước trà, ta chịu phép ngồi đây nhịn đói.

Tôn Hành Giả nói:

- Như thầy đói bụng thì ngồi đó, đợi tôi vào xóm xin cơm.

Tam Tạng nói:

- Chẳng đi xin làm chi, sẳn cơm khô trong gói, lấy cái bình bát, đi múc nước, về ăn uống đỡ lòng.

Tôn Hành Giả mở gói ra, thấy bánh in nhiều lắm. Soạn chưa tới cái bình bát, thấy áo mão để trên, xem qua lạnh lùng, coi lòa con mắt.

Tôn Hành Giả hỏi:

- Thưa thầy áo mão nào tốt dữ vậy, hay là đồ ở bên chùa?

Tam Tạng nói xuôi rằng:

- Đồ ta mặc và đội hồi mới làm thầy, đội mão nầy không học kinh cũng thuộc kinh, mặc áo nầy không biết lễ, cũng thông lễ.

Tôn Hành Giả nói:

- Đường Tây Phương xa lắm, đầu đuôi có hai thầy trò, còn để dành làm chi, xin cho bận thử.

Tam Tạng nói:

- Ngươi mặc vừa thì mặc, ta không để làm chi.

Tôn Hành Giả đội mão mặc áo vào.

Tam Tạng mừng hết sức, không ăn cơm ăn bánh, cứ ngồi miệm chú Định tâm.

Tôn Hành Giả la lớn rằng:

- Cha chả! Nhức đầu lắm, nhức đầu lắm, chắc là bể sọ đi mà thôi.

Tam Tạng thấy vậy niệm hoài.

Tôn Hành Giả nhào lăn dưới đất, cái niền vàng bóp riết, gần lủng màng tang, Tôn Hành Giả tằn mằn gở hoài không đặng.

Tam Tạng sợ gỡ hư mão, thôi niệmchú Định tâm.

Tôn Hành Giả hết nhức đầu, lấy tay rờ trên trán, cái niền vàng bằng sợi chỉ, mà bức không ra, đụng tới thì đau đứt ruột, Tôn Hành Giả hết phương phép, lấy cây kim trong lỗ tai ra, cầm mà cạy cái niền vàng, nhưng cạy hoài không đặng, Tam Tạng sợ xeo đứt, liền niệm chú Định tâm, Tôn Hành Giả liền nhức đầu, đứng khòm xuống như xe chổng gọng, đỏ tai đỏ mặt, sưng mắt sưng đầu.

Tam Tạng thấy vậy động lòng thôi niệm thần chú Tôn Hành Giả hết nhức đầu tức thì, Hành Giả nói:

- Nếu vậy thời tôi nhức đầu đây, là tại thầy rủa đó.

Tam Tạng nói:

- Ta niệm thần chú Định tâm, ai rủa xả nhà ngươi mà làm dữ.

Tôn Hành Giả nói:

- Đâu thầy niệm lại thử coi?

Tam Tạng niệm vài câu, Hành Giả nhức đầu quay quắt, liền la lớn lên rằng:

- Nhức quá chừng, nhức quá chừng, đừng niệm nữa, đừng niệm nữa!

Đó, dù vậy thầy nói không phải rủa làm sao? Hễ niệm chú thì nhức đầu, thôi niệm thì hết, tôi đã rõ biết, thầy còn giấu làm chi?

Tam Tạng hỏi rằng:

- Từ rày sắp lên, ngươi nghe lời hay không thì nói?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Tôi nghe lời không dám cãi.

Tam Tạng hỏi:

- Ngươi còn vô phép nửa thôi?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Không dám, không dám!

Tuy ngoài miệng thì nói vậy, mà trong lòng giận biết chừng nào, liền lấy thiết bảng ra muốn đập Tam Tạng.

Tam Tạng thất kinh niệm thẳng, Hành Giả nhức đầu quá té nhào, buông cây thiết bảng tức thì ôm đầu la mãi, liền nói với Tam Tạng rằng:

- Tôi đã biết rồi, xin thầy đừng niệm nữa.

Tam Tạng hỏi:

- Ai cứu nhà ngươi khỏi nạn, bây giờ lại muốn giết ta?

Tôn Hành Giả nói:

- Tôi không phải dám đánh thầy, lấy thiết bảng ra có chuyện. Tôi xin hỏi thiệt, ai truyền phép ấy cho thầy?

Tam Tạng nói:

- Bà già hồi nãy truyền phép ấy cho ta.

Tôn Hành Giả giận rằng:

- Thôi thầy đừng nói nữa làm chi, tôi biết Quan Âm giả bà già ấy. Bả giỏi bực nào đó? Để tôi lên Nam Hải mà đánh báo thù.

Tam Tạng nói:

- Ngươi là con khỉ ngày, nói nghe không lắm, ngài đã truyền thần chú, lẽ nào ngài không biết hay sao?

Nếu ngươi mang mặt tới nói, ngài niệm chú nhức đầu mà chết!

Tôn Hành Giả gật đầu nói rằng:

- Phải phải.

Liền quỳ xuống khóc mà năn nỉ rằng:

- Thầy ôi, ấy là ngài truyền thần chú, mà bó buộc tôi, đặng bảo hộ thầy, đi tới Tây Phương Phật. Thôi tôi không cố oán, còn thầy đừng niệm chú làm chi, tôi tình nguyện theo hoài không dám cãi lời dạy dỗ.

Tam Tạng nói:

- Ngươi có lòng thành như vậy, ta còn niệm chú làm chi. Thôi, sửa soạn mà đi, không nên trễ nãi.

Tôn Hành Giả nai nịt cất gánh lên vai, Tam Tạng gát yên, thầy trò chỉ dặm.


Hồi 15
Núi Xà Bàn, các thần giúp sức
Suối Ưng Sầu, con ngựa gò cương
Bây giờ nói về Tôn Hành Giả, thiệt tình phò Tam Tạng đi thỉnh kinh, đi lần lần thu mãn đông sang, lẩn bẩn qua đầu tháng chạp.

Khi trời đông ghê gớm, hơi gió bấc lạnh lùng. Phần thì lội suối trèo non, thêm nổi qua truông xuống dốc.

Tam Tạng ngồi trên lưng ngựa, nghe nước chảy ồ ồ, ngó ngoái lại hỏi Tôn Hành Giả rằng:

- Nước suối nào chảy hung vậy?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Tôi có nhớ chỗ này là hòn núi Xà Bàn. Có suối Ưng Sầu dựa núi, cho nên nước chảy ồ ồ".

Nói chưa dứt lời, ngựa đi gần tới suối.

Tam Tạng gò cương coi nước chảy, thấy giữa suối vung một cái đùng, liền nổi sóng tư bề, dường như biển cả, hiện lên một con rồng nhỏ, bộ tướng dữ dằn, chờn vờn lên bờ mà chụp Tam Tạng.

Tôn Hành Giả quăng gói xuống ẳm thầy mà chạy như giông, con rồng đắc thế rượt theo, nhắm bề không kiệp, trở lại bắt ngựa kim mà nuốt, làm luôn và lạc và yên, ăn đã no nê, mới trầm mình xuống suối.

Tôn Hành Giả chạy xa một đổi, kiếm bàn thạch cho thầy ngồi. Trở lại dắt ngựa lấy đồ, mới thấy đồ còn, ngựa mất, liền gánh đồ trở lại thưa với thầy rằng:

- Con rồng đã biến mất rồi, nó dọa ngựa mình chạy mất. Xin thầy ngồi đó đặng tôi kiếm ngựa đem về.

Nói rồi nhảy lên mây, ở nửa lừng dòm xuống, nheo con mắt giộc, coi không sót chỗ nào. Thấy những là nai gấu hùm beo, kiếm không đặng ngựa liền nhảy xuống thưa với thầy rằng:

- Thầy ôi, con ngựa của mình chắc bị rồng yêu nuốt sống, coi khắp rừng khắp núi không thấy dạng thấy hình.

Tam Tạng nói:

- Miệng con rồng bao lớn, nuốt luôn và ngựa và yên? Thế nó trốn trong kẹt đá chân non, ngươi gắng công kiếm lại.

Tôn Hành Giả nói:

- Thầy chưa rõ, để tôi thưa lại cho rành, cặp con mắt của tôi, coi xa ngàn dặm. Cánh chuồng chuồng là mỏng, tôi cũng thấy rõ ràng. Huống chi con ngựa sầm sầm, chẳng phải quáng manh mà không thấy?

Tam Tạng nghe nói than rằng:

- Nếu nó nuốt con ngựa rồi, ta đi bộ làm sao cho thấu. Tội nghiệp quá! Con ngựa công lao mà bị chết, dặm trường diệu vợi thiệt khôn đi.

Nói rồi thở vắn thở dài, khóc hoài khóc hũy.

Tôn Hành Giả thấy thầy than khóc nổi xung mà nói rằng:

- Thầy hãy nín ngồi đây, để tôi xuống kiếm rồng đòi ngựa.

Tam Tạng níu lại nói rằng:

- Trò đừng có đi, sợ nó lén bòø lên mà ăn thịt thầy nữa, nếu ngựa người đồng bộ vô bụng nó, thì làm sao mà đi đến Tây Phương.

Tôn Hành Giả nổi nóng hét lớn rằng:

- Thầy thiệt bất nhân quá! Ngựa thời cũng muốn cởi, mà không nới tôi ra, nếu vậy thì thầy trò cứ ngồi kỳ, giữ gánh đồ cho tới chết.

Hai thầy trò đương dục dặc xảy nghe tiếng nói thinh không rằng:

- Tôn Hành Giả chớ ngầy, Đường ngự đệ đừng khóc, Phật Quan Âm sai chúng tôi xuống, mà phò hộ kẻ thỉnh kinh.

Tam Tạng nghe nói lau nước mắt mà lạy khang, Tôn Hành Giả hỏi rằng:

- Các ngươi là thần gì, xưng tên cho ta rõ.

Các thần nói:

- Ta là thần Lục đinh Lục giáp, năm phương Yết Đế, bốn vị Công Tào, chúng tôi thay phiên đi theo bảo hộ.

Tôn Hành Giả nói:

- Vậy thời sáu thần Lục đinh, và Công Tào Yết Đế, ở đây bảo hộ thầy ta. Đặng Lão Tôn đi kiếm con rồng đòi con ngựa.

Các thần nói:

- Có chúng tôi bảo hộ không hề gì đâu.

Tam Tạng nghe nói hết lo, ngồi một mình trên bàn thạch.

Còn Tôn Hành Giả xách thiết bảng đi tới mé suối, mà kêu lớn rằng:

- Bớ con rồng ăn trộm, trả con ngựa cho tao.

Cứ đứng kêu hoài, vang trời vang đất.

Còn con rồng, đói bắt đặng ngựa ăn no, xuống đáy suối nằm khoanh không thèm lên nữa. Xảy nghe tiếng kêu réo, tức thời nổi sóng trèo lên hỏi rằng:

- Mầy là thằng nào đó, ở đâu dám tới đây? Không ai mắc nợ mắc nần, cứ réo hoài réo hũy?

Tôn Hành Giả ngó thấy, hét lớn rằng:

- Tao ở đâu thì tao ở, mầy tra hỏi làm chi? Phải trả ngựa cho tao.

Nói rồi đập một cây thiết bảng.

Rồng chờn vờn đỡ ra, hả miệng nhăn nanh, hai đàng đánh dựa suối hồi lâu, rồng ráng đà hết sức, tính bề không cự lại, lặn xuống suối trốn đi.

Tôn Hành Giả giận quá, chưởi mắng nát tan, rồng giả đò lãng tai không dám ló đầu lên nữa.

Tôn Hành Giả mắng mỏi miệng, về thưa lại cho thầy hay. Tam Tạng nói:

- Ngày trước ngươi đánh cọp, khoe tài bắt đặng rồng, thế con rồng nầy là chúa đoàn, nên ngươi bắt không đặng?

Tôn Hành Giả nghe thầy nói khích, nổi gan mà hét lớn rằng:

- Đừng nói nữa, đừng nói nữa, để phen nầy tôi giết nó cho thầy coi.

Nói rồi xách thiết bảng tới nơi khuất đục ngầu cả suối.

Con rồng nằm không đặng, nổi gan nhảy lên suối mà mắng rằng:

- Bộ mặt lọ nồi không biết xấu, tới đây làm khỉ với ai?

Tôn Hành Giả nói:

- Mầy trả ngựa cho tao, thì mầy mới còn sống.

Rồng nói:

- Tao ăn con ngựa mầy đà tiêu mất, làm sao mà trả bây giờ? Mầy làm sao thì làm đi, muốn nói gì thì nói thử?

Tôn Hành Giả nói:

- Tao nói cho con cá chạch biết, nếu mầy không trả ngựa, thì tao đập chết mà trừ.

Nói rồi giơ thiết bảng đánh liền, rồng cũng nổi xung chụp đại; đánh hơn một chập mới hay khỉ mạnh hơn rồng. Rồng hóa ra rắn nước, lủi vô bụi cỏ tức thì, Tôn Hành Giả vạch cỏ kiếm hoài, kiếm không đặng rắn, Tôn Hành Giả tức mình hết sức, đọc thần chú vội vàng, đòi Sơn thần, Thổ Địa, hai người tới đồng quì trước mặt.

Tôn Hành Giả nói:

- Thôi, hai ngươi cúi xuống đây, đánh năm hèo dằn mặt.

Sơn thần, Thổ Địa đồng năn nỉ rằng:

- Bấy lâu tưởng Đại Thánh còn nằm tại Ngũ Hành sơn, không dè ngài đến đây nên chẳng ra nghinh tiếp, xin ngài rộng lượng dung thứ một phen.

Tôn Hành Giả nói:

- Ngươi biết lỗi thì ta tha, cũng vị tình nhất thứ. Ngươi nói cho ta nghe thử, con rồng nào đến ở suối nầy? Nó ăn con ngựa của thầy ta, hóa rắn nước trốn chui trốn nhũi. Thổ Địa, Sơn thần đồng hỏi rằng:

- Như Đại Thánh là: Chẳng phục trời, không sợ đất, đốt không cháy, chém không trầy. Sao nay lại có thầy, xin nói ra cho rõ?

Tôn Hành Giả nói:

- Thiệt các ngươi không biết, để ta thuật lại cho mà nghe: Bởi vâng lệnh Quan Âm làm học trò Tam Tạng. Đi thỉnh kinh bên Tây độ, bị con rồng ác nghiệp ăn tươi con ngựa của thầy ta.

Sơn thần Thổ Địa nói rằng:

- Cái suối nầy, thuở nay không có yêu ở. Suối sâu và rộng, nước trong như thể mắt mèo. Ó và quạ bay qua, thấy hình dưới mặt nước. Ngỡ một bầy với nó, bay xuống suối mà chết hoài. Nên gọi rằng suối Ưng Sầu nghĩa là chim ưng (ó) thường sầu thảm. Năm trước Quan Âm bồ tát, đi tìm kẻ thỉnh kinh, có cứu một con rồng, biểu ở mà tu dưới suối, không cho làm dữ, chờ người thỉnh kinh sẽ đi theo, không dè làm nhăn mà nuốt con ngựa của Đại Thánh.

Tôn Hành Giả nói:

- Nó mới hóa ra rắn nước, trốn vô đám cỏ nầy, không biết vì cớ nào, tôi kiếm hoài chẳng thấy?

Thổ Địa nói:

- Cái suối nầy cả muôn lỗ mội, thiếu chi chỗ nó ẩn mình, thôi Đại Thánh đừng nóng giận làm chi, phải thỉnh Quan Âm bắt nó.

Tôn Hành Giả nghe nói biểu Sơn thần, Thổ Địa đi theo.

Tôn Hành Giả về thưa các việc cho thầy hay, xin thỉnh Quan Âm mới đặng.

Tam Tạng nói:

- Nếu đi thỉnh Quan Âm bên Đông hải, biết chừng nào ngươi trở về đây? Ta đợi lâu ngày, ắt là chết đói.

Nói chưa dứt tiếng, nghe thinh không có kẻ kêu rằng:

- Ta là thần Yết Đế đầu vàng nói cho Đại Thánh rõ, hãy ở giữ thầy Tam Tạng, để ta đi thỉnh Quan Âm.

Tôn Hành Giả nghe nói mừng rằng:

- Tôi cám ơn lắm.

Bây giờ nói về ông thần Yết Đế, đến núi Lạc Đà vào trong rừng Tử Trước mà ra mắt Quan Âm, rồi thuật hết công việc.

Quan Âm nghe nói, bước xuống tòa sen, đằng vân cùng Yết Đế, bay qua khỏi Nam Hải, liền tới núi Xà Bàn, thấy Hành Giả đương kêu réo con rồng, dựa bên mé suối, Quan Âm sai Yết Đế kêu Hành Giả tức thì.

Tôn Hành Giả nghe kêu tới liền nhảy lên mây mà nói lớn rằng:

- Ngài là Phật từ bi, hay cứu người tai nạn, sao còn truyền phép độc mà hại tôi là kẻ tu hành.

Quan Âm nói:

- Ngươi là con khỉ lớn mật, không biết ơn ai, ta hết lòng tìm kẻ thỉnh kinh, mà cứu ngươi khỏi nạn, chẳng biết tạ Ơn thì chớ, lại còn cả tiếng nặng lời.

Tôn Hành Giả nói:

- Bà báo hại tôi hết sức! Đã cứu tôi khỏi nạn, cũng vâng lời theo kẻ thỉnh kinh. Sao bà lại bất nhân, để cái kim cô trên mão, gạt tôi đội mão ấy, truyền niệm chú nhức đầu. Phải là bà hại sanh cầu, sao gọi là từ bi cứu khổ?

Quan Âm nghe nói cười rằng:

- Ngươi là con khỉ nghịch mạng; nói không chịu phép, dạy chẳng nghe lời. Nếu chẳng niền đầu, thì làm hung như trước, chẳng nghe lời thầy dạy biểu, nói động thì đi. Phải cho đội kim cô mới biết kiên thần chú.

Tôn Hành Giả nói:

- Bà đã niền đầu con khỉ sao không niệt cổ con rồng, nuôi nó ở suối nầy, rượt thầy tôi chạy chết, lại ăn tươi con ngựa, bà không nói động chút nào? Còn riêng dạ ghét thương, sao gọi công bình chánh trực.

Quan Âm nói:

- Con rồng ấy có tội, ta xin mới còn hồn, biểu ở đây mà chờ, sau làm ngựa cho thầy ngươi cởi. Nếu con ngựa phàm tục đi sao tới Tây Phương, làm sao mà mất lẻ công bình, mà gọi rằng thương ghét?

Tôn Hành Giả nói:

- Nó sợ tôi đà trốn mất, bây giờ biết tính làm sao?

Quan Âm bảo Yết đế rằng:

- Ngươi xuống mé suối mà kêu lớn như vầy: Bớ rồng ngọc, là thái tử thứ ba, có phật Quan Âm đòi, phải lên lập tức.

Yết Đế vâng lời, xuống kêu như vậy.

Con rồng ngọc nổi sóng, lên khỏi suối, hóa hình người, lên mây lạy Quan Âm mà bạch rằng:

- Tôi nhờ ơn thầy cứu nạn, vâng lời ở lại suối nầy, hằng ngày mắt ngó lom lom, không thấy kẻ thỉnh kinh đi đến.

Quan Âm chỉ Tôn Hành Giả mà nói rằng:

- Ấy là học trò thầy thỉnh kinh đó.

Tiểu long nói:

- Bạch Bồ Tát, người ấy dữ tợn lắm, hôm qua tôi đói quá, ăn con ngựa của y, bị đánh chưởi cả ngày, không nghe nói thỉnh kinh một tiếng.

Tôn Hành Giả trợn con mắt giộc mà nói rằng:

- Tại mầy không hỏi tên họ, tao chẳng lẻ khi không mà nói.

Tiểu long nói:

- Tao có hỏi: Mầy là thằng nào đó? Ở đâu dám tới đây? Mầy nói: Tao ở đâu thì tao ở, mầy tra hỏi làm chi, phải trả ngựa cho tao. Nói rồi liền đánh bổ, tại mầy không thèm nói, phải tại tao không hỏi hay sao?

Quan Âm nói:

- Cũng tại con khỉ già làm phách, đời nào chịu mượn tiếng ai. Ta dặn cho: Từ nầy sắp sau hãy còn người theo nữa. Nếu gặp ai hỏi tới, thì phải nói đi thỉnh kinh, hoặc khi gặp người của ta, thì khỏi mất công đánh đập.

Tôn Hành Giả dạ luôn ba bốn tiếng.

Quan Âm lấy trái châu dưới cổ Tiểu Long, rồi lấy cành dương nhúng nước cam lồ rảy trên mình nó, thổi một hơi, hét một tiếng biểu biến, liền biến ra con ngựa kim, Quan Âm dặn rằng:

- Ngươi phải hết lòng đi cho tới Tây Phương Phật thì hóa đặng mình vàng.

Ngựa ấy ngậm hàm thiết gật đầu.

Quan Âm truyền Hành Giả dắt về cho Tam Tạng.

Quan Âm giả từ về Nam Hải. Tôn Hành Giả níu áo lại mà nói rằng:

- Tôi không chịu đi đâu! Đường gay khổ quá, dắt ông thầy phàm tục đi chừng nào cho tới Tây Phương? Hết nạn nầy tới tai kia, sợ tôi không sống đặng. Thế nầy khó thành Phật, tôi không chịu đi đâu!

Quan Âm nói:

- Khi trước ngươi còn cốt thú cũng bền chí tu hành, ngày nay khỏi nạn trời, sao lại sanh biếng nhác? Việc tu hành thì chịu cực, dày công quả mới thành. Thôi để ta cho phép nhà ngươi, đến lúc nghiêng nghèo, kêu trời thì trời thương, kêu đất thì đất cứu. Thôi, ngươi day lưng lại đây, đặng ta làm phép cho.

Quan Âm rứt ra ba lá dương, để dưới ót Hành Giả hét lên một tiếng, biến ra ba sợi lông dài, gọi là lông cứu mạng.

Quan Âm dặn rằng:

- Như lúc nào khốn nạn, có lông tài không đế nổi bỏ mình.

Hành Giả nghe nhiều tiếng nói êm, liền lạy tạ Ơn Bồ Tát, Quan Âm về Nam Hải, Tôn Hành Giả dắt ngựa về thưa với thầy rằng:

- Bạch thầy, con ngựa đó.

Tam Tạng mừng rằng:

- Con ngựa bây giờ, sao phát phì dữ vậy? Kiếm đặng ở đâu đó, nói lại ta nghe?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Thầy nói chuyện chiêm bao sao vậy? Nhờ ông Yết Đế mời phật Quan Âm, bắt rồng bạch lấy châu, hóa ngựa kim thế mạng, bữa trước rượt thầy chạy chết, bây giờ làm bộ hiền lành, nếu sau sanh chứng điều chi, thầy nói cho tôi đánh nó.

Tam Tạng nghe nói, lượm đất làm hương, để trên bàn thạch, lạy về Nam Hải tạ Ơn. Tôn Hành Giả nói:

- Chư thầy giúp việc đã xong, nay ở đâu về đó.

Nói rồi mời thầy lên ngựa, cất gánh đi theo, đi tới suối Ưng Sầu vừa muốn cõng thầy mà lội.

Xảy thấy ông câu chống bè thả tới.

Tôn Hành Giả ngoắt mà nói rằng:

- Ông làm ơn một phen, đưa thầy trò tôi qua suối.

Ông câu chống bè lại, Tôn Hành Giả dắt thầy bước xuống bè, rồi quảy gánh lên vai, dắt ngựa xuống bè xong xả.

Ông câu chống bè mau tợ gió bay, lẹ như tên bắn, tức thì khỏi suối, tới mé bên Tây. Thầy trò đồng lên bờ, Tam Tạng biểu lấy tiền mà trả.

Ông câu không chịu lãnh chống bè ra giữa suối mù mù.

Tam Tạng chấp tay bái hoài, rằng nhờ ơn đưa đón.

Tôn Hành Giả nói:

- Thầy không biết nên nói ơn nghĩa, nó là thần ở suối nầy, cứ phép phải đưa qua, đâu dám thâu tiền bạc.

Tam Tạng gật đầu nói phải, liền lên ngựa thẳng xông.

Thầy trò đi hồi lâu, mặt trời chen lặn.

Tam Tạng thấy bên đường có một cái miễu lớn, liền xuống ngựa ghé vào, thấy trên cửa có treo một tấm biển ba chữa rằng: "Lý Xả từ".

Xảy thấy ông già mang chổi bồ đề ra rước, chắp tay mà nói rằng:

- Xin Hòa Thượng vào trong ngồi nghỉ.

Tam Tạng bái lạy mà hỏi rằng:

- Miễu nầy sao gọi là Lý Xả.

Ông già nói:

- Đây là nước Hấp Mật, cái đình nầy của xóm làng đứng lập, để thờ phượng Thổ thần. Chẳng hay thầy ở chùa nào? Mà đi đâu đó?.

Tam Tạng nói:

- Tôi ở Đông Độ, về nước Đại Đường, vâng lệnh vua thỉnh kinh, nay lỡ đường xin ngủ đỡ.

Ông già thấy con ngựa không yên, liền hỏi vì cớ nào vậy?

Tôn Hành Giả thuật chuyện lại, ông già ấy nói rằng:

- Xong lắm, xong lắm! Tôi có bộ yên tốt quá, xin cúng cho thầy.

Sáng ngày đem bộ yên ra đưa cho thầy Tam Tạng.

Tam Tạng mừng rỡ tỏ sự tạ Ơn.

Tôn Hành Giả đi thắng yên vừa vặn không sai một thí, Tam Tạng giả từ ra cửa, ông già lại cho thêm một cây roi ngựa bằng gân cọp làm ra.

Tam Tạng đi một hồi, ngó lại miễu đình đâu mất, nghe tiếng nói văng vẳng rằng:

- Ta là Sơn thần, Thổ Địa, vâng lệnh Quan Âm bồ tát, đem cho yên ngựa và roi, thầy rán sức mà đi, chẳng nên trễ nãi.

Tam Tạng nghe nói xuống ngựa lạy rằng:

- Tôi là mắt thịt xác phàm, xin cam thất lễ.

Tôn Hành Giả đứng coi cười ngất, Tam Tạng quở rằng:

- Nghĩa gì nhà ngươi không lạy, đứng chống nạnh mà cười?

Tôn Hành Giả nói:

- Chúng nó giấu đầu bày đuôi, đáng lẻ bắt đánh chơi vài chục, bởi vị lòng Bồ Tát, nên tha chúng nó một phen, không đánh thời thôi, tội gì mà lạy nữa?

Tam Tạng giận chờ dậy, lên ngựa mà đi, những là voi, gấu, hùm, beo, biết mặt Tề Thiên đều tránh hết.

Mùa Đông nầy đã mãn, tiết Xuân tới đà sang, cây cỏ nảy chồi xanh, núi rừng bày sắc lục, lá mai đã úa, nhành liễu vừa xanh, thầy trò đi một hồi lâu, xem thấy mặt trời chen lặn, Tam Tạng ngó quanh ngó quất, đặng kiếm xóm nghỉ ngơi, xảy thấy một tòa nhà cao lớn, liền hỏi Hành Giả rằng:

- Ngươi coi có phải là nhà giàu trước mặt đó chăng?

Tôn Hành Giả xem lại thưa rằng:

- Chắc không phải nhà ai, một là chùa chiền, hai là đình miễu; vậy thì thầy trò vào đó mà nghỉ, rồi mai sáng sẽ đi.

Tam Tạng nghe nói lòng mừng giục Long Cu riết tới.

Hiennie*
20-04-2007, 12:28 AM
Hồi 16
Chùa Quan Âm, thầy tu tham báu vật
Núi Hắc Phong, yêu quái trộm Cà sa
Nói về hai thầy trò đi đền cửa chùa, Tam Tạng liền xuống ngựa, mấy sãi bước ra chào hỏi. Tam Tạng thuật hết sự tình, các sãi mời Tam Tạng vào trong.

Hành Giả dắt ngựa theo bén gót, các sãi thấy Hành Giả hình dung kỳ dị, mới hỏi thăm Tam Tạng rằng:

- Ông tướng gì dắt ngựa đó vậy?

Tam Tạng nói rằng:

- Thầy nói nhỏ nhỏ vậy, chớ nó nóng nảy lắm, hể ai nói động tới nó thì không dung, nó là học trò tôi mà dạy biểu không đặng.

Các sãi nói:

- Học trò gì mà xấu dữ vậy?

Tam Tạng nói:

- Tuy tướng mạo xấu hung, mà tài năng giỏi lắm.

Tam Tạng bước lên chùa lớn, thấy tấm biển đề bốn chữ rằng: "Quan Âm thiền viện".

Tam Tạng mừng quá đổi mừng, bước vào chùa lạy phật Quan Âm.

Hành Giả dộng chuông, thầy chùa đánh trống, Tam Tạng quì lạy, vái phật Quan Âm, lạy cúng xong rồi thầy chùa thôi đánh trống, còn một mình Hành Giả đứng dộng chuông hoài.

Các sãi hỏi rằng:

- Thầy lạy đã rồi còn dộng chuông làm chi nữa?

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Các ông không hiểu, để tôi nói cho mà nghe. Làm Hòa Thượng một ngày thì dộng chuông một bữa.

Khi ấy các sãi nghe tiếng chuông loạn đã, không có chập có hồi, rùng rùng kéo ra mà hỏi rằng:

- Thằng điên nào phá chuông đó?

Tôn Hành Giả nhảy ra hét lớn rằng:

- Ấy là ông ngoại bây đó, dộng chuông lớn giải buồn.

Các sãi nghe nói tiếng vang như sấm nổ, mặt dữ tợ Thiên Lôi, té ngữa té nghiêng, bó càng bò niễng, miệng la bài hãi rằng:

- Xin Lôi Công dung mạng.

Tôn Hành Giả nói:

- Thiên lôi là chắt chít của ta đó, thôi, chờ dậy mà đi, không hề chi mà sợ, thiệt là ông lớn nước Đại Đường.

Các sãi thấy Tam Tạng vui vẻ mới mừng, liền đãi trà nước.

Xảy thấy hai đạo nhỏ, hầu một sãi già ra trước, các Hòa Thượng nói rằng:

- Có Tổ sư ra đó.

Tam Tạng đứng dậy bái liền, ông Sãi già cũng bái lại mà nói rằng:

- Tôi mới nghe trẻ nói rằng: "Ông lớn ở nước Đại Đường đến đây, nên phải ra nghinh tiếp, chẳng hay từ đó đến đây, ước chừng mấy dặm?"

Tam Tạng nói:

- Từ thành vua ra khỏi Trường An, cũng hơn năm ngàn dặm, qua khỏi núi Lưỡng giới nước Tây Phiên và nước Hấp Mật, phỏng sáu ngàn dặm đường.

Sãi già nói:

- Nói vậy từ đó đến cũng hơn muôn dặm, phận tôi quê lắm, ít dạo cõi đời, lục đục ở trong chùa, già đời không khỏi cửa, khác thể ếch ngồi đáy giếng thấy trời chẳng bao nhiêu.

Tam Tạng hỏi:

- Bạch thầy đặng mấy trăm năm tuổi?

Sãi già nói:

- Nhờ trời cho sống, hai trăm bảy chục tuổi rồi.

Tôn Hành Giả đứng dựa bên Tam Tạng, liền nói hỏi rằng:

- Còn nhỏ hơn sắp cháu chắt tôi đó!

Tam Tạng nháy một cái, Tôn Hành Giả làm thinh.

Một lát có đạo nhỏ bưng dĩa ngọc chén vàng, rót trà mà đãi.

Tam Tạng ngó thấy khen lắm:

- Thiệt là vật báu trong đời.

Sãi già nói:

- Xin thầy đừng khen vị tình, tôi lấy làm hổ thẹn. Thầy ở Trung Quốc chắc là nhiều vật báu hơn, có món chi cho tôi xem, lấy làm cám ơn lắm.

Tam Tạng than rằng:

- Ngặt nước tôi không vật chi báu, đem cho các sãi xem chơi.

Các sãi nghe nói tức cười.

Tôn Hành Giả hỏi rằng:

- Các ngươi cười chuyện gì vậy?

Hòa Thượng rằng:

- Ông nói áo cà sa là báu, ai nghe mà chẳng tức cười? Giá anh em tôi, cầm bỏ cũng hơn ba chục cái, chớ như của Tổ sư tôi đó, bảy tám trăm cái có dư, để tôi biểu đem ra cho mà coi, kẻo nghi là nói dối.

Hòa Thượng ấy hay diện lắm, biểu khiêng mười hai tủ áo ra. Đôi bên giăng dây, tủ áo để giữa, lấy áo cà sa vắt từ cái, chỉ cho Tam Tạng với Hành Giả coi.

Thiệt là: Rằn rực cả nhà, đỏ đen bốn phía, những là kết hàng may gấm, thêu chữ đíùnh vàng.

Tôn Hành Giả xem thấy cười rằng:

- Tốt lắm, tốt lắm, cất đi, cất đi, để lấy áo cho các ngươi coi thử.

Tam Tạng níu Hành Giả mà nói rằng:

- Trò ôi! Đừng khoe của tốt làm chi? Thầy trò mình cô thế, nếu mà hơ hỏng, e việc rủi ro. Lời xưa rằng: "Những vật quý báu trong đời, chẳng để cho nhiều người thấy là sợ tham lam, xem qua ngoài mắt, động đến trong lòng, bụng đà chi lắm thì sanh mưu kế, người ta lụy vì của, chim sẽ chết tại lòng".

Tức thì chạy vô mở gói, lấy áo đem ra, màu sáng áo cà sa, chiếu thấu hai lớp giấy, mở giấy ra thì thấy hào quang chói mắt, hơi ánh sáng nhà, thầy nào cũng thất kinh, gãi đầu le lưỡi, nhứt là Sãi già thấy áo, muốn lấy được mà thôi.

Liền khóc rồi quì xuống nói với Tam Tạng rằng:

- Tôi lấy làm vô duyên xấu phước lắm!

Tam Tạng đỡ dậy nói rằng:

- Chuyện chi xin thầy nói, làm sao lại khóc than?

Sãi già nói rằng:

- Mới dở áo báu ra, trời đà vừa tối, phần con mắt tôi làn lỉnh chẳng rõ ràng. Ấy là xấu phước vô duyên, không tủi làm sao cho đặng? Phải chi thầy rộng rãi, cho tôi mượn vào phòng coi cho sáng đêm nay, đến rạng đông sẽ trả.

Tam Tạng nghe nói thất kinh, trách Hành Giả rằng:

- Cũng tại nhà ngươi hết thảy.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Không hề chi mà sợ! Tôi cho mượn thử coi, nếu có lẽ nào, thì cứ tôi mà trách. Nói rồi lấy áo, trao cho Sãi già tức thì Sãi già mừng rằng:

- Tôi cám ơn lắm.

Nói rồi truyền các sãi dọn cơm nước đãi đằng.

Tối lại sẽ dọn liêu cho hai ông ngủ, truyền rồi vào nhà hậu tức thì.

Khi ấy Sãi già đem gói áo vào phòng, hối đệ tử thắp đèn cho kíp, ôm gói áo mà khóc, nước mắt dầm dề.

Các sãi lấy làm lạ hỏi rằng:

- Vì cớ nào ông khóc làm vậy?

Sãi già nói:

- Ta khóc vì coi không đặng cái áo cà sa.

Các sãi thưa rằng:

- Áo cà sa trong gói, sao ông không mở mà coi, để khóc lóc làm chi, mà nói rằng coi không đặng?

Sãi già nói:

- Coi một giây một lát, rồi cũng như không? Ta hai trăm bảy chục tuổi rồi, sắm cà sa hơn mấy tủ, xét lại mấy trăm áo đó, không bằng một cái nầy. Nếu mặc đặng một ngày, chết cũng đặng nhắm mắt.

Các sãi nói:

- Ông muốn mặc áo đó có khó chi đâu. Cầm họ Ở một ngày, thì ông mặc một bữa, cầm họ mười bữa, thì ông mặc mười ngày, chuyện ấy dễ như chơi, xin ông đừng khóc nữa.

Sãi già nói:

- Lẽ nào cầm cả năm, mặc cho phỉ chí? Chừng họ đi cũng theo họ mà bận hay sao? Mấy thầy trò đương nói với nhau, xây vần chưa dứt.

Có một Hòa Thượng nhỏ tên là Quảng Trí, ló cổ ra bạch rằng:

- Ông muốn bận hoài cũng không khó chi.

Sãi già nghe nói mừng rỡ hỏi rằng:

- Con tính làm sao đó?

Quảng Trí bạch rằng:

- Hai thầy trò họ, ngày đi mê mệt, tối ngủ li bì, sẽ phá cửa vào phòng cắt cổ đi cho rảnh, lại đặng gói đồ và con ngựa, áo cà sa truyền tử lưu tôn.

Sãi già nghe nói mừng lắm, lau nước mắt mà khen rằng:

- Kế ấy hay lắm, hãy đem dao búa cho mau.

Có Hòa Thượng nhỏ là Quảng Mưu, can rằng:

- Kế ấy không khéo, không khéo. Mình làm mưu hại nó, phải giữ thế mới xong, anh mặt trắng thì dễ lắm, chú mặt lông e khó chịu, mình giết mà không đặng, nó hại mình như chơi, tôi xin dâng kế nầy, đổ dầu bó củi mà thiêu. Họ tưởng là cháy chùa, mình khỏi mắc thường nhân mạng.

Sãi già khen rằng:

- Hay lắm! Hay lắm!

Truyền vác hết mấy đống củi, chất giáp vòng chùa.

Nói về thầy trò Tam Tạng, đương ngủ sau liêu, Tôn Hành Giả tuy ngủ mặc lòng, mà tai tỏ lắm, nghe tiếng kéo chà chất củi, sanh nghi ngờ dậy tức thì, sợ Ở cửa thầy giật mình ngủ không ngon giấc.

Hành Giả hóa làm con ong nhỏ, chun cửa sổ mà bay ra.

Thấy các sãi đương chất củi tưới dầu. Hành Giả nực cười rằng:

- Nghĩ thầy mình nói phải lắm, nó quyết đốt cho chết, mà lấy áo cà sa, nó ở ác như vầy, cũng nên đập một hèo cho chết, nếu mình làm bất tử, sợ thầy nói sát sanh. Thôi thôi, phải tính thế làm êm, muốn vậy thì cho vậy.

Hành Giả nhảy lên trời một cái, tới cửa Nam Thiên Môn, các ông thần giữ cửa thất kinh, đồng la lớn rằng:

- Không xong, không xong, chắc Tề Thiên làm phản nữa.

Tôn Hành Giả khoát mà nói rằng:

- Tôi không phản mà các ông hòng sợ, thiệt đi tìm Quảmg Mục thiên vương.

Nói chưa dứt lời, xảy thấy Thiên Vương bước vào bái chào Hành Giả.

Tôn Hành Giả nói:

- Bây giờ không rảnh mà chuyện vản. Thầy tôi bị sãi đốt tại chùa, gấp rút như vầy, nên tìm ông lập tức, xin cho mượn cái lồng Tịch hỏa, xong rồi đem trả tức thì. Quảng Mục thiên vương hỏi:

- Nếu thầy bị lửa thiêu, sao chẳng hóa nước ra mà cứu, mượn làm chi Tịch hỏa trạo, mất công đem xuống đem lên.

Tôn Hành Giả nói:

- Bởi ông không rõ, để tôi cắt nghĩa cho mà nghe; nó đốt chùa lấy áo của mình, mình tưới nươc như chữa nhà cho nó, nên tôi mượn cái lồng Tịch hỏa mà đậy một mình thầy, nó đà tính việc sát nhân, để cháy chùa cho bỏ ghét.

Quảng Mục thiên vương cười rằng:

- Ông giộc nầy thiệt độc quá: Miễn cho mình khỏi hại, không thương xót tới ai.

Nói rồi lầy lồng ghép tức thì, mà trao cho Hành Giả.

Tôn Hành Giả liền kiếu rồi hiện hình về chùa lấy cái lồng linh che một khoản cho thầy, và đồ với ngựa, rồi hiện vào liêu của ông sãi, ngồi giữ áo cà sa, làm phép tiên nổi gió tức thì đặng cho mau cháy.

Còn lũ thầy chùa mới chế dầu châm lửa, xảy đâu gió tới ào ào.

Xưa là một kiểng chùa, nay hóa hòn núi lửa, nó cháy lan qua nhà hậu, không còn sót một nóc chùa, các sãi thất kinh, vò đầu vang xiết.

Bây giờ thôi niệm Phật, lúc ấy cứ kêu trời, thầy cả đội bàn, thầy con mang gói, kẻ thì xúc gạo người lại dọn đồ.

Thiệt là:

Ai làm dữ nấy lo,

Ai đánh to thua lớn.

Khi ấy có con tinh ở núi Hắc Phong, ngủ mới thức dậy ngó ra song, thấy phía Bắc lửa cháy đỏ trời, con tinh ấy thất kinh nói rằng: "Cha chả! Chùa Quan Âm cháy rồi, ta mau đi chữa lửa.

Liền đằng vân bay tới, thấy sau liêu không lửa, có một người ngồi trên trính, thổi gió làm giông còn trên bàn để một gói đồ, hào quang sáng giới, mở ra xem thấy một cái áo cà sa, ấy là: Gặp của báu thì động lòng người, thì không thèm chữa lửa, gói áo cà sa lại, xách về động Hắc Phong.

Còn lửa cháy tới canh năm mới thiệt tắt ngọn, thầy con thầy cả than khóc vang tai. Tôn Hành Giả lấy lồng phép nhảy lên mây, trả rồi trở lại biến con ong chun vào cửa sổ, hiện hình người cất tiếng rằng: "Dậy bới thầy, mặt trời đã mọc".

Tam Tạng chờ dậy bận áo, mở cửa phòng bước ra, thấy một đống lửa than, chùa chiền đâu mất.

Tam Tạng thất kinh hồn vía, hỏi Hành Giả rằng:

- Đêm nay thầy ngủ ngon, không hay lửa cháy.

Tam Tạng hỏi:

- Sao cái buồng còn nguyên hiện, nói thử mà nghe.

Tôn Hành Giả nói:

- Có tôi giữ cái buồng cho thầy, nên lửa không cháy tới.

Tam Tạng nói:

- Ngươi có thần thông như vậy, sao không bảo hộ cả chùa?

Tôn Hành Giả nói:

- Để tôi thưa lại cho rành, thiệt lời thầy bàn linh lắm; nó quyết đốt thầy trò cho chết, mà lấy áo cà sa, phải tôi không hay thì thầy trò bị thiêu hết, tôi thấy nó ở ác, nên không thèm chữa lửa, lại giùm một trận giông.

Tam Tạng hỏi:

- Lửa cháy thì tưới nước, giùm giông giùm gió làm chi?

Tôn Hành Giả nói:

- Lời xưa rằng: Người chẳng dốc lòng giết cọp, cọp đâu nỡ dạ ăn ngươi, nếu né chẳng đốt chùa, thì tôi không làm gió.

Tam Tạng hỏi:

- Nếu vậy, áo cà sa đã cháy rồi sao?

Tôn Hành Giả nói:

- Không hề gì, áo cà sa có Tịch hỏa châu, để trong liêu không cháy, để tôi vô đó mà lấy, không mất đi đâu?

Tôn Hành Giả gánh đồ, còn Tam Tạng dắt ngựa, vào sau phương trượng thấy sãi già, sãi trẻ khóc than. Thấy thầy trò bước vào, các sãi thất kinh hồn vía, nói rằng: - - - Hồn oan vào đòi mạng kia kìa!

Đồng quỳ xuống lạy rằng:

- Oan có nhà oan, nợ có chủ nợ, chúng tôi không can chi hết, tại Quảng Mưu và ông tổ đốt chùa.

Tôn Hành Giả hét một tiếng rằng:

- Đồ chó chết mà! Ai là hồn ma mà nói bậy, trả áo cà sa lại kẻo mà chết cả bầy.

Có hai thầy sãi dạn lắm hỏi rằng:

- Hai ông đã bị chết thiêu, sao nay vào đòi áo cà sa, có phải hồn ma hay là còn sống?

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Trong liêu không có cháy, các ngươi ra trước mà coi.

Các sãi chạy ra xem, thiệt thấy cái buồng còn nguyên hiện, thất kinh chắc lưỡi than rằng:

- Tam Tạng là ông thần, nên đốt không chết, té ra làm hư hại chùa mình, lấy áo cà sa mà trả cho ngài kẻo tội.

Chẳng ngờ sãi già chiếm cà sa không đặng, lại thêm cháy hết chùa chiền, tức mình không biết làm sao, liều mạng đập đầu mà chết.

Các sãi khóc rằng:

- Thầy cả liều mình mà chết, kiếm không ra cái áo cà sa, chúng tôi không biết làm sao? Nhờ Thần nhân soi sét.

Tôn Hành Giả nói:

- Chắc chúng bây ăn cắp, bây giờ phải xét mới xong.

Nói rồi xét mấy rương đồ, kiếm hoài không đặng. Tam Tạng lấy làm tức tối, cứ ngầy Hành Giả luôn luôn.

Ngồi niệm chú định tâm, Tôn Hành Giả nhức đầu ngã lăn xuống đất.

Liền la lớn rằng:

- Xin thầy đừng niệm chú, tôi hết lòng kiếm áo cà sa.

Các sãi thấy vậy, đồng quỳ lạy xin giùm.

Tam Tạng vị tình thôi niệm, Tôn Hành Giả chờ dậy, rút thiết bảng ra đương lúc giận cùng, muốn đánh mấy ông Hòa Thượng.

Tam Tạng hét mà cản rằng:

- Mầy là con khỉ dữ, không sợ nhức đầu, chẳng biết lỗi mình, muốn đánh người ta nữa, hãy hỏi đi hỏi lại, coi ai thấy hay chăng?

Các sãi lạy mà khóc rằng:

- Thiệt chúng tôi không biết, tại ông già chết, bầy đặt hồi hôm. Nổi lửa đốt chùa quyết hại người mà lấy của, trong lúc lửa cháy, chúng tôi lật đật dọn đồ, không biết vì cớ nào áo cà sa mất biệt.

Tôn Hành Giả giận lắm, liền đi thẳng vào liêu cởi áo ông thầy già, kiếm cũng không có; giận đào đất ba thước, kiếm cũng không ra.

Tôn Hành Giả ngẫm nghĩ, rồi hỏi các sãi rằng:

- Gần đây có yêu quỷ hay không?

Các sãi nói:

- Phía bên Nam có núi Hắc Phong, chúa động thường chơi với thầy cả.

Tôn Hành Giả hỏi:

- Đây đến núi Hắc Phong chừng mấy dặm?

Các sãi nói:

- Chừng hai mươi dặm mà thôi.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Xin thầy đừng lo, tôi chắc con yêu nầy ăn cắp, để tôi qua bển làm sao cũng có áo cà sa.

Rồi nói với các sãi rằng:

- Các ngươi phải hầu hạ thầy ta, giữ gìn con ngựa; nếu điều chi sai chạy, thì ta đánh như vầy.

Nói rồi đưa thiết bảng đập vào vách tường, gạch nát luôn tám miếng.

Ai nấy thất kinh hồn vía, đồng quỳ lạy thưa rằng:

- Chúng tôi thiệt vâng lời, xin ông đừng ngại dạ.

Tôn Hành Giả đằng vân lên núi, mà kiếm áo cà sa.

Hồi 17
Hành Giả đánh yêu ăn trộm
Quan Âm bắt gấu thành tinh
Tôn Hành Giả nhảy lên mây, các sãi thấy thất kinh hồn vía, đồng quỳ lạy nói rằng:

- Ngài thiệt là thần nhân, biết đằng vân giá võ, không sợ lửa đốt, dám đánh yêu tinh. Tại ông già chẳng biết coi người, nên trời khiến mình làm mình chịu.

Tam Tạng nói:

- Thôi các ông chờ dậy, đừng phiền não làm chi, vái cho kiếm đặng cà sa thì xong xuôi mọi việc , sợ tìm không đặng, ắt là nó chẳng dung tình.

Các sãi nghe nói đồng niệm phật vang trời, xin thần thánh xét soi, kiếm áo cà sa cho đặng.

Nói về Tôn Hành Giả đằng vân tới núi Hắc Phong nhằm tiết tháng ba, xem núi non tốt lắm, có bài thơ cuối mùa Xuân như vầy:

Khắp nẻo nguồn khe chảy,

Đầu non hoa cỏ đơm

Chim kêu người chẳng thấy,

Bông rụng nhánh còn thơm.

Tôn Hành Giả đương xem nghe trong bụi có người nói chuyện.

Hành Giả lén xuống, dòm thấy ba con yêu ngồi dưới đất mà nói chuyện với nhau; một thằng ngồi giữa mặt đen, bên tả là đạo sĩ, bên hữu là tú tài áo trắng, ngồi nói kinh nói sách, khoe phép khoe tài.

Người mặt đen cười rằng:

- Ít bữa nữa đến ngày sinh nhật của tôi, xin hai ông ráng đến.

Tú tài áo trắng nói rằng:

- Năm nào tôi cũng tới Đại vương, có lẻ nào năm nay không đến?

Người mặt đen nói:

- Tôi xí đặng vật báu, là cái áo cà sa, tính mai làm hội Phật Y đặng ăn mừng một tiệc.

Đại sĩ nghe nói cười rằng:

- Hay lắm, hay lắm! Tôi chẳng dám quên, ngày mai dự tiệc ăn mừng, ở ít bữa cho qua đám sinh nhật.

Tôn Hành Giả nghe nói, nín không đặng, nhảy ra giá thiết bảng hét lớn rằng:

- Mầy là đồ quỷ , ăn cắp áo cà sa, đừng lo làm Phật Y, phải trả cho tao lập tức.

Nói vừa dứt tiếng, giơ thiết bảng đánh liền, thằng mặt đen nổi gió trốn đi.

Lão đạo sĩ đằng vân bay mất, đập Tú tài áo trắng chết tốt hóa ra Bạch hoa xà, Hành Giả nổi nóng xách lên bứt con rắn đứt làm hai khúc. Rồi chạy vòng theo núi, mà kiếm quỷ mặt đen, xảy thấy động yêu, đóng cửa chặt kính, biển đề "Hắc phong động" rõ ràng.

Tôn Hành Giả giá thiết bảng kêu rằng:

- Bớ thằng chó chết, trả áo cà sa cho mau.

Yêu nhỏ vào báo rằng:

- Đại vương ôi! Chắc làm hội Phật Y không đặng! Ngoài ngỏ có Thiên Lôi đầu trọc, đương đòi áo cà sa.

Hắc Phong nai nịt cầm cần thương, vòng ra cửa động.

Hành Giả thấy con tinh ấy: Đội mão đen, mặc giáp sắt, cầm cây giáo cũng đen, coi giống cục than hầm một thứ.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Bộ mầy ở lò gốm thì phải?

Hắc Phong kêu lớn hỏi rằng:

- Mầy là Hòa Thượng chùa nào, áo cà sa làm mất ở đâu, khéo đến đây đòi bậy? Tôn Hành Giả nói:

- Áo cà sa để trong phương trượng tại chùa Quan Âm, hồi hôm bị lửa cháy chùa, mầy trà trộn lén vào ăn cắp, hăm làm hội Phật Y hồi nãy, bây giờ thiệt chối hay sao? Mau mau trả lại cho tao, mới là khỏi chết.

Hắc Phong nghe nói cười hả hả mà tiếc rằng:

- Mầy là đồ khốn nạn! Hồi hôm nổi lửa đốt chùa, ngồi làm phách hóa giông, chúng lấy cà sa không thấy, mầy là thằng gì đó, tài lực đáng bao nhiêu? Dám vác gậy đến đây, mà đặt điều nhìn bậy?

Tôn Hành Giả nói:

- Mầy là thằng cháu bất hiếu, nhè ông ngoại mà quên. Ông là học trò của Đường ngự đệ tên là Hành Giả họ Tôn, nếu ta nói việc phép tài chắc nhà gả bay hồn mất vía.

Hắc Phong nói rằng:

- Đâu mầy thử nói sự tích tao nghe?

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Con hãy đứng cho vững chân mà nghe ông nói.

Liền đọc hết đầu dây mối nhợ, rồi nói rằng:

- Mầy không tin thì hỏi thử thiên hạ, coi tao có phải là Yêu thứ nhứt hay không? Hắc Phong nghe nói cười rằng:

- Quả như lời nói đó, thì mầy là Bật Mã Ôn.

Tôn Hành Giả nghe kêu Bật Mã Ôn giận lắm, huơ thiết bảng đánh liền.

Hắc Phong lấy giáo đở ngang, đánh đấu đã hơn vài mươi hiệp, từ sớm mai đến đứng bóng, chưa biết hơn thua.

Hắc Phong đở thiết bảng nói rằng:

- Tôn Hành Giả ơi! Để ta về ăn cơm đã, rồi ra đánh tới chiều.

Nói rồi chạy về nhà, đóng cửa động chặt cứng, rồi cho mời bạn hữu tới mừng hội Phật y.

Hành Giả phá cửa không được, trở về chùa một nước.

Nói qua Tôn Hành Giả về tới chùa, thưa cùng Tam Tạng tự sự trước sau, các sãi nghe nói ra mối mới mừng, rồi vội vã dọn cơm chay mà đãi.

Tôn Hành Giả ăn cơm rồi lên núi nữa, quyết vào phá cửa đặng lấy áo cà sa, đương đi nửa đàng gặp một con yêu nhỏ, cặp nách cái hộp đi giữa lộ như bay.

Tôn Hành Giả đập một hèo thịt xương tan nát, dở hộp ra coi thử, thấy lá thiệp mời, đề rằng:

" Tôi là Hùng Bi, sai kính thiệp mời Kim Trì hòa thượng trước phòng xem rõ. Cảm tình dạy dỗ, mến đứt yêu thương. Đêm hồi hôm thấy lửa cháy lan. Mà kể chắc mấy linh không nao núng. Tôi tới đó lửa tàn khói ngún, đâu thời may đặng áo cà sa. Tính mở tiệc hoa, ăn mừng vật quới. Xin ông ráng tới, mời trước ba ngày."

Hành Giả coi rồi cười ngất rằng:

- Lão già ấy chết đà đáng số, nó là một lũ yêu tinh, hèn chi sống lâu, tới hai trăm bảy mươi tuổi. Chắc là yêu tinh truyền phép địa tiên cho nó nên trường thọ như vầy, để ta biến ra hình lão ấy, vào động mới xong. Hoặc may thấy áo cà sa thì giựt chạy về khỏi mắc công đánh đập.

Nói rồi niệm thần chú liền hóa Sãi già tới động Hắc Phong, đứng ngoài kêu mở cửa. Quỷ nhỏ vào báo rằng:

- Có Hòa Thượng Kim Trì tới.

Hắc phong ngẫm nghĩ rằng:

- Mình mới sai trẻ đi mời, lẻ nào tới mau như vậy?

Có khi Tôn Hành Giả biểu thầy đi đòi áo đó chăng? Trẻ bây cất áo cà sa, đừng để đó Kim Trì ngó thấy.

Tôn Hành Giả đến trước sân, thấy đào lý tốt tươi, tre tòng mát mẻ, khác màu nhà núi, giống cảnh cung tiên. Trước cửa cái đề đôi liển rằng:

Nương dựa non xanh, không việc tục,

Thảnh thơi động tía, tợ người tiên.

Tôn Hành Giả khen rằng:

- Thằng này yêu quái mặc lòng mà tánh ưa thanh tịnh.

Bước vào trong ngó thấy, những là rừng xoi cột xẻ, xong sáng cửa cao.

Hắc Phong ra nghinh tiếp nói rằng:

- Tối hôm nay không gặp mặt, lấy làm buồn bực quá chừng, mới sai trẻ đi mời thầy, mốt qua ăn tiệc, không dè thầy đến sớm, tôi mừng rỡ vô cùng.

Tôn Hành Giả nói:

- Tôi mấy bữa rầy mắc việc, bữa nay mới qua thăm, đi nửa đường gặp trẻ trao thơ, xem mới rõ mời qua hội cả, nên tôi đến trước xin cho coi áo phật ra thể nào?

Hắc Phong mời ngồi, đãi đằng trà nước.

Xảy thấy tiểu yêu tuần núi, chạy vào báo rằng:

- Đại Vương ôi! Thằng nhỏ đi thơ, bị Hành Giả đánh chết, chắc nó giả Kim Trì hòa thượng, vào giựt áo cà sa.

Hắc Phong nghe nói nổi xung, giựt giáo đâm Tôn Hành Giả.

Tôn Hành Giả hiện hình thiệt, lấy thiết bảng đỡ liền, hai người đánh tại trước sân, đuổi ra ngoài cửa ngỏ, đành dồn tới chân núi, lần lần lên tới chân mây, đánh đà sập mặt trời, chưa biết ai thắng bại.

Hắc Phong nói:

- Họ Tôn, khoan đánh đã, bữa nay trời tối, để mai sẽ đánh cho trọn ngày.

Nói rồi nổi gió trở về đóng cửa động, không thèm đánh nữa.

Tôn Hành Giả hết phép, túng phải về chùa, thưa các việc cho thầy hay, bởi trời tối nên phải trở lại.

Tam Tạng hỏi:

- Nhà ngươi nhắm sức đánh lại nó hay không?

Tôn Hành Giả bạch rằng:

- Tôi không hơn sức nó bao nhiêu, nên chắc gấp chưa đặng!

Tam Tạng nói:

- Nếu cù cưa như vậy, chừng nào cho có áo cà sa?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Tôi kỳ nội ngày mai làm sao cũng lấy đặng.

Các sãi dọn cơm tối, ăn uống xong rồi, ai nấy đồng nghỉ ngơi, Tôn Hành Giả nằm không cục cựa, có một mình Tam Tạng, thao thức sáng đêm.

Rạng đông Hành Giả chờ dậy, kêu các sãi dặn rằng:

- Các ngươi hầu hạ thầy, bây giờ ta đi nữa.

Tam Tạng bước xuống giường lập tức, kéo áo Hành Giả lại hỏi rằng:

- Bây giờ ngươi đi đâu đó?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Tôi tưởng chuyện này, tại Quan Âm hết thảy, chùa bà tại đó, hưởng hương khói cửa người ta, để cho yêu quỷ ở gần làm điều tác tệ, nay để tôi qua Nam Hải, mà hỏi thử Phật bà, phải tính làm sao lấy áo cà sa trở lại.

Tam Tạng hỏi:

- Ngươi đi chừng nào về tới?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Mau thì về kịp bữa cơm mai, trễ thì đứng bóng, làm sao tôi cũng lấy áo đem về. Thôi thầy buông cho tôi đi.

Nói rồi biến mất.

Tôn Hành Giả đằng vân tới Nam Hải, xem qua biển rộng mênh mông, non cao chớn chở, chính giữa có mấy loài chim tốt, trăm thứ hoa tươi, nồng nực mùi hương, chói lòa màu sáng.

Tôn Hành Giả đi tới trước tòa sen cúi đầu làm lễ.

Quan Âm hỏi:

- Nhà ngươi đi chuyện chi đây?

Hành Giả nói:

- Chùa bà ở gần núi Hắc Phong, hưởng không biết bao nhiêu hương khói. Bà cho con gấu ngựa ở gần một bên chùa, ăn cắp áo cà sa, tôi đòi hoài không trả, nên tôi xin lỗi, phải mắng vốn cho bà hay.

Quan Âm nói:

- Con khỉ nầy nói trái lẽ, tinh gấu ăn trộm áo, sao ngươi lại đòi ta, cũng tại con khỉ lớn gan đem khoe vật báu, đứa tiểu nhân ngó thấy, nên sanh sự như vầy. Ngươi còn làm quỷ nổi dông đốt chùa ta cháy rụi. Tội nhà ngươi dường ấy còn lên làm quỷ với ai?

Tôn Hành Giả nghe qua biết lỗi, liền quỳ lạy mà nói rằng:

- Thiệt bà nói phải lắm, xin từ bi tha tội cho tôi. Ngặt vì con tinh không chịu trả áo, phần thầy tôi làm ngặt, cứ niệm chú định tâm, báo hại tôi nhức đầu lòi hai con mắt, xin Bồ Tát từ bi hỉ xã, làm ơn thâu áo cà sa.

Quan Âm nói:

- Thôi, ta vị mặt thầy ngươi, rán đi giùm một chuyến.

Nói rồi đằng vân xuống, đi ngang núi Hắc phong, Tôn Hành Giả thấy đạo sĩ đi dựa chân núi, tay bưng dĩa lưu ly đựng hai viên thuốc.

Tôn Hành Giả nhảy xuống lấy thiết bảng đập đầu.

Quan Âm thất kinh nói rằng:

- Con khỉ yêu nầy thiệt dữ quá, nó không ăn trộm áo, cớ gì mà giết người ta.

Tôn Hành Giả nói:

- Bà không rõ tưởng nó là hiền, thiệt một tụi với con gấu ngựa, nó đi qua ăn tiệc đám sanh nhật con gấu kia, và mừng hội Phật Y, nên bưng thuốc dâng cho con gấu.

Nói rồi kéo thầy Đạo sĩ chờ dậy, coi ra là chó sói lông xanh, rồi xem đáy dĩa lưu ly, chạm bốn chữ Lăng hư tữ chế. Nghĩa là thuốc của thầy Lăng Hư làm ra.

Tôn Hành Giả ngó thấy cười rằng:

- May lắm may lắm, tôi muốn làm một kế không biết bà có chịu cùng chăng?

Quan Âm rằng:

- Ngươi nói ta nghe thử.

Tôn Hành Giả nói:

- Cứ theo chữ ở dưới đít dĩa, thì lão nầy tên thiệt Lăng Hư. Nếu bà nghe kế tôi, thì phải hóa làm Đạo sĩ, để tôi nuốt hai viên thuốc, rồi thâu hình hóa lại một huờn. Bà bưng vào động tức thì mà gạt con gấu uống, miễn tôi vô bụng nó, nó làm sao cũng trả áo cà sa, bằng chẳng đưa ra, tôi sẽ rút gân nuốt ruột.

Quan Âm nghe nói nực cười mà gật đầu, liền hóa phép thần thông biến làm Đạo sĩ. Hình dung như tạt, cốt cách không sai.

Tôn Hành Giả cười hả hả mà hỏi rằng:

- Không biết phật yêu hay là yêu phật.

Quan Âm cười rằng:

- Yêu phật hình dung cũng vậy, dữ lành tâm địa khác nhau. Phật làm dữ cũng như yêu, yêu đi tu cũng thành phật.

Tôn Hành Giả nghe nói trí hóa mở mang, liền làm phép dùng mình, hóa làm huờn thuốc.

Quan Âm bưng dĩa thuốc đến cửa động Hắc Phong, thấy kiểng vật tốt tươi, bông hoa rực rỡ, liền khen thầm rằng:

- Con tinh ở núi nầy, coi giống người tu niệm.

Tiểu yêu ngó thấy, vào báo với Hắc Phong rằng:

- Có ông tiên Lăng Hư đi tới.

Hắc Phong ra rước vào, Quan Âm vô ngồi xuống, Hắc Phong nói:

- Tiên ông tưởng tình mà đến, tôi vinh biết dường nào!

Quan Âm nói:

- Nay đã gặp ngay sinh nhật, tôi xin dâng thuốc kim đơn.

Liền đứng dậy đưa dĩa thuốc mà chúc rằng:

- Xin uống huờn thuốc nầy sống lâu ngàn tuổi.

Hắc Phong ngậm thuốc chưa kịp nuốt, nó đả chạy tuốt khỏi họng, xuống tới bụng rồi.

Tôn Hành Giả hiện hình và đạp và tung trong bụng Hắc Phong nhào xuống đất năn nỉ xin tha.

Quan Âm hiện hình mà nói rằng:

- Ngươi trả áo cà sa, thì ta tha khỏi thác.

Hắc Phong biểu tiểu yêu đem áo ra.

Hành Giả chun lỗ mũi mà ra, giựt áo cà sa hai tay ôm chặt cứng.

Quan Âm sợ Hắc Phong làm dữ, lấy Kim cô quăng đại trên đầu.

Hắc Phong chờ dậy tức thì, lấy giáo đâm Hành Giả, Quan Âm liền niệm chú, Hắc Phong buông giáo, ôm đầu nhào xuống lăn chiên.

Quan Âm nói:

- Ngươi cũng nên bỏ thói yêu tinh mà quy theo phật.

Hắc Phong nói:

- Xin cho đầu hết nhức, thì tôi chịu quy y.

Tôn Hành Giả nói:

- Ngày giờ đâu mà nói cù cưa, để tôi đập một hèo cho rảnh.

Quan Âm cản rằng:

- Đừng có giết nó, để ta dùng chuyện nầy.

Tôn Hành Giả nói:

- Dùng làm gì thằng ăn trộm đó?

Quan Âm nói:

- Núi Lạc đà không người coi giữ, nó đáng phong chức Thủ sơn đại thần.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Thiệt bà là phật từ bi, bắt thằng bợm niền đầu chớ không giết.

Quan Âm thí phát cho Hắc Phong, biểu cầm giáo theo hầu tả hữu.

Hắc Phong từ rầy sắp tới: Một tấm lòng hung khi ấy bỏ, bao nhiêu tánh dữ thuở nầy tiêu.

Quan Âm dặn Hành Giả rằng:

- Ngươi từ rầy sắp sau đừng sanh sự nữa.

Tôn Hành Giả chỉ mặt Hắc Phong mà dặn rằng:

- Phật bà chẳng thiếu chi vật báu, coi bằng mắt chớ bắt bàng tay, nếu thói cũ không chừa, chắc bị niền một cái nữa.

Nói rồi lạy tạ Bồ tát, rồi trở về chùa.

Quan Âm dẫn Hắc Phong đi về Nam Hải.


Hồi 18
Quan Âm điện, Ðường Tăng khỏi nạn
Cao lão trang, Hành Giả bắt yêu
Bây giờ nói về Tôn Hành Giả thấy Quan Âm về rồi, Tôn Hành Giả trở lại động Hắc Phong, chất cũi tư bề đốt động, rồi mới đằng vân trở lại, thưa tự sự cho thầy hay, Tam Tạng vui mừng, day mặt phía Nam lạy nữa.

Các sãi mừng lòng niệm Phật vang trời, Tam Tạng truyền chôn cốt ông sãi già, sữa soạn chùa chiền tử tế.

Bữa sau Tam Tạng giả từ lên ngựa.

Tôn Hành Giả quảy gánh đi theo, các sãi đưa một hồi, kẻ lui người tới.

Hai thầy trò đi hơn bảy bữa, trời chiều đến một xóm kia nhà lá trùng trùng, rào trem mịt mịt.

Ăn no gà lợn về chuồng tối, say cụp già trai dạo xóm chiều.

Tôn Hành Giả khen rằng:

- Cái xóm nầy thiệt sung lắm.

Tam Tạng giục ngựa bước vào, xảy thấy một người trai, cầm dù mang gói, quần xăn tới háng, hăm hở chạy ra.

Tôn Hành Giả nắm lại hỏi rằng:

- Chú đi đâu lật đật vậy? Tôi hỏi một chuyện đã nào, chỗ nầy là xứ gì đó?

Người ấy gở tay mà cự rằng:

- Nội xóm nầy không người nào anh hỏi thăm sao? Làm thế gì mà kéo tôi lại vậy? Tôn Hành Giả cười rằng:

- Xin nói giùm một tiếng làm ơn, dầu chú có việc chi, tôi giúp cho cũng đặng.

Người ấy nhảy không khỏi, tức mình dặm cẳng mà nói rằng:

- Thời vận tôi xấu quá! Trong nhà bị lời ăn tiếng nói, ngoài đường lại thêm kẻ kéo người lôi.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Đố chú mạnh bực nào mà vùng cho khỏi.

Người ấy tức mình buông dù xuống hai tay cào Hành Giả như mèo.

Hành Giả cũng không buông, tên ấy tức mình la lớn.

Tam Tạng thấy vậy nói rằng:

- Ngộ Không! Hỏi người khác cũng đặng, phải níu kéo làm chi?

Tôn Hành Giả nói:

- Tôi hỏi quyết chú nầy, là có ý lắm!

Người ấy liệu bề chạy không khỏi, túng phải nói rằng:

- Nước nầy là nước Ô Tư, xóm nầy là xóm Cao lão. Tôi nói rồi đó xin làm phước buông ra.

Tôn Hành Giả nói:

- Bộ chú không phải đi gần, chắc là có việc ngặt; đi chuyện chi thì nói thiệt, tôi mới chịu buông ra.

Người ấy túng lắm, phải nói thiệt rằng:

- Tôi tên là Cao Tài, gia tướng Cao lão, chủ tôi có một người con gái, tuổi mới hai mươi, ba năm trước bị một con yêu a vào làm rễ, ông tôi không ưng bụng, rước thầy ếm đối cũng không linh. Con tinh ấy giận bắt con gái chủ tôi cầm tại nhà sau, không ai thấy mặt, nên chủ tôi trao bạc rước thầy chùa, thầy pháp tới hoài. Thầy chùa gỏ mỏ mà rủa yêu, thầy pháp đuổi yêu cho rầy xóm. Tôi đi đà bại cẳng, rước chẳng đặng thầy hay, chủ tôi mắng nhiếc một hồi, sai rước thầy cao tay ấn. Rủi ra đây mắc gốc, tức mình tôi mới vùng vằng. Thôi buông cho tôi đi, kẻo để mặt trời chen lặn. Tôn Hành Giả cười rằng:

- May phước chú lắm, khỏi đi xa mỏi cẳng, đừng rước chúng tốn tiền, chúng ta chẳng phải như thầy pháp giết gà, thầy chùa kiếm bạc, thiệt là: Bắt yêu như bắt cóc, đuổi quỷ tợ như đuổi ruồi. Thầy ta là Đường ngự đệ, qua Tây Phương lạy Phật thỉnh kinh, bắt quỷ cũng nhiều, đánh yêu cũng lắm.

Cao Tài nói:

- Thôi thôi! Các cha đừng gạt tôi nữa, tôi đương tức hòng chết, sai đi như chó, bị mắng quá trâu; nếu rước mấy thầy nhát gan, ắt bị một xừ điếc óc!

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Tôi không nói gạt, xin chú đừng nghi, quyết giùm cho ông chủ làm ơn, không hại chú bị rầy mà sợ.

Cao Tài cùng chẳng đã, dắt vào cửa ngỏ, biểu đứng mà chờ.

Cao Tài mới bước vào thềm, chủ nhà thấy mặt tức thì mắng lớn:

- Mầy là thằng chó chết, mang đầu về đó làm chi? Không lo đi rước thầy, chẳng chịu rời cái bếp!

Cao Tài nói:

- Xin ông đừng mắng, để tôi thưa hết rõ ràng: Tôi mới đi ra, xảy gặp hai ông Hòa Thượng, xưng là Đường ngự đệ, qua Tây Phương lạy Phật thỉnh kinh, nói có tài bắt quỷ đuổi yêu, nên tôi mới rước về cửa ngỏ.

Cao Thái Công nói:

- Hòa Thượng ở xa lắm, e nói chẳng thiệt lời, cũng dùng thử cho hết lòng.

Liền bước ra nghinh tiếp, xà mà nói rằng:

- Tôi chào hai thầy đó.

Tam Tạng đáp lễ, còn Tôn Hành Giả đứng trơ trơ.

Cao Thái Công thấy Hành Giả như Thiên lôi, mặt lông mỏ nhọn, tướng mạo dị kỳ, con mắt không từng thấy, trong bụng cũng nhơn nhơn.

Day lại mắng Cao Tài rằng:

- Mầy mới là quyết giết tao đó! Trong nhà bị một thằng rễ đầu heo tướng quỷ , ếm đối không đi, mầy lại rước thêm một ông thầy mặt quỷ mắt thau, dữ dằn quá gớm! Tôn Hành Giả nghe nói đáp rằng:

- Ông đếm cho nhiều tuổi, chớ không biết coi người. Nào, mấy thầy tốt tướng thuở nay, có khi đã đuổi quỷ trừ tà đặng? Chớ như tôi tuy xấu hình xấu dạng, mà có phép có tài, cứu con gái của ông, bắt đồ yêu trước mặt, các việc ấy tốt hay xấu, mà ông dám chê đè?

Cao Thái Công nghe nói phải làm gan, rước vào nhà khách, mời ngồi xong xả, rồi đãi nước đãi trà.

Cao lão mới hỏi thăm rằng:

- Nghe thằng nhỏ ở nhà nói: Hai thầy ở nước Đại Đường, đi qua Tây độ, biết thiệt như vậy hay nó đặt điều?

Tam Tạng nói rằng:

- Quả như vậy, tôi ở bên Đông độ, vâng lệnh vua Đại Đường, qua Tây Phương lạy Phật thỉnh kinh đặng về làm Thủy lục. Đi đến đây trời tối, vào xin ngủ đỡ một đêm". Cao Thái Công nói rằng:

- Nếu vậy thì: Hai thầy đi lở đường, nên ghé lại ngủ nhờ. Sao lại nói có tài có phép, bắt yêu bắt quỷ làm chi?

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Sẳn dịp ngủ nhờ, ở không kiếm quỷ bắt chơi, không biết nhà ông có hết thảy mấy con yêu đó?

Cao Thái Công chắt lưỡi than rằng:

- Trời đất ôi! Yêu quái ở đâu nhiều như vậy? Có một thằng rễ quỷ , mà xính vính cả nhà. Đây không phải là động yêu, có đâu mà nhiều dữ vậy.

Tôn Hành Giả hỏi rằng:

- Đâu ông nói đầu dây mối nhợ con quỷ đó cho tôi nghe thử ra thể nào?

Cao Thái Công nói rằng:

- Tôi tuổi tác chừng nầy, vô hậu không trai nối nghiệp, sanh ba đứa con gái. Con lớn gọi là Hương Lan, con giữa gọi là Ngọc Lan, con nhỏ tên là Túy Lan. Hai đứa lớn dựng vợ gã chồng, cũng người trong một xóm, chàng đâu thiếp đó, nhà cửa tư riêng. Còn con Túy Lan là tuyệt sắc và lại thông minh trí tuệ. Tốt nết lành nghề, thêu phụng vẽ rồng, khảy đàn đọc sách, tính tôi lại vô nam thì dụng nữ, rễ thảo cũng như trai, nên không định chữ vu quy mà để trông cậy mâm cơm vò nước, muốn kén đông sàn mà dưỡng lão, để nhờ khi nghẹn nước đắng cơm. Cách ba năm nay: Có người họ Trư ở núi Phước lăng tới xin làm rễ, coi cũng phải người quân tử, đáng bực anh hào, nên tôi mới gả con, dụng bê bắt rể. Khi mới, ở ăn phải cách, đi đứng nên người, đến sau khác mặt khác mày, dị hình dị tướng". Tôn Hành Giả hỏi rằng: "Hình tướng nó ra thể nào?

Cao Thái Công nói:

- Ban đầu nó mập và đen, sau lại mỏ dài tai lớn. Sau ót mọc lông gáy, trước mặt giống con heo, mà bao tử lớn lung, ăn uống nhiều lắm. Nói cho phải, nó dùng những đồ chay đồ lợt, phải như ăn thịt cá, thì tôi hết cửa hết nhà.

Tam Tạng nói:

- Con rễ mạnh thì ăn nhiều, ông phàn nàn sao phải.

Cao Thái Công nói:

- Việc ăn uống là tiểu sự, tôi có phiền ở đâu? Ngặt bây giờ nó giá võ đằng vân, cát bay đá chạy. Báo hại nội nhà tôi và lối xóm, ai nấy cũng thất kinh, nó lại bắt con gái tôi bỏ trong nhà sau, khóa cửa buồng lại, nửa năm nay không thấy mày thấy mặt, chẳng biết mất biết còn. Mới rõ là yêu tinh, liền rước thầy phù thủy, ngặt thầy nào nó cũng không sợ, ếm đối gì nó cũng tới hoài.

Hành Giả nói:

- Có khó gì ở đâu, ông đừng lo mà mệt. Đêm nay tôi bắt nó, và đuổi ra cho khỏi nhà ông.

Cao Thái Công nói:

- Cái đó mới là hại tôi đó! Có thầy đây thì thầy đuổi, thầy đi nó lại trở về. Làm cho gây oán gây thù, nó phá hết nhà hết cửa, như may mà bắt đặng, phải tính cho xong, ấy là trừ phép căng, mới khỏi điều hậu hoạn.

Tôn Hành Giả nói:

- Như vậy cũng được, có khó chi đâu, nội trong đêm nay, đà biết giỏi dở.

Cao Thái Công nghe nói mừng rỡ, tức thì hối dọn cơm chay, ăn uống xong rồi gần canh một.

Tôn Hành Giả biểu rằng:

- Ông mời ít người tuổi tác, ngồi nói chuyện với thầy tôi, đặng tôi làm thế thần bắt cho được nó. Một là bắt cho các người coi thử, hai là làm cho ông đặng bình yên. Cao Thái Công nghe lời, làm y như vậy.

Còn Tôn Hành Giả cầm thiết bảng, bảo Thái Công dắt tới nhà sau, thấy cửa đóng cứng khư.

Tôn Hành Giả liền bẻ khóa, ngó thấy trong buồng tối om, không có thắp đèn.

Tôn Hành Giả bảo rằng:

- Ông kêu con ông đi ra cho rảnh.

Cao Thái Công kêu một tiếng.

Nghe nói hơi yếu đuối như vầy:

- Cha ôi! Con ở trong nầy.

Tôn Hành Giả nheo con mắt mà xem, ngó thấy nàng ấy: Vóc liễu gầy mòn, tóc tai dã dượi, đi bộ tướng ngã xiêu ngã tó, ra níu cha khóc vắn khóc dài.

Tôn Hành Giả nói:

- Nín cho tôi hỏi nào, vậy chớ con yêu đi đâu vắng?

Túy Lan thưa rằng:

- Nó đi theo gió theo mây, không biết đâu mà nói. Bởi nó biết cha tôi muốn bắt, khuya mới về, gần sáng thời đi.

Tôn Hành Giả bảo rằng:

- Thôi hai cha con ra ngoài nói chuyện, để cho tôi hờm nó trong nầy.

Cao Thái Công nghe nói vui mừng, dắt con ra nhà trước.

Còn Tôn Hành Giả làm phép biến ra nàng Túy Lan, rồi đóng cửa phòng ngồi trên giường mà đợi.

Giây lâu nghe gió thổi ù ù ở xa ùng tới, xảy thấy yêu tính hiện xuống, mình người, mà đầu heo, tai lớn mỏ dài, mặt đen lông vắn.

Tôn Hành Giả xem thấy cười thầm nằm xuống giả đau, rên hoài rên hũy.

Con yêu ấy xốc vào ôm đại kề miệng muốn hun.

Tôn Hành Giả nắm mỏ bạt tai, xô nhào đầu xuống đất.

Con yêu ấy lồm cồm chờ dậy, vịn giường mà hỏi rằng:

- Bữa nay mình làm gì lạ vậy? Thế giận tôi về trễ hay sao?

Tôn Hành Giả nói:

- Ai hờn giận giống gì, đều bữa nay trong dạ chẳng vui, mình hãy cổi áo ra mà ngủ. Con yêu ấy không hiểu cớ gì, cũng nghe lời cổi áo tức thì.

Tôn Hành Giả lên ngồi trên thùng, giả đò đi tiểu.

Con yêu ấy thấy vậy lên giường nằm ngửa một mình.

Tôn Hành Giả ngồi thở ra mà than rằng:

- Mình thiệt là may phước lắm!

Con yêu ấy hỏi rằng:

- Mình giận tôi chuyện gì, mà nói tôi là may phước? Từ khi tôi tới làm rễ cố công, tuy ba miếng cơm rau, chớ cũng nhiều công mệt mỏi. Lớp lập vườn, lớp làm ruộng, sanh lợi biết bao nhiêu? Bây giờ lúa đựng mấy bồ, trái cây đủ thứ, cơm nàng ăn áo nàng mặc cũng là công khó của tôi, như vậy còn chưa bằng lòng, không biết làm sao nữa mới vừa ý! Chuyện gì mà than thở? Nói tôi may phước làm sao?

Tôn Hành Giả nói:

- Tôi không phải nói như vậy đâu, xin đừng nghi dạ. Bởi vì nay cha mẹ muốn phá cửa phá nhà, mắng nhỏ, mắng to, liệng gạch liệng ngói, và mắng nhiềc tôi rằng: "Có một thằng chồng không nên thân, tuồng mặt như heo, không biết lễ nghĩa. Đồ không căn cước, chẳng có họ tên, lại làm yêu làm tinh, phá làng phá xóm. Thiên hạ chê cười xấu hổ. Họ lại nói rằng: Con gái như tiên mà kén nhằm thằng rễ quỷ. Bởi tôi bị lời ăn tiếng nói, đà tím ruột bầm gan, mình đi khỏi không nghe, mới thiệt là may phước". Con yêu ấy nói rằng:

- Ta cũng xấu trai một chút, nhờ được trường thọ hơn người. Muốn lịch sự lại khó gì, mình cũng nhớ hình ta như trước! Hồi ban đầu ta tới nôi, cha mẹ cũng đành, làm con rễ đã ba năm, bây giờ lại nói nầy nói nọ, xin nàng nghĩ thử, coi lỗi tại ai? Còn nói ta không căn cước làm sao? Ta là người ở núi Phước lăng, tại động Vân san ta lấy hình thù làm họ, nên xưng họ Trư tên là Cang Liệp. Nếu cha mẹ nàng có hỏi nữa, cứ trả lời như vậy thì xong.

Tôn Hành Giả nói rằng:

- Nói cho mà hay: Cha mẹ rước Pháp sư tới bắt mình đó.

Con yêu ấy cười rằng:

- Mặc ý rước mấy chục Pháp sư thì rước, không ai sợ lệnh gì đâu. Ta có phép thiên cang biến hóa ba mươi sáu cách, lại có đinh ba vật báu, là cây cào cỏ chín răng. Bừa cả trăm mẫu mộng còn đặng thay, huống chi đập mấy chục lão thầy mà không chết, dầu cha thiệt có lòng cầu khẩn, mà thỉnh đặng Đảng Ma tổ sư, ngài là người quen biết với ta lẽ làm điều thiệt hại.

Tôn Hành Giả nói rằng:

- Nghe nói rước ông họ Tôn, là ông Tề Thiên đại thánh, năm trăm năm trước làm loạn cung trời. Tôi nghe đã rõ ràng, nói cho mình hay trước.

Con yêu ấy nghe nói, hoảng hồn hoảng vía, nhăn mặt nhăm mày, le lưỡi mà than rằng:

- Nếu vậy thời hết kể vợ chồng, thôi mình ở tôi đi về động.

Tôn Hành Giả hỏi:

- Chuyện gì mà gấp dữ vậy?

Con yêu nói:

- Mình không biết, chớ con khỉ đột đó là Bật Mã Ôn. Đời xưa nó dám phá trời, mấy ông thần chạy mặt, nếu đánh không lại nó, thì mình phải hư danh.

Nói rồi giựt áo bận vào, mở cửa đâm đầu chạy dại.

Tôn Hành Giả rượt theo kéo áo, hiện hình mà hét rằng:

- Thằng yêu nầy chạy đi đâu? Coi thử ai đây cho biết.

Con yêu ngó ngoái lại, thấy hình như khỉ đột, thất kinh xé áo chạy vuột ra mình trần trụi trụi.

Tôn Hành Giả rượt theo mà bắt.

Con yêu hóa lửa, bay về núi Phước Lăng.

Tôn Hành Giả đằng vân theo riết, và kêu lớn rằng:

- Đố mầy chạy đâu cho khỏi tao. Mầy lên trời, thì tao theo thấu cung Đẩu ngưu, mầy xuống đất tao rượt tới thành Uổng Tử.

Ấy là:

Quen biết dối, không quen biết thiệt,

Nợ duyên chơi, chẳng nợ duyên đời.


Hồi 19
Vân San động, Ngộ Không thâu Bát Giới
Phù đồ sơn, Tam Tạng gặp Thiền sư
Con yêu hóa lửa hồng bay trước.

Đại Thánh nương mây bạc theo sau.

Đến hòn núi cao yêu quái biến hình vào động, lấy cào sắt chín răng cự.

Hành Giả hét lớn hỏi rằng:

- Ngươi có tài chi đó, ở đâu mà biết tên ta? Hãy cứ thiệt khai ngay, thì ta dung toàn mạng.

Con yêu ấy nói:

- Ngươi muốn biết tài nghề và căn cước của ta, thì lóng tai mà nghe cho rõ. Nghe ta nói:

Tánh ta hay làm biếng. Ham chơi chẳng học hành

Gặp tiên trao chánh đạo, Truyền phép dạy đơn kinh

Chức Ngân Hà Nguơn soái, Phong Tổng đốc thủy binh

Nhóm bàn đạo nườm nượp, Uống ngự tửu huỳnh huỳnh

Đi lạc vào cung nguyệt, Sanh ẹo chọc nàng Quỳnh

Ngọc Hoàng giận bắt tội, đày ra khỏi Thiên đình

Đầu thai không nhằm nẻo, Lợn rừng có chữa sinh

Lấy theo hình làm họ, Trư cang Liệp thị danh.

Hành Giả nghe nói đáp rằng:

- Nói vậy ngươi là Thiên Bồng nguyên soái, thuộc về Hạ giới thủy thần. Nên biết hiệu Lão Tôn cũng phải.

Con quái ấy xì một tiếng rồi nói rằng:

- Ngươi là Bật Mã Ôn, năm trước nghịch thiên, báo ta chịu khổ; ngày nay ỷ thế, còn tới làm ngang. Ta đập một đinh ba cho đáng kiếp.

Nói rồi đập liền Hành Giả đưa thiết bảng ra đở, hai người đánh trong núi ban đêm.

Từ canh hai cho đến mặt trời mọc, con quái ấy đánh không lại Ngộ Không, liền hóa gió bay về động.

Hành Giả cũng hóa gió bay nhanh như chớp.

Tới cửa động thấy ngoài cửa có một tấm bia, trên bia đề ba chữ rằng: "Vân San động".

Hành Giả không biết làm sao mà vào đặng , sợ thầy trông phải trở về.

Khi ấy Cao Lão đang ngồi với Tam Tạng, trông Ngộ Không về nói lẽ nào , kế Hành Giả về thuật các chuyện, rồi nói với Cao Lão rằng:

- Người ấy chẳng phải là yêu, ấy là Thiên Bồng nguyên soái mắc đọa. Rủi đầu thai nhằm heo rừng nái nên diện mạo xấu xa. Y có nói với tôi rằng: "Tuy ăn cơm uống nước của ông, chớ làm ruộng lập vườn đủ rồi. Giúp việc nhà thì có, chẳng hề làm hại con ông. Đặng chàng rễ như vậy là có phước, ông còn xua đuổi làm chi?

Cao Lão nói:

- Tuy chẳng hại con tôi mặc lòng mà tiếng tăm không tốt. Họ cứ nói ông Cao Lão có rễ yêu quái, lẽ nào tôi chịu nổi hay sao?

Tam Tạng nói:

- Ngộ Không, ngươi đã đánh với nó, rán mà dứt việc cho rồi, có lẽ nào nửa chừng mà thôi sao đặng?

Hành Giả nói:

- Phải phải, để tôi đi bắt nó, đem về cho các ông coi.

Nói rồi biền mất.

Bây giờ Hành Giả nhảy đến trước cửa động đập phá cửa tan hoang và mắng rằng: - Đồ chúng khiêng, loài ăn cám, mau ra mà đánh với Lão Tôn.

Con quái ấy đương ngáy pho pho, nghe phá cửa giật mình thức dậy, lại thấy nói khích, giận vác cào cỏ ra cửa động mắng rằng:

- Bật Mã Ôn ta không can phạm chi mi, sao mi dám phá cửa ta? Cứ trông luật mà nói ngay, phá cửa người ta là tội chết.

Hành Giả cười rằng:

- Thằng điên kia, ta phá cửa mi, còn có chỗ cãi lẽ. Chớ ngươi bắt con gái người ta làm vợ, không tiền chao heo khoán, chẳng trầu héo rượu tàn. Có phạm luật hay không chi nói?

Con quái ấy đáp rằng:

- Hơi nào mà nói chuyện vả, coi cái đinh ba của lão Trư.

Hành Giả nói:

- Cái đồ ấy dễ mà cuốc đất cào cỏ cho Cao Lão, có hay chi đó mà khóc!

Con quái ấy nói:

- Mi coi lầm, mi tưởng vật này là của trần tục sao?

Hãy nghe ta nói:

Cái nầy Thái Thượng chế rèn ra,

Chơm chởm chín răng sáng tợ ngà

Gom nhóm âm dương nằm ở giữa

Rở rang nhựt nguyệt rạng ngoài da

Dưng cho Thượng Đế làm đồ báu,

Lịnh phủ Thiên Bồng nầy với ta

Xuống biển đánh rồng, rồng tróc vảy,

Lên non giết cọp, cọp trầy da

Dầu ai xương thịt đồng hay sắt,

Đụng tới cây nầy cũng bể ba.

Hành Giả nói:

- Thằng khùng múa mỏ. Để Lão Tôn đưa đầu cho mi đánh, coi có bể tư bể tám hay chăng?

Nói rồi liền nhóng cổ. Con quái ấy thấy tốt thế, chuyển thần lực đập đầu, cái đinh ba đổ lửa, mà chẳng trầy da!

Con quái ấy kinh hãi, tay chân bủn rủn liền chắc lưỡi than rằng:

- Thiệt con khỉ cứng đầu cứng cổ, ta nhớ lúc loạn thiên cung hồi trước ngươi ở Thủy Liêm động biệt tích đã bấy lâu, sao nay lại tới đây làm dữ? Hay là ông gia ta rước đến đây chăng?

Hành Giả nói:

- Ông gia mi biết đâu mà rước, bởi ta cải tà quy chánh, theo Đường Tăng đi tây phương thỉnh kinh, ghé ngủ nhờ nhà Cao Lão, ông ấy cầu khẩn lắm, nên ta bắt đồ ăn cám mà cứu con gái người.

Con quái ấy nghe nói liền quăng cào cỏ, bái mà thưa rằng:

- Chẳng hay thầy thỉnh kinh ở đâu, xin đem tôi đến đó.

Hành Giả nói:

- Đem mi đến đó làm chi?

Con quái ấy nói:

- Quan Âm độ tôi tu niệm, biểu theo thầy qua cảnh Phật mà thỉnh kinh, tôi đợi bấy lâu không nghe tin tức, nay nghe anh nói mới rõ.

Hành Giả nói:

- Mi đừng có nói xảo, tưởng ta dễ gạt hay sao? Nếu quả thiệt thì thề đi, ta mới tin. Con quái ấy quỳ xuống, lạy thinh không niệm Phật mà thề rằng:

- Nếu tôi chẳng thiệt tình theo kẻ thỉnh kinh, thì trời sẽ giết chết!

Hành Giả thấy vậy mới tin, biểu chất chà nổi kửa đốt động, con quái ấy nghe lời đốt hết.

Hành Giả một tay cầm thiết bảng, một tay xách tai con quái ấy, đồng đằng vân trở lại tức thì.

Khi ấy Tam Tạng và Cao Lão đang cùng nhau đàm đạo, xảy thấy Hành Giả nắm tai con quái ấy xách về, ai nấy đồng mừng, bước ra tiếp rước.

Con quái quỳ lạy Tam Tạng mà bạch rằng:

- Đệ tử chậm tiếp nghinh, xin sư phụ miễn chấp. Phải sớm biết thầy ghé nhà ông gia tôi, thì tôi đã ra mắt, có đâu nhiều chuyện cho đến bây giờ!

Tam Tạng không rõ, liền hỏi Hành Giả rằng:

- Ngươi dùng thế làm sao mà bắt đến đây, nó lại phục ta?

Hành Giả hét lớn rằng:

- Thằng khùng kia! Sao mi không nói trước sao cho thầy rõ.

Con quái ấy bèn thuật chuyện Quan Âm cứu độ, vân vân.

Tam Tạng cả mừng, nói với Cao Lão rằng:

- Xin ông làm ơn đặt một cái bàn hương án.

Cao Lão vâng lời, Tam Tạng rửa mặt rồi đốt hương vái lạy Quan Âm bồ tát.

Con quái ấy lạy Tam Tạng rồi kêu bằng sư phụ, và lạy Hành Giả kêu sư huynh.

Tam Tạng nói:

- Ngươi đã làm đệ tử, ta phải đặt pháp danh cho ngươi.

Con quái ấy bạch rằng:

- QuanÂm đã đặt tên thánh cho tôi là Trư Ngộ Năng.

Tam Tạng cười rằng:

- Tên ấy tốt lắm! Chữ "Ngộ" ấy là đồng phái với sư huynh ngươi.

Trư Ngộ Năng bạch rằng:

- Tôi thọ phép Quan Âm bấy lâu cử Ngũ Huân Tam yểm chịu cực như vậy mà đợi thầy, nay đã gặp rồi, xin cho trở đũa.

Tam Tạng nói:

- Không nên! Lẽ nào gặp thầy lại thôi ăn chay, ngươi đã cử ngũ huân và tam yểm là tám món, vật ta cho hiệu riêng là Bát Giới.

Trư Ngộ Năng cả mừng, Cao lão thấy Bát Giới cải tà qui chánh thì mừng rỡ bội phần, truyền gia đình dọn cơm chay thiết đãi.

Bát Giới nói với Cao lão rằng:

- Xin cha biểu ở nhà tôi ra mắt công công và bá bá.

Hành Giả cười rằng:

- Nay sư đệ đã làm hòa thượng, đừng dùng tiếng ở nhà. Hãy lo ăn cơm mà đi cho sớm.

Rồi đó cơm nước xong xả, Cao lão bưng mâm bạc ra chừng hai trăm lượng gọi là lễ đưa thầy.

Tam Tạng nói:

- Tôi là sãi đi đường tới đâu nhờ lộc đó, nếu lãnh tiền của thiên hạ, biết tu mấy kiếp cho thành?

Hành Giả hốt một nắm bạc, kêu Cao Tài mà nói rằng:

- Hôm qua ngươi dắt thầy ta đến đây, nên nay mới kiếm đặng một người đệ tử, vậy ta dùng ít lượng mà tạ Ơn ngươi.

Cao Tài lãnh bạc trở ra.

Cao lão lại đem một cái áo Cà sa bằng gấm xanh và hai đôi giày mới cho Bát Giới. Bát Giới lãnh hết và bái Cao lão mà thưa rằng:

- Tôi xin kính lời cùng nhạc mẫu và đại di nhị di cùng bà con ở lại bình an, nay tôi đi tu làm hòa thượng, không kịp từ giã, xin rộng dung miễn chấp, xin trượng nhân coi chừng giùm ở nhà tôi, nếu tôi đi thỉnh kinh không xong, thì sẽ trở về như cũ.

Hành Giả hét rằng:

- Đừng có nói bậy!

Bát Giới nói:

- Anh ơi! Tôi e đi tu không thành thì ắt là làm hòa thượng không xong, mà lại khó cưới vợ, phải là lỡ dỡ hay không?

Tam Tạng nói:

- Thôi, hãy bớt chuyện vãn đi, lo lên đường kẻo trễ.

Bát Giới nghe nói, liền quảy gánh vội vàng.

Tam Tạng lên yên, Hành Giả vác thiết bảng giã từ Cao lão rồi nhắm phía Tây mà tới.

Ba thầy trò đi hơn một tháng, tới nước Ô Tư Tạng, thấy núi cao chớn chở.

Tam Tạng dừng ngựa nói rằng:

- Núi trước mặt rất cao, đi phải cho tử tế.

Bát Giới nói:

- Không hề gì đâu. Núi nầy tên là Phù Đồ, trong núi có ông Ô Sào thiền sư, ở tu trên ổ quạ. Thầy ấy có quen biết với tôi".

Nói rồi lại lên tới núi.

Tam Tạng ngồi trên ngựa ngó xa xa thấy ổ trên ngọn cây. Bên tả có hưu nai tha bông. Bên hữu có vượn mai dựng trái. Trên ngọn thì có con hạc con công chầu múa, chim loan chim phụng gáy vang.

Bát Giới chỉ ổ quạ mà nói rằng:

- Thầy Ô Sào ở đó.

Tam Tạng đi đến cội cây.

Ô Sào thiền sư ở trên ổ nhảy xuống.

Tam Tạng xuống ngựa cúi lạy.

Ô Sào thiền sư đỡ dậy nói rằng:

- Tôi cam thất lễ vì không nghinh tiếp thánh tăng.

Bát Giới bước đến bái sát đất Ô Sào thiền sư kinh hãi hỏi rằng:

- Ngươi là Trư Cang Liệp ở núi Phước Lăng. Nay thiệt quá may, đặng đi với thánh tăng qua Tây Phương Phật.

Bát Giới nói:

- Xưa nhờ ơn Quan Âm khuyên biểu, dạy ngày nay đi với thầy tôi.

Ô Sào thiền sư khen rằng:

- Tốt lắm, tốt lắm.

Khen rồi chỉ Hành Giả mà hỏi rằng:

- Còn ông nào đó.

Hành Giả cười rằng:

- Sao thấy biết người ấy mà chẳng biết tôi?

Ô Sào thiền sư nói:

- Bởi tôi hay quên lắm.

Tam Tạng nói:

- Vốn thiệt học trò lớn của tôi, gọi là Tôn Ngộ Không.

Ô Sào thiền sư cười rằng:

- Tôi cam thất lễ.

Tam Tạng năn nỉ, hỏi thăm đường Tây Phương gần xa.

Ô Sào thiền sư nói:

- Còn xa lắm, còn xa lắm! Tuy là diệu vợi song có ngày đi tới Tây Phương. Ngặt vì bị yêu ma hoạn nạn. Tôi có tâm kinh câu, cộng chữ. Như bị hoạn nạn, niệm Tâm kinh thì việc dữ cũng hóa lành.

Tam Tạng làm lễ xin truyền Tâm kinh.

Ô Sào thiền sư đọc qua một bận, vân vân.

Tam Tạng sáng lắm, nghe qua đã thuộc lòng.

Đến sau truyền tới đời nay, trong kinh thiền đều có Tâm kinh là cội rễ.

Tôi e choán giấy nên chẳng biên vào. Kinh ấy mấy thầy chùa đều biết.

Ô Sào truyền kinh xong rồi, muốn nhảy lên ổ.

Tam Tạng kéo lại hỏi rằng:

- Xin thầy làm ơn cắt nghĩa đường đi Tây Phương thế nào?

Ô Sào thiền sư cười rằng:

- Hãy nhớ bài kệ nầy thì rõ.

Lời kệ như vầy:

Đường sá cũng không khó. Hãy nghe ta chỉ rõ. Nhiều ma lại nhiều cỏ. Núi Tiếp thiên qua rồi. Non Mã nhỉ đến đó. Rừng Hắc tòng bên đường. Loài Hổ ly đón ngõ. Yêu quái ở thành kia, Ma Vương ngăn núi nọ. Cọp gấm ngồi huyện đường. Sói xanh làm chủ bộ. Su tượng thảy xưng vương. Hùm beo đồng chúc thọ. Heo rừng quảy gánh to. Yêu nước rình đường nhò, ma lớn rất hung hăng. Khỉ già hay quạu quọ. Người hỏi ta chỉ dùm. Qua Tây gay vậy đó.

Hành Giả nghe nói cười gằn rằng:

- Thầy trò mình đi cho xong hỏi ai làm chi, hỏi tôi cũng đủ.

Tam Tạng chưa rõ ý gì.

Ô Sào thiền sư hiện hào quang bay lên ổ quạ.

Tam Tạng cúi đầu làm lễ.

Hành Giả nói giận, giơ thiết bảng thọc ổ Thiền sư. Bông sen rụng xuống dư muôn, hào quang hiện ra mấy trượng. Chẳng hề hư ổ ấy chút nào.

Tam Tạng níu Hành Giả mà quở rằng:

- Ngộ Không, ấy là một vị bồ tát, sao nhà ngươi phá ổ của ngài?

Hành Giả nói:

- Thẩy mắng nhiếc chúng tôi như vậy, thầy bảo bỏ qua hay sao?

Tam Tạng nói:

- Ngài thuật chuyện đường đi Tây Phương như vậy. Sao gọi là mắng nhiếc chúng bây?

Hành Giả nói:

- Bởi thầy không rõ, để tôi cắt nghĩa cho rành. Heo rừng quảy gánh to, là nói xâm Bát Giới; khỉ già hay quạu quọ, là mắng nhiếc Lão Tôn. Sao thầy gọi là không có? Bát Giới nói:

- Xin sư huynh đừng giận làm chi. Bởi ông thầy ấy biết việc vị lai quá khứ, mới nói yêu nước chận đường nhỏ. Không biết thiệt hay chăng? Chúng ta đi lần coi thử. Hành Giả thỉnh Tam Tạng lên ngựa, thầy trò lần xuống núi.









Hồi 20
Tới Huỳnh Phong, Ðường Tăng mắc nạn
Gặp tiên phuông, Bát Giới trổ tài
Nói về ba thầy trò, trãi gió dầm mưa, mang sao độ, nguyệt lần lần xuân đà sang hè.

Ngày kia đi đến chiều tối, TamTạng ngó thấy xóm, mừng rỡ nói rằng:

- Ngộ Không, ngươi coi cho kỹ , nhựt lặn Tây Sơn cây nhán lửa, trăng ló Đông hải nước in châu. Hãy kiếm nhà nghỉ đỡ một đêm mai sẽ dời gót.

Bát Giới nói:

- Phải lắm! Phải lắm! Lão Trư cũng đã đói rồi. Hãy vào xóm kiếm cơm, mai gánh đồ mới nổi.

Hành Giả nói:

- Mi là con quỷ nhớ nhà, mới đi ít ngày đà thán oán.

Tam Tạng nói:

- Ngộ Năng, nếu ngươi nhớ nhà lắm, thì không phải kẻ tu hành. Thôi, trở về cho tiện.

Bát Giới thất kinh quì xuống thưa rằng:

- Xin sư phụ xét lại cho mà coi, tôi chẳng hề thán oán. Bởi đói quá muốn kiếm ăn đở dạ, nên sư huynh mắng tôi là con quỷ nhớ nhà. Chờ tôi đã vâng lệnh Quan Âm, lại cám ơn thầy thương xót. Tình nguyện theo sư phụ qua Tây Phương mà thỉnh kinh. Quyết chí tu hành không nài lao khổ.

Tam Tạng nói:

- Thôi ngươi chờ dậy đồng đi vào xóm mà kiếm cơm chay.

Bát Giới quảy gánh đi hoài, không dám nói chi hết.

Khi ấy ba thầy trò đi tới xóm, Tam Tạng xuống ngựa vào trước cửa một mình, thấy ông chủ nhà đương ngồi trên chỏng mà niệm phật.

Tam Tạng nói:

- Tôi chào ông chủ nhà.

Ông ấy xốc áo ra cửa, bái và hỏi rằng:

- Thầy ở đâu mới tới, vào nhà tôi có chuyện chi?

TamTạng nói:

- Tôi là Hòa Thượng nước Đại Đường, ở miền Đông độ. Nay vâng chiếu chỉ, qua Tây Phương lạy Phật thỉnh kinh. Đến đây trời tối lở đường, xin ông làm ơn cho ngủ đậu.

Ông già ấy lắc đầu, khoát tay mà nói rằng:

- Đường Tây Phương gay go lắm, đi chẳng đặng đâu. Có muốn thỉnh kinh thì đi Đông phương cho đặng.

Tam Tạng nghe nói ngẫm nghĩ rằng:

- Lạ nầy! Quan Âm dạy qua Tây Phương mà thỉnh kinh. Còn ông nầy lại biểu đi Đông phương mới lạ.

Hành Giả nổi giận lướt tới kêu lớn và nói rằng:

- Ông già kia, tuổi tác chừng nầy, sao chưa thạo việc. Chúng ta xin vào tá túc, ông đặt chuyện dọa ta! Nhà ông không chỗ nằm, thì thầy trò tôi ngồi dưới cội cây một đêm cũng đặng.

Ông già ấy kinh hãi, kéo thầy Tam Tạng mà than rằng:

- Thầy không nói chi hết, có đệ tử thầy ốm đó, nó lại muốn làm dữ với tôi.

Hành Giả cười rằng:

- Ông đã lầm rồi, nên coi không rõ. Tôi tuy là ốm yếu, song thiệt mình dây, trong da những gân, chớ không có thịt.

Ông già ấy nói:

- Chú nói như vậy chắc là cũng có tài.

Hành Giả nói:

- Tôi không dám nói dối, ông xem thử cho chán chường.

Ông già ấy hỏi rằng:

- Quê quán chú ở đâu. Vì cớ nào làm sãi?

Hành Giả nói:

- Tôi gốc ở Đông Thắng thần châu, nước Ngao Lai, động Thủy Liêm, núi Hoa Quả, từ khi nhỏ tập làm yêu quỷ , rồi học đạo trường sanh. Nhờ phép giỏi tài cao, làm Tề Thiên đại thánh, còn quen thói dữ, làm phản Thiên cung, nên bị tai mắc nạn. Nay tôi tu niệm, theo thầy tìm Phật thỉnh kinh. Tuy đường Tây Phương non cao biển rộng, thú dữ ma nhiều, song Lão Tôn có tài đánh cọp bắt rồng, thêm phép trừ yêu giết quỷ.

Ông già ấy nghe nói cười ngất rồi đáp rằng:

- Như ông thiệt đại tài, thì qua Tây Phương mới đặng. Mà các ông đi hết thảy mấy người?

Tam Tạng nói:

- Tôi đi có ba thầy trò mà thôi.

Ông già ấy hỏi rằng:

- Một người nữa ở đâu không thấy?

Hành Giả chỉ Bát Giới mà nói rằng:

- Ông già nầy thiệt con mắt làn. Vậy chớ giống gì đứng ở cội cây đó?

Ông già ấy ngó thấy Bát Giới, hai tai bằng cái quạt, bộ mỏ tợ cây sao.

Ông già ấy thất kinh hồn vía. Vừa bò vừa chạy, và lết và la rằng:

- Đóng cửa cho mau, kẻo yêu ma làm lộng.

Hành Giả kéo lại nói rằng:

- Ông đừng kinh hãi, không phải yêu quỷ , ấy là sư đệ của tôi.

Ông già ấy run rét mà nói rằng:

- Hai người học trò đều dữ tợn.

Bát Giới bước tới nói rằng:

- Nếu ông coi tướng mạo mà nói thì lầm, chúng tôi tuy diện mạo xấu xa, mà trong lòng tốt lắm.

Ông già ấy chưa kịp đáp lại, xảy có hai người trai làng xóm, dắt bà già và ba bốn đứa nhỏ bước đến hỏi rằng:

- Ông la chuyện chi vậy?

Bát Giới nghe hỏi, liền quạt tai nghinh mỏ ló đầu ra.

Mấy người ấy thất kinh, té nghiêng té ngửa.

Tam Tạng tay ngoắt miệng kêu rằng:

- Các người đừng có sợ, chúng tôi vốn thiệt hòa thượng đi thỉnh kinh.

Ông ấy liền mời ba thầy trò vào trong hết thảy.

Tam Tạng phàn nàn vì tại hai người láu cháu nên sanh chuyện.

Bát Giới bạch rằng:

- Tôi không dám nói dối: Từ gặp thầy tôi mới giữ nết na, hết sức nhu mì, chẳng hề lỗ mãng. Chớ khi trước mỗi lần tôi rãy tai và hất mỏ, ba mươi người đều té ngã lăn, nên tại Cao lão trang họ nói tôi là yêu quái.

Hành Giả cười rằng:

- Ngươi hãy dẹp các bộ dữ đó đi.

Tam Tạng nói:

- Tướng mạo người ta tự nhiên, ngươi bảo dẹp sao cho đặng.

Hành Giả nói:

- Gằm bộ mỏ dài xuống dưới bụng, xếp hai tai lớn sau lưng. Ấy là dẹp bộ dữ.

Bát Giới nghe lời, xếp tai gằm mỏ, đứng hầu hạ một bên.

Còn Hành Giả thì cất gánh đồ vật và buộc ngựa.

Ông già hối dọn cơm nước.

Tam Tạng hỏi rằng:

- Chẳng hay Lão trượng họ chi?

Ông già ấy nói:

- Tôi họ Vương.

Tam Tạng hỏi:

- Con cháu đặng mấy người?

Vương lão nói:

- Tôi có hai đứa con, sanh đặng ba thằng cháu.

Tam Tạng hỏi:

- Tuổi tác ông đã bao nhiêu?

Vương lão nói:

- Tôi đặng 61 tuổi.

Hành Giả nói:

- Cũng đà đáo tuế.

Tam Tạng hỏi:

- Hồi trước ông nói khó thỉnh kinh bên Tây Phương, là cớ nào vậy?

Vương lão nói:

- Hễ tới Tây Phương thì thỉnh đặng, ngặt vì đường xá khó đi. Cách phía Tây chừng ba mươi dặm, có núi Huỳnh phong đi 800 dặm mới khỏi núi, trong núi ấy thiếu chi là yêu quái, nên tôi sợ khó đi, mà cứ theo lời ông thầy nhỏ nầy là đại tài thời đi cũng đặng.

Nói rồi đem trà ra đãi, giây phút lại dọn cơm chay, mời ba thầy trò ngồi lại.

Tam Tạng mới chấp tay niệm kinh cúng, Bát Giới đã làm một chén rồi.

Tam Tạng niệm kinh cúng cơm vừa xong, Bát Giới đã làm xong hai chén nữa.

Hành Giả nói đở xấu rằng:

- Thằng ăn cám nầy, chắc ma đói nhập vào cho nón rồi đa.

Vương lão thấy Bát Giới ăn mau quá, liền nói rằng:

- Chắc thầy nầy đói lắm, hãy đơm cơm sớt cho nhiều.

Bát Giới gằm mặt xuống hoài, ăn một hơi hơn mười mấy chén.

Vương lão thấy Tam Tạng và Hành Giả đều ngơ đủa, liền nói rằng:

- Lật đật kém đồ ăn, xin hai thầy ráng sớt thêm vài đủa.

Tam Tạng và Hành Giả đồng nói:

- Thầy trò tôi dùng đã vừa rồi.

Bát Giới nói:

- Đồ ăn ngon dở không hề gì, miễn thêm cơm cho khá.

Vương lão biểu trẻ dở hết cơm đem ra.

Bát Giới ăn sạch quét.

Vương lão hỏi:

- Thầy ăn đủ hay thiếu?

Bát Giới nói:

- Mới vừa lưng lửng mà thôi.

Dọn dẹp xong rồi, trãi mền chiếu cho thầy trò đi ngủ.

Rạng ngày từ giã ra đi, tới lúc đứng bóng, thấy núi cao chớn chở, xảy gặp gió vụt đi như trốt.

Tam Tạng kinh hãi nói rằng:

- Ngộ Không, gió xây vần mạnh quá!

Hành Giả nói:

- Gió thì mặc gió, mà thầy sợ nổi gì? Để tôi bốc mà hưởi thử.

Bát Giới cười rằng:

- Anh bốc gió đặng mà hưởi, tôi nghĩ cũng lạ lùng!

Hành Giả nói:

- Ta có phép bốc gió, tại em không biết nên cười.

Nói rồi liền bốc thinh không mà hưởi, rồi nói rằng:

- Gió nầy tanh lắm không phải gió thường, một là cọp hùm, hai là yêu quỷ.

Nói vừa dứt tiếng, xảy thấy cọp trên chót núi nhảy xuống đón đường.

Tam Tạng thất kinh nhào xuống ngựa.

Bát Giới để gói xuống, xách đinh ba xốc tới hét rằng:

- Đố mi chạy đi đâu cho khỏi?

Nói rồi vác cào cỏ đập đùa, cọp tràng khỏi rồi đứng dậy, hai tay cào ngực cổi lốp mà nói rằng:

- Ta là tướng tiên phuông của Huỳnh Phong đại vương, gọi là Tiền Lộ Hổ, nay vâng lệnh Đại vương đi bắt ít đứa phàm phu về uống rượu. Ngươi là Hòa Thượng xứ nào đi tới, mà dám đánh với ta?

Bát Giới nói:

- Chúng ta là sãi thánh, ở nước Đại Đường, qua thỉnh kinh bên Tây độ. Không phải là kẻ tục người phàm, ngươi tránh đường kẻo thầy ta giựt mình, thì ta dung tánh mạng.

Tiền Lộ Hổ nhảy quào mặt Bát Giới, rồi chạy riết một hơi.

Bát Giới rượt theo bén gót.

Tiền Lộ Hổ nhảy lên chót núi, lấy cặp đồng đao ra cự với Bát Giới, hai đàng đánh với nhau tại mé núi, sức cũng cầm đồng.

Tôn Hành Giả đỡ Tam Tạng dậy mà nói rằng:

- Xin thầy đừng sợ, coi Bát Giới đánh với yêu tinh.

Giây lâu lại nói:

- Xin thầy ngồi đây không hề chi, để tôi tiếp với Bát Giới mà giết con yêu nầy thì đi mới đặng.

Tam Tạng ngồi run en phát rét, lầm thầm niệm tâm kinh mà chịu.

Khi ấy Bát Giới thấy Hành Giả tiếp mình, thì càng mạnh hơn nữa.

Tiền Lộ Hổ cự không lại, chạy xuống chân non thấy Bát Giới và Hành Giả đuổi một. Tiền Lộ Hổ hãi kinh, túng dụng kế Kim thiền thoát xác.

Nhào một cái hiện ra hình cọp, cổi lốt cọp để trên thạch bàn.

Còn hình thiệt hóa gió yêu bay về động cũ, ngó thấy Tam Tạng ngồi bên đường cái mà niệm tâm kinh, nhân tiện nổi giông, bắt thầy về động.

Nói về Huỳnh Phong đại vương thấy Tiên phuông về động, dâng ông sãi mà thưa rằng:

- Tiểu tướng đi tuần khắp núi gặp Đường Tăng đi thỉnh kinh, nên bắt đem nạp cho Đại vương uống rượu.

Huỳnh Phong nghe nói kinh hãi hỏi rằng:

- Ta khi trước có nghe người ta thuật chuyện Đường Tăng là Tam Tạng pháp sư, có người học trò là Tôn Hành Giả, thần thông quảng đại. Ngươi làm sao mà bắt đặng người?

Tiền Lộ Hổ thưa rằng:

- Đường Tăng có hai người học trò, người đánh trước cầm đinh ba, người tiếp sau cầm thiết bảng, tôi bại tẩu hai người ấy đuổi nà, tôi dụng kế Kim thiền thoát xác, đi quanh bắt Hòa Thượng về đây.

Huỳnh Phong nói:

- Khoan ăn thịt Đường Tăng, e hai người học trò đòi thầy làm dữ. Hãy buộc tại cây trụ Định phong sau vườn kiểng, chừng nào không ai đòi hỏi sẽ ăn thịt chẳng chầy. Tiểu yêu vâng lời đem Tam Tạng buộc sau vườn.

Nói về Hành Giả và Bát Giới rượt theo tới chân non, thấy hùm gấm nằm trên bàn thạch.

Hành Giả đập một bảng đã tức dội bàn tay.

Bát Giới đập một đinh ba, lúc chín răng vào da cọp dở lên nhẹ hỏng, coi ra là lốt cọp thì Hành Giả la:

- Không xong, mắc kế, mắc kế!

Bát Giới hỏi:

- Kế gì?

Hành Giả nói:

- Ấy là kế Kim thiền thoát xác, chúng ta trở về mà giữ gìn sư phụ, kẻo để nó bắt đi. Nói rồi về kiếm không thấy Tam Tạng, Hành Giả hét lớn rằng:

- Nó đã bắt thầy rồi biết tính làm sao cho đặng? Suy đi xét lại, cũng ở tại núi nầy, anh em mình đi kiếm thử.

Khi ấy Hành Giả trèo non lặn suối, đạp sỏi tuôn rừng, kiếm một hồi lâu, thấy động ở kề chân núi, trước cửa động đề sáu chữ lớn: Huỳnh Phong lãnh, Huỳnh Phong động. Hành Giả cầm thiết bảng cả kêu rằng:

- Yêu quái, trả thầy ta cho mau mau, kẻo ta phá ổ.

Tiểu yêu vào báo rằng:

- Thưa đại vương, ngoài cửa động có ông hòa thượng, mặt tợ Thiên Lôi, cầm cây thiết bảng quá to, biểu trả thầy cho mau; bằng lâu thì phá động.

Huỳnh Phong kinh hãi, đòi tiên phuông đến mà quở rằng:

- Ta biểu ngươi đi kiếm heo rừng, trâu núi, chó sói, nai chà, sao ngươi đi bắt thầy chùa, cho chúng nó đòi phá động, bây giờ mới tính làm sao?

Tiền Lộ Hổ thưa rằng:

- Xin đại vương đừng lo. Để tôi bắt sống họ Tôn, đặng ăn thịt luôn thể.

Nói rồi dẫn tiểu yêu ra động, gióng trống phất cờ.

Tiền Lộ Hổ xách cặp đồng dao, hét lớn ràng:

- Mi là hòa thượng giộc ở đâu, dám đến đây mà làm dữ?

Hành Giả nổi giận mà mắng rằng:

- Mi là loài thú bị lột da, dám bắt thầy ta về động! Đã không chịu trả, còn muốn hành hung. Đố mi chạy đi đâu cho khỏi.

Nói rồi đập một bảng.

Tiền Lộ Hổ đở liền, hai người đánh một hồi, tiên phuông sút miếng, song đã khoe tài với chủ động, nên chẳng dám trở vào, liền chạy lên trên núi.

Hành Giả rượt theo.

Còn Bát Giới đi kiếm không đặng động nào, liền trở về giữ ngựa.

Xảy nghe gió ùn ùn thổi tới, ngó lại thấy Hành Giả đương rượt yêu.

Bát Giới bỏ ngựa, vác đinh ba chận đầu, đập Tiền lLộ Hổ một đinh ba, chín răng lút vào mình mà chết.

Có bài thơ khen Bát Giới như vầy:

Đã mấy năm rồi chịu phép công,

Ăn chay niệm Phật hết làm hung

Lòng thành từ lúc theo Tam Tạng,

Mới có phen nầy lập chút công.

Hành Giả xem thấy, mừng rỡ ngợi khen.

Bát Giới hỏi:

- Sư huynh kiếm ra mối hay không?

Hành Giả nói:

- Nó đã bắt thầy nạp cho chủ động. Anh ra oai đánh với nó, nhờ em đập tiếp một đinh ba, cái công ấy của em đó. Vậy thì em giữ gánh đồ và con ngựa ăn cỏ, đặng anh đến động mà bắt Lão yêu, thì cứu thầy mới đặng.

Bát Giới nói:

- Như anh đánh Lão yêu có chạy, thì anh lùa nó lại phía nầy, đặng tôi đập nó.

Hành Giả tay mặt cầm thiết bảng, tay trái xách thây cọp, thẳng tới cửa động.

Ấy là:

Pháp sư mắc nạn vì yêu quái,

Đệ tử ra tài giết quỷ ma.

Hồi 21
Hộ Pháp hóa nhà cứu Ðại Thánh
Linh Kiết cho phép bắt Huỳnh Phong
Nói về Huỳnh Phong đang ngồi trong động không biết tính mưu chi.

Xảy thấy tiểu yêu vào báo rằng:

- Hổ tiên phuông bị Hòa Thượng đập chết, kéo thây bỏ trước động môn, lại muốn hành hung phá cửa.

Huỳnh Phong giận quá nói rằng:

- Hòa Thượng nầy không biết phải, ta chẳng ăn thầy nó, nó lại giết tướng ta. Thiệt đáng giận lắm. Ta thuở nay nghe danh Tôn Hành Giả, mà chưa biết mặt làm sao. Nay ra trận thử coi, có phải là chín đầu tám đuôi không cho biết. Tiểu yêu phải đồng tâm giết nó, mà báo oán cho Tiên phuông.

Nói rồi nai nịt hẳn hoi, xách chĩa ba ra trận.

Hành Giả ngó thấy tiểu yêu ra trước. Chủ động theo sau, thiệt tướng vạm vở lắm!

Chủ động hét lớn rằng:

- Tôn Hành Giả ở đâu?

Hành Giả giơ thiết bảng đáp rằng:

- Tôn ngoại mi ở đây, không thấy sao mà hỏi?

Huỳnh Phong coi lại rõ ràng, thấy Hành Giả không đầy bốn thước, bộ tướng như khỉ già.

Liền cười ngất nói rằng:

- Tội nghiệp thì thôi, ta tưởng Hành Giả là diện mạo đường đường, oai phong lẩm lẩm, không dè ròm rỏi như bệnh lâu năm!

Hành Giả cười rằng:

- Mi là thằng không có mắt, tuy không ngoại kháu người mà mạnh lắm, nếu đập cán chĩa nhằm đầu một cái, thì cao thêm sáu thước hẳn hòi.

Huỳnh Phong day cán chĩa đập đầu Hành Giả một cái.

Hành Giả đứng nhóng dậy, cao gần một trượng rõ ràng.

Huỳnh Phong hét lớn rằng:

- Tôn Hành Giả đừng làm phép điểu ta, hãy đánh cho biết sức.

Nói rồi đâm một chĩa. Hành Giả đưa thiết bảng đở liền. Hai người đánh hơn ba mươi hiệp chưa thấy hơn thua.

Hành Giả nổi nóng, bứt lông bỏ vào miệng nhai nhỏ phun ra, miệng la biến biến! Biến ra trăm ngàn Hành Giả, cầm thiết bảng vây phủ Huỳnh Phong. Phép ấy gọi là Thân họa thân.

Huỳnh Phong đánh không lại, hớp gió hướng Đông Nam thổi ra.

Xảy có trận gió vàng vụt tới. Những Hành Giả biến ra đó, bị gió vàng thổi tống lên trời.

Hành Giả sợ mất lông, liều dùng mình thâu lại. Thâu lông rồi lướt tới đánh đùa. Bị Huỳnh Phong thổi vào mặt một hơi, Hành Giả nhắm con mắt mà chạy chết.

Còn Huỳnh Phong thâu gió trở về.

Khi ấy Bát Giới thấy gió vàng, tối tăm trời đất.

Bát Giới nhắm mắt nằm mọp bên núi, không dám cất đầu lên.

Giây lâu gió lặng rồi, nghe Hành Giả vừa đi vừa hét, Bát Giới mở mắt ra, thấy Hành Giả ở hướng Tây đi lại.

Bát Giới bái mà nói rằng:

- Anh ở đâu về đây? Thiệt trời gió lớn quá!

Hành Giả khoát mà nói rằng:

- Gió dữ thiệt! Thuở nay ta mới thấy gió lớn như vầy! Tiểu yêu Chúa động đánh với ta đặng ba mươi hiệp. Ta hóa phép Thân họa thân. Chúa động thất kinh thổi ra gió ấy. Ta cũng biết hô phong hoán võ, mà không từng gió độc như vầy. Đứng chẳng vững chân nên phải chạy.

Bát Giới nói:

- Nếu cự không lại nó, thì làm sao mà cứu thầy?

Hành Giả nói:

- Sự cứu thầy thủng thẳng sẽ tính. Không biết đây có thầy thuốc nhãn khoa hay không? Lo thuốc trị con mắt cho ta đã.

Bát Giới hỏi:

- Con mắt anh sao đó?

Hành Giả nói:

- Ta bị Chúa động thổi vào con mắt cay xé, bắt chảy nước mắt hoài! Nếu không trị cho mau, để tới hết thấy đường thì khó lắm.

Bát Giới nói:

- Anh ôi! Đã ở trong rừng, lại thêm trời tối, sợ không nhà mà ngủ đở, biết đâu mà kiếm nhãn khoa!

Hành Giả nói:

- Thiếu chi là chỗ ngủ, nhắm chừng Chúa động chưa dám hại thầy ta, mình kiếm nhà ngủ đở đêm nay, rạng ngày tính cứu thầy mới đặng.

Bát Giới nghe lời, dắt ngựa gánh đồ, đồng ra đường cái.

Xảy nghe tiếng chó sủa gần gần.

Bát Giới thấy xa xa có xóm dựa rừng, và bóng đèn nhấp nháng.

Hai người đi lần tới kêu cửa.

Ông chủ nhà cất tiếng hỏi:

- Ai?

Hành Giả bái mà nói rằng:

- Chúng tôi là học trò Đường Tăng, ở miền Đông Độ qua Tây Phương lạy Phật thỉnh kinh, đi ngang núi nầy bị Huỳnh Phong đại vương bắt thầy tôi vào động, phần trời đã tối xin ông cho tôi tá túc một đêm.

Ông già ấy nói rằng:

- Vậy thời mời hai thầy vào đây mà nghỉ.

Hai anh em gánh đồ và dắt ngựa vào nhà, trà nước nghỉ ngơi.

Giây lâu dọn cơm chay thiếc đãi.

Anh em ăn uống xong xả. Ông già dọn chỗ nghỉ ngơi.

Hành Giả nói:

- Ngủ không đặng đâu mà sửa soạn, xin ông nói giùm một chút, đây có thầy bán thuốc con mắt hay không?

Ông già ấy hỏi:

- Ông nào đau con mắt?

Hành Giả nói:

- Tôi không dám dối ông, thiệt người tu hành thuở nay không bệnh con mắt. Bởi bữa nay đánh với Chúa động, bị thổi gió độc , làm cho con mắt xốn xang, nên mới hỏi thăm thuốc.

Ông già nói:

- Bạc ác thì thôi! Ông tu hành sao còn nói dối, Huỳnh Phong đại vương thổi gió độc. Không phải gió Đông, Tây, Nam, Bắc, không phải gió Xuân, Hạ, Thu, Đông. Ấy là gió Tam mụi thần phong, ở trong lỗ mũi, lỗ miệng và lỗ con mắt bay ra, thiệt là độc quá!

Hành Giả hỏi:

- Gió ấy ra thể nào?

Ông già nói , gió ấy như vầy:

Đã làm trời đất tối

Lại thêm quỷ thần kinh

Gặp núi non cũng sập

Nhằm người phải bỏ mình

Nếu thầy bị gió nầy, lẽ nào còn sống đặng? Trừ ra thần tiên phật thánh, mới vô sự mà thôi.

Hành Giả nói:

- Thiệt quả như lời, chúng tôi tuy không phải thần tiên, song thần tiên còn sau chúng tôi nữa, nên nó thổi không chết, ngặt một điều con mắt xốn xang.

Ông già nói:

- Cứ theo lời ấy, thì ông không phải người thường. Song chốn nầy không ai bán thuốc con mắt. Tôi có gặp ông tiên truyền phương thuốc dán, gọi là Tam hoa cửu tử cao. Trong ấy có ba thứ bông và chín thứ hột. Trị các thứ nhãn phong.

Hành Giả nghe rõ, bái mà nói rằng:

- Xin ông cho tôi một chút?

Ông già ấy đưa thuốc dán biểu Hành Giả thoa vào. Dặn đừng mở ra, ngủ đến rạng ngày thì hết.

Bát Giới trãi chiếu kêu Hành Giả lại nằm.

Hành Giả không mở mắt ra, cứ rờ hoài rờ hũy.

Bát Giới cười rằng:

- Bớ ông thầy bói, cây gậy của thầy đây nè.

Hành Giả nói:

- Thằng ăn trộm hay kêu ngạo, mi tưởng ta đui thiệt hay sao?

Bát Giới nằm bụm miệng cười sục sục một hồi, Bát Giới ngủ trước, còn Hành Giả ngồi tới canh ba. Con mắt êm rồi mới ngủ.

Rạng đông Hành Giả thức dậy, dụi con mắt, khen rằng:

- Thiệt là thuốc tiên, con mắt muốn tỏ hơn khi trước. Ngó tư bề không thấy nhà cửa, có liễu cao hòe lớn mà thôi, thấy hai anh em ngủ trên đám cỏ.

Bát Giới thức dậy hỏi rằng:

- Anh ngồi tưởng giống gì đó?

Hành Giả nói:

- Em hãy nhướng con mắt lên mà coi.

Bát Giới ngó quanh quất, thất kinh ngồi dậy hỏi rằng:

- Con ngựa mình ở đâu?

Hành Giả nói:

- Vậy chớ vật gì buộc nơi gốc cây đó?

Bát Giới hỏi:

- Còn gánh đồ ở đâu?

Hành Giả nói:

- Vậy chớ giống gì trên đầu nằm?

Bát Giới nói:

- Ông chủ nhà tệ quá. Dọn đồ đi mà không kêu chúng ta. Theo ý tôi bàn, chắc là trốn nợ. Sợ xóm riềng hay mà cản, nên đi lúc canh ba. Còn mình ngủ như chết, người dở nhà mà cũng không hay. Thiệt là tệ lắm.

Hành Giả cười ngất mà nói rằng:

- Đừng có nói bậy, hãy coi tấm giấy trên nhánh cây.

Bát Giới gở lá thiệp, có bài thơ tứ tuyệt như vầy:

Non yêu ai dám đến làm nhà,

Hộ Pháp Già Lam biến hóa ra

Giúp thuốc cho người đà sáng mắt,

Gắng cóng trừ quỷ chớ dần dà.

Hành Giả nói:

- Mấy chú thần vặt. Từ khi ta đặng Long mã, không rảnh mà kêu tên. Nay lại hiện hình làm lối!

Bát Giới nói:

- Anh hay buông lời cao cách, thần nào lại chịu anh kêu tên?

Hành Giả nói:

- Ngươi không biết, để ta nói cho mà nghe: Hộ Pháp, Già Lam, Lục Đinh, Lục Giáp, Yết Đế, Công Tào, đều vâng lệnh Quan Âm bồ tát, theo bảo hộ thầy. Từ ngày ở núi Xà Bàn, ta có kêu cho biết đủ thiếu. Sau có em giúp việc, chẳng cần dùng các thần ấy, nên chẳng kêu tên.

Bát Giới nói:

- Chư thần đã vâng lệnh Phật mà phò hộ, nên chẳng dám hiện hình. Người mới hóa nhà giúp thuốc cho anh, còn trách móc sao phải. Hãy lo tìm phương thế mà cứu thầy.

Hành Giả nói:

- Đây đến động Huỳnh phong gần lắm. Em hãy coi đồ và giữ ngựa, để ta đi dọ tin thầy, đặng tranh đua với nó.

Bát Giới nói:

- Phải, anh hãy thăm tin cho chắc thầy sống thác. Giả như thầy thác thiệt, thì chúng ta lo việc làm ăn. Bằng thầy hãy còn, thì hết sức hết lòng bảo hộ.

Hành Giả nạt rằng:

- Ngươi đừng nói bất lợi, nghe ra như tiếng rủa thầy. Thôi đừng nói xàm, ta đi đó.

Nói rồi nhảy một cái, đã tới động Huỳnh phong. Thấy trong còn ngủ mê nên chưa mở cửa, Hành Giả niệm chú, hóa ra một con muỗi bông, hai cẳng có rằn có rực, bay vào trong động, thấy tiểu quỷ đương ngủ mê.

Chúa động dậy kêu hết thảy, rồi nói rằng:

- Chúng bây coi cửa nẻo cho tử tế. Sợ trận gió thổi Hành Giả không chết, chắc là tìm đến chẳng không.

Hành Giả nghe rồi, bay ra thấy cửa khóa chặt lắm. Liền chun lỗ hở ra ngoài. Thấy vườn rộng mênh mông, giữa vườn có cây trụ. Trên cây trụ ấy có trói thầy mình.

Hành Giả thấy thầy khóc thảm thiết, liền đậu trên đầu mà kêu rằng:

- Bớ thầy, bớ thầy.

Tam Tạng biết tiếng nói rằng:

- Ngộ Không ôi! Ta trông gần chết đi mà thôi, ngươi ở đâu mà kêu ta đó?

Hành Giả nói:

- Tôi ở trên đầu thầy, xin thầy chớ nóng. Bữa nay tôi quyết bắt cho đặng yêu quái mà cứu thầy ra. Thôi tôi đi đó. Nói rồi kêu ve ve bay vào động, thấy Huỳnh Phong ngồi chính giữa mà điểm binh yêu.

Lại có Tiểu yêu vào báo rằng:

- Tôi đi tuần đến cụm rừng, thấy hòa thượng mỏ dài tai lớn. May tôi chạy lẹ, bằng không đã bị bắt rồi. Còn ông hòa thượng khỉ hôm qua đi đâu không biết.

Huỳnh Phong nói:

- Có khi bị gió thổi chết rồi, bằng không thì đi viện binh chỗ khác.

Tiểu yêu nói:

- Nếu gió thổi nó chết, thì chúng ta may biết dường nào. Lại e còn sống đi viện thần binh nào ta cũng không sợ. Hành Giả đậu trên trinh, nghe rõ rất mừng. Liền bay ra xa xa, hiện hình về kêu Bát Giới.

Bát Giới hỏi:

- Anh thám nghe tin làm sao đó? Tôi ở đây mới rượt tiểu yêu.

Hành Giả cười rằng:

- Em thiệt có tài lắm!

Liền thuật câu chuyện cho Bát Giới nghe, rồi nói rằng:

- Nó đã khai tên, ngặt không biết Linh Kiết bồ tát ở đâu mà thỉnh.

Anh em đương bàn luận, xảy thấy ông già đi ngoài đường.

Bát Giới ngó thấy, nói với Hành Giả rằng:

- Lời tục nói: Muốn thông việc dưới núi, thì hỏi kẻ đi đường. Anh hỏi thử ông già, họa may có biết chăng?

Hành Giả cất thiết bảng, chạy ra đường cái, bái ông già mà nói rằng:

- Chúng tôi đi thỉnh kinh, thầy tôi rủi bị yêu bắt. Xin ông làm ơn chỉ giúp, ông Linh Kiết bồ tát ở nơi nào?

Ông già ấy nói:

- Ông Linh Kiết ở hướng Nam, cách ba ngàn dặm, có hòn núi tên Tiểu Tu Di. Trong núi có kiểng chùa, là chỗ Linh Kiết bồ tát ở. Các ông đi thỉnh kinh của ngài hay sao?

Hành Giả nói:

- Không phải thỉnh kinh của ngài, thiệt cậy ngài một chuyện. Song không biết ngỏ nên phải hỏi đường.

Ông già ấy chỉ hướng Nam mà nói rằng:

- Cứ đi như nầy thì tới.

Gạt Hành Giả ngó theo phía đó, ông già ấy hóa gió bay đi.

Hành Giả ngó lại thấy bên đường có một miếng giấy có đề bốn câu thơ rằng:

Nói lại Tề Thiên đặng rõ tình,

Ông già ấy thiệt Lý trường Canh,

Phật cho nhà gã Phi long trượng,

Linh Kiết đem truyền máy phật binh.

Hành Giả cầm thiệp dạy lại, Bát Giới nói rằng:

- Anh ôi! Chúng ta mấy bữa rày rủi quá, hay thấy qủy ban ngày. Ông già hóa gió là ai vậy?

Hành Giả đưa thiệp cho Bát Giới.

Bát Giới xem lá thiệp rồi hỏi rằng:

- Lý Trường Canh là ai đó?

Hành Giả nói:

- Ấy là danh hiệu ông Thái Bạch kim tinh.

Bát Giới nghe rõ, quỳ lạy thinh không mà nói rằng:

- Ân nhân tâu cứu tôi năm xưa, phải không ắt chẳng còn tánh mạng.

Hành Giả nói:

- Em đừng ló đầu ra, hãy trốn trong rừng mà coi đồ giữ ngựa. Đặng ta đi tìm Phật cứu thầy.

Bát Giới nói:

- Tôi biết mà! Tôi đà học phép rùa, cứ nhịn thua rút cổ. Anh đi lo việc ấy cho mau.

Hành Giả dùng phép Cân đẩu vân, nhảu qua chánh Nam một cái. Thấy có hòn núi, hào quang chiếu sáng lòa. Nhắm nghía cảnh chùa tốt lắm: Hương bay ngui ngút, chuông gióng thanh tao, Hành Giả đi tới chùa, thấy thầy đạo sĩ đương niệm Phật.

Hành Giả bái và hỏi:

- Đây phải là chùa Linh Kiết bồ tát chăng?

Đạo sĩ đáp rằng:

- Phải, mà tìm có chuyện chi?

Hành Giả nói:

- Xin ông làm ơn vào bạch cùng bồ tát rằng: Tôi là học trò Đường Tăng Tam Tạng, tên tôi là Tôn Ngộ Không, khi trước có làm Tề Thiên Đại Thánh, nay có chuyện cần cấp, xin vào ra mắt bồ tát bây giờ.

Đạo sĩ cười rằng:

- Danh hiệu nhiều quá tôi có nhớ ở đâu!

Hành Giả nói:

- Thôi ông nói tắt như vầy: Tôn Ngộ Không là đệ tử Đường Tăng xin vào ra mắt.

Đạo sĩ vào báo , Linh Kiết sửa áo mão ra tiếp nghinh. Rước Hành Giả vào ngồi, truyền đệ tử đem trà ra đãi.

Hành Giả:

- Tôi có chuyện cần cấp không rảnh mà uống trà. Thầy tôi bị Huỳnh Phong bắt rồi, nên đến nhờ ơn Bồ tát.

Linh Kiết Bồ Tát nói:

- Phật Như Lai có cho ta hai phép, là Phi Long trượng, với Định Phong châu đặng ở đây mà trấn nó. Khi trước ta đã bắt đặng, lại dung cho nó tu hành, ngày nay nó phạm đến lịnh sư, làm cho ta mang tội.

Nói rồi lấy hai phép, đằng vân đi với Ngộ Không.

Khi tới núi Huỳnh Phong, Linh Kiết biểu Hành Giả rằng:

- Tôi ở trên mây, Đại Thánh xông vào khiêu chiến, dụ nó ra khỏi động, thì tôi bắt tức thì. Đã có Định Phong châu ở đây, chắc nó làm gió vàng không được.

Hành Giả y lời xách thiết bảng xông vào phá cửa.

Tiểu yêu vào phi báo.

Huỳnh Phong nổi giận nói rằng:

- Con khỉ nầy vô lễ quá! Thế nầy dung nó chẳng đặng rồi. Ta ra trận, quyết thổi cho nó chết.

Nói rồi cầm chỉa ba ra cửa động, nhảy đâm Hành Giả tức thời.

Hành Giả liền đánh lại.

Ước chừng ít hiệp, Huỳnh Phong day mặt về hướng Tốn, mà hớp gió Đông Nam, xảy thấy Linh Kiết ở trên mây, quăng gậy Phi Long xuống, hóa ra con rồng vàng tám móng, chụp đầu Huỳnh Phong đập vào núi, liền hiện nguyên hình là con chuột lông vàng nghệ.

Hành Giả giá thiết bảng muốn đập óc cho rồi, Linh Kiết cản rằng:

- Đại Thánh đừng giết nó. Nguyên nó là con chuột cống, tu dưới chân núi Linh Sơn. Song nó uống dầu lưu ly trước bàn Phật, nên đèn ấy lu hoài, nó sợ Phật Kim Cang bắt nó cầm tù, nên trốn xuống làm yêu làm quỷ. Bây giờ ta bắt đặng, phải nạp cho Phật Tổ xử phân. Nếu giết tư là vô lễ.

Hành Giả nghe nói liền tạ Ơn.

Linh Kiết bay về Tây độ.

Nói về Bát Giới ở trong rừng lấp ló dòm hoài.

Xảy thấy Hành Giả về tới.

Bát Giới mừng rỡ hỏi rằng:

- Chẳng hay công việc ra thể nào?

Hành Giả thuật các chuyện , rồi nói rằng:

- Nay hai anh em mình đi tới động Huỳnh Phong, mà cứu sư phụ.

Bát Giới nghe nói mừng quá, đồng vào động Huỳnh Phong.

Những là thỏ đế, chồn hôi, nai chà, gấu ngựa, đều bị Đinh ba đập chết cả bầy.

Đồng ra sau vườn, mở dây cho Tam Tạng.

Bát Giới mừng rỡ dọn cơm nước đãi thầy, Hành Giả thuật các chuyện cho thầy nghe.

Tam Tạng cám ơn hết sức.

Thầy trò ăn uống xong xả, đồng ra động tức thì.

Ba thầy trò nhắm hướng Tây thẳng tới.

Hồi 22
Bát Giới cự chiến sông Lưu Sa
Mộc Tra vâng phép thâu Ngộ Tịnh
Nói về ba thầy trò đi ít ngày khỏi Huỳnh Phong lãnh, đi đường thẳng, hết Hạ qua Thu. Trời Tây sao lửa thấy lờ mờ, liễu ủ tiếng ve kêu réo rắt.

Ngày kia đi tới mé sông hết đường đi bộ.

Xảy thấy sông sâu thăm thẳm, sóng bủa tưng bừng.

Tam Tạng ngồi trên ngựa nói rằng:

- Sông rộng mênh mông lại không có thuyền đò đưa đón. Biết làm sao qua tới mé sông?

Hành Giả nhảy lên mây che tay dòm xuống.

Trở về thưa lại rằng:

- Thầy ôi! Thiệt khó qua lắm!

Tam Tạng hỏi:

- Từ đây qua mé bao xa?

Hành Giả nói:

- Xẹt ngang qua chắt tám trăm dặm.

Bát Giới nói:

- Sao anh nhắm chắt như vậy?

Hành Giả nói:

- Con mắt ta ban ngày coi thấu việc dữ lành ngàn dặm. Khi nãy trên mây ngó xuống thấy sông sâu chẳng biết bao nhiêu, chớ bề mặt chắc là tám trăm dặm.

Tam Tạng thở ra quay ngựa lại. Xảy thấy trên bờ có tấm bia đá.

Thầy trò thấy trong bia đá có ba chữ cổ tự lớn, là "Lưu Sa hà".

Dưới có bốn hàng chữ rằng:

Lưu Sa rộng tám trăm,

Nước sâu ba ngàn tầm

Lông ngỗng trôi không nỗi,

Bông lan rớt cũng trầm.

Ba thầy trò đương coi bia, xảy nghe sóng bủa ầm ầm, dưới nước trồi lên một con yêu quá dữ.

Có bài thơ làm chứng như vầy:

Đầu đỏ chờm bờm tóc rối nhăng,

Tròn vo cặp mắt chói như đăng,

Màu chàm còn kém màu da mặt,

Tiếng sấm không bằng tiếng nói năng,

Mình bận áo lông vàng có sọc,

Lưng đeo dây nịt trắng từ lằn,

Sọ người chín cái mang đầy cổ,

Gậy báu cầm tay bộ dữ dằn.

Con quái ấy chạy xốc lên bờ lại chụp Tam Tạng.

Hành Giả ôm thầy chạy hoảng. Bát Giới để gánh xuống, vác cào cỏ đập đùa.

Con quái ấy giơ gậy báu ra đỡ, hai người đánh ẩu đả tại mé sông Lưu Sa, hai mươi hiệp không phân thắng bại.

Còn Hành Giả ôm thầy Tam Tạng, ngồi coi Bát Giới đánh yêu, Hành Giả ngứa nghề, cứ xăng tay áo dằn lòng không đặng, lấy thiết bảng bạch rằng:

- Xin thầy ngồi đây, không hề chi mà sợ, để tôi trợ chiến với Bát Giới giết con thủy quái mới xong.

Nói rồi nhảy vào giơ thiết bảng đập đại, con quái ấy kinh hãi liền nhảy xuống sông. Bát Giới dặm cẳng nói rằng:

- Ai biểu anh đánh tiếp? Nó đã đuối tay hết sức, nội năm ba hiệp nữa, tôi bắt sống như chơi, tại anh hành hung nó trốn mất biết đâu mà kiếm?

Hành Giả cười rằng:

- Không nói giấu chi em. Từ khi đánh con Huỳnh Phong đến nay, hơn một tháng không từng múa gậy, nay thấy em đánh với nó, hay biết dường nào, nên ngứa nghề nhảy vô thử sức. Không dè con quái ấy nhát quá, bại tẩu xuống sông, bây giờ biết làm sao cho đặng.

Nói rồi đồng trở lại với thầy.

Tam Tạng hỏi:

- Bắt đặng yêu quái hay không?

Hành Giả bạch rằng:

- Con quái ấy dở quá, nó nhảy xuống sông rồi.

Tam Tạng nói:

- Đồ đệ Ôi! Con quái ở sông nầy đã lâu, chắc lặn lội hay lắm.

Hành Giả nói:

- Phải! Nếu chúng tôi bắt đặng nó, thì chẳng giết làm chi. Biểu nó đưa thầy qua sông cho khỏi, ngặt tôi chưa quen thủy tánh, nên đánh dưới nước không hay.

Bát Giới nói:

- Lão Trư năm trước là Nguyên soái Thiên hà, nên từng quen thủy tánh. Song ngại bà con dòng họ nó trợ chiến với nhau. Còn tôi có một mình cự sao cho lại?

Hành Giả nói:

- Như ngươi xuống nước chẳng khá đánh lâu. Trá bại dụ nó lên đây, thì có ta tiếp cứu.

Bát Giới nói:

- Phải.

Liền cổi giày ra, tay cầm đinh ba nhảy xuống sông, rẻ nước mà đi tới đáy.

Nói qua con quái ấy, thua về đương thở dốc.

Xảy thấy nước rẻ làm hai, coi lại là Bát Giới.

Con quái ấy giá gậy đón đầu lại nạt rằng:

- Hòa Thượng nầy đi đâu đó?

Bát Giới đưa đinh ba ra đở, và hỏi rằng:

- Ngươi là yêu tinh chi đó, mà dám đón đường ta!

Con quái ấy nói:

- Bởi ngươi chẳng biết ta. Chớ ta không phải yêu ma quỷ quái, cũng không phải hạ tiện vô danh. Ngươi hãy nghe ta nói:

Tu hành thần thánh chầu Hoàng Thượng,

Phong chức Quyện Liêm ban bửu trượng

Làm bể lưu ly tưởng chết tươi,

Nhờ ơn Xích Cước xin đày bướng

No thời xuống nước kiếm nơi nằm,

Đói lại lên bờ tìm thịt hưởng

Chín cái sọ người dấu tích đây,

Gặp mi ăn tái không chờ nướng

Bát Giới nghe nói nổi giận mắng rằng:

- Ngươi không có con mắt, tưởng dễ ăn thịt ta hay sao? Thế mi tưởng ta là tướng chạy, hãy coi cho biết đinh ba.

Nói rồi liền đập. Hai người đánh đồng lực.

Ban đầu còn đánh dưới sông, Bát Giới dẫn lần lần lên mặt nước, đồng đứng trên ngọn sóng, đánh đặng hai giờ.

Khi ấy Hành Giả đứng trên bờ ngứa nghề hết sức.

Xảy thấy Bát Giới trá bại, con quái ấy rượt theo.

Gần tới mé sông, Hành Giả nín không đặng nữa, nhảy ra đập một cây thiết bảng. Con quái ấy không dám cự, liền lặn xuống sông.

Bát Giới giận quá nói rằng:

- Tánh hay làm khỉ, phải rán tề tỉnh một chút thì tôi gạt nó lên bờ. Anh sẽ chặn nó dưới mé sông, thì bắt mới đặng. Bây giờ báo hại nó thất kinh lặn mất, một đời cũng không dám ló lên!

Hành Giả cười rằng:

- Thằng khùng, đừng có ngầy ngà, để thưa cho thầy rõ.

Nói rồi đồng trở lại, thuật các việc cho thầy nghe.

Tam Tạng nói:

- Bây giờ biết tính làm sao!

Bát Giới nói:

- Anh phải tính làm sao mới được?

Hành Giả nói:

- Bây giờ trời đã tối, để tôi đi xin cơm cho thầy ăn. Ngủ một đêm rạng ngày sẽ tính.

Nói rồi lấy bình bát nhảy lên thinh không, một chút trở về dâng cơm cho sư phụ. Tam Tạng thấy Hành Giả về mau quá, liền kêu mà hỏi rằng:

- Ngộ Không, thầy trò ta hãy đến nhà cho cơm đây mà hỏi thăm cách thế qua sông nầy, còn hơn cự với con quái ấy.

Hành Giả cười rằng:

- Nhà ấy xa quá chừng! Cách hơn bảy ngàn dặm. Người chưa từng thấy con sông ấy, mà bày cách thế làm sao?

Bát Giới hỏi:

- Bảy ngàn dặm đường, sao anh đi mau dữ vậy?

Hành Giả nói:

- Lão Tôn có nghề cân đẩu vân hay lắm. Nhảy một cái tới 10 muôm 8 ngàn dặm đường. Giá bảy ngàn dặm mà bao xa, nhảy vừa vừa cũng tới.

Bát Giới nói:

- Anh nhảy xa như vậy, thì cỏng thầy nhảy đại qua sông. Công hơi đâu đánh với con yêu cho mệt?

Hành Giả nói:

- Ngươi cũng biết đằng vân, sao chẳng cỏng thầy mà bay thử? Thầy là thai phàm xác thịt. Nặng hơn hòn núi Thái sơn. Chúng ta cỏng rồi đằng vân sao nổi? Lời xưa nói: Dầu đở Thái sơn như hột cải, khó đem phàm tục khỏi vòng trần. Những phép thâu đường, phép dời núi, ta đều biết hết. Bởi vì phần thầy phải chịu hoạn nạn, đi xứ nầy cho đến xứ kia. Anh em mình tuy bảo hộ thầy, chớ thế khổ não cho thầy cũng không đặng. Dầu cho anh em mình đến Tây Phương cầu khẩn. Phật cũng không phát kinh. Vì cớ nầy:

Bằng thỉnh đặng như chơi, thì coi ra không quý.

Phải để cho thầy dày công cực khổ, mới thỉnh đặng kinh.

Bát Giới nghe nói liền dạ.

Thầy trò ăn cơm đở đói rồi ngủ tại mé sông phía Đông.

Rạng ngày Tam Tạng hỏi rằng:

- Ngộ Không, bửa nay ngươi tính làm sao đó?

Hành Giả thưa rằng:

- Tôi không biết tính làm sao, phải sai Bát Giới ra đánh nửa.

Nói rồi biểu Bát Giới rằng:

- Sư đệ phải đi một chuyến nữa. Ta không nóng nảy đâu. Đợi dẫn nó lên bờ cho xa, ta chận phía mé sông thì bắt đặng.

Bát Giới vâng lời, vác đinh ba nhảy xuống.

Con quái ấy giá gậy mà nói rằng:

- Ngươi đừng xông tới, coi gậy ta đây nè?

Bát Giới đưa đinh ba ra đở, rồi nói rằng:

- Cây gậy tang của mi đó, hay chi lắm mà khoe?

Con quái ấy nói:

- Mi không biết gốc tích cây bửu trượng của ta, hãy nghe cho rõ.

Nói rồi ca rằng:

Nhành quế cung trăng thành khí giới,

Đặt tên bửu trượng trừ yêu quái,

Ngươi Ngô Cang đốn rất cân phân,

Thợ Lỗ Ban làm không trễ nải

Muốn nhỏ muốn to ý nhiệm mầu,

Biến dài biến vắn người kinh hãi

Có đâu vô dụng thể Đinh ba,

Cào cỏ xong rồi vung liếp cải.

Bát Giới nghe ca mắc cở, cười và nói rằng:

- Đồ chết bụi, khéo nói lẻ. Thứ cào cỏ vung liếp cải thây nó, e đập nhằm một cái, chảy máu theo chín lỗ chân răng.

Con quái ấy nổi xung, giơ gậy liền đập.

Ấy là:

Bát Giới Sa Tăng chưa kết nghĩa,

Đinh ba Bữu trượng lại làm quen.

Hai người đánh đặng ba mươi hiệp, sức cũng cầm đồng, Bát Giới trá bại chạy lên bờ, con quái ấy đuổi theo gần tới mé.

Bát Giới nói:

- Mi giỏi lên đất liền đánh thử sức mới biết thấp cao?

Con quái ấy nói:

- Mi gạt ta lên bờ, cho có người trợ lực. Mi giỏi thì xuống mặt nước mà đánh với ta! Thiệt con quái ấy khôn lắm, không chịu lên bờ, cứ đứng dưới sông nói dằn quay với Bát Giới.

Khi ấy Hành Giả thấy con quái ấy khôn quá, không chịu lên bờ.

Liền tính kế rằng:

- Để mình làm như diều xớt gà, ắt là bắt nó đặng.

Tính rồi nhảy lên không trung, bay xuống mà nắm đầu tóc.

Con quái đang cải lẩy với Bát Giới nghe tiếng gió gần mình, ngước mặt ngó lên thấy Hành Giả trên mây bay xuống.

Con quái thất kinh hồn vía lặn tuốt xuống sông.

Hành Giả nhảy xuống đất, đứng lơ láo rồi nói rằng:

- Em ôi, con quái ấy khôn quá, không chịu khỏi nước, anh em ta biết tính làm sao? Bát Giới nói:

- Khó chịu lắm! Khó chịu lắm! Tôi rán đã hết hơi mẹ đẻ, mà đánh cũng cầm đồng. Có xuống nữa cũng vô ích.

Nói rồi hai người về bạch tự sự với thầy.

Tam Tạng nghe nói châu mày mà than rằng:

- Gay trở như vầy, biết làm sao mà qua sông nầy cho đặng?

Hành Giả thưa rằng:

- Xin thầy đừng phiền não. Bát Giới bảo hộ thầy, đừng tranh đua với nó. Để ta qua Nam Hải đi thỉnh Quan Âm.

Bát Giới nói:

- Phải, phải. Anh gặp Bồ Tát bạch giùm cho tôi rằng: Ngộ Năng cám ơn thầy điều độ, nay đà theo sư phụ đi thỉnh kinh.

Tam Tạng dặn rằng:

- Ngươi đi thỉnh Bồ tát, rồi trở lại cho mau, kẻo nhọc lòng ta trông đợi.

Khi ấy Hành Giả dùng phép Cân đẩu vân, bay qua Nam Hải. Nửa giờ đến núi Phổ đà, vào rừng Tử trước, cậy Du thần vào bạch với Quan Âm.

Nhằm lúc Phật Bà đương xem sen dựa mé ao với Bỗng Châu long nữ, nghe báo, liền về ngự tòa sen.

Đòi Hành Giả vào hỏi rằng:

- Ngươi đến có chuyện chi?

Hành Giả bạch rằng:

- Thầy tôi đến xóm Cao lão, thâu đặng một người đệ tử gọi là Trư Ngộ Năng. Lại đặt hiệu là Bát Giới. Nay đi khỏi Huỳnh Phong lãnh, lại tới Lưu Sa hà. Sông ấy nước yêu sâu 3.000 dặm đàng. Bề ngang tới 800 dặm, không thuyền đò chi hết, thầy tôi khó nổi qua sông. Vả lại có thủy quái làm hung. Ngộ Năng đánh ba lần cầm cự. Nên đến cầu Bồ Tát, đưa thầy tôi qua khỏi sông Lưu Sa.

Quan Âm nói:

- Cũng tại con khỉ nầy hay làm phách, không nói chuyện thỉnh kinh đó chăng?

Hành Giả bạch rằng:

- Ngộ Năng đánh với nó dưới sông, chuyện ấy chắc không nói tới. Tôi dốc bắt cho đặng nó, mà biểu đưa thầy tôi qua sông.

Quan Âm nói:

-Con quái ấy là Quyện Liêm tướng quân phải đọa, đà thọ phép với ta. Biểu ở đó mà chờ Đường Tăng tới nơi, sẽ theo làm đệ tử. Phải ngươi nói việc thỉnh kinh cho rõ, thì nó sẽ quy y.

Nói rồi kêu Huệ Ngạn đến.

Quan Âm lấy cái bầu đở trong tay áo, đưa cho Huệ Ngạn mà dặn rằng:

- Ngươi đi với Ngộ Không đến mé sông Lưu Sa, kêu bớ Ngộ Tịnh thì nó đi lên. Trước đem nó tới quy y với Đường Tăng, rồi biểu nó lấy chín cái sọ người ta kết dính nhau vuông vức, để trái bầu chính giữa hóa ra thuyền phép cho Tam Tạng qua sông.

Huệ Ngạn vâng lời đi với Hành Giả.

Nói về Bát Giới xa xa ngó thấy Hành Giả đi với Mộc Tra, liền dắt thầy ra nghinh tiếp.

Bát Giới tạ Ơn Mộc Tra.

Hành Giả nói:

- Chúng ta lo đi kêu tên ấy cho mau, rồi thủng thẳng sẽ nói chuyện.

Tam Tạng hỏi:

- Kêu ai?

Hành Giả thuật chuyện lại.

Tam Tạng nghe rõ, quỳ lạy về hướng Nam.

Lại làm lễ Mộc Tra mà nói rằng:

- Xin Tôn Giả làm ơn đi cho kiếp kiếp.

Huệ Ngạn cầm bầu đỏ, bay đến giữa sông, cất tiếng cả kêu rằng:

- Ngộ Tịnh, Ngộ Tịnh, người thỉnh kinh đi tới đã lâu, sao ngươi không chịu phép? Con quái ấy đương lặn dưới đáy nước, xảy nghe người kêu tới pháp danh, lại nghe nói có người thỉnh kinh tới, liền trồi lên mặt nước, xem thấy Mộc Tra, mừng rỡ bái chào mà rằng:

- Tôi trễ sự tiếp nghinh, xin Tôn Giả miễn chấp. Còn Bồ Tát ở đâu?

Huệ Ngạn nói:

- Thầy ta không đến, sai ta tới dặn ngươi rằng: Phải theo làm đồ đệ Đường Tăng, và lấy chín cái sọ kết bè vuông vức, để trái bầu này chính giữa, làm thuyền phép mà đưa thầy.

Ngộ Tịnh hỏi:

- Người thỉnh kinh ở đâu?

Huệ Ngạn chỉ và nói rằng:

- Vậy chớ ai ngồi trên bờ đó?

Ngộ Tịnh nghe nói, nhảy lên bờ quì trước mặt Tam Tạng mà nói rằng:

- Đệ tử có mắt không ngươi, nên thấy thầy mà không biết, lở lầm xúc phạm, xin thầy mở lượng biển rộng thứ dung.

Nói rồi liền lạy.

Tam Tạng hỏi:

- Mi thiệt tình chịu theo đạo Phật sao?

Ngộ Tịnh nói:

- Bạch thầy! Đệ tử trước đã vâng lời Bồ Tát, lấy tên sông làm họ, và đặt pháp danh gọi là Sa Ngộ Tịnh, lẻ nào nay chẳng theo thầy!

Tam Tạng nói:

- Như vậy thì Ngộ Không đưa dao cạo cho ta.

Hành Giả đưa dao.

Tam Tạng cạo sạch trơn tóc đỏ.

Sa Ngộ Tịnh lạy thầy xong xả, rồi lạy kêu Hành Giả là anh cả, Bát Giới là anh hai. Tam Tạng thấy Ngộ Tịnh lạy giống thầy chùa, nên kêu là Sa Tăng.

Huệ Ngạn nói:

- Thôi, người tu một thầy như anh em một nhà, việc lễ nghi chế bớt. Hãy lo làm phép thuyền cho kíp mà đưa thầy.

Sa Tăng không dám dần dà, cổi xâu chuổi bồ đề, mà làm thuyền Bác Nhã. Để bầu đỏ chính giữa, thỉnh Tam Tạng xuống thuyền, bên hữu có Ngộ Tịnh, bên tả có Ngộ Năng, đồng bay theo bảo hộ, ở trên cao thì có Mộc Tra, Hành Giả dắt ngựa và gánh đồ, đằng vân theo sau rốt, gió êm sóng lặng thuyền chạy đường tên, chẳng bao lâu đà đến bờ.

Tam Tạng bước lên mé, trong mình không lấm ướt chút nào.

Thầy trò day mặt về Nam Hải lạy tạ Quan Âm.

Tam Tạng tạ Ơn Huệ Ngạn.

Huệ Ngạn thâu bầu hồng trở về Nam Hải, chín cái sọ tiêu mất, hóa chín ngọn khói bay tan.

Bốn thầy trò lấy làm lạ lùng, đồng nhắm cỏi Tây đi tới.


Hồi 23
Tam Tạng chẳng quên đạo
Tứ Thánh thử lòng thiền
Nói về bốn thầy trò đi dọc đàng bày cạn nguồn lòng mối đạo, chuyện trò vui đẹp, chẳng chút ngại ngùng, mãng xem cỏ nội hoa ngàn, bóng ác dường thoi đưa, ba thu đã gần lụn.

Ngày kia trời tối, Tam Tạng nói với đồ đệ rằng:

- Mặt trời chen lặn, biết nhà nào ngủ đỡ một đêm?

Hành Giả thưa rằng:

- Người tu hành thì uống nước suối, ăn trái cây, ngủ ngoài sương, nằm dưới nguyệt, chỗ nào cũng là nhà hết thảy, hỏi thăm xóm làm chi?

Bát Giới nói:

- Anh đi không, thì thong thả hơn hết, chẳng hề thương kẻ nặng nề, cái gánh đồ nầy, có một Lão Trư ra sức. Anh theo làm học trò lớn, để tôi làm chức trưởng công, tôi biết tánh anh muốn làm tiên, chẳng hề gánh vật, còn ngựa của thầy mập quá, để cho tôi gởi gánh đồ.

Hành Giả nói:

- Ngươi tưởng nó thiệt là ngựa hay sao? Ấy là Thái Tử thứ ba, con vua Long vương Tây hải, bởi vì phạm tội, nhờ Quan Âm xin với Ngọc Hoàng, dạy nó phải biến ra con ngựa kim, mà chở thầy cho tới Tây Phương Phật, ai có phần nấy, ngươi còn xeo nó hay sao?

Sa Tăng nghe nói hỏi rằng:

- Nó là rồng thiệt sao anh?" Hành Giả nói:

- Phải.

Bát Giới nói:

- Thiên hạ đồn rằng: Rồng thì có phép thần thông, phun mây vượt biển, sao mà đi chậm như thường?

Hành Giả nói:

- Để ta biểu nó nhảy sải cho ngươi coi.

Nói rồi giá cây thiết bảng, hào quang chiếu sáng đỏ trời, con ngựa sợ đánh nhằm nó, liền chạy bay như tên bắn, Tam Tạng gò cương không lại, phải ôm cổ nó mà nằm. Chạy tới cụm rừng ngừng lại, Tam Tạng mới thở ra hơi, ngó thấy trong rừng có xóm, mừng rỡ nói rằng:

- Các đồ đệ, đây có nhà người, hãy ghé vào mà ngủ đỡ.

Hành Giả ngó lên trời. Thấy mây lành che phủ, rạng chói đỏ trời. Biết là Tiên Phật hiện ra, ngặt thiên cơ không dám lậu.

Liền nói xuôi rằng:

- Tối rồi, may lắm, thầy trò vào đó mà ngủ nhờ.

Tam Tạng liền xuống ngựa. Thấy nhà lầu: Rèm che sáo phủ, cột vẽ rường soi.

Bát Giới trầm trồ rằng:

- Chắc là nhà giàu lớn.

Hành Giả bước tới, Tam Tạng cản rằng:

- Chẳng nên, chẳng nên; mình là người tu hành phải giữ phép luật. Đợi có ai ra cửa, sẽ xin cho vào đó mà ngủ nhờ.

Cùng nhau ngồi trước ngỏ hèn lâu, không thấy ai ra hỏi.

Hành Giả nóng quá, bước vào cửa ngỏ mà xem, thấy ba căn nhà trở mặt về hướng Nam, trong treo một bức sơn thủy. Trước có một cái bàn độc sơn đen. Trên bàn để cái lư đồng rất lớn.

Cột có đôi liễn xuân rằng:

Gió đưa tơ liễu trời vừa tối,

Tuyết đượm bông mai cảnh gặp xuân.

Trước nhà khách để sáu cái ghế da. Có bức bình phong che gió.

Hành Giả đương nhắm nhía, xảy nghe có tiếng giày.

Thấy có đàn bà chừng ba mươi tuổi, bước ra hỏi tiếng dịu dàng rằng:

- Chẳng hay ai ở đâu mà lén vào nhà đàn bà góa?

Hành Giả hãi kinh nói rằng:

- Tôi là sãi Đại Đường bên Đông Độ, vâng chiếu chỉ qua Tây Phương lạy Phật thỉnh kinh. Bốn thầy trò tôi đến đây, mặt trời chen lặn, nên vào xin phép cho chúng tôi ngụ đỡ một đêm.

Người đàn bà ấy cười và hỏi rằng:

- Còn ba thầy nữa ở đâu? Xin mời vào luôn thể.

Hành Giả cả kêu rằng:

- Xin mời sư phụ đi vô.

Tam Tạng biểu Bát Giới, Sa Tăng dắt ngựa gánh đồ vào cửa.

Người đàn bà ấy bước ra nghinh tiếp, Bát Giới lén xem nhan sắc như vầy:

Trâm cài lược giắt kể đôi từng,

Châu ngọc tai đeo chiếu sáng trưng,

Son phấn chẳng dồi coi cũng đẹp,

Dung nhan chỉ kém gái còn xuân.

Người đàn bà ấy mừng rỡ, rước bốn thầy trò vào nhà, mời ngồi theo thứ tự.

Xảy thấy con đầy tớ gái, bưng kỉ vàng chén ngọc và một mâm trái cây mùi lạ ngọt ngào, trà ngon thơm ngát.

Người đàn bà ấy xăn tay áo rộng, bưng trà trao đủ bốn thầy.

Lại truyền dọn cơm chay thết đãi.

Tam Tạng chắp tay hỏi rằng:

- Chẳng hay bà họ chi? Và xứ nầy gọi là xứ gì; xin cho tôi biết.

Người đàn bà ấy đáp rằng:

- Đây thuộc về phương Tây gọi là Đông Ấn độ. Còn tôi họ Giả, chồng tôi họ Mạc. Cha mẹ chồng tôi mất sớm, vợ chồng tôi coi sóc gia cang. Sự nghiệp muôn vàng, ruộng vườn ngàn khoảnh. Vợ chồng tôi có ba đứa con gái, không đặng chút trai, chồng tôi bỏ mình năm xưa, nay đà mãn phục. Không bà con chi hết, mẹ con tôi giữ gìn gia tài. Muốn gã con lấy chồng, lại sợ không ai coi sự nghiệp. Nay gặp bốn thầy trò ghé lại, bốn mẹ con tôi đương đóng cửa kén chồng. Không biết đại sự có hoan hỉ hay không? Xin cho tôi biết?

Tam Tạng nghe nói, giả điếc làm câm. Cứ lim dim ngồi tưởng Phật.

Người đàn bà ấy nói rằng:

- Tôi có ba trăm dãy ruộng gò, ba trăm dãy ruộng bưng, ba trăm ngôi vườn thanh hoa đẳng vật. Dê heo vô số, trâu ngựa cả bầy, đồng cỏ trái cây hơn bảy chục sở, lúa gạo ăn chín năm không hết, hàng lục mặc mười năm có dư, bạc vàng dùng mãn đời cũng không thiếu. Kể chi nữ trang y phục nệm gấm màn thêu. Nếu bốn thầy trò bằng lòng ở đây, thiệt hưởng phước thanh nhàn khoái lạc. Tội gì chịu cực mà đi không tới Tây Phương?

Tam Tạng cứ làm thinh không nói.

Người đàn bà ấy nói rằng:

- Ngày sanh tôi là giờ dậu, ngày mồng ba tháng tám, năm Đinh hợi. Chồng tôi lớn hơn tôi ba tuổi. Tôi năm nay đã bốn mươi lăm, con gái lớn tôi tên Chơn Chơn, đặng hai mươi tuổi. Con giữa tên Ái Ái, mười tám tuổi. Con gái út tên Liên Liên, mười sáu tuổi, đều chưa có nơi nào. Tôi tuy xấu xa, chớ ba đứa nhỏ đều xinh tốt. Nghề nữ công cũng chẳng thua ai. Bởi chồng tôi không có con trai, nên cưng chúng lắm. Cho ba đứa ăn học, đều biết làm thi phú văn chương. Tuy ở sơn lâm, mà không thô tục. Tài có sắc cũng có, xứ quê người chẳng quê; nhắm cũng xứng đôi với mấy thầy lắm. Nếu bằng lòng ở đây mà để tóc, thời làm chủ cái nhà nầy. Lại được mặc hàng lụa, ăn thịt thà, chẳng hơn đi Tây Phương, thì mặc vải bô, ăn cực khổ?

Tam Tạng ngồi trơ trơ, như vịt nghe sấm, tợ ếch mắc mưa, cứ lộn thinh con mắt. Còn Bát Giới nghe nói giàu sang thì mê, nghe nói nhan sắc cũng muốn, ngứa nghề nóng họng, ngồi trên ghế không yên, khác nào trong nệm có dồn kim, cứ nhỏm lên nhỏm xuống.

Dằn lòng chẳng đặng, bước lại vỗ Tam Tạng mà nói rằng:

- Thầy không nghe bà chủ nói hay sao? Ngồi lim dim giả điếc. Lẽ nào người nói phải mà làm cách chẳng chịu trả lời?

Tam Tạng giựt mình, trợn mắt và xí một tiếng.

Bát Giới lui về chỗ.

Tam Tạng nói rằng:

- Mi là nghiệp chướng. Người tu hành lẽ nào nghe giàu sang mà dời chí, thấy sắc mà động lòng?

Người đàn bà ấy cười rằng:

- Tội nghiệp thì thôi! Đi tu hành mà có ích chi đó?

Tam Tạng hỏi:

- Vậy chớ bà ở thế lại có ích chi?

Người đàn bà ấy nói rằng:

- Vậy thầy nghe tôi nói việc sung sướng cả đời. Xin đọc bài thơ làm chứng.

Thơ rằng:

Xuân đồi đồ mới dạo xem hoa,

Hạ thưởng sen xanh mặc nhổ nha

Thu có rau thơm và thịt sốt,

Đông thì nệm ấm với dầu thoa

Tư niên ngủ kỹ không mãi,

Cả kiếp ăn ngon mặc tốt mà

Trút cạn nguồn tình vui một bữa,

Khá hơn tìm tõi kiếm Di Đà.

Tam Tạng nói:

- Bà hưởng vinh hoa phú quý. Có ăn có mặc, con cái đầy nhà. Bà gọi là tử tế cũng phải. Còn tôi tu hành lại có ít theo tôi. Hãy nghe thử bài thơ thì biết.

Thơ rằng:

Tu hành theo phận chí không nguôi,

Trăng gió phường kia dạ phủi rồi

Ngoài thể tham lam là thể tục,

Trong mình đạo đức biết mình vui

Gắn cóng cầu Phật xin qua đó,

Mở lối từ bi trở lại thôi

Gẫm kẻ ở trần ăn mặc sướng,

E sau đọa xuống chốn tanh hôi.

Người đàn bà ấy nghe nói nổi giận đáp rằng:

- Thầy này thiệt vô lễ. Nếu tôi không vị tình ở Đông Độ, thì chắc đuổi ra ngoài. Tôi thiệt tình muốn dâng sư phụ quý khoái lạc cho mấy thầy, thầy lại nói biếm tôi như vậy! Dầu thầy mắc thọ phép tình nguyện không ưa việc thế thời thôi. Còn đệ tử của thầy, cũng cho đỡ một người làm rễ. Có đâu nói gắt như vậy?

Tam Tạng thấy người ấy giận dữ, liền nói xuôi rằng:

- Thôi, Ngộ Không ở lại.

Hành Giả bạch rằng:

- Tôi từ bé đến lớn không biết việc đời. Xin nhượng cho Ngộ Năng là người thông thạo.

Bát Giới nói:

- Anh đừng trao gánh cho tôi, thủng thẳng luận bàn mới đặng.

Tam Tạng nói:

- Hai đứa bây không chịu, thì để Ngộ Tịnh lại cho.

Sa Tăng bạch rằng:

- Tôi nhờ ơn Bồ Tát dạy biểu tu hành. Tôi tình nguyện theo thầy, chớ không tham phú quý. Có giết thì chịu, chớ không làm trái lẽ như vậy.

Người đàn bà ấy thấy ai nấy không chịu liền bước vào trong, đóng cửa bỏ bốn thầy ở ngoài, không trà nước chi hết.

Bát Giới than thở rằng:

- Thầy không thạo việc, nói một lời bất lợi biết dường nào? Phải chi thầy nói lòng vòng, cũng đặng ăn no ngủ ấm. Rạng ngày chịu không chịu, ai lại ép ai. Chẳng hơn không có cơm ăn, chịu một đêm sao nổi?

Sa Tăng nói:

- Thôi anh ở lại mà làm rễ cho xong.

Bát Giới nói:

- Em đừng trao gánh cho ta, thủng thẳng tính đi tính lại đã.

Hành Giả rằng:

- Không nói dài vắn chi hết. Như ngươi chịu ở lại, thì thầy làm xui với người ấy cho rồi. Ngươi làm rễ nhà giàu mặc sức ăn ngon bận tốt. Chắc dọn tiệc đãi họ, thầy trò ăn một bữa cũng no. Còn ngươi ở lại đây, thì lương toàn vô hại.

Bát Giới nói:

- Anh luận cũng cao, song không khỏi tiếng này: Ra trân rồi về trần. Để vợ còn cưới chồng.

Sa Tăng nghe nói hỏi rằng:

- Nói vậy nhị ca đà có vợ hay sao?

Hành Giả nói:

- Em không hay việc ấy. Nguyên là con rễ ông Cao Thái Công ở nước Ô Tư Tạng, bị ta bắt được mới theo. Vả lại Quan Âm có độ trước, nên cũng chẳng đã, phải bỏ vợ theo thầy. Nay cũng lâu ngày muốn bỏ thầy mà cưới vợ. Bát Giới ngươi lạy ta vài lạy, thì ta tính dùm chuyện đó mới xuôi.

Bát Giới đáp rằng:

- Đừng có nói xàm. Ý ai cũng như nấy, muốn bắt tôi chịu xấu một mình. Lời thường rằng: Thầy chùa đắm sắc, như ma đói thèm cơm. Ai lại gan dạ nào mà nói tốt. Điều muốn làm lớn thì làm láo, nói ra thì sợ chúng cười. Đến nay, dầu đèn cũng không, cơm nước cũng vắng. Người ta rán một đêm còn được, báo hại con ngựa nhịn cỏ, mai đi sao thấu đường xa. Thôi, để tôi dẫn nó đi ăn ba miếng.

Nói rồi mở cương ngựa dắt đi một nước.

Hành Giả nói nhỏ với Sa Tăng rằng:

- Ngươi ngồi đây với thầy, ta theo coi nó đi đâu cho biết.

Nói rồi ra khỏi nhà khách, dùn mình biến ra con chuồn chuồn đỏ, bay theo Bát Giới coi chơi. Thấy Bát Giới dắt ngựa gặp cỏ không cho ăn, cứ dắt ra phía sau đứng đó. Xảy thấy người đàn bà dắt ba đứa con gái, đứng coi bông cúc nơi cửa sau.

Bát Giới dắt ngựa đi trờ tới, ba nàng kia bước trái vào trong.

Người đàn bà ấy hỏi rằng:

- Thầy đi đâu đó?

Bát Giới buông dây cương bước tới, bái và nói rằng:

- Thưa mẹ, tôi đi cho ngựa ăn.

Người đàn bà ấy nói:

- Thầy ngươi không biết tính, ở nhà ta thì sung sướng, chẳng hơn đi tới Tây Phương?

Bát Giới cười rằng:

- Mấy người ấy vâng lệnh vua Đường đi thỉnh kinh, nên không dám ở đây. Song tôi còn ngại lắm. Sợ mẹ chê tôi mỏ dài tai lớn, không chịu gả con.

Người đàn bà ấy nói:

- Ta không chê đâu. Bởi vì nhà không có đàn ông, miễn đặng một người cầm lái. Song ngại vì ba đứa nhỏ, sợ tánh con gái hay chê.

Bát Giới thưa rằng:

- Xin mẹ nói dùm với mấy cổ: Đừng chê mập chê ốm. Tuy thầy tôi tốt mã, song cũng chẳng đặng mà ham, chớ như tôi diện mạo xấu xa, mà có ích lắm.

Người đàn bà ấy hỏi rằng:

- Ngươi có tài chi, thì nói cho ta nghe thử.

Bát Giới ca rằng:

Tuy vấn sanh tướng xấu, Song cũng có tài năng

Đào giếng chừng ba khắc. Câu mưa nội nửa ngày,

Giữ nhà hơn chó sủa: Cào đất quá trâu cày,

Trăm việc đều thông cả: Siêng năng ít ai tày.

Người đàn bà ấy nghe nói khen rằng:

- Giỏi như vậy thì xong lắm. Song ngươi về thưa lại với thầy. Nếu thầy ngươi bằng lòng thì ta bắt rễ.

Bát Giới nói:

- Thầy ấy không phải cha mẹ chi tôi, mà phải thưa đi thưa lại, ưng không là tại nơi tôi.

Người đàn bà ấy nói rằng:

- Như vậy thì xong lắm, để ta tính lại với con ta.

Nói rồi bước vào đóng cửa.

Bát Giới không cho ngựa ăn cỏ, cứ việc dắt về.

Chẳng ngờ Hành Giả bay theo nghe đủ các việc, liền bay về hiện hình như cũ, thưa với thầy rằng:

- Bát Giới dắt ngựa về đó.

Tam Tạng nói:

- Ngựa thì phải dắt mới đặng, nếu buông khơi thì nó chạy đi.

Hành Giả cười, rồi thuật hết các việc.

Khi ấy Bát Giới về tới, buộc ngựa xong rồi Tam Tạng nói:

- Ngươi thả ngựa ăn cỏ rồi chưa?

Bát Giới nói:

- Chẳng có cỏ non nên không thả ngựa.

Hành Giả nói:

- Không thả ngựa mà có quần ngựa hay không?

Bát Giới nghe hỏi biết chuyện lậu rồi, làm thinh không nói lại, ngồi ngoẻo đầu nhiều mỏ thở ra.

Giây lâu nghe tiếng mở cửa, những thế nữ cầm hai cặp đèn sáp, một cái lư hương, tiếng ngọc len ken, mùi thơm bát ngát, người đàn bà ấy dắt ba người con gái ra kêu mà nói rằng:

- Chơn Chơn, Ái Ái, Liên Liên mau ra mắt Đường Tăng ở Đông Độ.

Ba nàng ấy ra làm lễ, coi lịch sự như tiên.

Có bài ca làm chứng:

Mày như kiểng chẩu, mặt tợ phấn dồi

Sắc sảo đành ngiêng nước, nết na dễ động người

Liễu dịu dàng chân bước, huê chúm chím miệng cười

Nếu không Tiên nữ vì trần đọa thì cũng Hằng Nga xuống thế chơi.

Tam Tạng chắp tay cúi mặt, Sa Tăng nhắm mắt day lưng.

Hành Giả làm ngơ không ngó tới, có một mình Bát Giới coi không nháy mắt, nhìn muốn rớt tròng, mất vía, bay hồn, bấm gan tím ruột, liền bỏ nhỏ rằng:

- Chào các tiên cô giáng hạ, thôi, mẹ biểu mấy cổ lui vào.

Ba nàng ấy đều lui vô hết, để lại một cặp đèn.

Người đàn bà ấy hỏi rằng:

- Bốn thầy trò, ông nào thương con tôi mà bằng lòng ở lại?

Sa Tăng nói:

- Chúng tôi đà nhứt định, người họ Trư ở lại đã xong.

Bát Giới nói:

- Em đừng đổ án cho anh, để tính đi tính lại.

Hành Giả nói:

- Còn tính nổi gì nữa? Ngươi đã giao ước tại cửa sau rồi, bây giờ thầy làm Nam chủ hôn, ta đứng trưởng tộc. Sa Tăng làm mai, chẳng coi lịch làm chi, nay là ngày thiên ân tốt lắm, hãy lạy thầy vài lạy, rồi đi làm rễ cho mau.

Bát Giới nói:

- Đừng nói chơi không đặng, có đâu làm trái lẽ như vầy?

Hành Giả nói:

- Ngươi đừng có chối, miệng kêu mẹ đà chẳng biết mấy lần, chuyện gì mà nói chơi không được? Mau mau vào trong cho ta ăn đám cưới.

Nói rồi tay mặt kéo Bát Giới, tay trái kéo áo người đàn bà ấy nói rằng:

- Thôi, mẹ vợ dắt chàng rễ vào trong.

Người đàn bà ấy hối đầy tớ gái dọn cơm chay thiết đãi ba thầy.

Tam Tạng, Hành Giả, Sa Tăng ăn no rồi ngủ.

Còn người đàn bà ấy dắt Bát Giới đi không biết mấy phòng, Bát Giới nói:

- Thưa mẹ, tôi đã đói lòng, xin ghé phòng nầy một chút.

Người đàn bà ấy đáp rằng:

- Đây là kho lúa và hà để cối xay, chớ nhà bếp còn cách xa lắm.

Bát Giới nói:

- Thiệt nhà nhiều ngăn nắp quá!

Đi quanh co hơn một buổi, mới tới phòng nằm.

Người đàn bà ấy nói rằng:

- Nay nhằm ngày thiên ân, nhập phòng tốt lắm. Ngươi làm lễ cho mau.

Bát Giới nói:

- Mẹ nói phải lắm, xin mẹ ngồi ngay bàn án ngó ra, đặng tôi lạy một lần luôn thể. Người đàn bà ấy cười rằng:

- Bợ thì muốn cưới cho mau, mà tiếc từ cái lạy! Tuy vậy cũng đặng, khỏi mất công nhiều lần.

Nói rồi ngồi lên, Bát Giới cúi đầu làm lễ.

Lạy rồi hỏi rằng:

- Thưa mẹ, tính gả người thứ mấy cho tôi?

Người đàn bà ấy nói rằng:

- Chuyện ấy chưa nhất định, muốn gả con lớn thì sợ con giữa nó phiền, muốn gả con giữa thì sợ con út nó giận. Bằng gả con út, chắc hai đứa nó hờn, nên chưa định chắc.

Bát Giới nói:

- Thưa mẹ, nếu sợ phàn nàn xin gả cho tôi hết thảy, thì khỏi lo việc ghen tuông. Người đàn bà ấy nói rằng:

- Không lẽ ba đứa con, mà có một thằng rễ?

Bát Giới thưa rằng:

- Nói như mẹ thì người ta không có hai ba vợ hay sao? Rất đổi là vua Nghiêu còn gả hết hai con cho ông Thuấn. Tôi khéo ở lắm, chẳng hề bỏ phép công bình?

Người đàn bà ấy nói:

- Không đặng, ta đưa cái khăn vuông cho ngươi đội, chụp con nào thì con ấy phải ưng, ấy là lối bói thiên hôn đó.

Bát Giới nghe lời lấy khăn che mặt, rồi nói rằng:

- Xin mẹ kêu mấy cổ ra đây.

Người đàn bà ấy nói rằng:

- Chơn Chơn, Ái Ái, Liên Liên. Ra cho rể mới choàn thiên hôn mà kết duyên gá nghĩa.

Nói rồi nghe ba nàng đều dạ, đeo vàng ngọc khua rổn rảng, mùi xạ hương bay bát ngát. Lòng mừng khấp khởi, chụp trước rồi chụp sau. Chụp chẳng đặng người nào, té ngiêng rồi té ngửa! Rán sức đổ mồ hôi hột, té đập mặt u đầu! Chụp cột nầy rồi ôm cột kia, đụng vách nầy nhào vách nọ!

Mệt ngồi thở dốc và nói rằng:

- Mẹ Ôi! Ba cô ấy qủy quyệt quá! Chụp không nhằm biết tính sao?

Người đàn bà ấy nói:

- Không phải nó qủy quyệt đâu, ấy là mắc nhượng cho nhau, nên không đứa nào chịu hết.

Bát Giới nói:

- Mấy cô không chịu, thì mẹ chịu cho rồi.

Người đàn bà ấy nạt rằng: Đừng nói bậy nà! Mi là bộ mặt heo, nên đụng đâu muốn đó. Không chừa nhạc mẫu hay sao? Bởi ba đứa con ta đều khéo léo, dệt ba cái áo lót mồ hôi bằng gấm đều có nhận hột trân châu. Như người bận áo nào vừa, thì gả đứa ấy.

Bát Giới nói:

- Xong lắm, xong lắm, nếu bận đặng ba cái, thì gả hết cho tôi!

Người đàn bà ấy vào phòng lấy một cái áo đưa ra.

Bát Giới xem qua mừng lắm, bèn cởi trần mà mặc áo vào. Bận rồi nhào xuống đất; coi lại là dây buộc riết mình, chớ không phải áo, nó riết gần gãy ba sườn, thở không muốn đặng. Coi lại bốn mẹ con đi mất chẳng còn.

Nói về thầy trò Tam Tạng ngủ tới hừng đông, Tam Tạng mở mắt ra thấy mình ngủ trong rừng tòng bá, không biết nhà cửa đâu mất, lấy làm lạ lùng!

Tam Tạng thất kinh, dậy kêu đồ đệ, Sa Tăng nói với Ngộ Không rằng:

- Anh ôi! Không xong rồi! Chúng ta đã gặp quỹ!

Hành Giả biết trước, cười chúm chím mà nói rằng:

- Tuy là ngủ trong rừng tòng, mà vui quá sức. Song không rõ Bát Giới bị hành tội ra thể nào?

Tam Tạng hỏi:

- Nó bị tội chi?

Hành Giả cười rằng:

- Bốn mẹ con người đàn bà hồi hôm đó, chắc là Tiên Phật hiện ra mà thử chúng ta. Nên nửa đâm biến mất. Còn Bát Giới phải mắc nạn chẳng sai.

Tam Tạng nghe qua, liền lạy thinh không mà niệm Phật.

Xảy thấy trên cây tòng bay xuống một lá thiệp.

Sa Tăng lấy đem cho Tam Tạng.

Trong lá thiệp có tám câu thơ rằng:

Lê Sơn lão mẫu tu hành

Vị tiếng Quan Âm thỉnh xuống trần

Cậy Phổ Hiền kia làm thục nữ,

E¨p Văn Thù nọ giả gia nhân

Thánh Tăng giữ phép đà trọn đạo,

Bát Giới tham hoa muốn gãy lưng

Từ ấy sắp sau chừa các lỗi

Bằng quen thói cũ khó thành thần.

Hồi 24
Vạn Thọ sơn, Trấn Nguơn cầm cố hữu
Ngũ Trang am, Hành Giả trộm nhơn sâm
Ba thầy trò đương đọc bài kệ, xảy nghe trong rừng có tiếng kêu lớn rằng:

- Sư phụ Ôi! Cứu tôi với! Từ rày sắp ới tôi không dám nữa đâu.

Tam Tạng hỏi:

- Phải Ngộ Năng kêu đó phải không?

Sa Tăng thưa:

- Phải.

Hành Giả nói:

- Em đừng nói tới nó làm chi, chúng ta đi cho rãnh.

Tam Tạng nói:

- Tuy nó khờ dại mặc lòng, song vị tình Bồ Tát ngày xưa, cứu nó một phen kẻo tội nghiệp.

Sa Tăng gánh đồ, Hành Giả dắt ngựa. Ba thầy trò đồng vào rừng kiếm.

Nói về thầy trò vào rừng, thấy Bát Giới bị trói dưới gốc cây, kêu la vang rên siết! Hành Giả cười rằng:

- Chàng rễ ôi! Sao chừng nầy chưa dậy mà lạy thầy, và tạ mai nhơn trưởng tộc? Hỡi còn giả ngộ hay sao? Ủa! Nói vậy thì mẹ vợ với vợ trói chàng rễ mà khảo đó chăng?

Bát Giới thấy Hành Giả kêu ngạo, thì hổ thẹn trăm bề! Đau cho mấy cũng không la, phải cắn răng mà chịu đỡ.

Sa Tăng thấy tội nghiệp quá, nên chẳng nỡ lòng, liền để gánh đồ, lại mở dây cho Bát Giới.

Bát Giới hổ thẹn không dám ngó lên. Liền quỳ lạy thinh không, chẳng biết ai mà vái. Hành Giả hỏi:

- Ngươi biết vị nào hiện ra mà thử đó chăng?

Bát Giới nói:

- Tôi hôn mê bất tỉnh nên không biết ai.

Hành Giả đưa lá thiệp ra.

Bát Giới coi càng hổ thẹn.

Sa Tăng thấy Bát Giới mắc cỡ, nực cười nói cợt rằng:

- Nhị ca cũng khá lắm mới cảm động bốn vì Bồ Tát, giúp việc hôn nhơn.

Bát Giới nói:

- Sư đệ đừng nhắc chuyện đó làm chi nữa. Từ nầy sắp tới chẳng dám làm nhăn, cứ quảy gánh theo thầy cho tới Phật.

Tam Tạng khen rằng:

- Nói như vậy mới phải.

Hành Giả thỉnh thầy lên ngựa, dắt ra đường cái đồng đi.

Ăn gió nằm mưa, trèo non lặn suối, xảy thấy hòn núi rất cao.

Thiệt là,

Hoa nở hoa tàn đầy đãnh núi,

Mây qua mây lại quảng đầu non.

Tam Tạng ngồi trên ngựa mừng rỡ nói rằng:

- Đồ đệ, ta từ đi Tây Phương đến nay thấy nhiều non nước, không thấy núi nào cảnh tốt như vầy, có khi gần tới chùa Lôi Âm. Phải sửa sang cho đàng hoàng, mà ra mắt Phật Tổ.

Hành Giả cười rằng:

- Sửa soạn chi gấp vậy?

Sa Tăng hỏi:

- Thưa đại ca đây tới Tây độ còn cách bao xa?

Hành Giả nói:

- Kể từ Đông Độ qua Tây độ cách mười muôn tám trăm dặm đường. Nay đi mười phần mới đặng một.

Bát Giới nói:

- Biết đi mấy năm cho tới.

Hành Giả nói:

- Ước sức hai em đi hơn mười mấy ngày cũng tới. Còn ta thì một ngày vừa đi vừa về năm chục lần, mà mặt trời chưa lặn. Chớ như thầy thì hết đợi hết trông!

Tam Tạng hỏi:

- Ngộ Không, ngươi nói ta đi mấy mươi năm mới tới?

Hành Giả nói:

- Thầy đi từ nhỏ cho tới già, già rồi trẻ lại một ngàn lần như vậy cũng chưa tới Tây Phương. Phải chi thành tâm, ngó lại Tây pương gần tới.

Sa Tăng nói:

- Chỗ nầy tuy không phải chùa Lôi Âm, song cũng chỗ thần tiên chi đó?

Hành Giả nói:

- Phải. Đây là non tiên cảnh thánh, chúng ta đi chậm chậm mà xem hoa.

Nói về trong núi Vạn Thọ, có am Ngủ trang. Trong am ấy có một ông tiên, tên là Trấn Nguơn Tử, hiệu riêng là Dữ Thế Đồng Quân. Trong vườn có một vật báu. Nguyên trước khi mới có trời đất, thì sanh ra cây nầy. Gọi rằng Thảo huờn đơn, lại kêu là nhơn sâm quả. Ba ngàn năm mới nở bông, ba ngàn năm mới có trái, ba ngàn năm nữa trái ấy mới chín cây. Gần cả muôn năm, mới có ba mươi trái. Hình như con nít mới đẻ ba ngày, có đủ tay chân, ngủ quan không thiếu. Nếu ai có phước, hửi một cái sống đặng ba trăm sáu mươi năm, ăn đặng một trái thì sống bốn muôn bảy ngàn tuổi.

Ngày kia Nguơn Thỉ thiên tôn mời Trấn Nguơn lên cung Di lạc mà nghe giảng đạo. Các tiên nhóm lại rất đông. Còn Trấn Nguơn đại tiên có bốn mươi tám người đệ tử tu luyện gần thành,đồng dắt theo nghe giảng, để hai người ở lại coi động, là hai đứa học trò nhỏ hơn hết, tên Minh Nguyệt với Thanh Phong.

Thanh Phong đã đặng một ngàn ba trăm hai mươi tuổi.

Minh Nguyệt mới một ngàn hai trăm tuổi mà thôi.

Khi Trấn Nguơn đại tiên gần đi có dặn rằng:

- Ta đi rồi ít ngày, có người quen của ta là Đường Tam Tạng ghé đây. Nguyên ở Trường An vâng lệnh đi thỉnh kinh Tây độ, đừng thấy thầy sãi mà đem dạ dễ ngươi. Phải hái trái nhơn sâm mà đãi Tam Tạng.

Hai đạo đồng thưa rằng:

- Người không đồng đạo thì chẳng bàn luận làm chi, ấy là lời Khổng Tử. Mình theo đạo Lão Tử, sao lại quen với thầy chùa?

Trấn Nguơn đại tiên nói:

- Chúng bây không biết. Thầy ấy nguyên là đệ tử thứ nhì của Phật Tổ, ở tại Tây Phương, hiệu là Kim Thiền tử năm trăm năm trước ta đi coi hội Vu Lan, có quen biết với nhau, như tình bằng hữu. Nay tuy Kim Thiền tử đầu thai làm Tam Tạng, ta lẽ quên cựu ngãi hay sao? Song đem trái nhơn sâm cho Tam Tạng ăn, đừng cho lũ đồ đệ hay; vì chúng nó là học trò ăn cướp.

Hai tiên đồng vâng lệnh, đều ở lại giữ am.

Nói về bốn thầy trò Tam Tạng đương dạo núi non, ngó thấy trong vuông tre có lầu đài rực rỡ. Đi lần tới cửa ngỏ, coi tợ cảnh tiên cõi phật.

Thiệt là:

Lặng lẽ rất yên lòng đạo đức,

Trống không chi nhộn việc người đời.

Tam Tạng xuống ngựa, ngó bên tả cửa núi, có một tấm bia.

Trong bia có mười chữ lớn rằng:

Vạn thọ sơn phước địa, Ngủ trang quán động thiên.

Nghĩa là:

Đất sanh non Vạn thọ, Trời trổ viện Ngũ trang.

Tam Tạng thấy chữ Viện, liền nói với học trò rằng:

- Đây là am viện của đạo sĩ, cũng như kiểng chùa Thiền. Hãy đi vô mà coi thử? Hành Giả nói:

- Phải.

Bốn thầy trò đồng bước vào. Thấy đôi liển dán cửa ngỏ rằng:

Trường sanh bất lão thần tiên phủ,

Dữ thiên đồng thọ đạo nhơn gia.

Nghĩa là:

Còn mãi không dời nhà đạo đức,

Sống hoài chẳng thác viện thần tiên.

Hành Giả cười rằng:

- Ông đạo nầy hay nói lối. Trên cửa cung Đâu Suất là chỗ ông Thái Thượng, cũng không viết liển xất như vầy.

Bước vào cửa trông thấy hai đạo đồng ra nghinh tiếp. Thưa rằng:

Xin mời vào nghỉ.

Tam Tạng thấy hai đạo đồng, tinh thần tợ nước, cốt cách khác thường. Liền mừng rỡ đi theo vào am ấy. Thấy giữa am thờ bức tượng, có hai chữ Thiên Địa mà thôi. Để lư hương vàng trên bàn án đỏ.

Tam Tạng thấp hương làm lễ, rồi hỏi hai đạo đồng rằng:

- Am Ngủ trang ở cỏi Tây Phương. Sao chẳng thờ Tam Thanh Tứ đế, các vị tinh quân? Lại thờ chữ Thiên Địa?

Tiên đồng cười chúm chiếm mà rằng:

- Tôi không dám nói giấu sư phụ Thầy tôi thờ chữ Thiên là phải còn thờ chữ Địa là vì tình. Có lẽ nào thờ mấy ông ấy!

Tam Tạng hỏi:

- Vì cớ nào vậy?

Tiên đồng nói:

- Tam Thanh là bằng hữu của thầy tôi. Tứ Đế thầy tôi cũng quen lắm. Còn mấy vị sau là kẻ dưới tay của thấy tôi, mà phụng thờ sao phải?

Hành Giả nghe qua cười dài rồi nói rằng:

- Tưởng có một mình Lão Tôn hay nói ma, chẳng ngờ đồng lữ cũng vậy!

Tam Tạng hỏi:

- Vậy chớ lịnh sư ở đâu?

Thanh Phong thưa rằng:

- Thầy tôi đi nghe Nguơn Thỉ giảng kinh, vì có giấy mời hôm trước.

Hành Giả nghe nói cứ việc cười hoài.

Tam Tạng biểu ba người đi ra gánh đồ và dắt ngựa vào. Rồi mượn nồi vút cơm khô mà ăn đở.

Ba người ấy đi hết.

Thanh Phong dâng trà cho Tam Tạng.

Minh Nguyệt hỏi rằng:

- Thầy phải hiệu là Đường Tam Tạng, qua thỉnh kinh bên phật hay chăng?

Tam Tạng nói:

- Phải! Sao Tiên đồng biết đặng tên tôi?

Thanh Phong nói:

- Khi thầy tôi ra đi có dặn rành... Nên tôi mới biết. Vậy xin thầy ngồi nghĩ, đặng tôi hái trái đem dâng.

Nói rồi hai đồng tử vào phòng. Một người cầm cái móc vàng, một người bưng cái chậu đỏ. Trong chậu lót nhiều khăn tơ lụa cho êm. Đồng ra vườn nhơn sâm mà hái. Thanh Phong cầm móc vàng leo lên cây giựt xuống.

Minh Nguyệt đứng dưới gốc, giơ chậu đỏ hứng hai trái nhơn sâm.

Hái rồi đem ra dâng cho Tam Tạng mà nói rằng:

- Chúng tôi ở Sơn lâm cồn cạn không có vật chi mà đãi thầy. Xin dâng hai trái nầy, cho sư phụ dùng mà uống nước.

Tam Tạng ngó thấy hai trái ấy, thì run lập cập và ngồi dang ra xa ba thước, mà nói rằng:

- Bạc ác thì thôi! Năm nay mùa màng đặng lắm, làm sao đến nỗi ăn thịt người? Đó là hai đứa con nít mới sanh chưa đặng ba ngày. Sao lại biểu tôi ăn mà uống nước? Thanh Phong nghe nói nghĩ thầm rằng:

- Ông Hòa Thượng nầy thai phàm mắt thịt, nên không biết trái nhơn sâm.

Minh Nguyệt thưa rằng:

- Trái nầy gọi là nhơn sâm quả, ở trên cây sanh ra.

Tam Tạng rằng:

- Đừng có nói xàm. Lẽ nào cây lại sanh người đặng? Không ai ăn mà ép, hãy dẹp cho mau.

Hai người thấy Tam Tạng một hai không chịu ăn, túng phải bưng vào phòng mà thương nghị.

Thanh Phong nói:

- Đường Tăng không biết trái nhơn sâm. Thôi, anh em mình chia nhau mà hưởng. Minh Nguyệt nói:

- Phải. Bởi vì trái nầy để dành lâu không được. Nếu lâu nó hết giải, thì chết cứng như thây ma, ăn chẳng ngon mà lại không bổ. Tại thầy ấy vô phước, nên anh em mình mới đặng nhờ.

Nói rồi mỗi người ăn một trái.

Nói về Bát Giới nấu cơm trong nhà bếp, cũng dựa bên đạo phòng, lóng tai nghe hai người đồng tử hối nhau: Lấy móc vàng mâm đỏ mà hái nhơn sâm.

Sau lại nghe nói:

- Đường Tăng không biết trái nhơn sâm. Thôi, anh em mình chia nhau mà hưởng. Bát Giới nghe nói thèm chảy nước giải, ước phải chi có một trái mà ăn.

Xãy thấy Hành Giả dắt ngựa tới, buộc trên nhánh cây.

Bát Giới ngoắt lia ngoắt lịa.

Hành Giả bước tới, Bát Giới nói rằng:

- Đây có một món bữu bối, anh biết hay không?

Hành Giả hỏi:

- Bữu bối gì ở đâu?

Bát Giới nói:

- Anh biết nhơn sâm quả hay không?

Hành Giả nói:

- Tuy ta chưa thấy, mà nghe người nói: Nhơn sâm quả là Thảo huờn đơn, nếu ăn nó thì sống lâu lắm. Mà ở đâu có bây giờ?

Bát Giới nói:

- Hai đạo đồng dâng hai trái cho thầy. Thầy không biết là trái nhơn sâm; chẳng hề động tới. Hai thầy khốn nạn quá. Phải chi thầy không hưởng, thì nó hiến cho mình. Té ra hai đứa đem nhơn sâm vào phòng, nuốt ọt với nhau hết trọi! Chúng ta không đặng một miếng, cũng nên hái trộm mà ăn.

Hành Giả nói:

- Chuyện ấy dễ như chơi, để ta đi hái.

Nói rồi liền chạy.

Bát Giới niu lại nói rằng:

- Tôi nghe nó nói phải lấy móc vàng mới hái đặng, mình phải sắm cho sẳn sàng. Hành Giả nói:

- Ta hiểu rồi.

Liền tàng hình vào phòng, không thấy đạo đồng ở đó. Ngó quanh ngó quất. Thấy trên song có móc một cây móc vàng dài ước chừng hai thước, lớn bằng ngón tay cái mà thôi. Trên có cái vòng bằng nhung, dưới cán có củ tỏi, chắc Kim bích là vật nầy. Vì có vòng để móc vào mà giựt. Lấy rồi ra cửa sau ra tới vườn huê, đi khỏi vườn huê tới vườn rau cải, đi khỏi vườn cải thấy có cửa ngăn. Mở cửa ngăn ra, thấy một cây Đại thọ.

Thiệt là: Cây thơm bát ngát, lá rậm diềm dà, coi cho kỹ thì lá như lá chuối, cây cao ngàn thước, đo giáp vòng 70 thước dư.

Hành Giả đứng dưới gốc ngó lên thấy nhánh bên nam có một trái, coi như đứa con nít, sau đuôi có cuốn dính trên nhánh cây. Chân tay đều cử động. Lắc đầu nhăn mặt, nghe xa xa như tiếng khóc la.

Hành Giả mùng quýnh nói:

- Thiệt ta chưa từng thấy!" Nói rồi nhảy dựng lên cầm móc vàng mà giựt. Thấy rụng xuống một trái, nhảy bổ theo liền. Kiếm hèn lâu không đặng.

Hành Giả nói:

- Dầu nó có cẳng, chạy cũng nội khoản nầy. Vì cớ nào mà kiếm hoài không đặng! Chắc là Thổ Địa giữ vườn, không cho ta hái trộm, nên lén giấu đi.

Nghĩ rồi liền bắt ấn, niệm thần chú ám tự, thâu Thổ Địa tức thì.

Khi ấy Thổ Địa đến làm lễ hỏi rằng:

- Đại Thánh đòi tiểu thần tới, có dạy chuyện chi?

Hành Giả nói:

- Ngươi há không biết Lão Tôn là ăn cướp tổ hay sao, năm xưa ta ăn trộm bàn đào, uống vụn ngự tửu, lại ăn cắp thuốc Linh đơn, chẳng ai dám chia của tang với ta hết thảy. Giá gì nay ta lén hái một trái nhơn sâm quả, mà ngươi chặn lận của ta? Vả chăng trái ấy ở trên cây, chim cũng ăn, dầu ta ăn một trái lại can chi? Cớ sao ta mới làm rớt xuống đây, lẽ nào ngươi giựt ngược?

Thổ Địa nói:

- Xin Đại Thánh miễn chấp tiểu thần, sự ấy rất oan cho tôi lắm! Bửu bối ấy là vật Địa tiên, còn tôi là quỷ tiên lấy làm sao đặng? Chẳng những là cầm không đặng, thiệt vô phước chưa đặng hưởng lần nào.

Hành Giả nói:

- Nếu ngươi không lấy. Cớ gì rớt xuống liền mất đi?

Thổ Địa nói:

- Đại Thánh biết nó là vật trường thọ. Mà chưa rõ nó có kị ngũ hành.

Hành Giả nói:

- Nó kị những vật gì?

Thổ Địa nói:

- Trái nầy gặp hơi vàng thì rụng, cây đụng đến thì khô, gần lửa thì cháy đen, rớt xuống đất thì lặn mất. Nên phải dùng đồ vàng mà móc nó, nếu để gần hơi cây thì mất nước, ăn cũng không hay, nếu muốn ăn thì để nó vào đồ sành, chế nước lạnh vào thì tan ra nước mà uống. Tuy đất nầy bốn muôn bảy ngàn năm, cứng hơn sắt, dùi khoan không phủng, mà nó chun xuống như chơi. Bởi vậy ăn nó thì sống lâu lắm.

Hành Giả không tin lời ấy, lấy thiết bảng đập xuống đất, nghe kêu một tiếng, thiết bảng dội lên mà đất không có dấu!

Hành Giả nói:

- Kỳ lắm, kỳ lắm! Làm ngươi bị rầy oan rầy ức, thôi ngươi trở về đi.

Thổ Địa vâng lời biến mất.

Khi ấy Hành Giả tính ra kế. Liền cầm móc leo lên, một tay móc nhơn sâm một tay kéo áo ra hứng, bọc đặng ba trái, chạy riết về trù phòng, nói với Bát Giới rằng:

- Của nầy không phải của riêng, nếu ăn lén Sa Tăng thì dở lắm. Hãy kêu một tiếng cho mau!

Bát Giới ngoắt Sa Tăng vào nhà bếp.

Hành Giả dở bọc hỏi rằng:

- Em biết vật gì đó hay không?

Sa Tăng nói:

- Ấy là nhơn sâm.

Hành Giả nói:

- Thiệt hay lắm, em đã biết trái nhơn sâm, khi trước ăn tại đâu mà rõ?

Sa Tăng nói:

- Tôi tuy chưa ăn nó, mà hồi làm Quyện Liêm đại tướng, thường thấy các tiên ngoài biển đem dâng cho Ngọc Hoàng, song chưa ăn đặng. Đại ca cho tôi xin một chút, đặng nếm cho biết mùi!

Hành Giả nói:

- Không cần xin một chút làm chi, cứ ba anh em mỗi người một trái.

Bát Giới lấy một trái, nhấp vào cái rồi nuốt, lật đật không kịp nhai.

Liền hỏi rằng:

- Sư huynh sư đệ, hai người ăn nó ra làm sao?

Hành Giả nói:

- Ngươi ăn trước hết thảy, còn trở lại hỏi ai.

Bát Giới nói:

- Tôi ăn mau quá, chẳng biết có hột hay không? Tôi nhấp sơ rồi nuốt trọng. Anh ôi! Hễ làm ơn thì làm ơn cho trót. Kiếm thêm một trái nữa, tôi ăn thủng thẳng cho biết mùi.

Hành Giả nói:

- Bụng ngươi tham không cùng, biết bao nhiêu cho đủ? Mình cũng có phước lắm mới ăn đặng một trái nầy. Thôi thôi đã đủ rồi, đừng có đòi nữa.

Nói rồi đứng dậy lấy Kim bích quăng vào lỗ song.

Còn Bát Giới cứ cằn nhằn cẳn nhẳn nói hoài, cũng có bấy nhiêu chuyện.

Vừa lúc hai đạo đồng trở lại đạo phòng, nghe Bát Giới cằn nhằn:

- Ăn trái nhơn sâm uổng miệng quá! Phải được một trái nữa ăn mới biết mùi.

Thanh Phong nghe nói nghi rằng:

- Minh Nguyệt! Em nghe hòa thượng mỏ dài nói đó không? Giống gì mà phải được một trái nữa ăn mới biết mùi. Khi thầy đi có dặn rằng: Phải phòng lũ học trò ăn cướp. Có khi nó hái trộm nhơn sâm chăng.

Minh Nguyệt ngó ngoái lại nói rằng:

- Không xong rồi anh ôi! Cây kim bích sao rơi xuống đất? Mình ra vườn xem thử thể nào.

Hai người đi ra thấy cửa vườn đã mở, coi đếm lại còn có hai mươi hai trái.

Minh Nguyệt nói:

- Nó hết thảy là ba mươi trái, thầy hái hai trái chia nhau mà ăn, lại còn hái hai trái mà đãi Tam Tạng, thì còn hai mươi sáu trái rõ ràng sao mất hết bốn trái, chắc là các sãi trọc ăn cắp rồi. Thôi cứ vô nhiếc Đường Tăng thì ra mối.

Nói rồi hai người vào chỉ mặt Tam Tạng mà mắng trọc ơi trọc hỡi hơn một hồi, Tam Tạng nghe không hết mới hỏi rằng:

- Chuyện chi mà Tiểu đồng rầy dữ vậy?

Thanh Phong nói:

- Thiệt là ngươi điếc, người ta mắng nhiếc mà không nghe, ăn vụn trái nhơn sâm, mà không cho người ta nói!

Tam Tạng nói:

- Tôi có biết trái nhơn sâm ra làm sao! Xin chớ nói oan mang tội.

Minh Nguyệt nói:

- Tôi đem cho thầy ăn thầy nói in đứa con nít, mới đó đã quên lững hay sao?

Tam Tạng nói:

- Mô Phật, thấy trái đó đà thất kinh hồn vía, tôi nào dám động tới đâu, xin đừng nói tôi ăn vụn vật nầy mà mang tội.

Thanh Phong nói:

- Tuy thầy không ăn, ngặt học trò thầy nó ăn vụng.

Tam Tạng nói:

- Có khi phải đó. Thôi đừng có rầy, để tôi hỏi lại, như quả nó ăn cắp, bắt nó lạy mà chịu lỗi với hai ông.

Tam Tạng liền kêu ba người đồng lên biểu.

Sa tăng nói:

- Không xong rồi, chắc sự nhơn sâm đã lậu!

Hành Giả nói:

- Mắc cở chết đi mà thôi! Chịu tiếng ăn vụng, xấu hổ biết dường nào, chi bằng chối phứt cho xong, không tang án gì mà sợ?

Bát Giới nói:

- Phải phải, ai chịu án ăn vụn làm chi.

Ba anh em bàn luận rồi, đồng đi ra một lượt.
Hồi 25
Trấn Nguơn tiên bắt thầy Tam Tạng
Tôn Hành Giả phá viện Ngũ trang
Nói về ba anh em đến trước đền, Tam Tạng hỏi rằng:

- Đồ đệ! Trong am nầy có trái nhơn sâm, mà đứa nào ăn cắp?

Bát Giới nói:

- Tôi thiệt không biết.

Hành Giả đứng chúm chiếm Thanh Phong nói:

- Ai cười thì nấy ăn vụng.

Hành Giả hét rằng:

- Trời sanh cái bộ miệng ta vui vẻ, mới ngó tưởng là cười. Chớ ai biết nhơn sâm ra làm sao mà ngươi nói nhận diện!

Tam Tạng nói:

- Đồ đệ, mình là người tu hành, chẳng nên nói dối, ăm làm chi những vật sau lưng! Như có ăn lỡ rồi, thì lạy người ta mà chịu lỗi. Để chối cãi làm chi.

Hành Giả thấy thầy nói phải, liền thưa thiệt rằng:

- Chuyện nầy không phải tại tôi. Bởi Bát Giới thấy hai người đạo đồng ăn, nên biểu tôi kiếm mà nếm cho biết, tôi hái ba trái về chia ba người ăn. Bây giờ biết làm sao mà liệu?

Minh Nguyệt nói:

- Ăn vụng của người ta hết bốn trái, mà thầy còn nói không phải học trò ăn cướp hay sao?

Bát Giới nói:

- Mô Phật, hái trộm bốn trái mà đem về có ba trái mà chia. Đã dính tay hết một trái. Coi ai nặng tội hơn?

Bát Giới cứ cằn nhằn như vậy mãi.

Còn hai đồng tử hỏi ra quả tang chánh án, càng mắng nhiếc hơn xưa.

Hành Giả tức mình, trợn mắt tròn vo, nghiến răng trèo trẹo.

Nghĩ rằng:

- Hai thằng nhỏ thiệt đáng ghét quá chừng. Để ta làm tuyệt hậu, báo hại cho chúng nó hết ăn trái nhơn sâm.

Nghĩ rồi, nhổ một cái lông sau ót, biến ra Ngộ Không giả đứng cùng Bát Giới, Sa Tăng, còn mình xuất thần ra vườn nhơn sâm, cầm thiết bảng nhảy dựng lên, đập nhơn sâm rụng hết phân nữa. Rồi chuyển thần lực xô trốc gốc cây nhơn sâm.

Thiệt là:

Nhơn sâm trốc gốc bầy trơ rễ,

Đạo sĩ nhăn răng chịu chết thèm.

Hành Giả xô ngã cây nhơn sâm, coi lại không còn một trái. Vì thiết bảng có bịt vàng nên đụng nhằm thì rụng. Khi ngã xuống đất thì nhập thổ, nên còn cây lá mà thôi. Hành Giả nói:

- Như vậy mới hết tức mình.

Nói rồi hiện về như cũ.

Nói về hai đồng tử mắng một buổi trọn, mấy thầy trò làm thinh mà chịu.

Thanh Phong nói:

- Minh Nguyệt, ta coi các hòa thượng chịu lì không nói lại. Có khi không phải hái bốn trái chăng, thế tại lá rậm che khuất nên đếm sai một trái. Hãy ra coi lại, kẻo mắng hiếp người ta.

Minh Nguyệt nói phải.

Hai anh em đi tới cửa vườn, thấy cây nhơn sâm trốc gốc gãy nhánh, rụng là hết trái. Hai người chết điếng.

Hai đạo đồng nhào xuống đất kinh hãi nhưng biết làm sao cho đặng.

Hai người chắc lưỡi than dài.

Thanh Phong nói:

- Cây thuốc tiên chết rồi, thầy về hỏi trả lời sao đặng?

Minh Nguyệt nói:

- Xin sư huynh đừng kinh hãi. Nhắm không ai vô đây? Chắc là hòa thượng mặt nhiều lông, làm ra công chuyện đó. Nếu cãi lẫy với nó, ắt là đánh lộn chớ chẳng không, mình có hai anh em, cự sao lại bốn hòa thượng. Chi bằng chịu lỗi, gạt nó như vầy: Nhắm chừng nó nấu cơm đã xong, ta đem đồ ăn cho nó. Đợi ngồi mâm thì đóng cửa. Cầm lại đó mà đợi thầy về. Thầy xử lẽ nào tự ý.

Thanh Phong khen phải, đồng mừng rỡ trở vào.

Khi ấy Thanh Phong, Minh Nguyệt đến lạy Đường Tăng mà chịu lỗi rằng:

- Khi nãy anh em tôi nói xúc phạm nhiều lời, xin sư phụ miễn chấp.

Tam Tạng hỏi:

- Vì cớ nào mà chịu lỗi?

Thanh Phong nói:

- Trái nhơn sâm chẳng hề mất. Bởi lá rậm nên coi chẳng phân minh. Tôi mới đếm lại rõ ràng còn nguyên hiện.

Hành Giả nghe nói lấy làm lạ nghĩ rằng:

- Cây trái đã tang hoang, sao lại nói còn nguyên hiện. Hay là cây ấy, có phép cải tử hoàn sanh?

Tam Tạng nói:

- Như vậy thì mình dọn cơm mà ăn!

Bát Giới đi dở cơm đem dọn.

Hai tên đồng tử bưng phụ đồ ăn, lại nấu một bình trà ngon mà hờ đó.

Bốn thầy trò mới cầm đũa, hai đồng tử đóng cửa khóa liền.

Bát Giới cười rằng:

- Phong tục ở đây lạ lắm, ai đời ăn cơm còn sớm, mà đóng cửa bao giờ?

Minh Nguyệt nói:

- Phải, phải. Ăn cơm rồi sẽ mở cửa.

Thanh Phong mắng rằng:

- Sãi trọc chết thèm ăn vụng, là một tội rồi, sao lại dám cả gan xô gãy cây nhơn sâm, làm mất giống linh trong ám báu, hỡi còn nói lẻ hay sao? Hoặc đầu thai kiếp khác, mới đi tới Tây Phương, chớ kiếp nầy hết kể.

Tam Tạng nghe nói, thất kinh nghẹn họng, buông đũa thôi ăn.

Hai đồng tử đóng ba vòng cửa, mắng hơn một buổi, rồi vào phòng khóa cửa nghỉ ngơi.

Còn Tam Tạng tức tối, nhiếc Ngộ Không rằng:

- Thằng mặt khỉ tới đâu cũng gây họa. Đã ăn vụng lỡ thì người ta mắng nhiếc cũng phải nghe, có lẽ nào lại hại cây người cho tuyệt giống, nếu chuyện nầy chúng kiện, dầu ông già mi làm quan xử đoán cũng không lẽ vị tình.

Hành Giả nói:

- Thôi mà, thầy đừng có ngầy lắm! Trời tối hai đứa nó vào phòng hết, đợi nó ngủ mình sẽ trốn mà đi.

Sa Tăng nói:

- Anh ôi! Ba vòng cửa nó khóa hết, lại giấu chìa khóa rồi, mở làm sao cho đặng? Hành Giả cười rằng:

- Không cần gì hết. Lão Tôn có phép thần thông.

Bát Giới nói:

- Ai không biết anh có phép? Anh hóa ra đỉa bò cũng được, hóa ra muổi bay cũng như chơi, ngặt chúng tôi không biết làm sao, phải giơ đầu mà chịu tội.

Tam Tạng nói:

- Nếu nó không đem chúng ta ra hết, thì ta niệm thần chú ngày xưa, coi nó chịu nổi không cho biết.

Bát Giới nghe nói hỏi rằng:

- Thưa thầy, thần chú chi ngày xưa?

Hành Giả nói hớt rằng:

- Bởi em không rõ. Cái niền trên đầu ta, nguyên Quan Âm Bồ Tát truyền cho thầy, thầy gạt ta đội lên, nó dính vào thịt. Hễ niệm thần chú thì niền ấy bóp lại gần bể đầu, nhờ phép thầy trị ta mới đặng. Thầy đừng niệm làm chi cho mệt, bề nào tôi cũng đem ra.

Coi lại trời đã khuya rồi, đạo đồng ngủ hết, Hành Giả nói:

- Bây giờ phải thời đi lắm.

Nói rồi cầm thiết bảng chỉ lên ống khóa, làm phép giải tỏa mở các cửa tức thì.

Tam Tạng lên yên, Sa Tăng dắt ngựa.

Bát Giới gánh đồ hành lý đồng theo Đại Thánh ra khỏi viện Ngủ trang.

Khi ấy Hành Giả nói:

- Khi tôi làm Tề Thiên đại thánh cỏi tiên, tôi đặt vận ăn cuộc với Tăng trưởng thiên vương. Tôi ăn đặng ít con buồn ngủ, gọi là Hạt thóa trùng. Hễ cho đậu trên con mắt thì buồn ngủ. Để tôi trở lại cho hai thằng nhỏ ngủ một tháng cho biết chừng.

Nói rồi đến cửa phòng bắt hai con buồn ngủ quăng vào lỗ song, giống ấy cứ kiếm con mắt người ta mà đậu. Hai người ngủ như say như chết, rồi Hành Giả chạy theo Tam Tạng.

Đêm ấy ngựa đi không ngừng vó, tới trời sáng mới dừng.

Tam Tạng nói:

- Trời đã sáng rồi, thầy ngồi dựa cội cây mà nghỉ.

Tam Tạng xuống ngựa ngồi dựa cội tòng, còn Bát Giới, Sa Tăng đặt lưng liền ngủ. Còn Hành Giả nhảy thót lên cây.

Nói về Trấn Nguơn đại tiên nghe Nguơn Thủy giảng kinh xong xả, liền dắt đệ tử về am, thấy cửa mở khắp nơi, đèn hương tắt hết. Trước sau không thấy bóng người! Vào đến thấy cửa phòng đóng chặt, hai đạo đồng nằm ngủ li bì! Còn học trò vỗ cửa mà kêu không dậy! Cạy cửa ra kéo hai trò xuống. Cũng mê man như say.

Trấn Nguơn cười rằng:

- Tiên đồng hay quá! Thánh tiên thì tinh thần no đủ, không hề ngủ khi nào, chắc cũng bị ai khuấy chi đó, mới ngủ vùi như vậy.

Nói rồi truyền đệ tử múc nước, niệm chú rồi phun nước vô mặt, hai trò ấy tỉnh liền. Thanh Phong, Minh Nguyệt ngó thấy thầy về động, đồng quỳ lạy thưa rằng:

- Người quen lớn của thầy là sãi Đông Độ mới qua, thiệt là một bầy ăn cướp. Rõ ràng là chánh đảng, chớ không phải lâu la!

Trấn Nguơn đại tiên cười rằng:

- Chuyện chi dữ vậy?

Thanh Phong Minh Nguyệt thuật chuyện lại, và tức mình quá khóc ròng.

Trấn Nguơn đại tiên nổi giận nói rằng:

- Nín đi, đừng khóc, bởi chúng bây không biết họ Tôn; thần thông quảng đại, năm xưa làm phản thiên cung, chúng bây có biết mặt người hại cây báu hay không?

Thanh Phong thưa:

- Biết.

Trấn Nguơn đại tiên nói:

- Biết mặt thì đi theo ta. Còn các trò sắm sửa dây roi, đặng ta bắt đem về khảo. Các tiên đồng vâng lệnh sửa sang.

Khi ấy Trấn Nguơn đại tiên bắt Minh Nguyệt Thanh Phong, đằng vân theo Tam Tạng.

Đi hơn một ngàn dặm ngó không thấy Đường Tăng.

Ngó ngoái trở lại phía Đông, Minh Nguyệt Thanh Phong ngó thấy Tam Tạng, liền thưa rằng:

- Đường Tăng ngồi dựa cội tòng kia kìa.

Trấn Nguơn đại tiên nói:

- Ta đi quá hơn chín trăm dặm, phải không ngó lại, thì kiếm không ra!

Nói rồi biến ra ông đạo sĩ đi đường, tay cầm cái phất chủ.

Đi đến cội tòng nói lớn rằng:

- Tôi chào thầy đó.

Tam Tạng đáp lễ vừa rồi, đạo sĩ hỏi:

- Thầy ở đâu đến đây?

Tam Tạng nói:

- Tôi ở Đông Độ Đại Đường vâng chỉ đi thỉnh kinh bên Phật.

Đạo sĩ làm bộ kinh hãi hỏi rằng:

- Thầy có đi ngang núi tôi chăng?

Tam Tạng nói:

- Không biết núi thầy ở gọi là núi chi?

Đạo sĩ nói:

- Am Ngũ Trang tại núi Vạn Thọ.

Hành Giả nói hớt rằng:

- Không biết, không biết, chúng tôi cứ đường thẳng mà đi.

Đạo sĩ điểm mặt Hành Giả mà cười rằng:

- Con khỉ nầy nói giấu ta sao đặng. Mi đến am ta, ăn trái nhơn sâm cho đã, rồi lại giết gốc nhổ cây, mi trốn cả đêm nay, hãy còn chối phức! Đố ngươi đi đâu cho đặng, phải bắt đền cây nhơn sâm cho ta.

Hành Giả nghe nói nổi xung, giơ thiết bảng liền đập.

Đạo sĩ nhảy lên trên không hiện ra hình thiệt, Hành Giả nhảy theo đập hoài.

Trấn Nguơn đưa phất chủ đỡ mãi, liền giũ tay áo một cái, thâu bốn thầy trò và ngựa với gánh đồ, liền bay về am.

Kêu học trò đem dây ra cho sẳn, bắt từ người trong tay áo đưa ra, mới thấy còn nhỏ như hình hát bội đem ra ngoài lớn như người ta.

Truyền buộc bốn thầy trò vào bốn gốc cột, đóng nọc buộc con ngựa tại căn giữa, gánh đồ để một bên, bảo học trò lấy roi da ra, đánh hòa thượng một hồi, vì sự Huờn đơn thảo.

Khi ấy học trò vào lấy roi da rồng nhún nước, rồi thưa rằng:

- Đánh người nào trước?

Trấn Nguơn đại tiên nói:

- Đường Tăng Tam Tạng là thầy cả, mà không biết dạy học trò, thì cứ thầy đánh trước.

Hành Giả hét rằng:

- Thầy nói sai lắm! Tôi hái trộm, tôi ăn vụng, tôi xô gãy cây nhơn sâm sao lại không đánh tôi, để ăn hiếp thầy cả.

Trấn Nguơn đại tiên cười rằng:

- Con khỉ nầy thiệt gan ruột quá chừng, thôi bây đánh nó trước.

Tiểu tiên nói:

- Thưa thầy, đánh mấy chục roi?

Trấn Nguơn đại tiên nói:

- Đánh ba chục mà thôi.

Tiểu tiên vâng lời giá roi liền đánh.

Hành Giả thấy roi lớn quá, trợn con mắt coi đánh tại đâu, chẳng ngờ cũng đánh đích. Hành Giả biến ra da sắt mà chịu đòn, đánh ba chục roi thì trời mới đứng bóng, Trấn Nguơn đại tiên biểu đánh Tam Tạng, vì tội dạy không nghiêm để học trò gian ác. Hành Giả nói:

- Thầy nói hiếp quá! Hồi tôi ăn cắp thầy tôi cũng không hay. Ví dầu có tội chi, tôi là phận học trò xin chịu thế, có đánh bao nhiêu nữa thì đánh tôi đi.

Trấn Nguơn đại tiên khen rằng:

- Con khỉ yêu tuy là gian xảo, mà cũng có hiếu nghĩa với thầy. Vậy thì y theo lời nó xin, đánh thêm ba chục nữa.

Tiểu tiên vâng lệnh đánh y số mới thôi.

Tôn Hành Giả không biết đau chút nào. Dòm sau đít sáng trưng như mặt kiếng.

Khi ấy trời gần tối Trấn Nguơn đại tiên nói:

- Thôi, đem roi ngâm nước một đêm, để mai sẽ đánh nữa.

Đệ tử vâng lệnh. Rồi đâu đó về phòng.

Còn Tam Tạng khóc ròng than rằng:

- Tại chúng bây làm nhăn, mà báo ta mắc nạn. Bây giờ mới tính làm sao?

Tôn Hành Giả nói:

- Đừng có cằn nhằn, đợi họ ngủ rồi sẽ trốn nữa.

Đêm khuya ai nấy ngủ hết.

Tôn Hành Giả biến hình nhỏ, vuột dây ra.

Trước mở trói cho thầy, sau mở cho Sa Tăng Bát Giới. Tam Tạng cỡi ngựa, Sa Tăng gánh đồ.

Hai người mở cửa động đi trước.

Còn Tôn Hành Giả biểu Bát Giới, đốn bốn cây dương, trãi nhánh xong xả, đem vào buột vô bốn gốc cột như cũ.

Tôn Hành Giả niệm thần chú, rồi cắn lưỡi chảy máu phun trên bốn khúc dương.

Hóa ra hình bốn thầy trò, không sai một mảy. Hỏi cũng biết đáp lại như người. Xong rồi Tôn Hành Giả với Bát Giới đóng cửa động như thường, nhảy ra chạy theo Sa Tăng, Tam Tạng.

Đêm ấy ngựa không ngừng vó, người chẳng nghỉ chân.

Đi tới sáng trắng, Tôn Hành Giả thấy thầy ngủ gục trên lưng ngựa.

Sợ rủi ro té xuống mà khó lòng. Nên kiếm thạch bàn dựa bóng cây, thầy trò đồng nghỉ.

Rạng ngày Trấn Nguơn đại tiên kêu học trò thức dậy.

Ăn cơm mai xong rồi, Trấn Nguơn truyền học trò lấy roi đánh bốn sãi mỗi người ba chục!

Tiểu tiên vâng lệnh. Xách roi ra nói với TamTạng rằng:

- Bữa nay đánh ngươi trước.

Giả Tam Tạng hỏi:

- Đánh tôi sao?

Tiểu tiên đánh ba chục.

Rồi lại nói với Bát Giới rằng:

- Bây giờ đánh Hòa Thượng mỏ dài.

Bát Giới hỏi:

- Đánh tôi phải không?

Tiểu tiên cũng đánh y số.

Rồi nói:

- Bây giờ đánh Hòa Thượng mập.

Giả Sa Tăng cũng nói y như vậy.

Tiểu tiên đánh thẳng tay.

Rồi đánh tới giả Tôn Hành Giả.

Thì Tôn Hành Giả thiệt đương ngủ vùng phát lãnh giựt mình nói rằng:

- Không xong! Không xong! Ta ngỡ là hôm qua đánh đã hai lần sáu chục. Bữa nay nó chừa ta. Nên dùng máu lưỡi mà hóa bốn thầy trò. Ai dè nó đánh ta, đau lưỡi quá chịu sao cho nỗi.

Nói rồi thâu phép, hết run hết rét tức thì.

Còn Tiểu tiên mới đánh giả Tôn Hành Giả ba roi, coi lại không phải bốn thầy trò, thiệt bốn gốc dương liễu. Liền vào thưa tự sự với thầy.

Trấn Nguơn đại tiên cười hả hả nói rằng:

- Tôn Hành Giả là một con khỉ yêu nghiệt. Đã trốn thì thôi ta cũng kiếm. Sao lại đem dương liễu hóa mình chịu thế, khi ta không biết hay sao. Nói thiệt dung mi không đặng.

Nói rồi đằng vân ngó xuống. Thấy thầy trò đi lại hướng Tây.

Trấn Nguơn đại tiên kêu lớn nói rằng:

- Tôn Hành Giả chạy đi đâu cho khỏi? Phải bắt đền cây nhơn sâm cho ta.

Bát Giới nghe kêu lớn, kinh hãi nói rằng:

- Chủ nợ đà theo đệ!

Tôn Hành Giả nói:

- Xin thầy gói hai chữ từ bi lại. Để anh em tôi cầu siêu độ cho thầy ấy, thì đi đến Tây phương.

Tam Tạng run lập cập, chưa kịp trả lời.

Ba anh em đằng vân áp đánh.

Khi ấy Trấn Nguơn đại tiên đưa phất chủ ra đỡ. Rồi cũng giũ tay áo, bắt như xưa. Đem về bắt Tam Tạng ra biểu cột tại gốc hòe. Còn Bát Giới Sa Tăng cột vào hai cây đại thọ. Có một mình Tôn Hành Giả thì trói dộng đầu tại cây cau. Truyền đệ tử lấy mười in vải.

Tôn Hành Giả xem thấy cười rằng:

- Bát Giới! Ông đại tiên tử tế lắm. Đem vải may áo cho bọn mình, còn dư xé khăn lau miệng nữa.

Nói về Trấn Nguơn đại tiên truyền đệ tử lấy vải vấn cùng mình bốn sãi. Chừa từ cổ sắp lên.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Tưởng là may áo, không dè đại liệm!

Khi ấy các tiểu tiên vấn rồi hết, Trấn Nguơn truyền đem sơn sống sơn chín, tô ngoài vải dày mo. Rồi bảo đem chảo lớn nấu dầu cho sôi, quyết nấu Tôn Hành Giả mà báo cừu cây nhơn sâm.

Tôn Hành Giả nghe nói mừng thầm rằng:

- Mình lâu tắm gội xót ngứa lắm. Sẳn dịp nấy tắm chơi luôn thể, song nghĩ lại Đại tiên phép nhiệm, không biết có bùa chú ếm chăng, dầu mình chẳng hề gì, e thầy với hai em phải chết.

Nghĩ rồi ngó bốn phía, thấy con sư tử đá bên mái tây. Liền lăn đến đó, cắn lưỡi chảy máu; phun thạch sư tử mà biểu rằng: "Biến biến". Thiệt biến như hình Hành Giả, còn Tôn Hành Giả tàng hình ẩn trên mây.

Giây phút Tiểu tiên vào thưa rằng:

- Chảo dầu đã sôi rồi.

Trấn Nguơn đại tiên truyền quăng Tôn Hành Giả vào vạc dầu nấu cho rục.

Bốn tiên đồng khiêng Tôn Hành Giả không nổi, phụ thêm bốn người nữa, đỡ cũng không lên.

Lần lần tới mười hai người cũng không nổi, các tiên đồng nói rằng:

- Con khỉ nhỏ mà nó nặng quá tay, miết xuống đất như sắt!

Nói rồi áp lại cộng hai mươi người, rán hết hơi khiêng mới nổi.

Quăng vào chảo nghe một cái cảng!

Dầu văng phỏng mặt các tiên đồng.

Người chụm lửa la lớn rằng:

- Lủng chảo rồi; chảy dầu lai láng.

Coi lại con thạch sư tử nằm trong chảo, không biết Tôn Hành Giả biến đi đâu!

Khi ấy Trấn Nguơn đại tiên ra xem, thấy vậy nổi nóng nói rằng:

- Con khỉ khốn nạn nầy, thiệt là vô lễ dám diễu trước mặt ta, đã trốn khỏi thì thôi, sao lại hại cho bể chảo; thôi thôi bỏ nó đi cho rảnh. Thay chảo khác, nấu dầu Tam Tạng mà báo cừu cây nhơn sâm.

Nói về Tôn Hành Giả ở trên mây nghe nói như vậy, liền hiện xuống trước mặt Trấn Nguơn đại tiên, bái mà nói rằng:

- Đừng có nấu dấu thầy tôi, để tôi chịu thế.

Trấn Nguơn đại tiên mắng rằng:

- Mi là con khỉ yêu nghiệt, sao hại lủng chảo ta.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Nếu ông không nấu dầu tôi, thì sao đến nổi lủng chảo ngã lò tắt bếp. Phải tại tôi hay sao? Thiệt tình tôi cũng muốn vào chảo mà tắm dầu. Ngặt mắc đại tiện thốn tới, sợ làm bậy trong chảo, nữa sau ông nấu đồ ăn không ngon. Nay xuất cung (đi đại tiện) đã sạch sẽ rồi, nên vào thế cho thầy, kẻo oan và tội nghiệp.

Trấn Nguơn đại tiên nghe nói nổi giận cười gằn, liền bắt Tôn Hành Giả.

Hiennie*
20-04-2007, 12:35 AM
Hồi 26
Tôn Ngộ Không non cao tìm thuốc
Quan Thế Âm nước phép cứu cây
Khi ấy Trấn Nguơn đại tiên nắm Tôn Hành Giả mà nói rằng:

- Ta cũng biết ngươi thần thông quảng đại. Song bởi ngươi vô lễ quá, dầu hay biến hóa cũng ra không khỏi tay áo ta. Vậy ngươi đi với ta đến Tây Phương ra mắt Phật Tổ, thử coi ngài xử ngươi phải thường cây nhơn sâm cho ta chăng? Không lẽ ngươi ngang tàng, mà cãi lẽ cho đặng.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Ông thiệt là người nhỏ mọn lắm! Muốn cây nhơn sâm sống lại có khó gì, sao ông không nói trước cho rành, để mất công tranh đua cho mất công dữ vậy?

Trấn Nguơn đại tiên nói:

- Ta chẳng tranh nhỏ mọn, thiệt là uổng cây nhơn sâm.

Tôn Hành Giả nói:

- Nếu ông thả thầy và hai em tôi, thì tôi bắt đền cây nhơn sâm sống lại.

Trấn Nguơn đại tiên nói:

- Nếu đặng như vậy thì ta kết làm anh em với ngươi.

Tôn Hành Giả nói:

- Thì ông thả đi, tôi chẳng hề thất tín.

Trấn Nguơn đại tiên nhắm bốn thầy trò dầu trốn đâu cũng không khỏi, truyền tha hết một lần.

Nói về Tam Tạng tuy khỏi trói mà còn nghi không chắc, liền hỏi Tôn Hành Giả rằng: - Ngươi làm sao cho cây nhơn sâm sống lại?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Tôi đi qua Đông Dương đại hải, tìm Thánh Lão tiên ông, kiếm cho đặng phương phép khởi tử huờn sanh, về cứu cây ấy.

Tam Tạng hỏi:

- Ngươi đi mấy bữa mới về?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Nội ba ngày thì về đến.

Tam Tạng nói:

- Ta cũng y như lời hẹn, nếu quá bữa thì niệm chú tức thì.

Tôn Hành Giả vâng lời cân đẩu vân bay mất.

Khi ấy Tôn Hành Giả qua Đông Dương đại hải, đến núi Bồng Lai, thấy ngoài cửa động Bạch Vân có ba ông tiên đương đánh cờ dưới cội tòng, coi lại là: Phước Tinh với Lộc Tinh, còn Thọ Tinh ngồi coi thắng bại.

Tôn Hành Giả bước tới bái mà nói rằng:

- Chào các em đó.

Tam Tinh xô bàn cờ, đáp lễ hỏi rằng:

- Đại Thánh đến có chuyện chi?

Tôn Hành Giả nói:

- Ở không vô sự, nên đến thăm chơi.

Thọ Tinh nói:

- Tôi nghe rằng Đại Thánh theo Thích, bảo hộ Tam Tạng đi thỉnh kinh, sao lại ở không đi dạo?

Tôn Hành Giả nói:

- Thiệt tình không dám giấu các vị; bởi ta nữa đường gặp việc, nên đến cậy giúp một chút, không biết chịu hay chăng?

Phước Tinh hỏi:

- Đại Thánh gặp việc tại chốn nào?

Tôn Hành Giả nói:

- Tại am Ngũ Trang, núi Vạn Thọ.

Tam Tinh đồng cười rằng:

- Chốn ấy là cung ông Trấn Nguơn đại tiên. Có khi ăn vụng trái nhơn trái nhơn sâm chớ gì?

Tôn Hành Giả cười mà nói trây rằng:

- Dầu ăn vụng, cũng không đáng của bao nhiêu.

Tam Tinh cười rằng:

- Ông giộc nầy không biết khinh trọng! Trái nhơn sâm tên là Vạn thọ thảo huờn đơn. Chúng tôi còn thua Trấn Nguơn nhiều lắm. Vì mình tu luyện mới đặng trường sanh. Còn người ăn một trái cũng sống lâu như trời đất. Phải là quý báu vô giá, sao gọi rằng không đáng bao nhiêu? Coi thử trong ngoài càn khôn, thử ai trồng đặng cây linh ấy?

- Tôn Hành Giả nói:

- Cây linh gì không biết, ta làm đà trốc gốc đứt rễ rồi!

Tam Tinh nghe nói thất sắc, đồng hỏi rằng:

- Làm sao mà trốc gốc đứt rễ lận?

Tôn Hành Giả thuật chuyện lại, rồi nói rằng:

- Bởi vậy tôi mới tìm đến đây, xin có thuốc chi giúp thử, làm sao cho cây nhơn sâm sống lại cứu mới đặng thầy tôi.

Khi ấy ba ông nghe nói, ngồi ngẫm nghĩ hoài, giây lâu đáp rằng:

- Phải chi Đại Thánh đánh chết loại cầm thú hay là vật ở dưới sông, thì anh em tôi cho chút thuốc bằng móng tay, cứu cũng sống lại, chớ cây nhơn sâm là cây tiên, có thuốc chi mà làm cho sống lại đặng?

Tôn Hành Giả nghe nói, ngồi nhăn mặt buồn xo.

Phước Tinh thấy vậy nói rằng:

- Đại Thánh phiền não làm chi? Đây tuy không biết phương chi, chớ tìm nơi khác chắc cũng có thuốc.

Tôn Hành Giả nói:

- Đi tìm chỗ khác, cũng không khó gì, song thầy tôi độ lượng hẹp hòi, có kỳ cho tôi ba ngày, nếu quá thì niệm chú.

Thọ Tinh nói:

- Thôi, Đại Thánh đừng lo sợ, tuy đại tiên phẩm lớn, song quen biết với chúng tôi. Hèn lâu chưa rãnh mà thăm viếng. Để anh em tôi đến Ngủ Trang quán trước thăm đại tiên, sau nói giùm cho Đại Thánh. Xin Tam Tạng đừng niệm chú cẩn cô. Không biết mấy ngày, đợi Đại Thánh kiếm đặng thuốc trở về, thì chúng tôi sẽ về.

Tôn Hành Giả mừng rỡ nói rằng:

- Đặng như vậy tôi cám ơn lắm.

Nói rồi từ giã ra đi.

Còn Tam Tinh là Thiêm Phước, Thiêm Lộc, Thiêm Thọ, ba anh em, kẻ đằng vân người cởi hạc, bay đến am Ngủ Trang.

Các tiên đồng nghe tiếng hạc kêu, chạy ra coi thử.

Khi ấy Trấn Nguơn đại tiên đương đàm đạo vơí thầy trò Tam Tạng, xảy thấy đệ tử vào báo rằng:

- Thưa thầy, có Phước Tinh, Lộc Tinh, Thọ Tinh ở Hải thượng mới đến.

Trấn Nguơn đại tiên ra ngoài nghinh tiếp, Bát Giới thấy ông Thọ, liền níu mà cười rằng:

- Cha chả! Hèn lâu mới gặp lão sói. Sao không đội mão, coi in mọi người ta?

Thọ Tinh mắng rằng:

- Bộ mặt như heo rừng, sao dám kêu ta là mọi chúng?

Bát Giới nói:

- Nếu các ngươi không phải mọi người ta, sao thêm phước và lộc thọ cho chúng. Chẳng phải làm mọi đời hay sao?

Tam Tạng nạt Bát Giới lui riết.

Tam Tạng sửa áo ra ngoài làm lễ Tam Tinh.

Tam Tinh đồng đáp lễ rồi đồng ngồi đạo đàm với nhau.

Lộc Tinh nói:

- Chúng tôi cách Đại tiên đã lâu, nay cam chịu lỗi. Bởi đại thánh đến động tôi nói chuyện: Làm chết lở cây nhơn sâm, nên đến tôi xin thuốc, chúng tôi không có mà cho. Nên Đại Thánh phải đi tìm chỗ khác, sợ trễ hẹn ba bữa, Thánh tăng niệm đầu đông. Nên chúng tôi trước là đến thăm, sau xin rộng kỳ cho Đại Thánh.

Tam Tạng nghe nói, liền dạ và thưa rằng:

- Tôi vâng lời ba ông, không dám niệm chú.

Còn Bát giới ra níu ông Thiêm Phước mà xin trái cây. Móc tay áo, lục lưng quần, kiếm không sót một chỗ.

Tam Tạng cười rằng:

- Bát Giới, mi làm cái bộ gì lạ vậy?

Bát Giới thưa rằng:

- Tại ông ấy hay làm phước, nên mới dám lục lưng.

Tam Tạng đuổi Bát Giới ra ngoài, còm mấy vị tiên ông đàm đạo với nhau.

Nói về Tôn Hành Giả đi khỏi non Bồng Lai thẳng qua núi Phương trượng.

Xảy thấy hương bay hạc ré, coi lại là Đông Huê đế quân; Tôn Hành Giả bái chào. Đông Huê đế quân đáp lễ nói rằng:

- Xin ghé nhà tôi uống nước.

Khi ấy Tôn Hành Giả vào động, đương ngồi uống trà.

Xảy thấy một vị đạo đồng bước ra, coi lại là Đông Phương Sóc.

Tôn Hành Giả xem thấy cười rằng:

- Thằng ăn cắp vặt ở đây sao? Đế quân không có trồng đào, mi hết trông ăn vụng! Đông Phương Sóc nói chơi lại rằng:

- Tổ ăn cắp đến đây làm chi? Thầy ta không có luyện thuốc huờn đơn, có đâu mà uống vụng?

Đông Huê đế quân nói:

- Đông Phương Sóc đừng vô lễ, coi châm thêm nước cho mau.

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Tôi đến cầu Đế quân làm ơn một việc, chẳng hay chịu giúp cùng chăng?

Đông Huê đế quân hỏi:

- Chuyện chi nói thử mà nghe?

Tôn Hành Giả thuật chuyện lại, rồi thưa rằng:

Bởi cớ ấy nên đến ông mà xin thuốc.

Đông Huê đế quân nói:

- Tôi có một thứ thuốc Cửu chuyển thái ất huờn đơn. Cứu người cải tử huờn sanh, chớ cứu cây không đặng. Phải chi cây thế gian hễ còn dễ. Chớ như núi Vạn Thọ là đất phước đức. Am Ngủ Trang là động Tiên Thiên. Cây nhơn sâm hồi lớp Bàn Cổ đến nay, nên không có phương chi mà cứu nổi.

Tôn Hành Giả nói:

- Như ông hết phương, thì lão Tôn xin kiếu.

Nói rồi đằng vân qua núi Đinh Châu. Thấy mấy ông tiên tóc bạc mà mặt còn trai, ngồi đánh cờ dưới cây đỏ, kẻ thì uống rượu, người lại khảy đàn.

Khi ấy Tôn Hành Giả coi lại là Cữu lão.

Liền la lớn rằng:

- Chín ông già, cho tôi chơi thì đủ chục.

Cữu lão vui cười nghinh tiếp.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Các ông thiệt thanh nhàn, cầm kỳ thi họa!

Cữu lão nói:

- Phải chi trước Đại Thánh đừng làm phản, bây giờ nhàn lạc hơn chúng tôi. Song nghe nói nay theo Đường Tăng mà thỉnh kinh, sao còn đi dạo?

Tôn Hành Giả thuật chuyện vân vân.

Cữu lão thất kinh nói rằng:

- Thiệt Đại Thánh hay gây họa! Chúng tôi không có thuốc chi!

Tôn Hành Giả nói:

- Chín ông không có thuốc thì thôi, tôi kiếu đi qua chỗ khác.

Cữu lão cầm ở nán ăn ngó sen uống rượu huỳnh tương, Tôn Hành Giả ăn uống rồi, giả từ qua Nam Hải.

Khi ấy Quan Âm đương giảng kinh nơi rừng Tử trước, Mộc Tra và Long Nữ đứng hầu hạ hai bên.

Quan Âm liền kêu Thủ Sơn đại thần, truyền ra rước Tôn Hành Giả.

Nói về Thủ Sơn đại thần ra khỏi kêu lớn rằng:

- Tôn Ngộ Không đi đâu đó?

Tôn Hành Giả ngó thấy, nạt lớn nói rằng:

- Con gấu điên, sao dám kêu Ngộ Không kia, Ngộ Không nọ? Nếu năm xưa ta không thứ, thì mi đã chết tại núi Hắc phong. Nay ngươi theo Quan Âm thành chánh quả rồi, đáng lẽ kêu ta bằng lão gia mới phải chớ!

Thủ Sơn đại thần cười rằng:

- Người xưa nói: Quân tử chẳng nhớ oán cũ, ông còn nhắc lại làm chi? Nay Bồ Tát sai mời ông vào trước tòa sen dạy việc.

Khi ấy Tôn Hành Giả theo Sơn thần, đến làm lễ Bồ Tát.

Quan Âm hỏi:

Đi chuyện chi?

Tôn Hành Giả bạch hết mọi việc...

Quan Âm nói:

- Sao ngươi chẳng đến ta cho sớm, đi qua Hải đảo mà kiếm thuốc ra sao. Nước cam lộ trong tịnh bình, trị cây khô cũng sống lại.

Tôn Hành Giả mừng rỡ hỏi rằng:

- Thuở nay Bồ Tát có cứu cây nào chưa?

Quan Âm nói:

- Năm trước Thái Thượng lão quân có đàn cuộc với ta: Lấy nhành dương liễu trong tịnh bình, đốt trong lò đã khô cháy. Rồi đem ra trả lại cho ta. Ta để trong tịnh bình, bắt hơi nước cam lộ một ngày đêm; nhành dương liễu tươi xanh như cũ.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- May lắm, may lắm! Rất đổi đốt cháy mà còn cứu đặng, huống chi trốc gốc mà khó gì. Xin Bồ Tát từ bi cứu giúp.

Quan Âm truyền các đệ tử rằng:

- Các ngươi ở lại, ta đi xong việc rồi về.

Dặn dò rồi cầm tịnh bình đằng vân như chớp.

Chim Bạch anh bay trước, Tôn Đại Thánh theo sau, có bài thơ làm chứng:

Hào quang tỏ rạng chiếu xung quanh,

Cứu khổ từ bi độ chúng sanh,

Vóc ngọc ngàn thu không vít tích,

Mình vàng muôn kiếp giữ tinh anh,

Tai nàn dưới tục lòng hay xót,

Vật báu trong đời dạ chớ ganh,

Cam lộ nước linh vừa rưới xuống,

Nhơn sâm sống lại lá tươi xanh.

Khi ấy Trấn Nguơn đại tiên đương đàm đạo với Tam Tinh và Tam Tạng, xảy thấy Tôn Hành Giả trên mây nhảy xuống kêu mà nói rằng:

- Có Quan Âm Bồ Tát đến.

Mấy ông kia nghe nói vội ra ngoài ngỏ tiếp nghinh, cùng nhau đồng lạy Quan Âm, rồi rước vào ngồi giữa.

Tôn Hành Giả nói:

- Bây giờ còn sớm, đại tiên thỉnh Bố Tát đi cứu cây nhơn sâm.

Trấn Nguơn đại tiên mừng rỡ, truyần đặt bàn hương án tại vườn, rồi thỉnh Bồ Tát Quan Âm đi trước, ai nấy theo sau.

Đoạn đến vườn hoa thấy cây nhơn sâm trốc gốc đứt rễ, rụng lá khô nhanh.

Quan Âm truyền Tôn Hành Giả xòe bàn tay trái.

Quan Âm lấy nhành dương chấm nước cam lộ, họa phù khởi tử hồi sanh trong bàn tay, bảo Tôn Hành Giả nắm cái rễ nhơn sâm đợi nước ra thì lấy bầu ngọc mà hứng. Tôn Hành Giả y như lời dặn.

Giây phút nước ra có giọt.

Trấn Nguơn đại tiên truyền đạo đồng lấy chén ngọc bầu ngọc hơn năm chục cái, đem hứng nước đã đầy.

Quan Âm nói:

- Bởi nước ấy kị ngũ hành, nên phải đựng bằng đồ ngọc. Dựng cây dậy bắt trên mà tưới xuống, thì sống lại như thường.

Tôn Hành Giả và Sa Tăng Bát Giới đỡ cây dậy, dện gốc xong rồi, lấy nước trong bầu mà dâng cho Quan Âm Bồ Tát.

Khi ấy Quan Âm cầm nhành dương liễu, nhúng nước trong chén ngọc mà rảy cho cây nhơn sâm, còn bao nhiêu thì tưới dưới gốc.

Niệm chú giây phút, cây nhơn sâm tươi lại, ra lá sum suê, trên cây có hai mươi ba trái.

Nói về Minh Nguyệt và Thanh Phong ngó thấy làm lạ than rằng:

- Khi trước thấy mất nhơn sâm, thì đếm còn hai mươi hai trái. Sao bây giờ sống lại, dư thêm một trái cũng kỳ.

Hành Giả nói:

- Lâu ngày mới biết lòng người. Hồi trước tôi hái trộm có ba trái, còn một trái rớt xuống đất mất đi, tôi hỏi Thổ Địa, thì Thổ Địa nói. Nó kị đất, rớt xuống thì lặn mất liền.

Bát Giới không tin, cứ nghi tôi ăn trước, bây giờ có thấy hay không?

Còn Quan Âm nói:

- Ta biết cây nầy kị ngũ hành, nên ta cử trước.

Trấn Nguơn đại tiên mười phần mừng rỡ, truyền lấy cái móc vàng hái mười trái.

Rồi mời Quan Âm và mấy vị về am mà đãi, gọi là hội Nhơn sâm quả.

Mời Quan Âm ngồi giữa, Tam Tinh và mình ngồi bên tả, bốn thầy trò Tam Tạng ngồi bên hữu.

Khi ấy Tam Tạng mới biết là vật báu, bắt chước ăn theo.

Chín vị hết chín trái, còn dư một trái cho các tiên đồng chia với nhau.

Có bài thơ khen rằng:

Vạn thọ nam tiên quý lắm ru,

Nhơn sâm trái chín, chín ngàn thu,

Rễ linh rước trước, cây khô héo,

Nước phép nay xem lá bịt bù,

Ba vị làm ơn mà đặng hưởng,

Bốn thầy gây án lại hết thù,

Từ đây tuổi thọ tày trời đất,

Trẻ mãi không già tiếng chẳng tu.

Tiệc rồi Trấn Nguơn đại tiên và Tôn Hành Giả đều tạ Ơn Quan Âm, Quan Âm về Nam Hải, Tam Tinh trở lại Bồng Lai.

Trấn Nguơn đại tiên dọn tiệc chay, đãi bốn thầy trò, rồi kết nguyền anh em với Tôn Hành Giả.

Thiệt là có đánh đau mới ra bạn thiết.

Hồi 27
Thây ma ba thứ trêu Hòa Thượng
Tam Tạng nhiều phen đuổi Ngộ Không
Ngày sau thầy trò xin kiếu. Trấn Nguơn đại tiên cầm ở lại sáu bữa mới chịu đưa đi. Tam Tạng từ ăn trái nhơn sâm càng thêm sức mạnh.

Đi hèn lâu tới hòn núi cao lắm, Tam Tạng nói:

- Non cao chắc có yêu quái, các trò phải đề phòng.

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Xin thầy đừng lo. Anh em tôi đã hiểu.

Nói rồi cầm thiết bãng dọn đường đi trước, Tam Tạng nói:

- Ngộ Không ta đã đói lòng, ngươi chịu khó xin cơm đỡ dạ.

Tôn Hàn Giả cười mà nói rằng:

- Thầy nói không biết xét, nhà ai trong núi mà xin cơm.

Tam Tạng mắng rằng:

- Sao ngươi không nghĩ lại. Khi bị Như Lai dằng ngươi trong hộp đá tại Lưỡng Giái sơn, tuy miệng nói vang trời, mà chân không đạp đất, ta cứu ngươi khỏi nạn đem theo làm học trò, đáng lẽ ngươi hết lòng với ta mới phải, nỡ nào làm biếng như vậy. Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Đệ tử cũng hết lòng, nào có làm biếng.

Tam Tạng nói:

- Nếu ngươi không làm biếng sao chẳng chịu đi xin cơm, ta đói bụng đi sao đặng. Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Xin thầy đừng quở trách, tôi biết tánh thầy cao ngạo, nếu chậm trễ thì niệm chú cẩn cô. Vậy xin thầy xuống ngựa ngồi đó, đặng tôi xuống xóm mà xin cơm.

Nói rồi nhảy lên mây, che tay coi bốn phía, coi không thấy nhà ai hết, thấy những cây cối thì nhiều, bên phía Nam có một điển đỏ đỏ, liền nhảy xuống thưa rằng:

- Tôi xem hết bốn phương, không nhà không xóm, phía Nam có một điểm đỏ chắc là có trái đào, xin đi hái cho thầy ăn đở.

Tam Tạng mừng rằng:

- Đương lúc đói lòng gặp trái đào là quý lắm.

Tôn Hành Giả xách bình bát, nhảy qua hướng Nam mà hái đào.

Lời xưa nói: "Non cao thì có quái, rừng rậm ắt nhiều tinh".

Tại núi ấy có một con yêu, bay trên mây ngó xuống thấy thầy trò Tam Tạng ngồi dưới đất thì mừng rỡ nói rằng:

- May lắm may lắm. Mấy năm nay nghe đồn Đường hòa thượng là Kim Thiền Tử đầu thai. Nguyên trước tu hành đã mười đời, nếu ăn một miếng thịt Đường Tăng thì sống lâu lắm! Ngày nay lại gặp thình lình.

Nói rồi nhảy xuống mà bắt, song ngó thấy có Sa Tăng, Bát Giới bảo hộ, e khó nổi ra tay, nên con yêu ấy nghĩ rằng:

- Để mình giả dạng khuấy chơi coi thể nào cho biết.

Liền hiện ra nữ tử, tay tả cầm cái xách, tay hữu cầm bình bát, ở bên mé Tây đi lại phía Đông.

Khi ấy Tam Tạng xem thấy kêu bát Giới mà nói rằng:

- Ngộ Không mới nói chẳng có nhà nào, vậy chớ ai đi đó.

Bát Giới thưa rằng:

- Để tôi đi coi thử.

Nói rồi vác đinh ba đi đánh đòng xa yểu điệu, bởi thấy người xinh tốt nên động lòng, liền nói với nàng ấy rằng:

- Chẳng hay cô đi đâu? Và cầm vật chi đó?

Nàng ấy đáp rằng:

- Xách cơm và bình bát đựng bánh in đi trai tăng bố thí.

Bát Giới nghe nói mừng lắm chạy lăn mở, về thưa với Tam Tạng rằng:

- Thầy ôi! Người lành thì trời giúp. Thầy biểu anh hai đi xin cơm, ảnh lại kiếm chuyện hái đào mà ăn trước. Thầy ôi! Ăn đào nhiều thì xót ruột lắm, sao bằng ăn cơm. Người ấy đi trai tăng có saÜn bánh in và cơm sốt.

Tam Tạng nói:

- Mình đi thuở nay bị những yêu quỷ , không gặp một người lành, ai lại đi trai tăng trong núi.

Bát Giới nói:

- Nàng ấy đã đi đến, thầy không tin thì hỏi thử mà coi.

Tam Tạng chấp tay hỏi rằng:

- Nhà cô ở đâu? Vái điều chi mà trai tăng bố thí?

Nàng ấy nói:

- Chốn nầy là núi Bạch hổ, nhà tôi ở phía Tây, cha mẹ tôi tụng kinh làm phước, chồng tôi cũng hiền lành hay bố thí trai tăng, tu kiều bồi lộ, ngày nay có phước mới gặp đặng thầy, xin dùng một bữa cơm cho tôi nhờ công đức.

Tam Tạng còn hồ nghi dục dặc.

Bát Giới nóng họng liền xách cơm chưa kịp ăn.

Tôn Hành giả đã về tới, trợn con mắt coi rõ nàng ấy là yêu tinh, muốn đập một cây thiết bảng.

Tam Tạng kinh hãi kéo Tôn Hành Giả mà hỏi rằng:

- Ngươi hành hung muốn đánh ai đó?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Đàn bà ấy không phải là người, thiệt là yêu tinh giả hình mà gạt sư phụ.

Tam Tạng nói:

- Đừng làm mặt khỉ, cô nầy là người trai tăng bố thí cho chúng ta, sao ngươi nói là yêu quái?

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Thầy biết sao đặng, hồi tôi ở Thùy Liêm Động muốn ăn thịt ai đặng giả dạng như vậy luôn luôn. Phải tôi chậm chân ắt thầy mang hại.

Tam Tạng không tin, cũng nói người tử tế.

Tôn Hành Giả nổi giận nói rằng:

- Tôi biết ý thầy, thấy người thì muốn. Nếu như vậy thì dọn chỗ nhập phòng, chúng tôi đặng uống rượu, còn đi thỉnh kinh thỉnh kệ làm chi.

Tam Tạng nghe mắc cỡ, Tôn Hành Giả nổi nóng đập nàng ấy chết tươi.

Con yêu xuất hồn bay đi, bỏ xác và đồ lại hết.

Khi ấy Tam Tạng run lập cập nói rằng:

- Con khỉ nấy dữ quá, khi không dám đập chết người ta!

Tôn Hành giả thư rằng:

- Xin thầy coi trong xách đựng chi, thì biết chơn giả.

Tam Tạng dở xách không thấy cơm, toàn những giòi bò lúc nhúc, giở bình bát không thấy bánh, chỉ những cóc nhảy lom xom, cũng có ý tin là yêu quái.

Bị Bát Giới gièm siễm rằng:

- Người đàn bà ở đồng, sao gọi là yêu quái! Chẳng qua đại ca giết lỡ, nên mà con mắt mà dối thầy, vì sợ có niệm thần chú.

Tam Tạng nghe lời gièm siễm, niệm chú tức thì.

Tôn Hành Giả la lớn rằng:

- Nhức đầu chết đi thầy ôi! Khoan niệm để tôi nói chuyện đã.

Tam Tạng giận rằng:

- Người tu hành thì giữ lòng từ thiện, sao ngươi vô cớ mà sát nhân. Đi thỉnh kinh làm chi, còn có chuyện gì nữa. Thôi ngươi đi về cho rảnh.

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Thầy đuổi tôi đi đâu bây giờ?

Tam Tạng nói:

- Ta chẳng nhìn ngươi là học trò, muốn đi đâu tự ý.

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Thầy chẳng dùng tôi làm đồ đệ, e đi không đến Tây Phương.

Tam Tạng nói:

- Số mạng tại trời, không lẽ ngươi cứu ta cho đặng. Thôi ngươi trở lại cho mau.

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Thầy ôi! Tôi về cũng không khó, ngặt chưa trả đặng công ơn.

Tam Tạng nói:

- Ta có ơn chi với ngươi mà trả.

Tôn Hành Giả nghe nói quỳ lạy thưa rằng:

- Bởi tôi đại náo thiên cung, bị Như Lai nhốt trong hộp đá, nhờ Quan Âm mách bảo, cám ơn sư phụ cứu ra. Nếu không bảo hộ cho tới Tây Phương, thì là mang ơn mà chẳng trả.

Tam Tạng lòng nhân đức, nghe nói ngọt thì động lòng thương, liền nói rằng:

- Như vậy thì ta dung ngươi một lần. Nếu nết cũ không chừa, ta niệm chú đủ hai chục bận.

Tôn Hành Giả đỡ thầy lên ngựa. Rồi dâng đào ăn ít trái đỡ lòng.

Nói rồi con yêu ấy xuất hồn lên mây.

Nghĩ giận Tôn Hành Giả nên nghiến răng nói rằng:

- Bấy lâu nay nghe tiếng nó phép giỏi tài cao, nay thiệt quả như vậy. Đường Tăng đã lầm không biết, ý muốn ăn cơm. Ta đợi cuối xuống mà hưởi một cái, thì nắm cổ kéo đi, không dè Tôn Ngộ Không trở về phá đám. Thiếu chút nữa ta xuất hình không kịp, thì chẳng còn hồn. Thù nầy không lẽ bỏ qua đặng! Để mình hóa hình nữa mà thử coi thể nào.

Nói rồi hóa một bà già gần tám mươi tuổi. Tay chống gậy tre, và đi và khóc.

Bát Giới ngó thấy rằng:

- Thầy ôi! Không xong rồi! Chắc đại ca đánh con bà nầy chết, nên chống gậy đi kiếm con.

Tôn Hành Giả hét rằng:

- Ngươi hay nói phi lý, nàng hồi nãy lối hai mươi tuổi, bà bây giờ gần tám chục ngoài, lẽ nào sáu mươi mà còn sanh đẻ. Để ta đi coi thử, thì biết giả chơn.

Nói rồi đến coi tỏ rõ. Biết là yêu quỷ giả dạng, liền đập chết tức thì.

Con yêu cũng xuất hồn ra nữa.

Khi ấy Tam tạng xem thấy kinh hãi, nhảy xuống ngựa mà nằm. Cứ niệm chú đủ hai chục biến.

Thương hại Tôn Hành Giả nhức đầu quá, nằm lăn lộn khóc mà thưa rằng:

- Thầy ôi! Đừng niệm nữa, đừng niệm nữa, để tôi thưa một lời nầy.

Tam Tạng giận nói rằng:

- Còn gì nói nữa! Ta đã khuyên ngươi từ thiện, sao còn quen thói hung hăng. Lại đánh chết một mạng nữa.

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Thầy ôi! Nó không phải là người, thiệt loài yêu quỷ.

Tam Tạng mắng rằng:

- Ngươi là con khỉ nói bậy, yêu tinh đâu mà gặp liền liền. Tại ngươi giết chúng đà hưa tay, hãy đi về cho rảnh!

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Thầy đuổi lắm thì tôi cũng phải đi. Song còn một chuyện nên chưa đặng.

Tam Tạng hỏi:

- Còn chuyện chi nữa?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Thiệt tôi không dám giấu thầy. Cách năm trăm năm trước, tôi ở động Thủy Liêm núi Hoa Quả xưng vương làm chúa với loài yêu, từ theo thầy đội cái Kim cô, là quyết làm đệ tử. Nếu nay về còn bị niền đầu niền óc, thì thẹn mặt với anh em. Thiệt thầy không muốn dùng tôi nữa, xin niệm chú tòng cô cho nó rớt xuống, tôi trả Kim cô cho thầy mà về xứ, thì ơn nặng muôn phần. Cũng như công tôi theo thầy bấy lâu nhờ ơn một chút.

Tam Tạng nghe nói kinh hãi đáp rằng:

- Khi trước Quan Âm truyền chú cẩn cô cho ta, chứ không có chú tòng cô nào hết. Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Nếu không có chú tòng cô, tôi quyết theo thầy luôn thể.

Tam Tạng nói:

- Thôi, ta dung ngươi lần thứ nhì, chẳng khá hành hung nữa.

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Từ rày sắp lên không dám cãi nữa.

Liền đỡ thầy lên ngựa mà đi.

Nói về con yêu ấy xuất hồn ra khen rằng:

- Hầu vương con mắt coi hay lắm! Ta biến thế nào coi cũng ra. Nếu qua khỏi bốn mươi dặm đường thì địa phận người khác. Để ta giả một lần nữa.

Liền hiện ra một ông già. Tay cầm xâu bồ đề, miệng niệm kinh, tay lần chuổi.

Khi ấy Tam Tạng ngó thấy khen rằng:

- Đây gần tới cảnh Tây Phương nên ông già đã khòm, còn lần chuổi hột.

Bát Giới nói:

- Thầy ôi! Đừng có khen. Ấy là nhân mạng đó.

Tam Tạng hỏi:

- Nhân mạng làm sao?

Bát Giới nói:

- Hành Giả giết con rồi đập vợ chết, nên ông ấy đi tìm. Nếu gặp đây ắt là bắt đền nhân mạng.

Tôn Hành Giả nói:

- Ngươi cứ đặt điều cho nhiều chuyện. Để ta coi lại cho rõ ràng.

Nói rồi giấu thiết bảng, chạy tới hỏi rằng:

- Ngươi đi đâu mà niệm kinh dọc đường dọc xá? Ta thiệt là chúa yêu, sao ngươi dám làm quỷ. Ta đã biết rồi.

Con yêu nghe qua kinh hãi, không biết trả lời làm sao.

Tôn Hành Giả nghĩ rằng:

- Con quái nầy trốn khỏi hai lần, thì nhọc công mà vô ích. Phải tính một điều cho hay, mới dứt hậu hoạn.

Nghĩ rồi niệm chú, thâu Thổ Địa Sơn Thần mà dặn rằng:

- Thầy ta bị con yêu nầy giả dạng khuấy thầy ta đã ba lần, phen nầy chư thần giữ nó cho ta trừ căn chớ để trốn nữa.

Sơn thần Thổ Địa y lời.

Khi ấy Tôn Hành Giả đánh một thiết bảng, con yêu ấy chết ngay, xuất hồn không đặng.

Còn Tam Tạng xem thấy run rét hãi kinh.

Bát Giới cười ngất nói rằng:

- Bữa nay Hành Giả điên rồi, nửa ngày giết hết ba mạng!

Tam Tạng muốn niệm chú, Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Xin thầy đừng niệm chú, giục ngựa đến mà coi! Một đống xương khô rủ tại đó. Tam Tạng xem thấy hãi kinh hỏi rằng:

- Ngộ Không! Người nầy mới chết, sao đã rủ xương?

Tôn Hành Giả nói:

- Nó là Thi ma, xương khô thành quỷ. Nay bị tôi đánh nó biến không kịp, đã hiện nguyên hình. Trên xương sống có bốn chữ Bạch Cốt Phu Nhân, nghĩa là con ma đàn bà bộ xương không mục.

Tam Tạng xem thấy mới tin.

Bị Bát Giới chót mỏ nói dua rằng:

- Thầy ôi! Rõ ràng Hành Giả đánh người lương thiện thác oan. Sợ niệm chú nhức đầu, nên biến hóa dối thầy cho xuôi việc.

Thiệt Tam Tạng hay nghe lắm, tin lời niệm chú tức thì. Thương hại Tôn Hành Giả nhức đầu quá, quì bên đường mà thưa rằng:

- Xin thầy đừng niệm nữa, muốn chi thì nói cho rồi.

Tam Tạng nói:

- Người làm lành như cỏ mùa Xuân; tuy không thấy lớn, mà càng bữa càng thêm. Kẻ làm dữ như đá mài dao, tuy chẳng thấy mòn, mà một ngày một khuyết. Nay mi không chừa thói dữ, đánh chết thêm một mạng là ba. Con khỉ kia! Ta bây giờ không còn cách nào dạy dổ ngươi nữa ! Chỉ có một điều quyết đuổi mà thôi.

Tôn Hành Giả nói :

- Thầy giận tôi là oan lắm ! Nó chính là yêu quái nhiễu hại ! Tôi trừ loài yêu quái cứu thầy , sao thầy nghe lời dèm xiểm , dua nịnh của kẻ bất tài ganh tị , nhẫn tâm đuổi kẻ chân thành đã dày công bảo hộ. Người thai phàm , mắt tục như thầy , dẫu có trung thành cho mấy , rồi một ngày nào cũng hoài công vô ích. Nay thầy đuổi tôi ba lần , lẻ nào mặt dày mày dạn nghe thầy ngày la mắng chửi mãi sao ?

Tam Tạng nổi giận nói :

- Con Khỉ đột này buông lời ngạo nghể. Không có ngươi , Sa Tăng , Bát Giái không phò hộ ta đến Tây Phương được sao ?

Tôn Hành Giả lắc đầu nói :

- Thầy không biết nghĩ , Khi trước nhờ Lưu Bá Khâm đưa đón , sau có tôi bảo hộ , phá động trừ yêu , hết nạn này tới nạn nọ , mới thu được Bát Giái và Sa Tăng. Thầy nhẫn tâm đuổi đứa trung thành , nghe thằng dua nhịnh ! Có phải là được chim bẻ ná , được cá buông câu không ? Thầy lại cậy có thần chú Cẩn cô , để khiến người như khiến súc vật , thì sao gọi là tu hành minh chính , đạo đức từ bi ? Lại cho kẻ giết yêu cứu mình là sát nhân bất thiện !

Tam Tạng nói :

- Từ nay về sau ta không hề niệm chú nữa.

Tôn Hành Giả nói :

- Tôi không đủ tin lời ấy ! Nếu ngày sau thầy mắc nạn , Sa Tăng , Bát Giái cứu không xong , thầy niệm chú Cẩn cô , tôi dù có cách núi , ngàn sông cũng nhức đầu như thường ! Lúc đó tôi lại phải băng ngàn vượt biển đến tìm thầy. Như vậy thầy để tôi theo luôn không tiện sao ?

Càng nói , Tam Tạng càng thêm căm tức , nhảy xuống bảo Sa Tăng mở gói , lấy bút nghiên mài mực , rồi viết một tờ từ đưa cho Tôn Hành Giả và nói :

- Giấy này làm chứng rằng ta không nhìn nhận ngươi làm đồ đệ nữa và trọn đời ta không niệm chú Cẩn cô , Ngươi mau lui về cho xong chuyện. Nếu không tin ta thề độc đoán cho ngươi nghe.

Tôn Hành Giả lảnh tờ từ , nói :

- Tôi tin lời , xin thầy đừng thề làm gì. Song tôi nghĩ vì theo thầy mới nữa đường , chưa giúp được bao nhiêu công quả , vậy xin lạy thầy một lạy đền ơn.

Tam Tạng quay lưng lãi nói :

- Ta là Hòa thượng hiền lành , không nhận lễ của kẻ hung dữ.

Tôn Hành Giả nhổ ba cái lông , làm phép hóa ra ba Tôn Hành Giả nữa , bao quanh lạy đùa.

Tam Tạng quay phía nào cũng không tránh khỏi.

Lạy xong , Tôn Hành Giả rùn mình thu lông lại , rồi gọi Sa Tăng nói :

- Hiền đệ , em là người hiền từ , tử tế , phải đề phòng thằng mặt heo dua nịnh gièm pha ! Nếu gặp yêu tinh dọc đường , em xưng là Tôn Ngộ Không , học trò lớn của thầy , như vậy yêu tinh sẽ sợ anh , không dám làm hại sư phụ.

Tam Tạng nghe nói , ngắt lời đáp :

- Ta là Hòa thượng hiền hậu , không muốn nhắc đến tên người dữ làm gì. Ngươi hãy trở về , đừng nói một tiếng nào nữa.

Tôn Hành Giả thấy thầy chưa nguôi giận , liền Cân đẩu vân đi mất.

Hồi 28
Núi Hoa quả, quần hầu gặp chúa
Rừng Hắc tòng, Tam Tạng bị yêu
Khi ấy Tôn Hành Giả bay khỏi biển Đông, đến núi Hoa quả. Ngó xuống thấy núi xanh như cũ, cỏ rẫm khác xưa. Coi phong cảnh buồn hơn khi trước. Bởi vì Nhị Lang Hiển thánh và bảy quái Mai Sơn đốt phá khi trước, nên tồi tệ như vầy.

Tôn Hành Giả chắc lưỡi than rằng:

- Năm trăm năm nay ta mới trở về, nhìn cảnh cũ càng thêm chua xót!

Mảng còn than thở, xảy thấy bảy tám con khỉ nhỏ, trong bụi nhảy ra, lạy Tôn Hành Giả mà nói rằng:

- Mừng Đại Thánh gia gia mới về!

Tôn Hành Giả hỏi rằng:

- Sao chúng bây trốn nhủi? Hèn lâu mới thấy trong bụi nhảy ra?

Bầy khỉ nghe nói, khóc mà thưa rằng:

- Từ Đại Thánh đi rồi, chúng tôi bị người ta săn bắn! Cung to ná mạnh, chó dữ ó hung. Nên chúng tôi phải ẩn mình chớ cự không lại. Nay nghe tiếng Đại Thánh nên mừng rỡ nhảy ra.

Tôn Hành Giả hỏi rằng:

- Họ săn bắn chúng bây mà chi?

Bầy khỉ thưa rằng:

- Kẻ săn bắn độc dữ lắm. Hễ chết thì nó ăn thịt, bằng sống thì nó tập đi hát mà lấy tiền.

Tôn Hành Giả nổi giận mà hỏi rằng:

- Vậy chớ ai cầm quyền trong động?

Bầy khỉ thưa rằng:

- Có hai vị Mã, Lưu nguyên soái, và hai vị Bôn, Ba tướng quân.

Tôn Hành Giả nói:

- Chúng bây vào báo tin cho rõ, nói có ta về.

Khi ấy Tứ hầu nghe báo rất mừng, vội vàng ra nghinh tiếp, Tôn Hành Giả vào ngồi giữa động.

Bầy khỉ lớn nhỏ đồng lạy mừng. Rồi thưa rằng:

- Chúng tôi nghe Đại Thánh gia gia khỏi nạn, theo bảo hộ Đường Tăng đi thỉnh kinh, sao nay lại về núi?

Tôn Hành Giả nói:

- Chúng bây không rõ: Đường Tam Tạng chân chất quá, chẳng biết kẻ hiền ngu. Ta ráng sức bình sanh, giết yêu tinh mà dẫn lộ. Tam Tạng nghe lời dèm siễm, chê ta hung dữ nên đuổi về. Có viết tờ từ rõ ràng, chẳng dùng ta nữa!

Bầy khỉ vỗ tay cười lớn nói rằng:

- May lắm, may lắm! Đại Thánh làm Hòa Thượng có ích chi? Thà về đây vui chơi với con cháu.

Nói rồi, dọn rượu nước dừa mà đãi Đại Thánh.

Tôn Hành Giả nói:

- Khoan uống rượu đã. Chẳng hay mấy bữa chúng đi săn một kỳ?

Mã, Lưu thưa rằng:

- Ngày nào nó cũng săn bắn, một lát nữa chắc chúng nó đến đây.

Tôn Hành Giả truyền bấy khỉ gom đá cục đá hòn, chất đống trên chót núi, rồi vào động trốn đi.

Giây phút thấy phía Nam xáng mã la đánh trống, cả ngàn nhân mã cần khí giới và dẫn muông đem ó đi săn.

Tôn Hành Giả nổi giận câm gan, đợi chúng nó lên núi, liền hớp một hơi bên hướng Tốn, thổi ra làm bảo tố ầm ầm. Đá lỡ cát bay nhân mã bị bể đầu chết hết.

Tôn Hành Giả vỗ tay cười rằng:

- Vui lắm, vui lắm! Từ khi ta theo Tam Tạng, ngày nào thầy cũng khuyên ta rằng: Làm lành mãn kiếp lành chưa đủ, ở dữ một ngày dữ có dư. Thiệt lời ấy phải lắm. Ta theo thầy giết ít con yêu; thầy gọi là làm dữ. Bữa nay về xứ một lát, mà giết loài săn bắn cả ngàn.

Nói rồi truyền bầy khỉ cởi quần áo người chết mà bận. Lột da ngựa mà đóng giày, lấy khí giới mà dùng.

Rồi dựng cờ đề mười bốn chữ như vầy: Trùng tu Hoa quả sơn, phục chỉnh Thủy Liêm Động, Tề Thiên Đại Thánh (Nghĩa là Tề Thiên Đại Thánh khôi phục động Thủy liêm, sửa sang núi Hoa Quả).

Từ ấy sắp sau, ngày ngày cũng nhóm yêu thâu quái, bữa bữa hằng cắt cỏ vận lương. Lo trồng hoa quả như xưa.

Thiên hạ thấy cờ, đều không dám lên núi.

Tôn Hành Giả ăn chơi thông thả, vui biết chừøng nào.

Nói về Tam Tạng từ đuổi Tôn Hành Giả thì lên giục ngựa, đi với Bát Giới, Sa Tăng. Bát Giới thay mặt cho Tề Thiên, dồn đồ đạc Sa Tăng gánh hết.

Khi ấy ba thầy trò đi khỏi núi Bạch Hổ, xảy thấy một cụm rừng bá tòng rậm rịt, mây sắn bịt bùng.

Tam Tạng nói:

- Hai trò phải coi chừng vì đường rừng sầm uất.

Bát Giới nghe nói, cầm Đinh ba đi trước dẫn đường. Tam Tạng đi tới mé rừng, trong lòng đã đói.

Liền nói với Bát Giới rằng:

- Ta đã đói lòng, ngươi chịu khó xin cơm đỡ dạ.

Bát Giới thưa rằng:

- Xin thầy xuống ngựa ngồi nghỉ đặng lão Trư đi xin cơm.

Tam Tạng y lời, Sa Tăng mở gói đồ, đưa cái Bình bát.

Bát Giới xách đi hơn mười dặm, không thấy một cái nhà.

Hùm beo chẳng thiếu gì, mà người ta thì không gặp.

Bát Giới đi một hồi mệt quá, nghĩ lại ăn năn rằng:

- Hồi trước có Hành Giả, thì việc nầy ta khỏi mất công, bởi mình nói dèm siễm cho thầy đuổi đi nên nay phải chịu cực.

Thiệt là:

Nuôi con mới biết ơn cha mẹ,

Ăn thép nào hay giá quế châu!

Khi ấy Bát Giới đi xin chẳng đặng cơm, thì kiếm chỗ bóng cây mà nằm ngủ.

Nói về Tam Tạng trông hết sức, không thấy Bát Giới về. Chẳng biết cớ nào nóng tai máy mắt, liền nói với Sa Tăng rằng:

- Sao Ngộ Năng đi lâu quá, trời chiều mà chưa thấy về? Nhắm lại chỗ nầy ngủ không tiện, phải tìm chốn khác mới xong.

Sa Tăng thưa rằng:

- Xin thầy cho tôi đi kiếm Bát Giới.

Tam Tạng nói:

- Phải.

Sa Tăng cầm bửu trượng ra đi.

Còn Tam Tạng ngồi một mình trong rừng buồn bực, liền đi dạo giải khuây. Coi có đường mòn, chắn nhà người gần đó. Mảng xem phong cảnh, đi một hồi không nhớ đường xưa. Ngó thấy bên phía Nam chiếu hào quang, coi lại là cái tháp; bởi mặt trời chiều nên giọi bóng, vì trên đảnh tháp bằng vàng.

Tam Tạng nói:

- Mình có lời nguyện: Gặp chùa thắp hương, gặp tháp thì quét bụi, hễ có tháp chắc có am chùa. Vả lại chốn nầy không ai đi, chẳng lo sự lấy đồ dắt ngựa. Thà tìm vào đó mà nghỉ, sau hai trò kiếm thét cũng đến đây.

Nghĩ rồi tới cửa ngõ kia, bước vào gần tháp. Thấy ngoài cửa tháp có treo rèm cửa bông, liền khoát rèm bước vô thấy có cái giường bằng đá. Người nằm ngủ trên giường mặt xanh nanh bạc.

Tam Tạng biết là yêu quái hồn vía đã lên mây, liền thối lui lại mà chạy.

Khi ấy chúa yêu giựt mình thức dậy hỏi tiểu yêu rằng:

- Ai chạy ngoài rèm đó?

Tiểu yêu dòm rồi báo rằng:

- Hòa Thượng trắng trẻo lắm, chắc là thịt mềm.

Chúa yêu cười hả hả nói rằng:

- Ấy là ruồi kề lưỡi cóc, chuối đút miệng voi. Chúng bây bắt nó cho ta, đừng để chạy mất đi uổng lắm!

Tiểu yêu vâng lệnh, theo bắt Tam Tạng dẫn vào.

Tam Tạng chấp tay làm lễ.

Chúa yêu hỏi rằng:

- Ngươi là Hòa Thượng ở đâu? Đến chuyện chi phải nói cho thiệt?

Tam Tạng nói:

- Tôi là sãi nước Đại Đường, vâng lệnh Hoàng Đế đi kinh Tây vức. Đến đây quét tháp, chẳng ngờ làm lỡ giấc ngủ của ngài. Xin rộng dung thứ tội. Nếu tôi thỉnh kinh về nước, thì lập miễu mà thờ ngài.

Chúa yêu cười sằng sặc mà nói rằng:

- Ta cũng nghi là Đường Tăng, thiệt quả như vậy! Bởi ngươi tới số, mới vào nạp thịt cho ta. Đố chạy đâu cho khỏi.

Nói rồi truyền tiểu yêu đem Hòa Thượng buộc tại cây thung định hồn.

Giây lát Chúa yêu cầm gươm bước lại hỏi rằng:

- Hòa Thượng nói cho thiệt. Đi một bọn mấy người, không lẽ một mình mà đi xa như vậy?

Tam Tạng thưa rằng:

- Tôi không dám nói giấu Đại vương. Có hai người học trò là Sa Tăng và Bát Giới, đều đi xin cơm chưa về. Còn bỏ trong rừng một gánh đồ, với con ngựa bạch.

Chúa yêu nói:

- May lắm! Ba thầy trò ngươi với con ngựa kim, ta ăn đủ một bữa.

Nói rồi truyền tiểu yêu rằng:

- Chúng bây đóng cửa ngõ lại, và coi chừng có hai người học trò kiếm thầy thì vào báo lại. Để thầy cả làm cu mồi. Bắt đặng thầy con, sẽ nấu hết mà ăn cho thẳng bữa. Tiểu yêu vâng lệnh.

Nói về Sa Tăng đi hơn mười dặm đường không thấy nhà ai hết thảy, liền đứng trên gò cao ngó xuống, nghe giữa mé sông có tiếng người. Bước xuống mà coi, thì là Bát Giới ngủ mê đương mớ. (Người tâm phúc của Tam Tạng).

Sa Tăng nắm tai xách dậy mà trách rằng:

- Thầy sai đi xin cơm lại kiếm đường mà ngủ.

Bát Giới giựt mình hỏi rằng:

- Chừng nầy là chừng nào vậy?

Sa tăng nói:

- Thầy dặn có cơm hay không cơm cũng về, anh với tôi đi kiếm chỗ cho thầy ngủ. Bát Giới rảy tai dụi con mắt, đi về với Sa Tăng.

Đến cụm rừng thấy con ngựa với gánh đồ, không biết thầy đi đâu mất!

Sa Tăng phàn nàn rằng:

- Cũng bị đi kiếm anh, nên yêu bắt sư phụ.

Bát Giới cười rằng:

- Đừng có kiếm chuyện nói xàm. Chốn nầy phong cảnh tốt tươi, lẽ nào có yêu quái. Chắc thầy ngồi một mình buồn bực, nên đi dạo trong rừng. Đi kiếm một hồi phải gặp.

Khi ấy hai anh em, kẻ gánh đồ, người dắt ngựa, cứ đi theo đường mòn.

Xảy thấy bên Nam có cái tháp vàng, chiếu hào quang sáng giới.

Bát Giới nói:

- Chắc thầy vào tự kiếm cơm, chúng ta cũng vào ăn cho gặp bữa.

Sa Tăng nói:

- Sư huynh! Đừng có định chừng không chắc, tới nơi mới biết kiết hung.

Hai người tìm vào đến cửa ngõ. Thấy trên ngạch có treo tấm đá, đề sáu chữ lớn rằng: Hoản Tử sơn, Ba Nguyệt động.

Sa Tăng nói:

- Như vậy núi nầy tên Hoản Tử, động Ba Nguyệt là chỗ yêu tinh. Không phải chùa chiền chi hết. Nếu thầy bị nó bắt, thì phải lập kế cứu ra.

Bát Giới nói:

- Để hỏi thăm tin cho biết đã.

Nói rồi cầm đinh ba giá lên mà kêu cửa.

Tiểu yêu xem thấy chạy vào báo rằng:

- Gặp mối rồi, mặc sức mua bán!

Chúa yêu hỏi rằng:

- Mối nào đó?

Tiểu yêu thưa rằng:

- Có Hòa Thượng mỏ dài tai lớn, và một ông sãi mập mà đen, đồng đứng ngoài kêu cửa.

Chúa yêu mừng rỡ nói:

- Chắc là Sa Tăng với Bát Giới, đồng đến mà kiếm thầy. Tuy vậy mặc lòng, phải đề phòng mới đặng.

Nói rồi nai nịt, cầm siêu đao xốc ra.

Khi ấy Sa Tăng, Bát Giới đương đứng ngoài ngõ mà đợi, thấy chúa yêu diện mạo dữ dằn, mặt mũi xanh lè, tóc râu đỏ hoét.

Ấy là chúa động Huỳnh Bào.

Huỳnh Bào hỏi lớn rằng:

- Hai Hòa Thượng ở đâu, dám đến cửa ta mà kêu gọi?

Bát Giới nói:

- Chúng ta là học trò Tam Tạng, thầy ta là Đường trào ngự đệ, vâng sắc chỉ đi thỉnh kinh. Có ở trong động thì đưa ra cho mau, kẻo ta đập cái đinh ba mà sập động. Huỳnh Bào làm mặt vui vẻ, truyền tiểu yêu mở ngõ, rồi cười mà nói rằng:

- Ngỡ là ai đến đây hàn hung, chẳng ngờ hai thấy đi kiếm Đường hòa thượng. Khi nãy ngài dạo đến, tôi đãi cách trọng thể. Ngài đương ăn bánh bao nhưn thịt người ta. Vậy mời hai thầy vào động tôi mà uống nước luôn thể.

Bát giới ngỡ thiệt muốn vô, Sa Tăng kéo lại nói rằng:

- Anh ôi! Ấy là nó nói gạt, lẽ nào thầy ăn bánh thịt người.

Bát Giới nghe qua mới nghỉ lại, liền đập một đinh ba.

Huỳnh Bào đỡ rồi đánh lại.

Hai người đằng vân hổn chiến Sa Tăng bỏ ngựa, cầm bữu trượng nhảy lên trợ lực với Ngộ Năng.

Đánh hèn lâu không ai thắng bại.


Hồi 29
Tam Tạng khỏi tai qua Bửu Tượng
Ngộ Năng vâng chỉ đến rừng sâu
Khi ấy hai anh em đánh với Huỳnh Bào ba mươi hiệp cầm đồng, là nhờ sức chư thần phò hộ.

Nói về Tam Tạng bị trói đương sầu thảm khóc than, xảy thấy người đàn bà quốc sắc, bước lại vịn cây trụ mà hỏi rằng:

- Thầy ở đâu mà đến đây, vì cớ nào mà bị trói?

Tam Tạng ngó thấy nàng ấy chừng ba mươi, liền nói rằng:

- Cô ôi! Tôi đã tới số, mới khiến đến đây mà nạp mình. Muốn ăn thịt thì ăn, hỏi làm chi cội rễ?

Nàng ấy nói:

- Tôi chẳng hề ăn thịt người ta, nhà tôi ở phía tây, cách chừng 300 dặm. Tên là Bá Hoa Tu, công chúa thứ ba nước Bửu Tượng, mười ba năm trước, tiết trung thu, tôi thưởng nguyệt giải khuây, bị Huỳnh Bào nổi một trận gió bắt tôi về làm vợ, đã có con. Từ ấy đến bặt tin, nên tôi nhớ cha mẹ lắm. Chẳng hay thầy ở đâu đến đây? Tam Tạng nói:

- Tôi là thầy sãi nước Đại Đường, vâng chỉ vua đi thỉnh kinh Tây Vức. Đi mới đến đây, rủi bị nạn. Chúa động hăm bắt hai người đồ đệ tôi nữa mà ăn thịt một lần.

Bá Hoa Tu cười rằng:

- Xin sư phụ đừng lo, thiệt thầy đi thỉnh kinh, thì tôi cứu được. Nếu thầy qua Tây Phương thì đi ngang nước Bửu Tượng, thuận đường tôi gởi lén một phong thơ, mà thăm phụ vương với mẫu hậu, thì tôi biểu nó tha thầy.

Tam Tạng gật đầu nói rằng:

- Nếu Công Chúa cứu được bần tăng, thì tôi đem thơ tới chỗ.

Bá Hoa Tu trở vào viết thơ phong kín, đến mở trói cho Tam Tạng rồi đưa thơ.

Tam Tạng lãnh thơ, bái và nói rằng:

- Nhờ ơn Công Chúa cứu mạng, tôi quyết đem thơ tới đại vương, chỉ e lâu năm chầy tháng, người quên mà không nhìn, xin đừng trách bần tăng mà tội nghiệp!

Bá Hoa Tu nói:

- Không hề gì đâu! Cha mẹ tôi không có con trai, đầu đuôi có ba đứa con gái, nếu xem thơ thì chẳng hề quên.

Tam Tạng bỏ thơ vào tay áo tạ Ơn Công Chúa rồi ra đi. Bá Hoa Tu kéo lại nói rằng: - Huỳnh Bào đương đánh với đồ đệ thầy đàng trước. Để tôi mở cửa sau cho thầy đi, rồi sẽ khuyên nó thôi đánh, để hai người đệ tử kiếm thầy, sẽ vầy đoàn mà đi mới tiện.

Còn Bá Hoa Tu tính một kế, bước ra trước, thấy ba người hổn chiến trên mây.

Bá Hoa Tu kêu lớn rằng:

- Chàng xuống đây, tôi nói chuyện gấp.

Khi ấy Huỳnh Bào nghe kêu nhảy xuống, quăng siêu đao mà hỏi rằng:

- Công Chúa nói chuyện chi?

Bá Hoa Tu thưa rằng:

- Chàng ôi! Tôi mới nằm chiêm bao thấy ông thần giáp vàng.

Huỳnh Bào hỏi:

- Thần giáp vàng đi đâu đó?

Công Chúa nói:

- Khi trước thiếp có vái rằng: Nếu gặp phò mã đại tài, thì trai tăng bố thí. Đến sau vợ chồng kết nghĩa phỉ nguyện bình sanh, thì quên lời vái ấy, nên chiêm bao thấy thần giáp vàng biểu phải nhớ lời vái mà bố thí cho thầy chùa. Thiếp giựt mình thức dậy, đi ra nói cho chàng hay. Chẳng ngờ trên định hồn thung có trói một ông Hòa Thượng. Vậy thì chàng nghĩ tình tôi, tha thầy ấy mà làm phước. Cũng như bố thí trai tăng, kẻo tôi mắc lời vái, chẳng hay chàng chịu hay chăng?

Huỳnh Bào nói:

- Thiệt Công Chúa hay nghi ngại thì thôi! Sá chi việc nhỏ mọn, ta muốn ăn thì bắt người khác, giá Hòa Thượng ấy thịt bao nhiêu. Muốn làm phước kẻo mắc lời nguyền thì mở cửa sau mà thả ra cũng đặng, phải hỏi lại làm chi.

Bá Hoa Tu mừng rỡ, bước vào sau động.

Còn Huỳnh Bào cầm siêu đao bước ra kêu lớn rằng:

- Bát Giới xuống đây, ta chẳng phải sợ ngươi mà thôi đánh. Bởi vị tình ở nhà ta xin tha làm phước, nên thả thầy ngươi, chúng bây hãy ra phía sau kiếm Hòa Thượng mà đi thỉnh kinh. Nếu còn đến đây làm hung, thì ta nhai xương hết thảy.

Sa Tăng, Bát Giới nghe nói mừng quá, cũng bằng quỷ sứ thả hồn về.

Liền dắt ngựa gánh đồ, đi vòng ra sau động, kêu thầy ơi thầy hỡi om sòm, nghe Tam Tạng lên tiếng trog bụi táo.

Sa Tăng, Bát Giới dọn gai dắt thầy ra, Tam Tạng vội vàng lên ngựa.

Thiệt là:

Rủi ro mắc phải yêu da xám,

May mắn nhờ tay gái má hồng.

Khi ấy Bát Giới vác đinh ba trước, Sa Tăng gánh hành lý theo sau.

Ra khỏi rừng tòng, bước lên đường cái.

Sa Tăng cứ cằn rằn nói tại Bát Giới báo hại.

Bát Giới cũng cự với Sa Tăng.

Tam Tạng giải hòa, đổ thừa tại vận hạn.

Đi khỏi ba trăm dặm, ngó thấy thành vua, Tam Tạng biết là nước Bửu Tượng.

Ba thầy trò vào Kim đình quán, Tam Tạng đến ngọ môn nói rằng:

- Xin Hoàng môn quan vào tấu như vầy: Có sãi ở nước Đường, xin vào tâu sự mật.

Nói về Hoàng môn quan vào tâu như vậy...

Vua Bửu Tượng biết là sãi thánh ở nước Đại Đường, nên mừng rỡ cho mời vào điện. Tam Tạng vào sân chầu chúc lạy phải cách.

Bá quan văn võ đều khen rằng:

- Thiệt người ở đại bang, thầy sãi cũng thông phép luật.

Tam Tạng tung hô xong xả, vua Bửu Tượng phán hỏi rằng:

- Chẳng hay Hòa Thượng đến nước ta có chuyện chi?

Tam Tạng quì tâu rằng:

- Bần tăng vâng sắc Thiên tử, qua Tây Phương thỉnh kinh. Nên phải đến ngai vàng mà trình văn điệp.

Vua Bửu Tượng phán rằng:

- Đã có văn điệp của Đường thiên tử, thì cho xem thử thể nào?

Tam Tạng lấy văn điệp, hai tay dâng lên, vua Bửu Tượng xem điệp như vầy:

Nam thiện bộ châu, Đại Đường Hoàng đế. Trẫm lấy đức nối nghiệp dài, thờ thần minh chăn dân chúng. Bởi cứu Lão Long chẳng đặng, nên bị kiện Diêm quan. Nhờ ơn Minh phủ biết oan, mới cho về Dương thế. Lòng lành dốc làm chay chẩn tế, có Quan Âm mách bảo kinh cao. Lời thánh truyền há dám từ lao, sai Tam Tạng băng chừng Phật vức. Các vị Đế vương Tây quốc, chớ dứt việc lành, thấy điệp văn xin khá tốc hành. Ấy là làm nghĩa. Nay điệp cấp.

Trinh Quang thứ mười ba, mùa thu ngày lành, làm trước mặt vua. Có đóng chín cái ấn".

Vua Bửu Tượng xem rồi, cũng ký tên đóng ấn, mà đưa cho Tam Tạng, Tam Tạng tạ Ơn thay văn điệp, rồi tâu rằng:

- Tôi đến đây một là trình văn điệp, hai là đem thơ cho bệ hạ.

Vua Bửu Tượng mùng rỡ phán hỏi rằng:

- Chẳng hay thơ ai gởi cho trẫm?

Tam Tạng tâu rằng:

- Công Chúa thứ ba của bệ hạ, cách mười ba năm nay bị Huỳnh Bào là con yêu, ở núi Hoản Tử, động Ba Nguyệt bắt về làm vợ. Nay tình cờ gặp tôi nên gởi thơ.

Vua Bửu Tượng nghe tấu, khóc mà nói rằng:

- Mười ba năm nay biệt tin biệt tức, không dè bị yêu bắt như vậy.

Tam Tạng lấy thơ trong tay áo dâng lên, vua Bửu Tượng cầm thơ thấy đề hai chữ bình an ngoài bao, thì nhớ con mà khóc mướt, khai thơ không đặng. Truyền Hàn lâm viện học sĩ, khai thơ đọc như vầy:

"Bất hiếu nữ Bá Hoa Tu cúi đầu trăm lạy. Trước chúc Phụ vương vạn tuế. Sau thăm mẫu hậu thiên niên. Và văn võ bình yên, với chị anh sức khỏe. Con luôn cám ơn sanh đẻ, trẻ chưa đáp nghĩa cù lao. Tiết trung thu ngoạn nguyệt xem sao, bị yêu quái vần mây nổi gió, đem về động nọ, lại ép duyên nầy, mười ba năm nay, sanh hai con quỷ. Hư phong hóa tội đà đáng mấy. Nhục tông môn thác đã dư mười. Lẽ thời tạm lánh cho qua đời, đâu dám gởi thơ cho thẹn mặt. Nếu làm thinh cũng ngặt, ngại vì cha mẹ chẳng hay tin. Bằng có nói cho minh, sợ nỗi triều đình không thứ tội. Nay gặp Đường Tăng lặn lội, bị tay yêu quái trói trăn. Con dùng kế vân vân, đặng gởi thơ kiếp kiếp. Như cha mẹ thương con tội nghiệp, cùng quan viên xót phận lao đao. Xin đem binh đến bắt Huỳnh Bào, đặng cứu trẻ đem về Phụng các. Vài hàng ký thác, hai chữ đinh ninh".

Khi ấy học sĩ đọc rồi, vua Bửu Tượng khóc lớn.

Bá quan văn võ cũng động lòng.

Vua Bửu Tượng khóc một hồi, rồi phán hỏi bá quan rằng:

- Nay vị nào chịu lãnh binh đánh Huỳnh Bào, mà cứu công chúa?

Hỏi luôn mấy tiếng bá quan văn võ làm thinh, ngồi trơ trơ như cốt gỗ!

Vua Bửu Tượng tủi phận khóc ròng!

Bá quan đồng quì tâu rằng:

- Xin Bệ Hạ bớt sầu, vì công chúa biệt tin đã mười ba năm, nay thấy thơ không thấy làm chắc. Huống chi chúng tôi dùng binh phàm ngựa chiến, học võ nghệ trận đồ, để phòng tá quốc an bang, cầm binh đánh giặc. Chớ con yêu tinh là đằng vân giá võ, độn thổ tàng hình. Có khi nó đứng một bên mà không thấy. Ắt là đem binh mà nạp cho uổng mạng. Lại e nó thù Công Chúa mà khó lòng. Chúng tôi trộm nghĩ như vầy: Đường Tăng là sãi thánh đại bang, nên đi đến đây mà khỏi nạn. Rõ là đạo cao rồng cọp phục, đức trọng quỷ thần kiên, chắc là bắt yêu tinh mới đặng. Xin Bệ Hạ cầu khẩn thánh tăng.

Vua Bửu Tượng nghe tâu mừng rỡ, phán hỏi Tam Tạng rằng:

- Nếu thánh tăng có phép bắt yêu cứu Công Chúa về trào, thì chẳng đi thỉnh kinh làm chi, ở đây hưởng đồng bàn với trẫm!

Tam Tạng lật đật tâu rằng:

- Bần tăng biết niệm phật tụng kinh, thiệt không biết bắt yêu trừ quỷ.

Vua Bửu Tượng phán hỏi rằng:

- Nếu thầy trị yêu tinh không đặng, sao dám đi Tây Phương?

Tam Tạng tâu rằng:

- Thiệt tôi nhờ có hai người học trò bảo hộ, nên đi mới đến đây.

Vua Bửu Tượng phán rằng:

- Vậy thì dời hai lịnh đồ vào đền ra mắt trẫm.

Tam Tạng tâu rằng:

- Hai người học trò tôi xấu xa và hung dữ lắm, nếu vào đền e Bệ Hạ giựt mình.

Vua Bửu Tượng phán rằng:

- Thầy đã nói trước rồi, trẫm biết chừng không sợ.

Tức thì truyền đem kim bài đến quán, vời vào đền ra mắt coi thể nào.

Khi ấy Sa Tăng, Bát Giới thấy kim bài đến triệu, thì giao đồ hành lý và ngựa cho Dịch thừa, đồng vác khí giới vào đền đứng hầu tả hữu.

Vua Bửu Tượng thấy cũng kinh hãi, làm gan phán hỏi rằng:

- Chẳng hay thầy nào trừ yêu quái đặng?

Bát Giới tâu rằng:

- Tôi thường bắt yêu tinh quỷ mị.

Vua Bửu Tượng phán hỏi rằng:

- Thầy làm phép chi mà bắt nó?

Bát Giới tâu rằng:

- Tôi là Thiên Bồng ngươi soái, bởi phạm tội mới đầu thai xuống trần. Nay đã tu hành, theo phò sư phụ, từ Đông Độ đi cho đến đây, tôi bắt yêu tinh biết là bao nhiêu mà kể.

Vua Bửu Tượng nói:

- Nếu tướng trời giáng hạ, chắc là biến hóa tinh thông.

Bát Giới tâu rằng:

- Tôi cũng biết chút đỉnh mà thôi, không phải thiện nghệ.

Vua Bửu Tượng phán rằng:

- Xin thầy biến hóa thử coi?

Bát Giới tâu rằng:

- Muốn biến hóa cách nào xin nói thử?

Vua Bửu Tượng phán rằng:

- Thôi biến hình cao lớn xem thử?

Bát Giới cũng biết 36 phép biến, liền hét lên một tiếng, mình cao chín trượng có dư, ai nấy thất kinh hồn vía.

Trấn điện tướng quân hỏi rằng:

- Thầy biến mau như vậy, ước sức cao bao cao mới cùng bực?

Bát Giới nói bướng rằng:

- Hãy coi ngọn gió mà suy; nếu đặng gió Đông, thì làm gió Nam cũng không khó. Muốn cho cùng bực thì đứng đụng trời.

Vua Bửu Tượng kinh hãi phán rằng:

- Thôi, bấy nhiêu cũng đủ hiểu, xin thâu lại như thường.

Bát Giới cuối xuống một cái hình thấp như xưa.

Vua Bửu Tượng lòng mừng khấp khởi, truyền cung nga rót một chén ngự tữu.

Vua Bửu Tượng đưa rượu cho Bát Giới mà phán rằng:

- Kính xin thầy một chén rượu nầy, đánh bắt Huỳnh Bào mà cứu Công Chúa. Xong việc rồi trẫm đãi tiệc và thưởng ngàn vàng.

Bát Giới bưng rượu uống rốc.

Khi ấy vua Bửu Tượng truyền rót một chén rượu nữa, mà đãi Sa Tăng.

Sa Tăng cũng uống cạn chén.

Bát Giới đằng vân bay trước, Sa Tăng cũng bay sau.

Chúa tôi đều thất sắc.

Vua Bửu Tượng níu Tam Tạng mà phán rằng:

- Xin thầy ở đây với quả nhân, đừng đằng vân bay nữa.

Tam Tạng than rằng:

- Tôi bước nữa bước cũng không đặng, thì đằng vân sao được.

Rồi ở lại mà đàm đạo.

Còn Sa Tăng, Bát Giới bay giây phút tới động sa xuống tức thì.

Bát giới vác Đinh ba phá cửa.

Tiểu yêu kinh hãi vào báo rằng:

- Đại vương ôi! Hòa Thượng mỏ dài tai lớn và thầy chùa mập ú đen thui, hai người phá hư cửa động.

Huỳnh Bào nghe báo kinh hãi, nai nịt xong xả, cầm siêu đao ra cửa hỏi rằng:

- Hòa Thượng kia, ta đã tha thầy ngươi rồi, sao còn tới hành hung mà phá ngõ?

Bát Giới nói:

- Mi là con tinh, dám bắt Công Chúa thứ ba của vua Bửu Tượng mà làm vợ đã 13 năm. Nay ta vâng chỉ vua đến bắt ngươi mà vấn tội. Như biết lỗi trước thì dâng Công Chúa cho mau, bằng nghịch mạng thì Lão Trư đập chết.

Huỳnh Bào nổi giận, nghiến răng trèo trẹo, trợn mắt tròn vo, giá siêu đao chém Bát Giới.

Bát Giới đở rồi đập lại.

Sa Tăng cũng huơ Bửu trượng đánh tiếp.

Ba người hổn chiến 90 hiệp.

Bát Giới đã đuối tay, Sa Tăng cũng hết sức. (Bởi lúc nầy chư thần bảo hộ Tam Tạng tại đền vua Bửu Tượng, nên Sa Tăng, Bát Giới đánh không lại Huỳnh Bào).

Khi ấy Bát Giới nói gạt Sa Tăng rằng:

- Hiền đệ rán sức mà cự, ta đi ngoài rồi vào đánh tiếp tức thì.

Sa Tăng tin lời rán sức đánh cố mạng.

Chẳng ngờ Bát Giới chạy riết, kiếm chỗ mát mà nằm ngủ ly bì.

Còn Sa Tăng đánh không lại Huỳnh Bào, đợi Bát Giới hết hơi, bị Huỳnh Bào bắt sống trói mèo.

Hồi 30
Huỳnh Bào bắt Sa Tăng
Bạch Mã trông Hành Giả
Khi ấy Huỳnh Bào trói Sa Tăng dẫn vào động mà không giết, vì nghĩ như vậy: - Đường Tăng là người ở Đại bang, chắc biết lễ nghĩa, lẽ nào mình không giết lại sai học trò đánh mình! Chắc là Công Chúa gởi thơ từ chi mới lậu sự như vậy? Nếu không, sao vua Bữu Tượng biết căn cước mà sai đánh mình. Đường Tăng lạ lùng, biết đâu mà thuật chuyện.

Nghĩ rồi quyết giết Công Chúa, liền xốc vào phòng.

Khi ấy Bá Hoa Tu không hay, đương gở đầu cài tóc.

Xảy thấy Huỳnh Bào nghiến răng trợn mắt, bước tới hét lớn rằng:

- Mi là long lang dạ cẩu, quên nghĩa bạc tình! Khi trước ta đem mi về đây, chẳng hề bạc đãi. Đem vàng mặc gấm, thịt rượu no say. Mi muốn dùng món chi, thì ta sắm vật nấy. Ta cưng trọng mi là đường nào? Sao không nghĩ chút tình vợ chồng, cứ nhớ cha mẹ mà sanh sự?

Bá Hoa Tu kinh hãi, quỳ xuống thưa rằng:

- Chàng ôi! Sao bữa nay nói nhiều tiếng lạ lùng, hay là muốn dứt tình phu phụ? Huỳnh Bào nói:

- Mi nghĩ thử tại ai muốn dứt tình? Ta bắt Đường Tăng đương sắm đồ mà ăn thịt? Mi cả gan thả trước, chắc là gó gởi thơ từ. Nếu không sao hai sãi đến phá động mà hiểu trả mi về. Mi chối làm sao cho đặng?

Bá Hoa Tu khóc rằng:

- Oan ức tôi lắm! Tôi nào có gởi thơ chi?

Huỳnh Bào nói:

- Có chứng cớ đấy, mi đừng già miệng.

Bá Hoa Tu hỏi:

- Chứng là ai đó?

Huỳnh Bào nói:

- Ta bắt sống đặng Sa Tăng.

Khi ấy Công Chúa sợ chết nên chối cầu may, liền nói rằng:

- Xin chàng bớt giận, đi với tôi đến hỏi bây giờ. Nếu quả tôi có gởi thơ thì đập chết cũng đáng tội, bằng không xin bớt giận chớ khá giết oan.

Huỳnh Bào nắm đầu Công Chúa kéo lết tới trước mặt Sa Tăng, xô nhủi xuống đất, rồi cầm dao nạt lớn hỏi rằng:

- Sa Hòa thường, con nầy con nầy gởi thơ cho vua Bửu Tượng, nên sai người đến đánh ta phải không?

Sa Tăng đương bị trói, thấy Huỳnh Bào làm bộ dữ muốn giết Công Chúa, Sa Tăng hét lớn nói rằng:

- Yêu tinh đừng vô lễ! Công Chúa nào gởi thơ? Bởi mi bắt thầy ta nên hình dung Công Chúa. Hôm qua đến nước Bửu Tượng thầy trò ta vào đền trình điệp, đặng xin ấn mà đi, thì vua Bửu Tượng đem chân dung của Công Chúa mà hỏi thăm thầy ta có gặp chăng? Thầy ta là người tu hành, thấy sao nói vậy? Vua Bửu Tượng sai chúng ta phải cứu Công Chúa, thì mới chịu đóng ấn vào văn điệp cho mà đi. Anh em ta không dám cãi lời, vì vua Bửu Tượng cầm thấy thiệt nói ngay, có giết cũng không tiếc mạng. Nghĩ nào ngươi đặt chuyện mà hại vợ thác oan. Ta không lẽ nói thêm cho đặng.

Khi ấy Huỳnh Bào nghe Sa Tăng nói mạnh mẽ, ngở thiệt như lời. Liền quăng siêu đao xuống, đỡ Công Chúa dậy mà nói rằng:

- Tôi nóng nảy nói oan, xin nàng đừng nê cố.

Nói rồi bớt đầu giắt trâm cho vợ. Rồi đỡ vào phòng năn nỉ cho hết giận.

Bá Hoa Tu cười rằng:

- Chồng có nghiệp nói thừa muốn đánh vợ chừng nào cũng đặng! Tôi nào dám giận, thì sau đừng nóng nảy mà giết oan.

Huỳnh Bào thấy vợ cười thì mừng lắm, Bá Hoa Tu nói:

- Chàng cũng nên mở trói cho Sa Tăng, xiềng chân lại đó.

Còn Sa Tăng ở xa xa nghe Công Chúa nói như vậy, thì mầng thầm nghĩ rằng:

- Thiệt làm ơn cho chúng, như làm phước cho mình. Phải không nói giúp ít lời mà cứu nàng, thì mình bị trói ngột hơi cũng chết.

Khi ấy Huỳnh Bào mở trói cho Sa Tăng. Rồi truyền tiểu yêu dọn tiệc mà đãi Công Chúa.

Huỳnh Bào uống rượu xoàng ba, liền thay quần áo. Đem gươm báu bên lưng, vuốt ve Công Chúa mà nói rằng:

- Mình chịu khó ở nhà, mà coi chừng hai đứa nhỏ. Chẳng nên thả Sa hòa thượng. Thừa dịp nầy Đường Tăng còn tại đền báu, ta đến nhìn thân thích cho rồi.

Bá Hoa Tu hỏi rằng:

- Phụ vương là ông nhạc của ta, còn ta là Phò Mã, lẽ nào chẳng đi nhìn?

Bá Hoa Tu nói:

- Không đặng đâu. Phụ vương ta từ bé lên ngôi, chưa từng mặt dữ tợn. Nếu gặp mặt thì thất kinh mà chết giấc, chi bằng đừng tới thì xong hơn.

Huỳnh Bào nói:

- Như vậy ta biến hình lịch sự lại khó gì?

Nói rồi liền biến ra một người tú tài, hình dung xinh tốt.

Bá Hoa Tu xem thấy mừng rỡ khen rằng:

- Tốt lắm, tốt lắm! Nếu đến trào thì phụ vương yêu dấu, truyền quan đãi yên vầy vui. Nếu uống rượu phải từ từ, đừng để say quá, hiện nguyên hình xấu lắm!

Huỳnh Bào nói:

- Ta biết mà.

Khi ấy Huỳnh Bào đằng vân tới thành Bửu Tượng đến ngọ môn nói với Hoàng môn quan rằng:

- Tam Phò Mã xin vào ra mắt.

Hoàng môn quan vào tấu vân vân. Thì vua Bửu Tượng đương nói chuyện với Tam Tạng nghe Hoàng môn quan tâu như vậy, lấy làm lạ phán hỏi bá quan rằng:

- Trẫm có hai phò mã mà thôi. Nay phò mã chắc là yêu quái.

Vua Bửu Tượng phán hỏi Tam Tạng rằng:

- Nên cho nó vào đền chăng?

Tam Tạng run rét tâu rằng:

- Bệ Hạ Ôi! Nó là yêu tinh, không phải phàm tục, nó biết đằng vân giá võ, không cho vào nó cũng xông xô, chi bằng truyền mời vào cho xuôi việc.

Vua Bửu Tượng y lời đòi đến.

Huỳnh Bào quỳ lạy chúc muôn tuổi trước sân chầu.

Chúa tôi là mắt thịt tại phàm, coi tướng đồng khen hết thảy. Không tin là yêu quái, ngỡ bậc tột chúng thông minh.

Vua Bửu Tượng phán hỏi rằng:

- Phò Mã quê ở tại đâu. Kết duyên với Công Chúa hồi nào, đến nay mới ra mắt? Huỳnh Bào lạy rồi tâu rằng:

- Tôi ở núi Hoản Tử, xóm Ba Nguyệt, cách thành 300 dặm mà thôi.

Vua Bửu Tượng phán hỏi rằng:

- 300 dặm rất xa. Công Chúa đi đâu đến đó?

Huỳnh Bào tâu rằng:

- Tôi hồi nhỏ theo nghề săn bắn, biết võ nghệ ít nhiều. Cách mươi ba năm trước tôi đi săn, thấy cọp nhào xuống trói lại, cỏng nàng ấy về nhà, đổ thuốc thang mới tỉnh lại. Rồi hỏi thăm tên họ, bởi không xưng thiệt là Công Chúa, nếu xưng thiệt thì tôi không dám sanh đôi, phải dưng cho Bệ Hạ mà nhờ quan chức. Bởi nói con nhà dân giả, nên khiến ra lửa nọ bén hương. Tôi tính làm thịt cọp giả là heo, mà đãi bà con trong đám cưới. Công Chúa can rằng: Chẳng nên làm thịt cọp, để tôi đặt bài thơ như vầy:

Nhờ trời nhờ đất chớ nhờ ai,

Duyên nợ tình cờ gái gặp trai

Kiếp trước dây tơ đà buộc sẳn,

Đời nầy cọp gấm thế làm mai.

Khi ấy tôi nghe lời Công Chúa nói như vậy, thì mới dây thả cọp về rừng. Sau nghe đồn cọp ấy tu luyện hơn mười năm hiện hình người giống tạc. Đường Tăng đi thỉnh kinh, nó bị ăn tươi nuốt sống. Nó lai hiện hình giả Tam Tạng lấy văn điệp đi trình. Kiếm chuyện nói vô ra với bệ hạ. Cái người ngồi đó là yêu cọp tôi thả năm trước, chớ không phải Đường Tăng đâu.

Vua Bửu Tượng nghe nói kinh hãi phán hỏi rằng:

- Sao Hiền phò mã biết thầy nầy là cọp cỏng Công Chúa năm trước?

Huỳnh Bào tâu rằng:

- Tôi ăn thịt hùm, bận da cọp thường lắm. Nên ngó thấy thì hiểu liền.

Vua Bửu Tượng phán rằng:

- Tuy Phò Mã mới như vậy chớ trẫm chắc là người.

Huỳnh Bào tâu rằng:

- Xin cho nửa bát nước lạnh, tôi bắt nó hiện nguyên hình cho mà coi.

Vua Bửu Tượng sai hoạn lấy tô nước, Huỳnh Bào làm phép hắc nhản định thân. Niệm thần chú lâm dâm, hớp nước phun vào mình Tam Tạng hóa ra hùm gấm; quan võ mạnh bạo, lấy trường còn đập cọp một hồi.

Nhờ có chư thần phò trị, nên ông thầy khỏi chết.

Đến chừng bắt sống, lấy lồng sắt nhốt vào, để tại đền như cầm rọ.

Vua Bửu Tượng phán rằng:

- Nhờ ơn Phò Mã cứu giúp, không thì bị yêu hổ nhai xương.

Truyền dọn tiệc thưởng công Phò Mã.

Khi ấy Huỳnh Bào ngồi ăn yến, có 18 nàng mỹ nữ đờn ca múa ca xang.

Đến canh khuya Huỳnh Bào say quá, thấy con đờn tì bà trắng trẻo ngộ nghỉnh, da thịt còn tơ. Sẳn rượu ngon thì thèm thịt sốt.

Huỳnh Bào cười một tiếng hiệu nguyên hình nắm cổ nàng kia nhai đầu uống rượu, 17 con thể nữ thất kinh vỡ chạy trốn hết. Không dám la lên sợ đức vua làm tội, kiếm nơi trốn nhủi trốn lui.

Còn Huỳnh Bào ngồi một mình, ăn thịt người uống rượu.

Trừ 17 nàng ấy ra thì chẳng có ai hay.

Thiệt là:

Gió dữ thổi rơi bông thược dược,

Mưa đêm đánh rả nhụy phù dung.

Nói về con ngựa kim đứng trong tàu ăn cỏ tại dịch quán, nguyên nó là Tây hải tiểu long, nghe thiên hạ nói lưu truyền:

- Tam Tạng là yêu hổ, nay hiện cọp rồi bị nhốt trong lồng sắt.

Tiểu Long nghe nói lòng đau như cắt, nghĩ rằng:

- Thầy mình là người lành, bị yêu quái sữa ra hình cọp. Ta biết liệu làm sao, phần đại sư huynh về xứ đã lâu, còn Bát Giới, Sa Tăng biệt tin biệt tức. Nếu ta không cứu sư phụ, thì công quả hết rồi.

Tiểu Long đợi chờ canh hai, không thấy Sa Tăng, Bát Giới.

Tiểu Long chịu không đặng, liền bức dây cương mà hóa hình rồng, bay lên mây xem thử.

Có bài thơ khen rằng:

Tam Tạng làm oai đuổi Ngộ Không

Bị yêu hóa cọp phải cầm lồng

Sa Tăng, Bát Giới đều vô kế,

Mới biết đêm nay cậy có rồng.

Khi ấy Tiểu Long lên mây ngó xuống, thấy trong điện Ngân An, đèn chong sáng giới đếm cho kỷ là tám cây đèn sáp, có một con yêu ngồi uống rượu mặt mũi xanh lè đương ăn thịt một người hết nữa khúc.

Tiểu Long cười rằng:

- Con yêu ăn thịt người, làm sao cho khỏi lâu tiếng. Thiệt là loài dữ mà không mưu. Để ta khuấy nó một hồi, rồi sẽ cứu sư phụ cũng không trể.

Nghĩ rồi hiện ra một nàng cung nga hình dung tươi tốt. Bước vào nói với Huỳnh Bào rằng:

- Xin phò mã đừng ăn thịt tôi, để tôi rót rượu cho mà uống.

Huỳnh Bào nói:

- Rót thì rót cho mau.

Tiểu Long có phép cầm nước, nên rót rượu đầy chén mà không tràn, Huỳnh Bào hỏi rằng:

- Ngươi có tài rót rượu, ướt như rót nhiều nữa tràn chăng?

Tiểu Long nói:

- Rót thêm cũng đặng.

Liền rót vun có ngọn mà không đổ chút nào!

Huỳnh Bào ăn thịt người, rồi uống rượu nữa.

Lại hỏi nàng ấy rằng:

- Ngươi biết ca chăng.

Tiểu Long nói:

- Tôi biết một hai bài mà thôi.

Nói rồi ca một bài thì dưng chén rượu.

Huỳnh Bào hỏi:

- Nàng biết múa chăng.

Tiểu Long nói:

- Tôi cũng biết chút đỉnh ngặt múa tay không vì vô vị lắm.

Huỳnh Bào nghe nói liền lấy gươm trong lưng trào ra.

Tiểu Long cầm gươm mà múa.

Huỳnh Bào thấy múa gươm hay lắm, khen biết đường nào.

Tiểu Long xuất kỳ bất ý chém Huỳnh Bào một gươm.

Huỳnh Bào tràn khỏi, giựt cây mãng đường hồng mà đỡ.

Tiểu Long cũng hiện hình Thái Tử mà đánh với Huỳnh Bào.

Ban đầu đánh trong đền Ngân An.

Sau đồng lên mây hổn chiến.

Đánh đặng chín hiệp, Tiểu Long đã đuối tay, bị Huỳnh Bào giựt gươm, chém nhằm bắp vế.

Tiểu Long nhào xuống rạch lặn đi.

Còn Huỳnh Bào kiếm không đặng Tiểu Long, liền trở về dền ngân an mà uống rượu nữa.

Nói về Tiểu Long nhảy xuống nước hóa hình con rồng nhỏ mà ẩn mình.

Nghe văng vẳng tiếng yếu lén về tào, hóa ngựa như củ. Vì bị thương nơ bắp vế, nên khó nổi cứu thầy.

Nói về Bát Giới ngủ cho tới khuya, mới cựa mình thức dậy, coi sao bắc đẩu, ước đã canh ba. Trong bụng nghĩ rằng:

- Sa Tăng đã bị bắt!

Liền đằng vân về quan, ngó chẳng thấy thầy, còn con ngựa đứng trong tào thở dốc. Bát Giới kinh hãi nói rằng:

- Thầy đâu mất, kiếm hoài chẳng lặng. Con ngựa không ai cởi, sao lại đổ mồ hôi? Sau đùi lại thêm bị vít nữa! Chắc là ai đấy ăn trộm ngựa, mới đánh nó như vầy! Bạch mã ứng thinh nói rằng:

- Sư huynh ôi!

Bát Giới nghe kêu lấy làm lạ, giựt mình té nhào rồi ngồi dậy chạy.

Bị con ngựa cắn áo kéo lại, nói rằng:

- Sao anh nhát quá chừng, nhè tôi mà sợ?

Bát Giới run lặp cặp, đáp rằng:

- Sao bữa nay em biết nói, chắc là điềm hệ chẳng lành!

Bạch mã nói:

- Không hay.

Bạch mã thuật chuyện vân vân.

Bát Giới kinh hãi nói rằng:

- Cha chả! Chuyện khốn nạn như vầy, ta chắc cùng phương hết thế. Mà người rán đi nồi hay không?

Bạch mã hỏi:

- Nổi, mà anh sai tôi đi đâu?

Bát Giới nói:

- Thôi ngươi lặn xuống sông mà về biển. Còn ta gánh đồ về xóm cao lào mà ở thì xong hơn.

Bạch mã nghe nói, cắn áo Bát Giới kéo lại khóc mà than rằng:

- Xin sư huynh đừng lanh nặng tìm nhẹ, bỏ bạn phụ thầy. Nỡ nào làm biếng ngặt không biết tính làm sao. Sa Tăng bị yêu bắt trói, ta đánh không lại nó, ngươi cự cũng bị thương. Lúc nầy phá hùm cho rồi, còn đợi chừng nào nữa?

Bạch mã khóc rằng:

- Anh đừng nói chuyện chia phôi, tôi đau lòng lắm. Nếu anh không cứu đặng sư phụ, xin đi cầu viện người ta!

Bát Giới nói:

- Biết thỉnh ai bây giờ?

Bạch mã nói :

- Đại sư huynh là Tôn Hành Giả, chắc là cứu thầy đặng, và đánh yêu báo oan cho anh.

Bát Giới lắc đầu nói rằng:

- Thả đi cầu viện người nào, ta cũng rán sức, chớ như con khỉ ấy nó có thù oán với ta. Lúc trước đánh Bạch Cốt phu nhơn tại núi Bạch hổ, nên thầy đuổi nó, mà nó lại giận ta. Chắc là nay thỉnh không đặng. Nếu nó nghe trái tai hai tiếng, thì cây gậy để tang của nó nặng quá, đập cũng nát xương! Té ra tính không xong mà mang hại!

Bạch mã nói:

- Đại sư huynh là người nhơn nghĩa, chắc không đánh mà hòng lo. Song anh ấy giấu chuyện nầy, đừng nói thầy mắc nạn. Nói thầy nhớ sư huynh lắm, nên sai đi rước tức thì. Gạt đến đây, thấy sự khốn nạn như vầy, thì phải bắt yêu mà cứu sư phụ.

Bát Giới nói:

- Thôi thôi, ngươi đã hết lòng, ta không lẽ từ chối. Nếu không đi rước, thì ra kẻ bạc tình.

Nói rồi đằng vân bay theo gió dững hai tai, bay thẳng như chạy buồm.

Đi tới Hoa Quả sơn, trời đã vừa sáng.

Tôn Hành Giả ngồi trên bàn thạch ngoài cửa núi.

Cả ngàn khỉ đừng hầu hạ hai bên, con thì đương quỳ lạy.

Bát Giới xem thấy nghĩ rằng:

- Mình đã đến đây không lẽ ẩn mặt. Bởi mình khi trước ở quấy, bây giờ chịu nhục đã đành.

Nghĩ rồi lui vào, lộn với bầy khỉ, cũng quỳ lạy lăng xăng.

Khi ấy Tôn Hành Giả ngó thấy, liền hỏi bẩy khỉ rằng:

- Người ta rừng ở đâu, dám đến đây nhập bọn. Chúng bây bắt thằng đương lạy đó, đem lại đây cho mau.

Bầy khỉ nghe lời chỉ dẫn Bát Giới tới nơi quỳ xuống.

Tôn Hành Giả làm mặt lạ hỏi rằng:

- Mi là người ta rừng ở đâu mới đến?

Bát Giới cúi đầu giấu mỏ mà nói rằng:

- Tôi không phải ta rừng; thiệt là người quen mặt.

Tôn Hành Giả nói:

- Ta thuở nay không biết mặt ngươi.

Bát Giới nói:

- Phải tôi không biết hổ thẹn vì vác mặt cho anh coi. Anh em ở với nhau hơn mấy năm, nỡ nào làm lãng không nhìn, lại nói người ta rừng ở đâu không biết!

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Ngươi ngước mặt cho ta coi thử!

Bát Giới ngay mỏ ra nói rằng:

- Anh thấy mặt chưa? Anh quên mặt chớ lẽ nào quên mỏ?

Tôn Hành Giả nín cười không đặng, liền cười ngất mà hỏi rằng:

- Trư Bát Giới phải không?

Bát Giới nhảy dựng dậy, dạ mà nói rằng:

- Phải, phải, Trư Bát Giới là tôi, tôi là TrưBát Giới.

Tôn Hành Giả nói:

- Sao ngươi không theo Đường hòa thượng, lại đến đây làm chi? Hay là nói xúc phạm đến thầy mà bị đuổi về đó? Hãy đưa tờ từ cho ta xem.

Bát Giới nói:

- Tôi không xúc phạm thầy, thầy cũng không đuổi, có tờ từ ở đâu mà coi.

Tôn Hành Giả nói:

- Nếu ngươi không bị đuổi, vậy chớ đi đâu đây?

Bát Giới nói rằng:

- Thầy nhớ anh lắm, nên sai tôi đi rước anh.

Tôn Hành Giả nói:

- Thầy đã làm tờ từ ta, muốn thề cho chắc chắn, lẽ nào mà còn nhờ sai ngươi lặn lội đến rước ta?

Bát Giới thưa rằng:

- Thiệt tình thầy nhớ anh lắm. Bởi hôm qua thầy ngồi trên yên, cất tiếng kêu.

Đồ đệ, mà tôi bất ý không nghe, Sa Tăng làm thinh chẳng dạ.

Thầy nói:

- Chúng bây vô dụng lắm, thua Hành Giả mười phần. Hành Giả lẹ làng và thông minh, miệng dạ chơn chạy, chẳng hề trị trệ như chúng bây. Nên sai tôi năn nỉ thỉnh anh về kẻo thầy nhớ. Xin anh đi cho kịp kẻo thầy trông.

Tôn Hành Giả nhảy xuống, dắt tay Bát Giới và nói rằng:

- Hiền đệ đến đây đã mỏi nhọc, đi chơi một lát với ta.

Bát Giới thưa rằng:

- Đường xa lắm anh ôi! Đi cho mau kẻo thầy trông đợi. Chẳng chơi bời làm chi.

Tôn Hành Giả nói:

- Em đã đến đây, xem phong cảnh một giây cho biết.

Bát Giới nghe lời đi theo Tôn Hành Giả lên chói núi Hoa Quả.

Bát Giới khen rằng:

- Anh ôi! Nhắm hòn núi nầy xinh tốt thứ nhứt.

Giây phút hai anh em xuống núi, thấy khỉ nhỏ dưng đủ trái cây: Táo, mai, nho, lê, vân vân.

Chúng nó dưng và thưa rằng:

- Xin đại vương ăn bữa sớm mai.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Em ta bao tử lớn lắm. Bấy nhiêu đấy không đủ lót lòng.

Nói rồi mời Bát Giới ăn một mình, bầy khỉ rội đà không kịp.

Khi ấy đã trưa trật.

Bát Giới nói rằng:

- Xin anh đi với tôi kẻo thầy trông đợi.

Tôn Hành Giả nói:

- Hiền đệ vào động Thủy liêm chơi một chặp nữa.

Bát Giới từ chối hoài, Tôn Hành Giả nói:

- Như vậy thì không dám cầm lâu, xin từ giã từ đây cũng tiện.

Bát Giới hỏi rằng:

- Anh không đi hay sao?

Tôn Hành Giả nói:

- Ta bỏ chốn nầy mà đi đâu? ở đây hương phước thanh nhàn, không ai dằn thúc. Còn đi tu làm chi? Ngươi về thưa với thầy cho rõ: Đã đuổi rồi đừng tưởng làm chi.

Bát Giới thấy nói song nên không dám ép. Liền từ giã ra đi.

Còn Tôn Hành Giả sai khỉ nhỏ theo rình, coi nói hành làm sao cho biết.

Nói về Bát Giới xuống khỏi núi, liền chỉ Hành Giả mà mắng rằng:

- Con khỉ vô đoan, muốn làm yêu tinh, không chịu làm Hòa Thượng. Ta đi tới nói tử tế mà rước, lại làm lễ không đi. Mi đừng đi trối thây mi ở lại đây mà làm quỷ.

Đi ít bước mắng ít tiếng nói bống tống một mình.

Hai con khỉ nhỏ nghe rõ ràng, chạy về phi báo lại.

Tôn Hành Giả nổi giận, sai bầy khỉ theo bắt, Bát Giới xô bầy khỉ té nhào xuống, bầy khỉ áp lại, con thì nắm tay mà trì, con thì nắm lông gáy mà đi, bắt trói quách về động.
Hồi 31
Trư Bát Giới nói khích Hầu vương
Tôn Hành Giả mưu trừ yêu quái
Khi ấy Bát Giới bị bầy khỉ làm dữ, theo xé áo níu tai, chắt lưỡi than rằng:

- Chuyến nầy thế nào cũng chết!

Giây phút dẫn Bát Giới đến cửa động.

Tôn Hành Giả mắng rằng:

- Mi là đồ hèm ăn cám, sao dám mắng nhiếc ta?

Bát Giới cúi mặt thưa rằng:

- Anh ôi! Tôi nào dám mắng anh, nếu tôi có mắng anh, thề cho nhai nhằm lưởi.

Tôn Hành Giả nói:

- Mi dấu ta sao đặng, đừng có chối mà thề khôn. Tai bên tả ta nghe chuyện trên trời, tai bên hữu ta nghe chuyện dưới đất. Lẽ nào ngươi nói lén mà ta không hay. Dầu già hàm chối cũng không khỏi.

Nói rồi truyền đem roi lớn, đánh hai chục về tội chối, rồi đánh hai chục về chuyện nói hành, rồi sau ta sẽ dùng roi sắt mà đưa đón nó.

Bây khỉ vâng lời mà đè xuống.

Bát Giới lạy mãi mà năn nỉ rằng:

- Xin anh vị tình thầy, dung thứ em một thuở.

Tôn Hành Giả nói:

- Thầy ở nhân nghĩa lắm, không vị tình làm sao.

Bát Giới lạy nữa, thưa rằng:

- Anh không vị tình thầy thì thôi, xin vị tình Quan Âm mà tha tội ngu đệ.

Tôn Hành Giả nghe nhắc tới Quan Âm, trong lòng cảm động, liền nói rằng:

- Biết lỗi thì thôi, ta cũng không đánh. Song phải nói cho thiệt. Nay Đường Tăng đến đâu mà mắc nạn, nên ngươi tới gạt ta?

Bát Giới thưa rằng:

- Thiệt tình thầy nhớ anh, chớ không mắc nạn chi hết.

Tôn Hành Gả nổi giận mắng rằng:

- Ngươi muốn ta đánh một thiết bảng phải không, sao cứ gạt ta hoài vậy? Tuy ta về động Thủy Liêm chớ lòng hằng lo việc sư phụ. Thầy mắc nạn nhiều chỗ không phải lần nầy. Phải cứ thiệt khai ngay, còn nói giấu thì đừng có trách số.

Bát Giới thưa rằng:

- Thiệt tôi nói dối mà rước anh. Không dè anh thiệt tánh linh biết trước hết thảy. Xin tha tội, tôi xin thưa thiệt sự tình.

Tôn Hành Giả nói:

- Chờ dậy mà nói chuyện nghe thử?

Bầy khỉ buông tay ra, Bát Giới chờ dậy chạy dòm ngó lăn xăn.

Tôn Hành Giả hỏi rằng:

- Làm cái cái gì lạ vậy?

Bát Giới nói kiếm đường mà chạy cho mau.

Tôn Hành Giả nói:

- Ta chấp ngươi chạy trước ba ngày, ta theo bắt lại lập tức. Chạy đâu cũng không khỏi, chuyện chi nói thiệt cho mau?

Bát Giới túng phải thuật chuyện lại.

Rồi nói rằng:

- Bởi Tiểu long đốc tôi đi thỉnh anh nói anh là người quân tử biết nhân nghĩa chẳng hề nê cố việc cũ, sao chắc cũng cứu thầy. Vậy xin anh xét lại một ngày cũng đạo làm thầy, đi cứu cho toàn tánh mạng.

Tôn Hành Giả nổi giận nói rằng:

- Khi ta giã từ có dặn như vầy: Nếu gặp yêu quái thì nói ta là học trò lớn của thầy, thì nó chẳng dám làm hại. Sao ngươi cãi lời ta?

Bát Giới nghe nói nghĩ rằng:

- Môi hỉnh chẳng bằng nói khích.

Nghĩ rồi nói rằng:

- Anh ôi! Phải đừng nói tên anh, hãy còn khá khá. Bởi vì nói tên anh nó mới làm dữ vô cùng!

Tôn Hành Giả hỏi:

- Ngươi nói làm sao đó?

Bát Giới đáp rằng:

- Tôi nói: Yêu tinh đừng vô lễ mà làm hại thầy ta. Ta hãy còn một vị đại sư huynh là Tôn Hành Giả, thần thông quảng đại, năm xưa phá tới thiên cung. Nếu anh ta đến đây, thì bây chết cả lũ.

Huỳnh Bào nổi giận nói lớn rằng:

- Mi tưởng Tôn Hành Giả là tài lắm, dám chọc ta sao? Nếu nó đến đây thì ta lột da rút gân, ăn thịt và lấy xương mà làm thuốc. Chớ bộ nó ốm lắm, rán mỡ có bai nhiêu. Tại mi đem con khỉ mà nhát ta, nên ta làm cho khỉ ốm ra mặt. Vậy mới biết thấp cao.

Tôn Hành Giả nghe nói nổi giận, trợn mắt cào tai, nhảy xuống hét lớn rằng:

- Sao dám mắng ta như vậy?

Bát Giới thưa rằng:

Xin đại ca bớt nóng. Ấy là Huỳnh Bào nói, tôi học lại cho anh nghe.

Tôn Hành Giả nói rằng:

- Tôi em chờ dậy. Ta phải đi đánh mới xong. Vì nó mắng ta nên giết nó báo cừu cho đã giận. Rồi trở về Thùy Liêm Động chớ không theo bảo hộ Đường Tăng.

Bát Giới nói:

- Miễn anh giết nó mà báo cừu, còn sự Ở đi mặc ý.

Khi ấy Tôn Hành Giả cởi kim khôi thiết giáp, lấy áo cũ của Tam Tạng mặc vào. Bận quần da cọp như khi trước, cầm thiết bảng bước ra.

Bầy khỉ đón lại hỏi rằng:

- Vậy chớ Đại Thánh gia gia đi đâu?

Tôn Hành Giả nói rằng:

- Đâu đó đều biết Tôn Ngộ Không là học trò Tam Tạng, không phải thầy ta quyết đuổi, thiệt cho về thăm động nghỉ ngơi. Nay ta phải bảo hộ thầy kinh, xong việc sẽ về với chúng bây như cũ.

Các khỉ lớn nhỏ đều vâng lệnh cúi lạy đưa đi.

Khi ấy Tôn Hành Giả với Bát Giới đồng đi đến biển Đông hải.

Tôn Hành Giả nói:

- Để ta tắm cho sạch sẽ đã. Từ khi về động đến nay có hơi yêu khí. Tánh thầy hay ở sạch, nên phải tắm mà xả hơi.

Tắm rửa xong rồi đồng đằng vân đi với Bát Giới, đến chỗ tháp vàng.

Bát Giới chỉ mà nói rằng:

- Chỗ tháp chiếu hào quang, là động Huỳnh Bào, Sa Tăng còn giam tại đó.

Tôn Hành Giả nói:

- Để ta đến đánh thử với nó, coi thời sự ra thể nào.

Bát Giới nói:

- Huỳnh Bào ở trong trào, chưa về động Ba Nguyệt.

Tôn Hành Giả nói:

- Tôi biết mà.

Liền thẳng tới cửa động, thấy có hai đứa con nít chơi giởn ngoài cửa động chừng tám chín tuổi, Tôn Hành Giả nắm óc hết thảy.

Hai đứa nhỏ kinh hãi khóc vang.

Tiểu yêu vào báo với Công Chúa.

Bá Hoa Tu nghe báo lật đật chạy ra hỏi lớn rằng:

- Sao người lại bắt con tôi. Cha nó chẳng vừa gì, nếu hay thì khó lắm.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Ngươi chẳng biết ta là ai, nên kiếm điều nói nhát! Ta là học trò lớn của Đường Tăng, là Tôn Ngộ Không (Hành Giả) đây. Nếu thả Sa hòa thượng thì ta đổi con cho.

Bá Hoa Tu nghe nói liền vào mở trói cho Sa Tăng.

Sa Tăng nói:

- Công Chúa đừng có mở tôi, e yêu quái trở về hỏi han; làm hại tới Công Chúa.

Bá Hoa Tu nói:

- Thầy là người ơn của tôi, nhờ làm chứng tôi mới còn sống, tôi quyết lòng tha thầy, mà ngại lòng yêu quái. Nay có sư huynh thầy là Tôn Hành Giả biểu tôi mở trói cho thầy. Người đứng đợi ngoài cửa động.

Sa Tăng nghe nói Tôn Hành Giả lòng mừng phới phở, liền chạy ra cửa động chào rằng:

- Anh ôi! Thiệt anh ở trên trời sa xuống. Xin làm phước cứu em.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Sa Tăng, hồi thầy niệm chú cẩn cô, không ai can giùm một tiếng. Chú nào cũng chắc mình bảo hộ đặng. Sao không đi Tây Phương cho sớm, còn ở đây làm chi?

Sa Tăng thưa rằng:

- Đại ca, người quân tử không cố oán, việc cũ qua rồi còn nhắc làm chi.

Bát Giới thuật chuyện cho Sa Tăng nghe.

Tôn Hành Giả hét lớn rằng:

- Mi thiệt nhiều chuyện lắm! Nghe ta dặn: Hai anh em bồng hai đứa nhỏ nầy về thành mà khích yêu quái. Ta ở đây mà đánh nó thì tiện hơn.

Sa Tăng thưa rằng:

- Làm sao mà khích nó?

Tôn Hành Giả nói:

- Hai ngươi bồng trẻ ấy, ở trên đền vật xuống sân chầu. Có ai hỏi thì nói con của Huỳnh Bào yêu tinh, anh em tôi bắt đặng.

Huỳnh Bào hay tin thì về động, ta đón nó mà trừ căng. Nếu vào thành đánh nó thì náo động quan dân, lấy làm bất tiện lắm.

Sa Tăng, Bát Giới đồng dạ bồng hai đứa nhỏ mà đằng vân.

Tôn Hành Giả vào động, Bá Hoa Tu trách rằng:

- Hòa Thượng sao thất tín như vậy? Bảo đem sư đệ mà đổi con, sao không thấy trả lại?

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Công Chúa đừng trách ta, bởi cách Bệ Hạ đã lâu, nên đem lịnh lang về nhìn ông ngoại.

Bá Hoa Tu nói:

- Hòa Thượng đừng vô lễ. Huỳnh Bào dữ lắm, không phải tầm thường. Nếu hại con nó đi, thì thầy sống cũng không đặng.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Công Chúa coi chồng con là trọng. Sao quên ơn cha mẹ sanh thành? Không nghĩ vì đâu mà có mình, thiệt là gái bất hiếu.

Bá Hoa Tu nghe nói hổ thẹn, đáp lại rằng:

- Thầy ôi! Tôi đâu dám quên ơn cha mẹ! Bởi vì yêu tinh bắt buộc không cho ra khỏi cửa, biết làm sao thăm viếng mẹ cha. Biệt tin cá nhàn, tôi cũng muốn liều mình mà thác, song ngại nỗi cha mẹ tôi nghi rằng con trốn, để danh xấu muôn đời. Cùng chẳng đã phải nấu nương ngày tháng, biết chừng nài đặng trở về thành.

Nói rồi rơi lụy.

Tôn Hành Giả nói:

- Công Chúa đừng phiền não làm chi. Bát Giới có thuật chuyện: Công Chúa cứu thầy ta, và gởi thơ bệ hạ. Để Lão Tôn bắt yêu quái, rồi đem công chúa về trào, sẽ chọn duyên lành mà hầu kề cha mẹ.

Bá Hoa Tu nói:

- Thầy đừng làm ơn mà uổng mạng! Rất đổi hai thầy kia mạnh mập như vậy, còn đánh không lại Huỳnh Bào huống chi thầy ốm như ông Lo Đời, bắt sao đặng nó? Tôn Hành Giả nói:

- Công Chúa chưa biết tài, tôi thường bắt yêu tinh vô số.

Bá Hoa Tu hỏi rằng:

- Nay thầy tính làm sao mà bắt nó?

Tôn Hành Giả nói:

- Công Chúa hãy kiếm chỗ mà ẩn mặt. Để nó về ta bắt như chơi, sẽ đem Công Chúa về bệ hạ.

Bá Hoa Tu y lời.

Khi ấy Tôn Hành Giả dùn mình, biến ra hình Công Chúa, ở trong động mà chờ yêu quái.

Nói về Sa Tăng, Bát Giới đằng vân đến đền vua Bửu Tượng quăng hai đứa nhỏ bễ óc chết giữa sân chầu.

Bá quan văn võ kinh hãi nói rằng:

- Trên trời rớt xuống hai đứa nhỏ, chết hết và hai.

Bát Giới nói lớn rằng:

- Hai thằng nhỏ nầy là con của Huỳnh Bào, bị lão Trư với Sa Tăng bắt đặng.

Khi ấy Huỳnh Bào gần tỉnh rượu, nghe người nói tới tên liền dậy ra xem, thấy Sa Tăng với Bát Giới ở trên mây gầm hét.

Huỳnh Bào nghỉ rằng:

- Bát Giới đi về cũng phải còn Sa Tăng ai mở mà ra. Vì cớ nào mà bắt con ta đặng! Thế nầy phải về nhà coi thử cớ sự ra làm sao, sẽ báo thù mới đặng.

Nghỉ rồi biến hóa bay về.

Còn trong triều đồng hay việc hồi hôm, biết nó là yêu quái.

Vua Bửu Tượng truyền quan võ giữ gìn cọp giả, để coi công việc làm sao.

Nói về Tôn Hành Giả thấy Huỳnh Bào gần tới động, thì giã đò Công Chúa khóc than. Khóc kể hai con kêu trời vang đất, đấm ngực chắt lưỡi, rơi lụy dậm chân.

Khi ấy Huỳnh Bào thấy vợ khóc như vậy, liền ôm Công Chúa mà hỏi rằng:

- Chuyện chi mà khóc than như vậy?

Tôn Hành Giả khóc mà nói rằng:

- Chàng ôi! Lời xưa nói:

Trai chẳng vợ, của thì hao hớt,

Gái không chồng, thân chịu bơ vơ.

Hôm qua mình vào đền mà nhìn cha mẹ, rồi sao chẳng đi về? Bữa nay bị Bát Giới phá động mà cứu Sa Tăng, lại bắt hai đứa nhỏ. Tôi năn nỉ hết sức, mà hai người ấy chẳng nghe. Nói để đem vể trào cho ông ngoại biết mặt. Nữa ngày không thấy trở lại, chẳng rỏ kiết hung. Trông mình hoài không thấy trở về. Tức mình nên khóc! Huỳnh Bào nghe nói, giận hét rằng:

- Thiệt thấy nó bắt con mình hay sao?

Tôn Hành Giả nói:

- Thiệt, Bát Giới bắt, có tôi thấy rỏ ràng.

Huỳnh Bào nói:

- Thôi rồi! Hai đứa nhỏ bị chúng quăng xuống thềm, nên bễ đầu chết hết. Để ta đánh, bắt cho đặng lũ ấy mà báo cừu con. Thôi nàng đừng khóc nữa. Bây giờ trong mình có hề chi không?

Tôn Hành Giả nói:

- Bởi nóng ruột khóc con, nên đau bụng lắm.

Huỳnh Bào nói:

- Thôi nàng dậy vào phòng mà nghĩ. Ta sẽ đưa bửu bối chà giây phút thì hết đau bụng. Xin phải nhớ cho kỹ, đừng lấy ngón tay cái mà bùng huờn ấy. Nếu búng thì ta hiện nguyên hình.

Tôn Hành Giả nghe nói mừng lắm.

Khi ấy Huỳnh Bào dắt Tôn Hành Giả vào chỗ kín, nhả trái châu trong miệng tròm trèm cái trứng gà. Cái bửu bối ấy gọi là Xá lợi tử.

Tôn Hành Giả mừng thầm nghĩ rằng:

- Nó luyện bửu bối nầy lâu năm chầy tháng lắm. Nay mình có phước mới đặng về tay.

Nghĩ rồi cầm bữu bối chà trên bụng vài lần, rồi lấy ngón tay mà búng, Huỳnh Bào lật đật giành lại, Tôn Hành Giả bỏ vào miệng nuốt đi.

Huỳnh Bào nổi giận đánh vợ một bạt tai, Tôn Hành Giả liền đở, rồi chùi mặt mà hỏi rằng:

- Huỳnh Bào đừng vô lễ, coi thử là ai đây?

Huỳnh Bào kinh hãi hỏi rằng:

- Sao nàng lại mặt lạ như vậy?

Tôn Hành Giả mắng rằng:

- Ai là vợ ngươi? Thiệt thấy Tổ tông mà không biết, phen nầy ta quyết bắt ngươi. Huỳnh Bào nghĩ rằng:

- Người nầy ta có nhớ mặt, mà quên lửng họ tên.

Nghĩ rồi hỏi rằng:

- Mi là người ở đâu, họ tên chi xưng thử, sao dám giả dạng gạt ta mà lấy bữu bối? Tôn Hành Giả nói:

- Ngươi thiệt không biết ta. Ta là học trò lớn của Đường Tăng, Tôn Ngộ Không (Hành Giả) đây, 500 năm trước là tổ tông của mi.

Huỳnh Bào nói:

- Không phải, không phải, đệ tử Đường Tăng có hai người là Sa Tăng với Bát Giới, chẳng hề nghe nói có đệ tử họ Tôn. Chắc là yêu quái ở đâu đến đây gạt ta mà lấy bửu bối.

Tôn Hành Giả nói:

- Nguyên ta hay giết yêu tinh, nên thầy chê hung dữ, đuổi về động Thủy liêm, nên không có ta theo, ngươi chẳng biết cũng phải.

Huỳnh Bào nói:

- Ngươi thiệt mặt dày mày dạn, không chí khí trượng phu. Bị người đuổi rồi, còn mặt nào đến nữa.

Tôn Hành Giả đáp rằng:

- Mi dốt nát quá chừng, nên không thông lễ nghĩa. Tuy là thầy một bửa, như làm cha trọn đời. Nay ngươi bắt thầy ta, lẻ nào làm lơ mà không cứu. Mi đã bắt thầy ta và Sa hòa thượng, sao còn mắng lén ta?

Huỳnh Bào nói:

- Ta nào có mắng lén bao giờ.

Tôn Hành Giả đáp rằng:

- Bát Giới nói rõ ràng, ngươi chối sao cho đặng.

Huỳnh Bào nói:

- Bát Giới mỏng môi nhọn mỏ, hay nói thêm thừa. Ta thuở nay chưa biết mặt bao giờ, lẻ nào mắng lén. Nghe lời đứa thị phi làm chi.

Tôn Hành Giả nói:

- Không hơi đâu mà cãi chuyện ấy. Nay Lão Tôn đến nhà, đã không đãi trà, cũng không đãi rượu. Mấy món ấy có chối từ là không có cũng đặng, chớ lẽ nào nói không có đầu, thôi đưa đầu ra cho ta đập một cây, thế ba chén rượu.

Huỳnh Bào cười ngất nói rằng:

- Tôn Hành Giả! Ngươi nói sai quá! Y¨ ngươi muốn đánh, sao dám theo ta vào chốn nầy; bộ hạ ta đông biết bao nhiêu. Dầu ngươi cả mình có tay cũng khó ra khỏi nữa.

Nói rồi truyền bầy yêu vây phủ, đóng ba vòng cửa bịt bùng.

Tôn Hành Giả chẳng sợ chút nào, hai tay cầm thiếùt bãng mà la: "Biến biến".

Biến ra ba đầu sáu tay cầm ba cây thiết bảng mà đánh.

Giây phút tiểu yêu chết hết, còn có một Huỳnh Bào.

Huỳnh Bào giận mở cửa ra ngoài, rồi mắng rằng:

- Con khỉ thiệt ngang dọc quá, dám đến động mà đánh ta?

Nói rồi chém một đao, Tôn Hành Giả đưa thiết bảng ra đở rồi đánh lại.

Hổn chiến sáu chục hiệp cầm đồng.

Khi ấy Tôn Hành Giả và đánh và nghĩ rằng:

- Con yêu nầy thiệt có tài, siêu đao cự nổi thiết bảng, để mình gạt nó mới xong. Nghĩ rồi nhảy vọt lên cao.

Huỳnh Bào vác siêu đao theo vớt cẳng.

Tôn Hành Giả gạt siêu đao rồi đập đầu một cái.

Huỳnh Bào biếm mất tức thì.

Tôn Hành Giả nhảy lên mây ngó xuống kiếm cũng không thấy Huỳnh Bào, thì lấy làm lạ nghĩ rằng:

- Con yêu nầy ta có nhớ mặt khi trước, chắc là vì thiên tướng xuống đây. Chẳng phải yêu quái dưới phàm nên kiếm không đặng, để ta lên thượng giới, tra thử cho rành.

Nghĩ rồi cân đẩu vân lên Nam Thiên Môn vào đền Thông minh.

Bốn ông Thiên Vươnghỏi rằng:

- Tôn Đại Thánh đến có chuyện chi?

Tôn Hành Giả nói:

- Tôi bảo hộ Đường Tăng, đi mới tới nước Bửu Tượng, gặp một con yêu bắt thầy tôi. Tôi đánh với nó, nó thua biến mất tức thì, kiếm hoài không đặng. Tôi nghi nó là vì tinh tú xuống phàm, nên đến cậy ông tâu giùm mà tra thử?

Khi ấy Thiên Vươngvào tâu lại với Thượng Đế.

Thượng Đế truyền tra các vị thần. Tám bộ đến đủ mặt duy có Nhị thập bát tú thiếu hết một người, còn có hai mươi bảy vị. Tra rõ thì sao Khuê Mộc Lang.

Thiên Vươngvào tâu lại.

Thượng Đế phán hỏi rằng:

- Sao Khuê trốn đã bao lâu?

Thiên sứ tâu rằng:

- Ba ngày đến giờ mẹo điểm một lần. Vắng mặt bốn kỳ điểm mẹo. Và bữa nay nữa là mười ba ngày.

Thượng Đế phán rằng:

- Trên nầy mười ba bữa, dưới thế mười ba năm, truyền chỉ Bổn bộ thâu Khuê Mộc Lang về chầu lập tức.

Bổn bộ vâng lệnh niệm chú, vân vân.

Nói về Huỳnh Bào biết tài Tôn Đại Thánh năm xưa, nên lặn xuống suối mà trốn, bởi cố ấy Tôn Hành Giả kiếm hoài không đặng. Nay nghe Bổn bộ là người làm đầu niệm chú, vội vàng về tới Nam Thiên Môn.

Tôn Hành Giả muốn đón lại mà đánh.

Nhờ các vì sao khuyên giải.

Huỳnh Bào cầm kim bài vào chầu Thượng Đế, lạy mà chịu tội.

Thượng Đế phán hỏi rằng:

- Khuê Mộc Lang, thượng giới là chốn thần tiên, an vui thong thả, sao ngươi còn trốn xuống trần thế làm chi?

Huỳnh Bào tâu rằng:

- Xin Bệ Hạ xá tội cho tôi. Nguyên nàng Ngọc Nữ dâng hương muốn tư tình với tôi, mà sợ phép nghiêm cấm, nên đầu thai xuống làm con gái thứ ba vua Bửu Tượng. Đến khi công chúa khôn lớn tôi nhớ lời hẹn xưa nên trốn xuống phàm giả làm yêu mà kết duyên với nàng ấy. Đem về núi Hoãn Tử đã mười ba năm nay. Tuy là việc tư, cũng duyên tiền định. Nay Tôn Đại Thánh đến cáo, tôi xin cam tội mười phần. Thượng Đế liền thâu kim bài, đày Khuê Mộc Lang đến Đâu Suất cung mà chụm lửa cho ông Thái Thượng. Sau có công thì phục chức, bằng trễ nải thì phạt thêm.

Khi ấy Tôn Hành giả thấy Thượng Đế xử đoán xong rồi, mừng rỡ tạ từ đằng vân trở lại. Đến động Ba Nguyệt kiếm Công Chúa đem về, rồi thuật chuyện lại.

Xảy thấy Sa Tăng, Bát Giới đi tới.

Tôn Hành Giả làm phép thâu đường, đem công chúa về đền, lạy mừng cha mẹ. Bá quan ra mắt xong rồi, Công Chúa tâu rằng:

- Nhờ ơn Tôn hòa thượng phép lạ trong đời, trừ đặng Huỳnh Bào đem con về nước.

Vua Bửu Tượng phán hỏi rằng:

- Chẳng hay Huỳnh Bào là con yêu gốc ở đâu đó?

Tôn Hành Giả tâu rằng:

- Phò Mã của Bệ Hạ là sao Khuê Mộc Lang. Còn công chúa là gái ngọc tại đền Phi hương trên thượng giới. Bởi hai người có tình ý nên đầu thai xuống thế kết duyên, Lão Tôn tâu với Thượng Đế thâu Huỳnh Bào về trời đến cứu công chúa.

Vua Bửu Tượng tạ Ơn xong xả, rồi bảo vào mà thăm thầy, truyền các tướng vô khiêng lồng sắt ra đền.

Tôn Hành Giả tháo củi mở dây xích, nhìn thấy cọp gấm ngồi ngậm miệng nhắm mắt, liền cười lớn nói rằng:

- Thầy ôi! Thầy là hòa thượng hiền lành. Chê tôi hung hăng nên đuổi mãi. Sao bữa nay thầy hóa hình hiền quá, không ai dám lại gần?

Tam Tạng nghe rõ ràng, ngặt nói không ra tiếng.

Khi ấy Bát Giới bước lại nói rằng:

- Anh ôi! Cứu thầy cho mau, đừng nhắc chuyện cũ.

Tôn Hành Giả đáp rằng:

- Ngươi chuyện nào cũng nói dèm siễm. Thiệt là học trò cưng của thầy. Sao gặp nạn lại không cứu. Ngươi đến Thùy Liêm Động cầu ta, thì ta có giao rằng: Bởi con yêu nói hành ta, thì ta xuống trừ nó mà báo cừu, rồi trở về động.

Sa Tăng nghe nói quỳ lạy mà thưa rằng:

- Đại ca ôi! Lời xưa nói: Không tưởng tăng cãng tưởng Phật. Hễ trọng Phật thì trọng Tăng. Anh đã đến đây, xin cứu thầy kẻo tội nghiệp! Phải chúng tôi có tài cứu được, còn đi thỉnh anh làm chi?

Tôn Hành Giả đáp rằng:

- Nói phải quấy cho Bát Giới nghe, chớ lẽ nào ta không cứu.

Nói rồi truyền múc nước, niệm chú rồi phun cho Tam Tạng hiện lại hình người, mở mắt ra nắm tay Tôn Hành Giả mà hỏi rằng:

- Ngộ Không, ngươi ở đâu đến đây?

Sa Tăng thuật chuyện lại, vân vân...

Tam Tạng tạ Ơn nói rằng:

- Cám ơn đồ đệ rất nhiều. Để đến Tây Phương thỉnh kinh về Đông độ, ta sẽ tâu với Thiên tử, công lao của ngươi thứ nhất trong việc thỉnh kinh.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Thôi, thôi, chẳng cần công lộc làm chi, miễn thầy đừng niệm chú thì tốt hơn chuyện gì hết.

Khi ấy vua Bửu Tượng truyền dọn tiệc chay, đãi bốn thầy trò trọng thể, dâng vàng bạc, châu báu tạ Ơn, bốn thầy trò không lãnh, từ giã ra đi.

Vua Bửu Tượng va văn võ bá quan đồng đưa một đổi xa mới trở lại.

Đó là:

Vua về bửu điện yên bờ cõi,

Sãi tới Lôi Âm thỉnh phật kinh.

Hồi 32
Núi Bình Ðảnh, Công Tào báo tin
Ðộng Liên Hoa, Bát Giới mang họa
Nói về bốn thầy trò đi khỏi nước Bửu Tượng, gặp tiết mùa Xuân.

Đi hèn lâu gặp một hòn núi.

Tam Tạng nói rằng:

- Hòn núi đón đường, phải coi chừng cho kỹ lưỡng!

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Xin thầy nhớ Tâm kin của thầy Ô Sào có nói rằng: Hễ trong lòng không nghi ngại thì khỏi sự sợ lo. Miễn là: Rửa sạch bụi ngoài tai, trừ đặng lửa trong bụng, thì việc chi đều có tôi lo.

Tam Tạng nghe nói, liền dừng ngựa mà kệ bốn câu rằng:

Năm xưa vâng chỉ khỏi Trường An,

Trông đến Tây Phương lạy Phật vàng,

Từng trải nước non dày hoạn nạn,

Bao giờ xong việc đặng thanh nhàn!

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Thầy muốn thỉnh kinh về nước mà hưởng phước thanh nhàn thì cũng không khó chi đó. Miễn là bền chí, không bao lâu cũng đặng phỉ nguyền.

Tam Tạng an lòng, giục ngựa đi tới. Song đường đi gay gắt, nẻo bước gập ghềnh. Xảy gặp ông tiều nói rằng:

- Xin thầy khoan đi, để tôi nói một chuyện! Bởi núi nầy có yêu quái, hay đón đường ăn thịt người ta.

Tam Tạng hãi kinh nói rằng:

- Đồ đệ có nghe ông tiều mách bảo hay không? Ai đi lại mà hỏi thăm cho rõ ràng. Nói rồi lên núi, ông tiều hỏi rằng:

- Chẳng hay mấy thầy đi chuyện chi, mà đến chỗ hiễm địa?

Tôn Hành Giả nói:

- Anh ôi! Chúng tôi ở Đông Độ qua Tây Phương mà thỉnh kinh. Nhờ ơn anh nói giùm, nên hỏi thăm cho rõ. Chẳng hay yêu quái ấy làm lộng đã mấy năm. Xin nói cho rõ ràng, đặng tôi khiến Thổ Địa sơn thần bắt nó.

Ông tiều cười ngất nói rằng:

- Thế thầy cũng có học phép trừ tà chút đỉnh, chớ chưa gặp yêu dữ như vầy. Để tôi nói cho mà nghe. Đây là núi Bình Đảnh, động Liên Hoa có cặp yêu. Chúng nó vẻ hình Đường Tăng quyết bắt cho đặng mà ăn thịt. Nếu ở đâu thì họa may đi đặng, chớ phạm chữ Đường thì phải lui về.

Tôn Hành Giả nói:

- Thầy trò tôi thiệt ở Đại Đường.

Ông tiều đáp rằng:

- Nói vậy thì nó quyết ăn thịt mấy thầy đó! Yêu quái có năm món bửu bối. Dầu ai có tài phép bực nào, bảo hộ Đường Tăng qua núi nầy cũng phải chóng mày chóng mặt!

Tôn Hành Giả hỏi:

- Ước chừng chóng mặt mấy lần?

Ông tiều nói:

- Sợ tới ba bốn bận!

Tôn Hành Giả nói:

- Không hề gì mà sợ. Chúng tôi mỗi năm chóng mặt tới bảy tám lần. Ba bốn bận thì dễ chịu lắm!

Ông tiều nói:

- Sãi điên không biết sợ chết!

Tôn Hành Giả trỏ xuống núi thưa rằng:

- Thầy ôi! Không phải đại sự. Bởi người ấy nhát lắm, có ba con yêu vặt mà kinh hồn. Thầy cứ việc mà đi, bề nào có tôi bảo hộ.

Tam Tạng cũng y lời.

Tôn Hành Giả ngó lên không thấy ông Tiều, lấy làm lạ, trợn mắt mà xem, thấy Công Tào đằng vân bay trước.

Tôn Hành Giả nhảy theo mắng rằng:

- Sao ngươi khôgn nói thiệt, lại giả dạng mà gạt ta?

Công Tào đáp lễ thưa rằng:

- Xin đại thánh miễn chấp. Bởi yêu quái thần thông quảng đại, biến hóa vô cùng. Xin phải ráng sức hết lòng, thì bảo hộ Đường Tăng mới đặng, Nếu dễ ngươi hơ hỏng, chắc đi không tới Tây Phương.

Tôn Hành Giả và đi và nghĩ rằng:

- Nếu ta thuật chuyện nầy, chắc thầy sợ lắm. Bằng nói giấu rồi sơ sẩy bị yêu bắt, ta cũng mất công. Chi bằng nhường cho Bát Giới đánh thử đầu tay, như qua đặng cũng đánh công thứ nhất. Dầu có bị nó bắt, mình sẽ lo kế cứu ra. Mà thầy hay binh vực lắm. Ta phải làm thế ràng buộc như vầy...

Nghĩ rồi liền dụi con mắt làm bộ khóc đi về.

Khi ấy Bát Giới thấy Tôn Hành Giả như vậy, liền bảo Sa Tăng để gánh xuống mà nói rằng:

- Chúng ta tính phá hùn, mà về cho sớm.

Tam Tạng quở rằng:

- Thằng khốn nạn dữ he! Đương đi đường sao lại nói bá láp vậy?

Bát Giới đáp rằng:

- Thầy tưởng tôi nói bậy hay sao? Rất đổi Tôn Hành Giả là tay lúc láo, lên trời xuống đất như chơi. Nay còn thất kinh mà khóc. Chắc yêu tinh dữ tợn mười phần, sức ba thầy trò yếu đuối như vầy, đi làm sao đặng.

Tam Tạng quở rằng:

- Ngươi đừng nói nhiều chuyện. Để ta hỏi thử coi thế nào.

Nói rồi hỏi rằng:

- Ngộ Không, ngươi làm bộ khóc mà nhát ta phải chăng?

Tôn Hành giả thưa rằng:

- Thầy ôi! Người báo tin khi nảy không phải ông Tiều, thiệt thần Công Tào biến hóa. Người nói yêu động nầy dữ lắm, có nhiều bửu bối thần thông. Chắc là đi không đặng. Nên tôi rầu quá, xin ở đây thũng thaÜng tính lần.

Tam Tạng tuy là sợ hải, nhưng cũng nói gượng rằng:

- Đi đã nửa đường lẻ nào thối chí?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Tôi cũng hết lòng bảo hộ, ngặt một mình đánh chẳng lại đông. Cũng như lửa cháy cả nhà, một gáo nước tưới sao cho tắt.

Tam Tạng nói:

- Một mình ngươi cự không lại, thì có Sa Tăng , Bát Giới phụ theo, mặc ý ngươi sai khiến. Miển bảo hộ qua cho khỏi động, sau cũng thành chánh quả với nhau.

Tôn Hành Giả lau nước mắt thưa rằng:

- Nếu Bát giới chịu hai chuyện nầy, thì đi qua mới đặng, bằng không thì hết kể thỉnh kinh.

Bát Giới nói:

- Sư huynh không đi, thì tính phá hùn cho rảnh. Xin đừng trao gánh cho tôi. Mà anh sai hai chuyện chi đó?

Tôn Hành Giả nói:

- Một là bảo hộ thầy, hai là đi dọ đường núi. Ngươi muốn bắt phần nào?

Bát Giới hỏi:

- Hai chuyện ấy làm sao? Anh phải nói cho rành rẻ, đặng tôi liệu sức mà lãnh phần. Tôn Hành Giả nói:

- Bảo hộ thầy thì phải ở một bên. Dầu thầy đi đại tiểu cũng phải theo ngồi giữ khít rịt, kẻo yêu tinh thừa cơ bắt lén. Còn thầy đi đường thì theo một bên lưng ngựa, coi chừng mà đỡ, thầy biểu đi xin cơm, cũng phải đi lập tức. Nếu để thầy đói khát thì phải đòn. Yêu bắt thầy thời ta đánh ngươi chết.

Bát Giới nói:

- Khó lắm, khó lắm! Tôi chịu đi dọ đường mà thôi.

Tôn Hành Giả nói:

- Còn đi dọ đường thì phải thám thính cho rõ: Núi gì, động gì. Yêu tinh bao nhiêu. Và dọ đường nào dễ đi, trở về báo lại.

Bát Giới nói:

- Được, được, tôi chịu đi dọ đường.

Nói rồi xăn quần áo, vác cào cỏ ra đi.

Khi Bát Giới đi rồi, Tôn Hành Giả nực cười sục sục.

Tam Tạng mắng rằng:

- Con khỉ nấy đọc quá không biết thương em, gạt nó đi đường cho yêu ăn, lại còn cười hỉ hả!

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Tôi không phải cười như vậy. Cười là cười Bát Giới không phải đi dọ đường, chắc là kiếm chỗ mà ngủ một hồi rồi về đặt điều nói láo.

Tam Tạng nói:

- Vì cớ nào mà ngươi biết thế ấy?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Tôi đã biết tánh Bát Giới! Nếu không tin để tôi theo thử mà coi chừng.

Nói rồi biến ra con ve, bay theo đậu sau cạnh tai Bát Giới.

Nói về Bát Giới ra đi xăng xái, đặng bảy tám dặm đường day mặt lại chỉ Tam Tạng mà mắng rằng:

- Lão thầy cả yếu xiệu, ai nói cũng nghe. Còn hòa thượng đen thui dưỡng thây cho mập. Bật Mã Ôn là con khỉ ốm, muốn ở không cho khỏe với nhau. Sai Lão Trư đi dọ đường, đặng thỉn kinh cho thành chánh quả. Biết có yêu dữ không dám đi trước, lại biểu ta nạp mình! Ta lại dại gì mà đi tới động. Kiếm chỗ nhủ chơi cho mãn giấc, rồi về nói bướng cũng xong.

Nói rồi thấy dưới kẹt núi, có một đám cỏ hòe. Liền nằm ngay uốn mình một cái mà nói rằng: "Sướng biết dường nào! Dầu cho Bật Mã Ôn, cũng không được thảnh thơi nằm ngủ như vầy".

Khi ấy Tôn Hành Giả chịu không được, liền bay ra ngoài biến thành con chim gõ kiến. Đợi Bát Giới thiu thỉu, nhè mỏ mổ một cái rồi bay liền.

Bát Giới kinh hãi, chổi dậy la lớn rằng:

- Có yêu nó chụp nhằm cáo mỏ! Cha chả là đau!

Nói rồi rờ mỏ máu chảy ròng rong. Vừa chùi vừa ngó dáo dác, thấy con chim gõ kiến lớn quá, đương bay trên không.

Bát Giới nổi giận mắng rằng:

- Ôn mà vật Bật Mã Ôn cho rảnh. Đã sai đi thì thôi, lại còn hiện hình theo mà cắn ta nữa. Coi ta chẳng ra con người, thị như cây mục mới hóa chim gõ kiến, mà mổ mỏ ta! Thế là hết kiến rồi đó! Thôi, ta đút mỏ vô bụng, che mắt mà nằm. Coi phá làm sao cho đặng.

Nói rồi nằm ngủ ngáy pho pho.

Khi ấy chim gõ kiến bay xuống mổ tai.

Bát Giới giựt mình chờ dậy lầm bầm nói rằng:

- Thế đám cỏ nầy là cáo ổ của Bật Mã Ôn, nên nó sợ ta chiếm cứ! Thôi, không thèm ngủ nữa, trả ổ cho mi.

Nói rồi xách Đinh ba đi nữa.

Còn Tôn Hành Giả nực cười nôn ruột. Hóa con ve bay theo như trước, đâu trên cạnh tai Bát Giới mà nghe.

Khi ấy Bát Giới đi một hồi chùng bốn năm dặm, thấy một bàn thạch vuông vức, mừng rỡ bái lia.

Tôn Hành Giả cười thầm, để coi làm cách gì cho biết.

Bát Giới nói:

- Mình cứ lấy chữ thạch bàn làm tên động. Về thưa lại với thầy: Phải tập trước cho nhuần, kẻo nói ngập ngừng chúng biết.

Giả đò cục đá là thầy, mình về bái như vầy mà thưa rằng:

- Bạch với thầy! Có yêu quái ở núi Thạch Đầu, động Thạch Đầu, ba căn rộng rãi, ngoài cửa sắt có đóng đinh. Ước chừng có hỏi bao nhiêu đinh? Thì Lão Trư nói: "Lật đật quá nên không đếm cho kỹ".

Sắp đặt xong xả rồi trở về.

Còn Tôn Hành Giả bay về trước, hiện hình thưa tự sự với thầy.

Giây lâu Bát Giới đi gần tới, miệng lập lầm thầm.

Tôn Hành Giả hét lớn rằng:

- Vái giống gì đó?

Bát Giới giựt mình nói:

- Bạc ác dữ quá! Đi tới mà không hay.

Tam Tạng hỏi rằng:

- Có yêu quái hay không?

Bát Giới thưa rằng:

- Có yêu quái rất nhiều kể không hết.

Tam Tạng nói:

- Sao ngươi về đặng?

Bát Giới nói:

- Chúng nó kêu tôi bằng Trư Tổ, đứa thì kêu bằng ông ngoại. Dọn trôi nước đồ chay mà đãi tôi. Rồi gióng trống kéo cờ mà đưa tôi trở lại.

Tôn Hành Giả nói rằng:

- Có khi ngươi ngủ chiêm bao thấy như vậy, nên thuật chuyện lại phải chăng?

Bát Giới kinh hãi hỏi rằng:

- Sao anh biết tôi ngủ?

Tôn Hành Giả xách tai hỏi rằng:

- Núi gì?

Bát Giới nói:

- Núi Thạch Đầu.

Tôn Hành Giả hỏi:

- Động gì?

Bát Giới thưa rằng:

- Động Thạch Đầu.

Tôn Hành Giả nói:

- Thôi đừng nói nữa để ta nói thế khúc sau cho: Động Thạch Đầu ba căn rộng rãi, ngoài cửa sắt có đóng đinh, ước chừng có hỏi bao nhiêu đinh, thì Lão Trư nói: "Lật đật quá nên không kịp đếm cho kỹ. Về nói gạt Bật Mã Ôn như vật thì xong. Phải như vậy hay không?

Bát Giới thất kinh quì xuống.

Tôn Hành Giả nói rằng:

- Ngươi quì với cục đá chớ quì với ta làm chi?

Bát Giới thưa rằng:

- Anh có theo tôi sao mà biết?

Tôn Hành Giả mắng rằng:

- Mi là loài ăn hèm ăn cám. Tính chuyện như vậy, mà dám đi ăn chơi. Nếu không có chim gõ kiến mổ mỏ, mổ tai ngươi thì ngươi còn ngủ nơi đám cỏ tía. Đến thức dậy rồi còn kiếm chuyện nói láo, không chịu đi dọ đường. Cúi xuống đây ta đánh vai cây thiết bãng.

Bát Giới thất sắc nói rằng:

- Nếu anh đánh bằng cây gậy tang ắt là tôi phải chết!

Tôn Hành Giả nói:

- Nếu sợ phải đòn thì đừng nói láo.

Bát Giới nói:

- Lỡ một lần, sau tôi không dám như vậy nữa.

Tôn Hành Giả nói:

- Ngươi lỡ một lần thứ nhất ta đánh ba cây.

Bát Giới thất kinh nói rằng:

- Nửa cây chịu cũng không nổi.

Tôn Hành Giả quyết đánh không tha.

Khi ấy Bát Giới thất kinh, níu thầy xin cứu.

Tam Tạng nói:

- Trước khi ngươi mới đi, Ngộ Không nói ngươi chắc đi ngủ cho đã thèm rồi về kiếm chuyện nói láo. Ta cũng không tin. Té ra nay thiệt quả như vậy. Đánh đà đáng tội ta không lẽ mở miệng mà xin tha. Song lúc nầy đương dùng ngươi mà đánh yêu quái. Ta biểu Ngộ Không tha ngươi một phen, qua khỏi núi rồi sẽ đánh.

Tôn Hành Giả nói:

- Thầy xin tôi không dám cãi, song ngươi phải đi dọ đường cho rõ ràng. Nếu nói dối một lần nữa thì ta đánh chết.

Bát Giới chờ dậy vác đinh ba đi riết một hồi.

Bây giờ Bát Giới hồ nghi sợ Hành Giả biến hóa theo nữa.

Đi bảy tám dặm thấy cọp trong núi nhảy ra, Bát Giới cũng sợ giơ đinh ba mà nói rằng:

- Sư huynh đừng rình vô ích tôi không dám nói láo nữa đâu.

Cọp nhảy ngang gãy nhánh cây khô rớt nhằm đầu Bát Giới.

Bát Giới dậm chân đấm ngực trách rằng:

- Anh tệ thì thôi! Tôi thiệt tình không nói láo nữa, sao anh còn hóa nhánh cây mà đánh tôi!

Đi được nửa dặm thấy con Khoan cổ đương kêu, Bát Giới cười rằng:

- Anh không biết mắc cỡ. Tôi thiệt tình không nói láo nữa, mà anh còn biến làm Khoan cổ đi dòm hành.

Chuyến nầy Tôn Hành Giả không theo mà Bát Giới gặp giống gì cũng nghi là Hành Giả.

Hiennie*
20-04-2007, 12:40 AM
Hồi 33
Ngân Giác di sơn đè Ðại Thánh
Ngộ Không dụng kế đổi hồ lô
Nói về núi Bình Đảnh, động Liên Hoa, có hai con chúa yêu là: Kim Giác đại vương và Ngân Giác đại vương.

Kim Giác đại vương hỏi em rằng:

- Chúng ta vắng đi tuần núi đã bao lâu?

Ngân Giác thưa rằng:

- Hơn nửa tháng rồi.

Kim Giác nói:

- Vậy thì bữa nay hiền đệ đi tuần núi với ta. Bởi ta có nghe Đường ngự đệ vâng lệnh Thiên tử, qua Tây Phương thỉnh kinh. Đường Tăng có ba người học trò đi theo là Tôn Hành Giả, Trư Bát Giới và Sa hòa thượng. Lại thêm con ngựa mập lắm, vậy hiền đệ chịu khó, đi bắt chúng nó mà làm tiệc chơi.

Ngân Giác thưa rằng:

- Anh muốn ăn thịt người, thì tôi kiếm kẻ khác. Còn lũ Hòa Thượng ấy, để nó đi thỉnh kinh.

Kim Giác nói:

- Bởi hiền đệ không rõ, chớ ta có nghe đồn trong lúc mình mới giáng hạ, có nghe người nói rằng: Đường Tam tạng là Kim Thiền trưởng lão đầu thai. Nguyên trước ông Kim Thiền tu hành mười kiếp, không có vợ con. Đến nay đầu thai làm Tam Tạng cũng tu hành từ bé đến lớn, nên tinh thần sung túc, nếu ăn một miếng thiït Tam Tạng thì đặng trường sanh.

Ngân Giác thưa rằng:

- Nếu ăn một miếng thịt ấy mà sống đời, thì chúng ta tu luyện làm chi cho nhọc. Tôi xin đi bắt tức thì.

Kim Giác nói:

- Hiền đệ đừng nóng nảy! Nếu bắt không nhằm Tam Tạng thì có ích chi. Ta có vẽ một bức họa đồ đủ bốn thầy trò, để tên họ tỏ rõ, em nhìn có phải hãy bắt mới khỏi lầm.

Nói rồi đưa bức tượng.

Ngân Giác lãnh họa đồ, hỏi tên họ đủ rồi, dẫn ba mươi tiểu yêu đi tuần núi.

Khi ấy Bát Giới đương đi gặp bầy tiểu yêu đón lại hỏi rằng:

- Mi là ai, đi đâu đó?

Bát Giới ngó thấy kinh hãi nghĩ rằng:

- Nếu mình nói đi thỉnh kinh chắc nó kéo cổ. Chi bằng nói kẻ bộ hành.

Nghĩ rồi đáp rằng:

- Ta là kẻ đi đường can chi mà hỏi.

Tiểu yêu trở lại thưa rằng:

- Người ấy là kẻ đi đường.

Ngân Giác nói:

- Hòa Thượng ấy ta coi giống hình Trư Bát Giới trong họa đồ.

Nói rồi truyền tiểu yêu lấy giáo, máng bức tượng đưa lên.

Ngân Giác chỉ hình trong họa đồ mà nói rằng:

- Người cỡi ngựa kim là Tam Tạng. Cái mặt nhiều lông là Tôn Hành Giả...

Khi ấy Bát Giới nghe nói vái rằng:

- Ưng ai không có vẽ đầu heo, tôi làm chay hai mươi ngọ.

Xảy nghe Ngân Giác nói:

- Còn sãi mặt đen là Sa hòa thượng. Mỏ dài tai lớn là Trư Bát Giới.

Bát Giới hoảng hồn, đút mỏ vào trong áo, xếp tai ra đằng sau, Tiểu yêu nghe rằng: - - Hòa Thượng kia ngước mặt lên coi thử.

Bát Giới cúi mặt nói rằng:

- Đau bụng quá, cất đầu không nổi!

Ngân Giác nói:

- Chúng bây lấy móc kéo mỏ nó ra.

Bát Giới sợ đau, biết bề nào giấu cũng không đặng, túng phải đưa mỏ cho nó coi. Ngân Giác thấy quả Bát Giới liền xách siêu đao lại vớt liền.

Bát Giới đưa đinh ba ra đỡ.

Đánh hai mươi hiệp cầm đồng, Ngân Giác kêu tiểu yêu đánh tiếp.

Bát Giới nhắm thế phải thua, quay đầu bỏ chạy.

Rủi vấp dây mây liền té, bị tiểu yêu đè xuống, trói lại khiêng về.

Nói qua Kim Giác ở trong động trông tin.

Xảy thấy Ngân Giác chạy về cười nói rằng:

- Tôi bắt đặng một người, trẻ khiêng về đó". Kim Giác nói: "Hiền đệ bắt lầm rồi. Hòa Thượng nầy vô dụng lắm.

Bát Giới nghe nói, thưa rằng:

- Đại vương ôi! Hòa Thượng vô dụng bắt làm chi, thả nó đi cho rảnh.

Ngân Giác nói:

- Đại ca đừng tha nó. Tuy là vô dụng, chớ cũng một phe với Đường Tăng, ấy là Trư Bát Giới. Hãy ngâm nước dưới ao vài ngày, xẻ thịt muối để dành uống rượu.

Bát Giới nghe nói chắt lưỡi than rằng:

- Mình thời vận xui quá, mới gặp yêu làm mắm như vầy! Chắc là thành heo muối! Tiểu yêu khiên Bát Giới đem liệng xuống ao.

Nói về Tam Tạng nóng tai máy mắt, hồi hộp không yên, kêu Ngộ Không mà hỏi rằng:

- Ngộ Năng đi dọ đường đã lâu, sao không thấy trở lại?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Vậy xin thầy lên ngựa đi với chúng tôi, coi thử thế nào cho biết.

Tam Tạng cũng y lời.

Khi ấy Kim Giác nói:

- Hiền đệ đã bắt đặng Bát Giới, chắc Tam Tạng cũng theo sau. Mau đón đường kẻo sẩy.

Ngân Giác vâng lệnh, dẫn năm mươi tiểu yêu đi tuần.

Xảy thấy trên trời hiện mây lành, hào quang nhấp nháng.

Ngân Giác nói:

- Tam Tạng đi gần tới thấy không?

Tiểu yêu đồng thưa rằng:

- Chúng tôi không thấy chi hết. Bởi Tam Tạng cốt là Kim Thiền trưởng lão, nên hào quang chiếu nhấp nháng ngay đầu, tiểu yêu coi chưa thấy người vì khuất cây, còn Ngân Giác nhắm lên cây mà biết.

Khi ấy Tam Tạng đi khỏi rừng cây, Ngân Giác chỉ mà nói với tiểu yêu rằng:

- Người trên ngựa đó, không phải Tam Tạng hay sao?

Tam Tạng bắt lạnh mình mọc ốc.

Nó chỉ ba lần, thì Tam Tạng dùn mình ba cái, kinh hãi hỏi Hành Giả rằng:

- Đồ đệ sao ta bắt dùn mình ba cái, không biết điềm chi?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Thầy thấy núi cao cây rậm, nên hồ nghi mà lạnh mình. Xin thầy đừng sợ để tôi đi trước dọn đường cho.

Nói rồi múa thiết bãng như bay, đánh Nam dẹp Bắc.

Ngân Giác đứng dựa núi, xem thấy khen rằng:

- Bấy lâu nghe tiếng Tôn Hành Giả tài cao, nay thiệt quả như vậy!

Tiểu yêu hỏi rằng:

- Đại vương khen ai đó?

Ngân Giác nói:

- Tôn Hành Giả có thất thập nhị huyền công, chắc khó ăn Tam Tạng!

Tiểu yêu thưa rằng:

- Nếu khó ăn thịt Đường Tăng chắc cũng bắt lầm Trư Bát Giới. Chi bằng trả lại cho xong.

Ngân Giác nói:

- Quả thiệt Trư Bát Giới, không phải bắt lầm. Song chẳng cần trả lại. Quyết ăn thịt Tam Tạng cho đặng mới nghe. Tuy vậy mặc lòng, phải dùng kế bắt êm, chớ làm ngang không đặng. Để ta biến hóa bắt Tam Tạng cho bây coi.

Nói rồi hóa ra một thầy đạo sĩ già quá. Giả đò vấp lã cẳng, chảy máy ròng ròng! Vừa đi vừa rên, miệng kêu cứu mạng.

Khi ấy Tam Tạng nghe tiếng kêu vang thảm thiết thì nói rằng:

- Tội nghiệp thời thôi! Trong rừng mà kêu cứu, chắc là bị cọp hùm!

Nói rồi dừng ngựa kêu lớn rằng:

- Ai mắc nạn chi mà rán ra đây tôi cứu.

Đạo sĩ ở trong bụi cỏ lồm cồm chờ dậy lạy hoài.

Tam Tạng thấy đạo sĩ tuổi già, liền xuống ngựa đỡ dậy.

Đạo sĩ ôm cái chân mà la lớn rằng:

- Cha chả là đau nhức!

Buông tay ra máu chảy ròng ròng.

Tam Tạng lấy làm lạ hỏi rằng:

- Chẳng hay thầy ở đâu mà đến đây? Vì chuyện chi mà lã cẳng?

Đạo sĩ và rên và bạch rằng:

- Phía bên Tây núi nầy, có một cái am là chỗ tôi ở. Hôm qua thầy trò tôi đi làm đám về trễ, đệ tử tôi bị hùm tha, bần đạo chạy chết, té nhằm đá gần gãy chân, nên đi không nổi. May trời xuôi gặp sư phụ, xin làm ơn cứu Bần đạo về am, chẳng dám quên ơn nặng.

Tam Tạng ngỡ thiệt, nói rằng:

- Thầy với tôi cũng là người tu hành, lẽ nào lại làm lơ không cứu. Ngặt thầy đi không đặng, tôi chẳng biết làm sao.

Đạo sĩ nói:

- Tôi đứng dậy còn không nổi thay, đi làm sao đặng.

Tam Tạng nói:

- Thôi, tôi đi chân, để ngựa cho thầy cỡi.

Đạo sĩ nói:

- Tôi cám ơn thầy hậu tình. Song bấp vế đã sưng cỡi ngựa không đặng.

Tam Tạng nói:

- Vậy thời Sa hòa thượng cõng thầy một chút, để gánh đồ trên lưng ngựa cho ta. Đạo sĩ ngó Sa Tăng, rồi dụi con mắt làm bộ khóc mà nói rằng:

- Sư phụ Ôi! Tôi bị cọp dọa đã hết hồn. Nay thấy diện mạo thầy rất hung, tôi không dám vịn vai ôm cổ.

Tam Tạng nói:

- Thôi, Tôn Hành Giả chịu khó cõng thầy.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Ngươi là yêu quái, dám đến gạt ta! Lão Tôn biết ngươi là chúa động núi nầy, muốn ăn thịt thầy ta lắm, song miếng thịt quý phải chia hai cho ta.

Đạo sĩ nói:

- Tôi là người tu hành, thầy nói làm chi tội nghiệp vậy. Không thương kẻ bị cọp hùm.

Tôn Hành Giả nói:

- Nếu ngươi thiệt đạo sĩ gặp hùm sao chẳng niệm kinh Bắc đẩu?

Tam Tạng nghe nói, nổi giận mắng rằng:

- Con khỉ thiệt nhiều chuyện. Làm bảy kiểng chùa, không bằng cứu một mạng. Biểu cõng thì cõng, còn hỏi kinh Bắc đẩu Nam đẩu làm chi?

Tôn Hành Giả kê vai cõng theo sau. Tam Tạng với Sa Tăng đi trước.

Khi ấy Tôn Hành Giả thấy thầy đi cách năm dặm, đã khuất rặng cây thì tính vật con yêu cho rảnh.

Chẳng ngờ Ngân Giác tính trước, làm phép di sơn. Niệm chú lâm dâm, hòn núi Tu di bay ngang rớt xuống, còn nó liền bay lên; Tôn Hành Giả sợ núi sa nhằm đầu liền né. Hòn núi sa nhằm vai bên tả.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Dầu nặng bao nhiêu Lão Tôn chịu cũng nổi.

Ngân Giác niệm chú nữa, thâu hòn núi Nga mi quyết đè cho đặng đầu.

Tôn Hành Giả né nữa.

Núi Nga mi sa nhằm vai bên hữu.

Tôn Hành Giả ráng sức chạy theo thầy.

Ngân Giác xem thấy, kinh hãi lỏa mồ hôi. Không dè sức vác nổi hai hòn núi. Tuy là thâu nhỏ lại, chớ sức nặng cũng như núi thường.

Khi ấy Ngân Giác niệm chú thâu hòn núi Thái sơn bay trên mây, sa nhằm đầu Hành Giả. Đè nhẹp xuống như Ngũ hành sơn, rồi bay đứng trên mây, thò tay xuống xách cổ Tam Tạng.

Sa Tăng biết là yêu quái, lấy bữu trượng liền đánh.

Ngân Giác hiện hình, cặp nách Tam Tạng. Rút gươm Thất tinh đánh với Sa Tăng.

Sa Tăng đánh không lại, bị Ngân Giác bắt liền, cặp tại nách bên tả rồi nắm cương ngựa bay về động Liên Hoa kêu lớn rằng:

- Đại ca, tôi bắt thầy trò nó đủ mặt.

Kim Giác nói:

- Hiền đệ bắt còn sót Tôn Hành Giả, dám ăn thịt Tam Tạng đâu?

Ngân Giác cười rằng:

- Tôi đã dùng phép sơn, đè ba hòn núi trên mình Hành Giả, anh em ta chẳng ra sức cho nhọc công, sai vài đứa đem hai bửu bối mà giết nó.

Kim Giác hỏi:

- Dùng hai món nào đó?" Ngân Giác nói: "Dùng Tử kim hồng hồ lô của tôi và Dương chi ngọc tịnh bình của anh.

Kim Giác y lời đưa hai báu cho Tinh Tuế Quỷ và Lanh Lợi Trùng mà dặn rằng:

- Chúng bây đem hai báu nầy đến chót núi ấy, cầm trút bầu vàng ve ngọc xuống, rồi kêu Tôn Hành Giả, nếu nó lên tiếng thì thâu vào trong bầu, hoặc là thâu vào ve, nội một giờ ba khắc thì Hành Giả tiêu ra nước.

Hai quỷ vâng lệnh ra đi, còn Ngân Giáp truyền giam Tam Tạng, Sa Tăng và con ngựa lại đó.

Nói về Tôn Hành Giả bị ba hòn núi đè mình vẩy vùng không nổi, nghĩ nhớ thầy kêu lớn than rằng:

- Sư phụ Ôi! Khi trước thầy cứu tôi ra khỏi núi Ngũ hành, tôi quyết bảo hộ thầy tới Tây Phương cho thành chánh quả, không dè đến đây mắc nạn, thảm thiết dường nào, thầy chắc không khỏi miệng yêu tinh, thương hại Bát Giới, Sa Tăng và Tiểu long cũng đều liên lụy!

Thiệt là:

Cây cao chịu gió, xiu vì gió,

Người giỏi bia danh, lụy bởi danh.

Tôn Hành Giả khóc than inh ỏi.

Ngũ Phương yết đế đi ngang qua nghe rỏ liền hỏi thần núi rằng:

- Ba hòn núi nầy của ai?

Các thần núi nói:

- Của chúng tôi.

Yết Đế hỏi:

- Các ngươi dằn ai dưới núi.

Sơn thần nói:

- Chúng tôi không rõ".

Yết Đế nói:

- Ấy là Tề Thiên đại thánh Tôn Ngộ Không, nay đã tu theo phép Phật, bảo hộ Tam Tạng đi thỉnh kinh, sao các người nghe lời yêu tinh, cả gan dám đè Đại Thánh? Đến chừng thoát khỏi ra chắc các ngưới chết hết!

Các Sơn thần nghe nói kinh hãi, niệm chú thâu núi về.

Tôn Hành Giả chờ dậy giá thiết bãng bảo rằng:

- Sơn thần cúi xuống lập tức, ta đánh ít gậy giãi buồn.

Các thần núi lạy và thưa rằng:

- Xin Đại Thánh rộng dung thứ tội, bởi khi trước chúng tôi không hay.

Tôn Hành Giả nói:

- Hay cho Sơn Thần! Sợ yêu quái chớ không sợ Lão Tôn?

Sơn thần thưa rằng:

- Bởi yêu quái thần thông quảng đại, tài phép cao cường. Đọc thần chú bắt chúng tôi phân phiên hầu việc.

Tôn Hành Giả nghe nói than rằng:

- Trời ôi! Đã sanh Lão Tôn, còn sanh loài yêu ấy làm chi!

Xảy thấy hào quang xa xa lần đến Tôn Hành Giả hỏi các Sơn thần rằng:

- Các ngươi thường hầu việc trong động, có hiểu hào quang ấy là vật chi chăng? Sơn thần thưa:

- Chắc là yêu tinh đem bửu bối mà bắt Đại Thánh.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Như vậy thì vui lắm! Song chẳng hay chúng nó hay quen lớn với ai?

Sơn thần thưa rằng:

- Chúng nó ưa Toàn Chơn đạo sĩ.

Tôn Hành Giả nói:

- Vậy thời các ngươi lui về, để cho ta bắt nó.

Nói rồi biến ra đạo sĩ già.

Giây phút Tinh Tuế Quỷ Lanh Lợi Trùng đi vừa tới.

Đạo sĩ đưa gậy cản dưới chân.

Hai con yêu đều vấp té, đồng chờ dậy mà cự rằng:

- Sao thầy cản đường cho chúng tôi té?

Đạo sĩ nói:

- Đạo đồng, ta muốn làm quen, nên cho té một cái gọi là lễ ra mắt.

Hai con quái lấy làm lạ nói rằng:

- Đại vương tôi dùng bạc làm lễ ra mắt, còn thầy dùng té làm lễ ra mắt. Chắc là phong tục xứ khác, không phải người nước nầy.

Tôn Hành Giả nói:

- Ta ở núi Bồng Lai mới đến.

Hai con quái nói:

- Non Bồng là cảnh thần tiên.

Đạo sĩ nói:

- Ta là thần tiên, nên thần tiên nào ta cũng biết.

Hai con quái nghe nói đổi giận làm vui, bái mà thưa rằng:

- Chúng tôi là mắt thịt thai phàm, nói lầm lỗi xin thần tiên tha tội.

Đạo sĩ nói:

- Ta không chấp, quyết kiếm người lương thiện mà độ cho thành tiên. Ai muốn theo ta thì nói?

Hai con quái thưa rằng:

- Chúng tôi nguyện theo thầy tu luyện.

Đạo sĩ nói:

- Hai vị Ở đâu đến đây?

Hai con quái nói:

- Tôi vâng lệnh Đại vương, đi bắt Tôn Hành Giả.

Đạo sĩ hỏi:

- Phải là Tôn Hành Giả theo Tam Tạng thỉnh kinh chăng?

Hai con quái nói:

- Phải, chẳng hay thầy có biết nó chăng?

Đạo sĩ nói:

- Con khỉ ấy vo lễ với ta một lần. Để ta trợ lực với hai ngươi mà bắt nó.

Hai con quái thưa rằng:

- Đại vương thứ nhì của chúng tôi đã dằn nó dưới ba hòn núi, sai anh em tôi đem bữu bối mà thâu nó, thầy chẳng trợ lực làm chi.

Đạo sĩ hỏi:

- Làm sao mà thâu nó?

Tinh Tuế Quỷ thưa rằng:

- Hồng hồ lô của tôi, và Ngọc tịnh bình của người nầy, đều là vật báu, nếu cầm dộng đầu trúc miệng xuống mà kêu tên nó, nó lên tiếng thì thâu đặng tức thì. Lấy lá bùa nấy bịt miệng ve một giờ ba khắc thì tiêu ra nước.

Tôn Hành Giả nghe nói giựt mình, làm bộ vui vẻ cười rằng:

- Hai vị đưa bửu bối cho ta xem thử.

Hai con quái kia vâng lời.

Tôn Hành Giả nhắm nhía, và nghĩ thầm rằng:

- Nếu mình cầm hai báu mà nhảy đi, thì cũng không khó, song e mang tiếng giựt đồ! Chi bằng tính như vầy, thì khỏi hư thể diện.

Nghĩ rồi dưa hai báu lại mà nói rằng:

- Chắc các ngươi chưa thấy bửu bối của ta.

Hai con quái hỏi rằng:

- Sư phụ có bửu bối chi, xin cho chúng tôi xem thử?

Tôn Hành Giả nhổ lông đuôi hóa ra bầu hồ lô dài một thước bảy tấc, đưa ra nói rằng: - Hồ lô của ta lớn hơn nhiều lắm.

Lanh Lợi Trùng cầm nhắm nhía rằng:

- Bầu nầy coi thì rơm lắm, song chưa chắc là báu hơn.

Tôn Hành Giả hỏi:

- Sao chắc là không báu hơn?

Lanh Lợi Trùng thưa rằng:

- Hồ lô của sư phụ làm sao chưa rõ, chớ hai bửu bối của chúng tôi, mỗi cái đựng cả ngàn người.

Tôn Hành Giả nói:

- Bửu bối ngươi đặng cả ngàn người không lấy làm lạ, hồ lô ta thâu hết cả trời.

Hai con quái hỏi rằng:

- Thâu trời đặng hay sao?

Tôn Hành Giả nói:

- Sao lại không đặng.

Hai con quái đồng thưa rằng:

- Vậy xin sư phụ thâu thử coi thể nào?

Tôn Hành Giả nói túng rằng:

- Nếu trời chọc giận ta thì trong một tháng thâu bay tám lần, bằng không nửa năm chẳng thâu tới.

Lanh Lợi Trùng nói:

- Anh ơi, thưa với thầy mà đổi bửu bối đi?

Tinh Tuế Quỷ nói:

- Lẽ nào bầu thâu trời mà chịu đổi cho mình.

Lanh Lợi Trùng nói:

- Không thì mình bù thêm Ngọc tịnh bình cũng đặng.

Tôn Hành Giả nghe nói liền nắm tay Lanh Lợi Trùng mà hỏi rằng:

- Ngươi muốn đổi lắm sao?

Lanh Lợi Trùng thưa rằng:

- Thiệt thâu đặng trời, tôi đành đổi hai mà lấy một, nếu tôi nói dối là con thầy.

Tôn Hành Giả mừng thầm cúi đầu niệm thần chú, thâu Du thần mà vái thầm rằng: - Các vị làm ơn tấu với Thượng Đế rằng: "Lão Tôn bảo hộ Tam Tạng đi thỉnh kinh, nay mắc nạn tại núi Bình Đảnh, muốn đổi bửu bối cho yêu quái mà cứu thầy. Vậy xin cho Lão Tôn thâu trời một khắc cho xuôi việc thì cám ơn, nếu chẳng y lời xin, ta lên phá Linh Tiêu bửu điện", Du thần và Yết Đế y lời lên tấu, vân vân.

Thượng Đế nổi giận phán rằng:

- Yêu hầu thiệt cả gan, muốn thâu trời sao đặng.

Na Tra quì tâu rằng:

- Nếu Bệ Hạ ra ơn thì cũng có thể thâu đặng.

Thượng Đế phán rằng:

- Làm sao mà thâu?

Na Tra tâu rằng:

- Xin Bệ Hạ truyền chỉ đến Bắc Thiên Môn mượn cây cờ Tạo Diêu của Chơn Võ. Đứng tại Nam Thiên Môn mà trương cờ ấy, thì ban ngày tối sẫm như đêm. Gọi là phép thâu trời, mà trợ Tôn Ngộ Không cho xuôi việc.

Thượng Đế y tấu, Du Thần trả lời với Đại Thánh, vân vân.

Tôn Hành Giả mừng rỡ, nói với cặp quỷ rằng:

- Các ngươi trợn mắt cho lớn mà coi ta thâu trời.

Tôn Hành Giả quăng Hồ lô lên cao.

Na Tra liền dương cờ Tạo Diêu lập tức.

Hai con quái ngó khôn thấy nhau, kinh hãi hỏi rằng:

- Đương nói chuyện thì trời vừa đứng bóng, sao bây giờ như nửa đêm vậy?

Tôn Hành Giả nói lớn rằng:

- Thâu trời vào trong bầu, còn mặt nhựt đâu mà không tối.

Hai con quái hỏi rằng:

- Vậy chớ sư phụ Ở đâu mà nói đó?

Tôn Hành Giả nói:

- Ta đứng trước mặt các ngươi.

Cặp quỷ hỏi rằng:

- Không biết chỗ nầy là chốn nào vậy thầy.

Tôn Hành Giả nói:

- Đây là mé biển, phải đứng cho vững vàng, nếu bước một bước thì sẩy chân bảy ngày chìm chưa tới đáy biển.

Hai con quỷ kinh hãi nói rằng:

- Chúng tôi đã thấy phép nhiệm của thầy, xin trả trời lại như cũ.

Tôn Hành Giả niệm thần chú.

Na Tra nghe rõ liền cuốn cờ, nắng chang chang thiệt là chánh ngọ.

Hai con quái mừng rỡ cười rằng:

- Hay thiệt, hay thiệt, xin thầy đổi cho tôi.

Miệng nói tay trao, đổi chọn xong xả.

Tôn Hành Giả nhảy lên Nam Thiên Môn tạ Ơn Thái Tử Na Tra.

Na Tra trở về tâu lại.

Hồi 34
Chúa yêu giỏi dắn giựt Kim Thằng
Ðại Thánh phỉnh phờ thâu bửu bối
Nói về hai con quái mảng nhắm nghía giả Hồ lô, ngó lại không thấy đạo sĩ.

Lanh Lợi Trùng than rằng:

- Thần tiên cũng gạt người! Khi nãy nói độ chúng ta, bây giờ biến mất.

Tinh Tuế Quỷ nói:

- Tại lòng ngươi tham không cùng, đổi đặng phép mầu, còn muốn thành tiên nữa. Để thâu trời thử coi thể nào!

Lanh Lợi Trùng cầm Hồ lô quăng lên, rớt xuống như đồ bỏ.

Lanh Lợi Trùng kinh hãi nói rằng:

- Sao thâu trời không đặng! Có khi Tôn Hành Giả biến hóa mà gạt mình chăng? Tinh Tuế Quỷ đáp rằng:

- Ngươi nói không thông chi hết! Tôn Hành Giả núi đè gần dập mật, ra sao đặng mà gạt mình. Chắc là không niệm chú nên thâu chẳng đặng. Để ta thâu thử coi thể nào. Nói rồi cầm Hồ lô vái mà rằng:

- Nấu thâu không đặng, thì ta đánh thấu đền Linh Tiêu.

Nói rồi quăng lên nữa.

Khi ấy Tôn Hành Giả ở trên mây ngó thấy, liền dùn mình mà thâu lông.

Còn hai con quỷ thấy bầu rớt xuống nữa, đồng nói lớn rằng:

- Thâu không đặng chắc là bầu giả!

Nói vừa dứt tiếng coi lại mất Hồ lô.

Hai con quái kinh hãi nói rằng:

- Mới thấy bầu trời, ai dè mất đất!

Cùng nhau vạch cỏ kiếm hoài, mà chẳng có chi hết; Tinh Tuế Quỷ than rằng:

- Không xong, không xong! Bửu bối mất hết rồi, về tay không chắc phải đòn mà chết!

Lanh Lợi Trùng nói:

- Chi bằng trốn phức cho xong.

Tinh Tuế Quỷ nói:

- Bề nào cũng về, chớ trốn đi sao phải, bởi Nhị đại vương cưng ngươi lắm ta đổ thừa cho ngươi thì bị mắng ít điều chớ không tới nổi giết. Nói cùng có chết hết cũng đành, nếu trốn đi, sau mà chủ kiếm đặng thì chắc giết, thà về thú tội cầu may.

Nói rồi đồng trở lại.

Tôn Hành Giả nghe rõ, liền hóa con ruồi bay theo.

Nếu Tôn Hành Giả biến ra con ruồi, thì hai món báu để đâu cho đặng. Bởi bửu pháp ấy cũng như thiết bãng, muốn thâu nhỏ cũng như ý mình.

Nói về Kim Giác đương ngồi uống rượu với em, thấy cặp quỷ trở về lạy.

Ngân Giác hỏi rằng:

- Hai đứa bây thâu Tôn Hành Giả rồi chưa?

Tinh Tuế Quỷ và Lanh Lợi Trùng cứ lạy hoài không dám thưa lại.

Ngân Giác hỏi thét.

Tinh Tuế Quỷ thưa rằng:

- Tội chúng tôi đáng chết! Bởi chúng tôi đi mới bán lộ, gặp tiên ông núi Bồng Lai đón đường, ông ấy có Hồ lô và thâu trời cho chúng tôi xem thử, bởi thấy vật báu nên động lòng tham, năn nỉ xin đổi bầu nhỏ lấy bầu lớn. Ông ấy không chịu, nói bầu thâu trời không đổi bầu thâu người Lanh Lợi Trùng bù thêm Tịnh bình, mà đổi cho đặng. Chúng tôi không dè, tay phàm cầm của tiên không được. Mới quăng lên tập thâu thử, té ra bầu ấy biến mất đi; thiệt là lòng tham cho Đại vương, không dè phạm tội chết.

Nói rồi đồng lạy tam thiên.

Kim Giác nghe nói nổi giận, hét như sấm mà nói rằng:

- Chắc là Tôn Hành Giả biến hóa mà đổi Hồ lô! Không biết thần nào tha nó ra mà làm lộng như vậy.

Ngân Giác nói:

- Tôn Hành Giả rất nên vô lễ, đã ra khỏi núi thì thôi, sao lại giả thần tiên gạt trẻ thơ mà đổi bửu bối! Nếu ta bắt không đặng nó, thì không phải chúa động núi nầy.

Kim Giác hỏi rằng:

- Làm sao mà bắt nó cho đặng?

Ngân Giác nói:

- Năm món bửu bối tuy mất hai chớ còn ba: Gươm Thất Tinh, quạt Ba Tiêu sẳn đây, còn Hoảng kim thằng mẹ ta còn cất tại Yểm Long động, nay sai vài đứa qua mời mẹ ta đến mà ăn thịt Đường Tăng. Sẳn dịp đem Hoảng kim thằng mà trói Tôn Hành Giả luôn thể.

Kim Giác hỏi:

- Bâygiờ sai đứa nào đi?

Ngân Giác nói:

- Tinh Tuế Quỷ, Lanh Lợi Trùng là hai đứa đồ bỏ, đi ra sau cho rảnh, ta chẳng hề sai tới chúng bây, mau kêu Bà Sơn Hổ và Ỷ Hải Long, vào ta bảo.

Khi ấy Ngân Giác thấy Bà Sơn Hổ và Ỷ Hải Long bước tới liền dặn rằng:

- Hai người đến động Yểm Long mời cố qua ăn thịt Đường Tăng, và đem dây Hoảng kim mà bắt Tôn Hành Giả.

Hai yêu vâng lệnh đi liền. Con ruồi bay theo, đậu trên mình Bà Sơn Hổ ước chừng đôi ba dặm, muốn hiện hình mà đánh chết chúng nó, song lại sợ không biết đường đi. Tính rồi liền bay lên nhánh cây mà đậu, nhượng hai con yêu đi trước một đổi, Tôn Hành Giả biến ra yêu nhỏ, chạy theo kêu lớn rằng:

- Đợi tôi đi theo với.

Ỷ Hải Long ngó lại hỏi:

- Ai đó?

Tiểu yêu nói:

- Đại ca không biết tôi hay sao mà hỏi?

Ỷ Hải Long nói:

- Thiệt ta không biết mi là ai?

Tiểu yêu nói:

- Phải, thiệt anh không biết, bởi tôi là quân ngoài.

Ỷ Hải Long nói: "Quân ngoài đông người nên ta biết không hết, mà ngươi đi đâu bây giờ?

Tiểu yêu nói:

- Đại vương sai hai anh đi thỉnh cố, ăn thịt Đường Tăng, và dặn đem Hoảng Kim Thằng qua bắt Tôn Hành Giả, Đại vương sợ hai người đi trì huởn, nên sai tôi đi theo, chạy nãy giờ mệt quá!

Hai yêu nghe nói phải, nên không nghi, ba người đồng đi hỏa tốc.

Tiểu yêu hỏi rằng:

- Chẳng hay gần tới hay chưa?

Ỷ Hải Long chỉ nhà mà nói rằng:

- Ở trong rừng nầy.

Tiểu yêu đi sau, lấy thiết bảng đập đầu hai yêu lớn chết tươi.

Rồi tự mình hóa làm Ỷ Hải Long, lại nhổ một cái lông biến làm Bà Sơn Hổ. Lấy thiết bảng đập hai thây nát tan, vít vào cỏ rậm sợ người thấy sinh nghi.

Hai người giả vào rừng, thấy cửa động bằng đá, một cánh khép, một cánh mở.

Có con yêu cái giữ cửa hỏi rằng:

- Hai người ở đâu đến đây?

Ỷ Hải Long giả đáp rằng:

- Chúng tôi ở động Liên Hoa, qua mời cố ăn yến.

Con yêu giữ cửa cho hai người vào trong.

Ỷ Hải Long giả ngó thấy bà già ngồi giữa động, thì nghĩ rằng:

- Bổn phận mình đáng lạy ba người; là Thầy với Quan Âm, cùng Phật Tổ. Bây giờ phải lạy mẹ yêu lấy làm hổ thẹn. Bằng không quỳ lạy thì chúng sanh nghi, cũng bởi muốn cứu thầy phải chịu nhục mới đặng.

Nghĩ rồi bước tới quỳ lạy thưa rằng:

- Cố xưa rày mạnh khỏe?

Yêu già nói:

- Thôi, hai con chờ dậy vậy chớ ở đâu đến đây?

Ỷ Hải Long giả thưa rằng:

- Chúng tôi là Ỷ Hải Long và Bà Sơn Hổ vâng lệnh hai vị đại vương tại động Liên Hoa, mời cố qua ăn thịt Đường Tăng và xin đem Hoảng kim thằng mà trói Tôn Hành Giả.

Bà già ấy mừng rỡ mà khen rằng:

- Hai con ta thiệt là có hiếu.

Nói rồi truyền tiểu yêu khiêng kiệu, phủ màn chắn tứ bề.

Yêu già lên kiệu đi trước, Ỷ Hải Long và Bà Sơn Hổ giả theo sau.

Đến sáu dặm đường, tiểu yêu để kiệu xuống nghỉ.

Bị Ỷ Hải Long giả rút thiết bảng đập chết hết tiểu yêu.

Bà ấy vén màn mà dòm.

Ỷ Hải Long giả đập bể đầu mà chết.

Coi lại là hồ ly chín đuôi, Tôn Hành Giả hiện nguyên hình lấy đặng Hoảng kim thằng, để trong tay áo và mừng rỡ nói rằng:

- Tuy hai chúa động có năm báu, mà ba món bửu bối về ta.

Nói rồi nhổ bốn cái lông, biến ra Ỷ Hải Long, Bà Sơn Hổ, và hai yêu khiêng kiệu. Còn mình biến làm bà ấy, ngồi trên kiệu tử tế.

Khi đến cửa động Liên Hoa, hai yêu khiêng kiệu kêu mở cửa.

Tiểu yêu trong động mở cửa, rồi vào phi báo, vân vân...

Kim Giác, Ngân Giác đặt bàn hương án, đồng ra quỳ lạy tiếp nghinh.

Tôn Hành Giả mừng thầm rằng:

- Mình lạy một người, nay hai đứa lạy trả, bề nào cũng có lời.

Liền xuống kiệu đi thẳng vào động.

Bao nhiêu yêu quái đều lạy mừng, xướng hát đàn ca, làm cách trọng thể.

Kim Giác, Ngân Giác quỳ thưa rằng:

- Nay mẹ đến đây, có đem Hoảng kim thằng hay không?

Yêu già nói:

- Có.

Còn Bát Giới bị treo trên trính liền cười khan.

Sa Tăng lấy làm lạ hỏi nhỏ rằng:

- Anh vui nổi gì mà cười dữ vậy?

Bát Giới nói:

- Ta ngỡ là mẹ nó tới mà ăn thịt mình. Chẳng ngờ không phải.

Sa Tăng hỏi:

- Vậy chớ ai đó?

Bát Giới nói:

- Bật Mã Ôn chớ ai.

Sa Tăng hỏi:

- Sao anh hiểu đặng?

Bát Giới nói:

- Ta bị treo cao hơn ngươi, nên ngó thấy rõ sau đít có đuôi khỉ rỏ ràng.

Sa Tăng can rằng:

- Thôi, đừng nói dai lậu sự.

Khi ấy Tôn Hành Giả tỏ tai nghe rõ, liền hỏi rằng:

- Chẳng hay con rước mẹ qua có chuyện chi?

Kim Giác thưa rằng:

- Nay con bắt đặng Đường Tăng, nên mời mẹ qua ăn thịt cho trường thọ.

Tôn Hành Giả nói:

- Mẹ không muốn ăn thịt Đường Tăng, biểu trẻ cắt tai Bát Giới cho mẹ uống rượu. Bát Giới nghe nói rủa nhỏ rằng:

- Con khỉ mắc phong bày chuyện thất đứt, chọc ta la lớn bây giờ.

Xảy thấy tiểu yêu vào báo rằng:

- Đại vương ôi! Tôn Hành Giả đập chết cố; bỏ thây ngoài đường, nay giả hình qua đó.

Kim Giác nổi giận, rút gươm thất tinh chém liền.

Tôn Hành Giả hóa hào quang bay mất.

Kim Giác kinh hãi nói rằng:

- Em ôi! Thả thầy trò nó ra cho rãnh, để làm chi sanh sự khó lòng!

Ngân Giác nổi giận nói rằng:

- Sao anh không xét lại, cực khổ mười phần mới bắt đặng thầy trò nó, lẽ nào nay lại thả ra, xin đừng lo chi hết, tuy là Tôn Hành Giả thần thông quảng đại, song tôi chưa đấu phép đấu tài, để tôi kiếm nó đánh thử ba hiệp coi thể nào, bằng thua nó thì trả lại, nếu bắt đặng sẽ ăn thịt một lần.

Nói rồi nai nịt, cầm gươm ra cửa động hét lớn rằng:

- Tôn Hành Giả chạy đâu cho khỏi, trả bửu bối kẻo mà chết bây giờ!

Khi ấy Tôn Hành Giả ở trên mây, mắng rằng:

- Mi bất thông dám phạm nhằng ông ngoại, mau mau thả thầy trò ra thì vô sự, bằng chọc giận ông ngoại thì cả động không còn.

Nói rồi cầm thiết bảng nhảy xuống.

Ngân Giác giận quá nhảy bổ lên đánh liền.

Tôn Hành Giả nghĩ rằng:

- Mình đã đặng ba cái bửu bối, còn đánh với nó làm chi cho mất công. Vả lại đánh ba chục hiệp cũng cầm đồng, chi bằng dùng phép nó mà bắt nó. Nhắm lấy Hồ lô, Tịnh bình mà thâu cũng đặng, song lại e nó biết thế, không lên tiếng thì chẳng thành công. Vậy thì quăng dây Hoảng kim mà trói nó thì tiện lắm.

Nghĩ rồi liền quăng lên, chẳng ngờ sợi dây ấy có hai thần chú, hễ niệm thần chú cẩn thằng thì buộc lại, bằng niệm chú tòng thằng thì dây tháo ra.

Ngân Giác thấy quăng dây ấy trói mình, liền niệm chú tòng thằng. Dây tháo ra lập tức. Rồi lấy dây quăng Tôn Hành Giả, niệm chú cẩn thằng, trói riết Tôn Hành Giả. Tôn Hành Già biến nhỏ chừng nào nó riết theo chừng nấy, vấn từ cẳng cho tới đầu, Ngân Giác chém bảy tám gươm không trầy da một chút, túng phải xách về động, nói lớn rằng:

- Tôi bắt đặng Tôn Hành Giả về đây.

Kim Giác mừng rở ngợi khen.

Truyền trói Tôn Hành Giả tại cột nhà, lấy Hồ lô và Tịnh bình lại, rồi dọn tiệc ăn mừng tại nhà sau.

Khi ấy Bát giới ở trên trinh cười hả hả nói rằng:

- Đại ca ôi! Hết trông ăn tai tôi mà uống rượu.

Tôn Hành Giả nói:

- Mi đừng ào ào để ta lo thoát thân mà giải cứu.

Nói rồi hóa hình nhỏ. Bởi không có niệm chú cẩn thằng, nên dây không riết nữa. Lấy thiết bảng hóa ra cái đục, đục đứt cái khoen trong cổ, ra khỏi nhổ lông hóa hình thế tại đó, còn mình hóa ra tiểu yêu đứng giữ một bên, tính kế ăn cắp bửu bối, liền chạy ra sau thưa rằng:

- Đại vương ôi! Tôn Hành Giả phá quá gần hư Hoảng kim thằng, xin cho dây khác lớn hơn mà cột thế mới đặng.

Kim Giác nghe nói phải, liền mở dây buộc lưng đưa cho nó, tiểu yêu giả lãnh dây đai ra trói chắc chắn, lấy Hoảng kim thằng bỏ vào tay áo, nhổ lông hóa dây khác, đem trao cho Kim Giác, Kim Giác ơ hờ cất lấy.

Còn tiểu yêu giả chạy ra cửa động, hiện hình khiêu chiến, tiểu quỷ vào phi báo.

Kim Giác lấy làm lạ nói rằng:

- Tôn Hành Giả bị trói tại đây, còn Tôn Hành Giả nào khiêu chiến ngoài cửa?

Ngân Giác nói:

- Để tôi đem hồ lô bắt nó.

Nói rồi ra cửa động hỏi rằng:

- Ngươi là ai đó?

Tôn Hành Giả nói:

- Ta là Hành Giả Tôn, nghe nói mi bắt anh ta, nên tìm báo oán.

Ngân Giác nói:

- Ta chẳng đánh với mi làm chi. Ta kêu một tiếng mi dám ơi, thì ta chịu phục.

Tôn Hành Giả nói:

- Mi kêu một ngàn tiếng ta cũng dám ơi.

Ngân Giác cầm hồ lô trút xuống, kêu rằng:

- Hành Giả Tôn.

Tôn Hành Giả nghĩ rằng:

- Không phải thiệt tên, nhắm lên tiếng cũng vô sự.

Nghĩ rồi liền ơi một tiếng, bị thâu vào bầu, mới biết vật ấy bắt tiếng người mà thôi, không luận họ tên thật giả.

Khi ấy Tôn Hành Giả vào trong bầu, bị Ngân Giác kiếm bùa, nhảy ra không đặng, coi tối như thể ban đêm.

Tôn Hành Giả nghĩ rằng:

- Trước khi hai tiểu yêu gần đổi bầu có nói rằng: Thâu vào bầu ấy một giờ ba khắc thì tiêu ra nước. Song Lão Tôn bị Thái Thượng lão quân nhốt trong lò bát quái, đã thành da đồng xương sắt, mắt lửa tròng vàng, nhắm không lẻ tiêu tan ra nổi, song lo một điều ra không đặng mà thôi.

Nói về Ngân Giác vào động nói với anh rằng:

- Tôi đã thâu Hành Giả Tôn vào bầu rồi. Nó là em Tôn Hành Giả.

Kim Giác mừng rỡ nói rằng:

- Em để một lát, chừng nào lắc trong bầu nghe ọc ạch sẽ gở bùa mà trút ra.

Tôn Hành Giả nghe rõ nghĩ rằng:

- Mình không tiêu ra nước, chắc nó để đời, chi bằng ta tiểu gạt nó, song nghĩ lại dơ áo khó lòng.

Liền nhổ nước miếng hoài, giả đò tiêu ra nước, trông nó gở bùa mà nhảy ra.

Khi ấy hai anh em mê uống rượu, hơn một giờ không thèm lúc lắc.

Tôn Hành Giả đợi không đặng, liền ré lớn rằng:

- Trời ôi! Giò cẳng đều tiêu hết!

Kim Giác, Ngân Giác cũng không thém nói tới.

Tôn Hành Giả ré lớn rằng:

- Mẹ Ôi! Lưng bụng đều tiêu hết!

Kim Giác nói:

- Tiêu tới lưng thì gần nát hết, em gỡ bùa coi thử thể nào.

Tôn Hành Giả liền nhổ lông biến ra nửa khúc đầu. Còn mình hóa làm con ve nhỏ, đậu dựa miệng bầu.

Ngân Giác lúc lắc nghe ọc ạch liền gỡ lá bùa, con ve nhỏ bay mất hóa ra Ỷ Hải Long lại đứng một bên.

Còn Ngân Giác đưa bầu cho anh coi, chỉ còn đầu với tay chưa tiêu hóa, Kim Giác nói:

- Em đậy lại cho tiêu hết sẽ hay, lo uống rượu kẻo lạt.

Ngân Giác dán lá bùa lại.

Kim Giác rót một chén rượu đưa hai tay mà nói rằng:

- Thưởng hiền đệ có tài bắt đặng anh em Tôn Hành Giả.

Còn Tôn Hành Giả biến làm Ỷ Hải Long đứng hầu một bên đó.

Ngân Giác lật đật trao bầu hồ lô cho Ỷ Hải Long cầm, rồi hai tay tiếp bưng chén rượu mà uống.

Uống rồi rót chén khác mà kính anh.

Tôn Hành Giả thấy hai anh em thù tạc một hồi, lén bỏ bầu hồ lô vào tay áo, rồi cũng hóa Ỷ Hãi Long cầm bầu giả đứng đó.

Ngân Giác lấy hồ lô lại rồi cũng uống hoài.

Còn Hành Giả tráo đặng bửu bối chạy ra ngoài mừng quýnh.

Dầu mà trí xảo cao tay quỷ ,

Chi khỏi hồ lô lại họ Tôn.


Hồi 35
Chúa động bị thâu về với chủ
Ngộ Không đặng báu trả cho Tiên
Khi ấy Tôn Hành Giả lấy đặng hồ lô, liền ra cửa động kêu lớn rằng:

- Bây vào báo cho mau, ta là Tôn Hành Giả tới khiêu chiến.

Kim Giác đương uống rượu, nghe báo kinh hãi nói rằng:

- Hiền đệ, không xong rồi, chắc là chọc ổ giộc nên nó tới cả bầy!

Ngân Giác nói:

- Xin anh đừng sợ, bầu nầy đựng cả ngàn người, dầu thâu hết cả bầy cũng còn lõng lẻo, để tôi ra bắt nó cho anh coi.

Nói rồi xách bầu ra cửa động, hăm hở hỏi rằng:

- Mi là ai? Dám đến đây ó ré. Ta chẳng cần đánh với mầy làm chi, nếu ta kêu một tiếng, mi dám ơi thì ta chịu phục.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Ngươi kêu thì ta lên tiếng, rồi ta kêu ngươi, ngươi dám ơi chăng?

Ngân Giác nói:

- Ta có hồ lô, nên kêu ngươi mà bắt, chớ ngươi kêu ta làm chi?

Tôn Hành Giả nói:

- Ta cũng có hồ lô như vậy.

Ngân Giác nói:

- Nếu quả có hồ lô thì giơ lên ta xem thử?

Tôn Hành Giả lấy bầu trong tay áo, đưa lên nói rằng:

- Ngươi xem thử coi thể nào?

Ngân Giác xem rõ, kinh hãi nghĩ rằng:

- Bầu ấy giống tạc như mình.

Nghĩ rồi nói rằng:

- Hành Giả Tôn, bầu ấy gốc ở đâu mà ra đó?

Tôn Hành Giả không hiểu căn cước, liền hỏi trí rằng:

- Ngươi nói sự tích hồ lô của ngươi ra thể nào, rồi ta sẽ cắt nghĩa.

Ngân Giác nghĩ không kịp, liền nói thiệt rằng:

- Trong đời hổn độn mới qua, trời đất vừa phân biệt, sanh ra nước non cây cỏ, tại chân núi Côn lôn mọc một dây bầu tiên, đến khi Nữ Oa rèn núi vá trời, thì ông Thái Thượng lão quân dạo đến chân núi ấy, thấy trái bầu đỏ liền hái mà đựng thuốc Huờn đơn, nay về tay ta, thiệt là bửu bối.

Tôn Hành Giả nói:

- Ngươi nói còn thiếu một chút. Bởi Thái Thượng lão quân thấy dưới chân núi Côn lôn có một dây bầu hai trái đỏ, một trái đực, một trái cái, đều hái hết cả hai. Mà của ta là hùng hồ lô, bầu đực, còn của ngươi chắc là thư hồ lô.

Ngân Giác nói:

- Không chắc của ai đực cái, hễ bầu nào thâu người đặng là báu mà thôi.

Tôn Hành Giả nói:

- Phải, vậy thì ta nhường ngươi thâu trước.

Ngân Giác mừng quá, cầm bầu trút xuống, nhảy lên cao kêu lớn rằng:

Hành Giả Tôn!

Tôn Hành Giả chẳng sợ chút nào, ơi luôn tám, chín tiếng.

Ngân Giác thâu không đặng, tức mình nhảy xuống đấm ngực than rằng:

- Ai dè đâu lạ lùng như vậy, cái thấy đực mà kỵ, không dám thâu vào!

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Bây giớ tới phiên chồng kêu vợ, thì phải dạ cho mau!

Nói rồi cầm hồ lơ nhảy lên mây, trút miệng xuống kêu lớn rằng:

Ngân Giác đại vương!

Ngân Giác không dám nuốt lời, liền ơi một tiếng, bị hồ lô thâu vào, Tôn Hành Giả lấy bùa bịt lại.

Khi ấy Tôn Hành Giả xách bầu và đi và lúc lắc, vì đường xá gập ghềnh, nghe sục sạc như thầy bói bỏ tiền vào ống lúc lắc mà coi quẻ.

Tôn Hành Giả nói chơi rằng:

- Ta cầm Phát khóa đồng là ống bói trong tay. Vậy coi thử một quẻ, chừng nào thầy ra khỏi động.

Nói rồi tay thì lắc, miệng thì vái:

- Ưng ai: Văn Vương, Khổng Tử, Đào Hoa thánh mẫu, Quỷ Cốc tiên sanh.

Và vái và đi vào cửa động.

Khi ấy tiểu yêu xem thấy, kinh hãi vào báo rằng:

- Không xong rồi! Đại vương thứ nhì đã bị Hành Giả Tôn thâu vào bầu, lúc lắc giả đò coi quẻ.

Kim Giác nghe báo thất sắc, nhào xuống đất khóc rằng:

- Hiền đệ Ôi! Từ khi anh em ta trốn xuống đầu thai, ngỡ là chắc làm chúa động, không dè bị mấy sãi ấy chặt đứt tay chân ta!

Nói rồi khóc vang. Các tiểu yêu cũng động lòng rơi lụy.

Nói về Bát Giới bị treo trên trính, nín không đặng, liền kêu lớn nói rằng:

- Chúa động ôi! Lịnh đệ thác rồi, khóc cũng không sống lại, chi bằng dọn cơm chay mà đãi thầy trò ta, sẽ tụng văn sanh cho siêu độ.

Kim Giác nổi giận, muốn ăn thịt Bát Giới.

Kế tiểu yêu báo rằng:

- Hành Giả Tôn đi gần tới cửa.

Kim Giác bảo tiểu yêu coi còn mấy bửu bối.

Tiểu yêu thưa rằng:

- Còn gươm Thất tinh, quạt Ba tiêu và Tịnh bình.

Kim Giác nói:

- Tịnh bình cũng như hồ lô, thiệt là đồ phản chủ, còn dùng nó làm chi. Chúng bây hãy đưa quạt Ba tiêu và Thất tinh kiếm cho ta.

Tiểu yêu y lời, đưa hai bửu bối.

Kim Giác giắt quạt sau bâu áo, cầm gươm ra cửa động mắng rằng:

- Mi là loài giộc, giết mẹ ta rồi hại em ta, quyết phân thây mi mà báo oán.

Tôn Hành Giả nói:

- Mi trả thầy ta và các sư đệ, thì đặng còn hồn, bằng cự với ta chắc là tuyệt tộc. Kim Giác nổi giận chém một gươm.

Tôn Hành Giả đỡ rồi đánh lại, đánh hai mươi hiệp cầm đồng.

Kim Giác kêu tiểu yêu đồng trợ chiến.

Tôn Hành Giả bị vây chính giữa, liền nhổ lông nhai nhỏ phun ra, hóa ra hơn mấy trăm hình, đánh tiểu yêu chạy vở, và la lớn rằng:

- Đại vương ôi! Hành Giả đông cả ngàn, chúng tôi đánh sao cho lại.

Kim Giác thấy tiểu yêu và la và chạy. Nổi giận lấy ba tiêu phiến quạt liền, lửa dậy rần rần bốn phía.

Tôn Hành Giả dùng mình thâu lại lông biến mất, hóa ra một hình giả chạy riết như tên, còn mình hiện vào động, đánh tiểu yêu chết hết, chưa kịp cứu thầy, ngó thấy trên bàn chiếu hào quang, liền men vào đó, coi lại là ngọc tịnh bình.

Tôn Hành Giả mừng lấy cất đi, ra cửa động coi thử.

Thấy Kim Giác vừa tới, chém một gươm thất tinh.

Tôn Hành Giả thất kinh nhảy mất.

Khi ấy Kim Giác vào động, thấy tiểu yêu bị giết hết, động lòng cất tiếng khóc than rồi ngồi kê mặt trên bàn mà nghỉ mệt.

Còn Tôn Hành Giả men vào thám thính, thấy Kim Giác cúi mặt ngáy pho pho, còn cầm cây gươm trong tay, giắt cây quạt trên cổ.

Tôn Hành Giả lén rút cây quạt.

Kim Giác giựt mình thức dậy, xách gươm báu rượt theo.

Tôn Hành Giả giắt quạt sau lưng, lấy thiết bảng cự chiến.

Kim Giác đánh đặng bốn mươi hiệp, rồi bại tẩu, chạy qua động Yểm Long.

Tôn Hành Giả vào động Liên Hoa, mở Tam Tạng, Sa Tăng, Bát Giới, thầy trò mừng rỡ, lục gạo nấu cơm ăn.

Nói về Kim Giác qua động Yểm Long, gom các tiểu yêu nữ quái, kéo qua nói với người cậu ruột là Hồ Ấ Thất đại vương, hiệp binh qua đánh báo oán.

Rạng ngày Tôn Hành Giả chờ dậy, ra cửa động ngó chừng thấy lũ yêu gần tới, Tôn Hành Giả vào kêu Bát Giới nói rằng:

- Yêu tinh viện binh tới đánh nữa, vậy ngươi ra trợ chiến cùng ta, để Sa Tăng bảo hộ thầy và coi chừng con ngựa.

Tôn Hành Giả và Bát Giới ra cửa động, thấy người mặt trắng râu dài, tay cầm cây kích lớn, hét rằng:

- Ta quyết đâm chết con khỉ khốn nầy, mà báo cừu cho chị ruột.

Tôn Hành Giả mắng rằng:

- Mi là loài ngu si, chưa biết tài ông ngoại. Đố mi chạy đâu cho khỏi, ta quyết đập một hèo.

Nói rồi hổn chiến, Hồ Ấ Thất chạy tuốt.

Tôn Hành Giả đuổi theo, bị Kim Giác cản lại đánh nhầu, Hồ Ấ Thất cũng day lại đánh nữa.

Bát Giới vác đinh ba đập liền.

Bốn người hổn chiến với nhau, chưa biết ai thắng bại.

Khi ấy Kim Giác kêu tiểu yêu, nữ quái phủ vây.

Còn Sa Tăng ở trong động ngó thấy ngứa nghề, xách gậy ra giải vây loạn đã.

Hồ Ấ Thất coi mới cự không lại, day lưng chạy nhào.

Bị Bát Giới đuổi theo đập chết, hiện nguyên hình là xác hồ ly.

Kim Giác thấy cậu chết thì nóng ruột, liền bỏ Tôn Hành Giả theo đánh Bát Giới báo cừu, có Sa Tăng trợ chiến với Bát Giới.

Kim Giác cả thua vụt chạy. Sa Tăng, Bát Giới rượt theo.

Còn Tôn Hành Giả cầm Tịnh bình trút miệng xuống, nhảy lên cao kêu lớn rằng:

- Kim Giác đại vương ôi!

Kim Giác ngỡ yêu tinh kêu mình, liền ơi một tiếng, chẳng ngờ bị hút vào bình.

Tôn Hành Giả lấy bùa niêm lại, thấy gươm Thất tinh sa xuống đất, liền lấy cầm tay.

Ba anh em về động thuật chuyện cho thầy nghe, Tam Tạng mừng rỡ mười phần cởi ngựa ra khỏi động.

Thầy trò đi một đổi, thấy một người mù ngồi bên lộ nắm cương ngựa Tam Tạng mà nói rằng:

- Hòa Thượng trả bửu bối cho ta, thì mới đi đặng.

Tôn Hành Giả biết là Thái Thượng lão quân biến hóa, liền bái mà nói rằng:

- Chẳng hay Lão Tổ đến đây có chuyện chi?

Thái Thượng hiện lên mây nói rằng:

- Tôn Hành Giả, trả bửu bối cho ta.

Tôn Hành Giả nhảy lên mây hỏi rằng:

- Ông đòi bửu bối chi?

Thái Thượng lão quân nói:

- Hồng hồ lô là bầu ta đựng thuốc, Tịnh bình là bầu ta đựng nước, gươm Thất tinh là đồ ta trộn thuốc, Ba tiêu phiến là đồ quạt lửa, Hoảng kim thằng là dây đai ta; còn Kim Giác là đồng tử coi lò vàng, Ngân Giác là đồng tử coi lò bạc. Bởi chúng nó ăn cắp năm báu ấy, xuống trung giới làm yêu, ta kiếm tìm không đặng. Nay ngươi bắt đặng thì thành công phải trả lại cho ta hết thảy.

Tôn Hành Giả nói:

- Ông không nghiêm cấm, thả gia tướng làm yêu, e không khỏi phạm luật.

Thái Thượng lão quân nói:

- Ta chẳng can chi hết. Ấy là tại hoạn nạn của thầy trò các ngươi, nếu không vậy sao thành chánh quả.


Hồi 36
Vào chùa báu, Ngộ Không dọa sãi
Ngụ am thanh, Tam Tạng xem trăng
Tôn Hành Giả nghĩ lại biết rồi, bởi tại thầy mình mắc nạn, liền nói xuôi rằng:

- Vậy thời tôi trả đủ cho ông.

Thái Thượng lão quân thâu năm báu, đổ Hồ lô và Tịnh bình, có hai ngọn hào quang sáng bay ra, Thái Thượng lão quân chỉ một cái, hiện ra hai vị đồng tử như thường, đồng về cung Đâu Suất.

Khi ấy Tôn Hành Giả xuống thưa lại với thầy, rồi cùng nhau đi tới.

Ngày kia gặp hòn núi cản đường.

Tam Tạng nói:

- Núi đó rất cao, đồ đệ phải coi chừng ma quỷ.

Tôn Hành Giả nói:

- Xin thầy đừng lo sợ, hễ trong dạ vững vàng, thì tự nhiên vô sự.

Tam Tạng nói:

- Đồ đệ Ơi! Sao mà đi hoài không tới Tây Phương? Kể từ ra khỏi thành Trường An đến nay đã năm năm mà đường đi còn thăm thẳm!

Tôn Hành Giả cười hả hả nói rằng:

- Thầy ôi! Đi chưa tới đâu là đâu, cũng như mới ra khỏi cửa ngõ, thầy đừng hỏi thăm xa gần chi hết, hãy bền lòng đi mãi, thì cũng có thuở đến Tây Phương.

Thầy trò đi tới mặt trời lặn, thấy dựa chân núi có một kiểng chùa lớn, Tam Tạng giục ngựa tới, thấy ngoài cửa núi có treo tấm biểng đề năm chữ: Sắc Tử Bửu Lâm Tự.

Biết là cảnh chùa Bửu lâm của vua lập.

Tôn Hành Giả hỏi:

- Ai vào chùa ấy nói với sãi xin ngủ nhờ?

Tam Tạng nói:

- Để ta đi cho.

Nói rồi xuống ngựa cầm gậy bước vào. Thấy vòng cửa ngoài có hai cốt ông Kim Cang, vòng cửa giữa thấy có cốt bốn ông Thiên Vương đứng bốn phía.

Bốn ông Thiên Vươngấy là: Trì Quốc thiên vương, Đa Văn thiên vương, Tăng Trưởng thiên vương, Quãng Mục thiên vương.

Đến vòng cửa trong có bốn cây tòng sum sê. Bước tới nữa là chùa lớn.

Tam Tạng bước vào lạy Phật và lạy bàn thờ Quan Âm.

Phía thờ Quan Âm cũng rộng giống hịt cảnh Nam Hải rõ ràng dựa vách tường đều tạc hình tôm cá rùa trạch ẩn trong sông.

Tam Tạng xem thấy gật đầu mà nói rằng:

Rất đổi cá rùa còn lạy Phật,

Huống chi người thế chẳng tu hành.

Xảy thấy đạo sĩ bước tới, Tam Tạng bái và thưa rằng:

- Đệ tử ở nước Đại Đường, đi qua Tây Phương thỉnh kinh lỡ đường xin cho tá túc. Đạo sĩ nói:

- Sư phụ Ôi, tôi là kẻ thắp hương quét đất, đánh trống dộng chuông. Bởi chùa nầy của vua, nên có đại sư là sãi quan làm chủ, nên tôi không dám tự chuyên, để vào thưa lại đã.

Nói rồi vào phương trượng bạch rằng:

- Có người đến chùa nên tôi bạch cho lão gia đặng rõ.

Sãi quan mặc áo tràng mở cửa nghinh tiếp.

Ngó thấy Tam Tạng, nổi giận mắng đạo sĩ rằng:

- Đạo sĩ, tội ngươi đáng đánh lắm, ngươi há chẳng biết ta là sãi quan, nếu có bực chức phận đi dâng hương, ta mới ra nghinh tiếp, chớ như Hòa Thượng nầy là sãi du phương lỡ bước, kiếm chỗ ngủ nhờ, lẽ nào ta mời vào phương trượng! Bảo nằm chèo queo ngoài hàng ba mà ngủ, phải báo với ta làm chi.

Nói rồi trở vào phương trượng.

Tam Tạng ứa nước mắt, than rằng:

- Tội nghiệp thì thôi, thiệt là đi xa xứ thì người khi, tôi tu hành từ nhỏ đến nay, chẳng ăn môït miếng đồ mặn, không biết kiếp trước tội chi lắm, nên nay hằng gặp kẻ chẳng lành, không cho tá túc thì thôi, nỡ nào biểu nằm chèo queo dưới đất! Tuy vậy mình cũng phải thủ lễ, vào ra mắt coi thử thể nào!

Nói rồi đi thẳng vào phương trượng, thấy sãi quan cổi áo rộng, ngồi đỏ mặt phừng phừng!

Tam Tạng bái mà nói rằng:

- Đệ tử ra mắt đại sư.

Sãi quan không ưng bụng, đáp lễ gọi là, rồi hỏi rằng:

- Ngươi ở đâu đến đây?

Tam Tạng bạch rằng:

- Đệ tử ở nước Đại Đường, vâng chỉ đi qua Tây Phương thỉnh kinh, bởi lỡ đường xin vào tá túc, rạng đông nhứt tôi sẽ dời chân, xin sư phụ từ bi rộng lượng.

Sãi quan hỏi:

- Ngươi đi thỉnh kinh sao không thuộc đường. Đi bốn năm dặm nữa, đến tiệm Tam thập lý. Tiệm ấy rộng rãi có phòng ngủ, có bán cơm, vào đó thì tiện lắm, chớ chỗ phương trượng ta không rộng, khó nỗi giúp người. Bởi lời xưa có câu rằng:

Cọp dữ chạy ngoài đường,

Mỗi nhà đều đóng ngõ,

Tuy không vấu tới ai,

Tiếng hung người đã rõ.

Tam Tạng hỏi rằng:

- Người tu mà có tiếng dữ hay sao ?

Sãi quan nói:

- Năm trước có nhiều sãi đi thất thơ thất nghiệp, tới ngồi xo rỏ ngoài cửa chùa, ta thấy chúng nó quần áo lang thang, mão giày không có, bộ vó nghèo nàn như vậy, nên mời vào phương trượng đãi cơm, lại đưa quần áo thay đổi, chẳng ngờ lũ ấy thấy ngon cơm ngọt canh, thì ở mãi không chịu dời chân, ở bảy tám năm ta cũng rán mà nuôi, ngặt còn sanh sự nữa!

Tam Tạng hỏi:

- Chẳng hay sanh sự ra sao?

Sãi quan nói:

- Ở không thì quăng đá vô vách tường, rắn mắc nhổ đinh phá cửa, mùa hạ thì rấp ngõ, mùa đông lại bẻ song, ăn cắp trà đổi đồ ăn, rồi rốt lại trộm dầu bàn phật, lo ăn uống mà thôi!

Tam Tạng nghe nói than rằng:

- Tội nghiệp thì thôi! Đệ tử chẳng như các sãi ấy.

Nói rồi lau nước mắt trở ra.

Khi ấy Tôn Hành Giả thấy thầy trở ra châu mày ủ mặt; liền nóng mắt hỏi rằng:

- Thầy bị đánh hay bị mắng vậy?

Tam tạng lắc đầu than rằng:

- Họ không cho tá túc.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Tại thầy nói không xuôi, để tôi vào coi thử.

Nói rồi cầm thiết bảng xong vào. Thấy đạo sĩ thắp hương các bàn phật.

Tôn Hành Giả xì một tiếng, đạo sĩ giựt mình té nhào, mới lồm cồm chờ dậy, thấy mặt dị kỳ, ngã lăn bò càng vào phương trượng.

Khi ấy sãi quan thấy đạo sĩ mặt mày hơ hãi, run lặp cặp, báo rằng:

- Lão gia ôi, có Hòa Thượng khác đến nữa!

Sãi quan giận rằng:

- Ngươi thiệt bất thông quá, ta đã dặn ngươi bảo chúng nó nằm ngoài hàng ba, sao còn vào báo nữa. Nếu ngươi không nhớ lời dặn, ta đánh hai chục kẻo quên.

Đạo sĩ bạch rằng:

- Lão gia ôi! Hòa Thượng nầy không phải như thầy hồi nãy. Ông nầy có lông đầy mặt, tướng tợ Thiên Lôi, xách thiết bảng kiếm người mà đánh!

Sãi quan nghe nói, liền mở cửa mà dòm, thấy bộ tướng dữ dằn, thất kinh đóng cửa. Tôn Hành Giả dộng bay cửa mà nói lớn rằng:

- Cái người xấu xa, buông lời lỗ mãng. Tuy kiểng chùa nầy lớn hơn hết mà chưa tới ba trăm căn, phòng ở đâu cả ngàn mà dọn cho nó ngủ!

Đạo sĩ bạch rằng:

- Sư phụ Ôi! Tôi đã vỡ mật kinh tâm, nói không ra tiếng, xin sư phụ trả lời.

Sãi quan làm gan nói rằng:

- Bớ thầy ngủ nhờ, bởi chùa chiền tôi ở thú quê mùa, nên cầm khách không đặng, xin đến chỗ khác mà tá túc thì tiện hơn.

Tôn Hành Giả thổi thiết bãng lớn bằng cái chậu, dựng chính giữa nói lớn rằng:

- Nếu hòa thượng không cho ta ngủ nhờ, thì dọn đồ đi hết thảy.

Sãi quan nói:

- Chùa tôi năm trăm sãi, biết dọn đi đâu bây giờ?

Tôn Hành Giả nói:

- Nếu không chịu dọn ra thì cúi cho ta đánh một gậy!

Sãi quan bảo đạo sĩ rằng:

- Thôi, ngươi cúi chịu đánh một gậy cho êm.

Đạo sĩ:

- Trời ôi! Ông coi cây gậy lớn bằng cái mâm, tôi chịu một hèo sao nỗi.

Tôn Hành Giả nói:

- Phải, ngươi chịu nửa roi cũng tan xác, để ta đánh thử một món cho ngươi coi!

Nói rồi ngó quanh quất, thấy con sư tử bằng đá ngoài sân, liền đập một cái tan nát. Sãi quan ở trong phòng, dòm lỗ hở ngó thấy kinh hãi nói rằng:

- Thiệt cây gậy lão gia nặng quá, tôi chịu cho ngủ nhờ.

Tôn Hành Giả nói:

- Như vậy thì ta không đánh ngươi, mà trong chùa hết thảy bao nhiêu sãi?

Sãi quan nói:

- Nội chùa tôi năm trăm sãi, các hạng hai trăm tám mươi lăm căn phòng.

Tôn Hành Giả nói:

- Rồi thời truyền năm trăm sãi, mặc y khâu ra rước thầy ta.

Sãi quan nói:

- Xin lão gia đừng đánh, tôi truyền chúng đem võng khiêng thầy vào.

Nói rồi bảo đạo sĩ đi truyền lập tức.

Thương hại cho người nhát, không dám đi gần Hành Giả, liền chun lỗ hẻm đi vòng ra đến trước Đại hùng bửu điện, đánh trống dộng chuông.

Các sãi đồng tựu đến, hỏi có chuyện chi?

Đạo sĩ nói:

- Mau mau mặc áo tràng đi theo Tăng quan nghinh tiếp quý khách.

Các sãi vâng lời, kẻ thì mặc cà sa, người thì bận phá nạp, có kẻ không có áo tràng, thì mặc nhựt bình, ngặt có một sãi nghèo quá, không áo mà bận, túng phải lấy quần tròng vào hai tay giả đò áo rộng, ngỡ là trà trộn theo người không ai ngó thấy, rủi bị Tôn Hành Giả lanh con mắt, bước tới hỏi rằng:

- Ngươi bận cái áo gì lạ vậy?

Sãi ấy thưa rằng:

- Tôi xin vải ngoài thành, đem về đây may quấy quá mà bận đở, vì chốn nầy không có thợ may!

Tôn Hành Giả cười ngất.

Sãi quan dẫn thầy chùa ra cửa núi, đồng quì xuống luôn luôn.

Sãi quan thưa rằng:

- Xin mời Đường lão gia vào phương trượng.

Nói rồi rắc rắc lạy đưa.

Tam Tạng ái ngại, đáp lễ bảo rằng:

- Xin mấy thầy chờ dậy.

Sãi quan mời Tam Tạng lên võng, các sãi khiêng vào, còn kẻ thì cỏng Bát Giới, người thì cỏng Sa Tăng, thầy thì gánh đồ, đạo thì dắt ngựa, đồng rước vào phương trượng, dọn cơm nước đãi đằng, Tam Tạng tạ Ơn.

Sãi quan chịu lỗi.

Tam Tạng hỏi rằng:

- Tính cho thầy trò tôi ngủ tại liêu nào?

Sãi quan thưa rằng:

- Tiểu tăng tính rồi, xin lão gia an dạ.

Nói rồi truyền dọn bốn căn thanh tịnh, giăng mùng trãi nệm, và bảo cắt cỏ cho ngựa ăn tử tế.

Khi ấy Sãi quan và đạo sĩ với mấy thầy trộng, đều mời thầy trò vào liêu, đèn đuốc sáng như ban ngày, mấy người ấy đứng hai hàng hầu hạ.

Tam Tạng bảo rằng:

- Xin mấy vị về liêu, để thầy trò tôi nghỉ.

Các sãi vâng lời, mới dám đi nghỉ.

Còn Tam Tạng mở cửa ra ngoài đi dạo giải buồn, thấy trăng tỏ, liền kêu các đồ đệ ra xem.

Hành Giả, Bát Giới và Sa Tăng đều ra thưởng nguyệt.

Tam Tạng hứng cảnh ngâm một bài thơ rằng:

Phách quế gương trong thấy rõ ràng,

Sơn hà muôn cụm bóng chang chang,

Rọi trên ngọn cỏ sương in ngọc,

Gieo dưới dòng sông nước trỗ vàng,

Thế nọ còn nhiều tròn khuyết nữa,

Đêm nầy nhờ chút khói mây tan,

Canh khuya chùa vắng bâng khuâng dạ,

Chẳng biết ngày nào vlại cố bang.

Khi ấy Tôn Hành Giả cười rằng:

- Thầy xem trăng mà nhớ xứ, chưa lấy làm rõ việc thái âm, tôi xin cắt nghĩa: Mặt nguyệt đem ba mươi tiêu hết khí dương gọi là ngày hối, qua đêm sóc là mồng một nhờ giao với mặt trời nên có chút khí nhứt dương, đến mồng ba mới sáng một mảnh, qua mồng tám đặng khí nhị dương sáng nửa mặt trên như ái cung úp xuống, gọi là ngày thượng huyền, qua rằm đủ khí tam dương, nay sáng chói bốn phương gọi là ngày vọng, đến mười tám khí nhứt âm sanh, khuyết hết phân nửa, như cái cung để ngửa, nên gọi là ngày hạ huyền, rồi lại ba mươi đêm hối, tối đen như mực. Vậy mặt trăng hết tròn tới khuyết, hết khuyết tới tròn, cũng ví như người đời hết thạnh tới suy, hết suy tới thạnh, chớ thấy tròn mà mừng, hết sức tròn rồi khuyết, đừng thấy thạnh mà ỷ, thạnh quá rồi suy. Vậy lúc nầy thầy trò ta như trăng mồng một, hãy dày công càng bữa càng tròn, lo chi không tới Tây Phương, trở về cố quốc.

Tam Tạng khen phải, nên đổi buồn làm vui.

Sa Tăng nói:

- Anh luận tuy phải, song chưa giảng thấu chuyện nầy. Từ xưa đến nay cũng một mắt trăng ấy. Người đời thay đổi, mà mặt nguyện còn hoài, là vì có âm dương nương nhau mới sáng. Như chúng ta đồng tâm hiệp lực đi mới thấu Tây Phương.

TamTạng cũng khen phải. Bát Giới níu Tam Tạng nói rằng:

- Thầy ôi! Đừng nghe hai người ấy nói xàm mà trễ giấc ngủ.

Tam Tạng nói:

- Thôi các trò mỏi mệt thì đi ngủ trước, để cho ta đọc kinh.

Tôn Hành Giả nói:

- Thầy đọc kinh làm chi, làm hòa thượng trong lúc xuân xanh, kinh nào không thuộc, quên hay sao mà phải đọc ôn. Còn như kinh mới bên Tây Phương thì thỉnh chưa đặng, chẳng hay thầy đọc kinh chi?

TamTạng nói:

- Mấy năm nay bỏ luống sợ quên, nên sẳn đêm thanh đọc ôn kinh cũ.

Nói rồi đồng trở vào liêu.

Ba trò đều ngủ hết, còn Tam Tạng lấy kinh ra xem.


Hồi 37
Quỷ vương cầu cứu với Ðường Tăng
Hành Giả mách tin cho Thái Tử
Nói về Tam Tạng xem kinh đến canh ba, nghe gió thổi ghê mình, đèn khi lờ khi tỏ, Tam Tạng quá bần thần mỏi mê, cúi gục trên bàn thiu thỉu.

Xảy nghe kêu tiếng thầy ngoài cửa, vía Tam Tạng ngó ra, thấy một ngườin mình mẩy ước dầm, nước mắt nhỏ giọt, đứng ngoài cửa kêu thầy.

Vía Tam Tạng nói:

- Chắc ngươi là yêu quái, mau mau đi chốn khác, chớ khá vào đây.

Người ấy khóc mà bạch rằng:

- Thầy ôi! Tôi có phải yêu quái ở đâu, xin sư phụ coi lại cho kỹ.

Tam Tạng xem rõ, thấy ông ấy: đội mão trẫm, mặc áo vàng, tay cầm ngọc khuê, lưng buộc ngọc đai mặt giống vua Đông Nhạc, hình như thánh Văn Xương.

Vía Tam Tạng kinh hãi, lạy mà hỏi lớn rằng:

- Bệ Hạ là vua nước nào, nửa đêm đến đây có chuyện chi, xin cho tôi rõ?

Ông ấy nói:

- Tôi là vua nước Ô Kê, thành trì ở hướng Tây, cách đây 40 dặm, năm trước trời hạn, dân đói, bá quan đảo võ không linh, hạn gần ba năm, suối nguồn đều cạn. Thời may có một thầy Toàn Chơn ở núi Chung Nam đến nói rằng: Có tài chỉ đá hóa vàng, biết phép làm mưa nổi gió, nên tôi rất mừng, cầu thầy Toàn Chơn lập đàn đảo võ, phép làm mưa vừa dứt, mưa xuống dầm dề, nước ruộng nổi cao ba thước. Toàn Chơn nói: "Hạn lâu đất khô cho thêm hai tấc nữa. Tôi thấy người tài năng và nhân đức như vậy, nên kết nghĩa anh em, ăn chung một mâm, ngủ chung một chỗ. Cách vài năm, trời xuân đầm ấm, hoe kiểng tốt tươi, tôi đi dạo với Toàn Chơn đến vườn ngự, không biết Toàn Chơn bỏ vật chi dưới giếng Bát giác lưu ly hào quang chiếu lên sáng giới. Toàn Chơn gạt tôi ngó xuống mà coi, liền xô đùa, lấy đá đậy lại, rồi đắp đất trồng chuối lên trên, tôi thác oan ba năm nay, mình mẩy không ráo.

Vía Tam Tạng biết là ma, cả mình mọc ốc, liền gượng hỏi Quỷ vương rằng:

- Bệ Hạ nói chưa rành, tôi lấy làm khó hiểu; nếu mất Bệ hạ, lẽ nào Hoàng Hậu và văn võ không tìm?

Quỷ vương nói:

- Thầy ôi! Tôi nói chuyện nầy nghe càng quái gỡ lắm. Từ khi xô tôi xuống giếng, nó lại hóa hình tôi, về làm vua như thường, ai nấy đều không biết.

Tam Tạng nói:

- Sao Bệ Hạ không đi cáo với Diêm vương?

Quỷ vương nói:

- Toàn Chơn thần thông quảng đại, quen lớn khắp nơi, Thánh hoàng thường thường uống rượi với nó, lại thân với Long Vương. Bầu bạn với thần Đông Nhạc, anh em với thập điệm Minh vương, tôi biết đi cáo đâu cho đặng.

Vía Tam Tạng nói:

- Bệ Hạ kiện dưới âm phủ còn không được, nay lên dương gian làm chi?

Quỷ vương nói:

- Sư phụ Ôi! Nay tôi nhờ Du thần nổi một trận gió, đưa tôi đến đây mà bảo rằng: Bệ Hạ thiếu ít ngày thì mãn hạn ba năm thủy ách. Nay có học trò Đường Tăng là Tề Thiên đại thánh có tài bắt quỷ trừ yêu, hãy đến cầu thầy cứu nạn. Bởi cớ ấy tôi đến lạy thầy, xin vào nước bắt yêu cho rõ tà chánh, tôi đội đức tái sanh.

Vía Tam Tạng hỏi:

- Bệ Hạ muốn dùng đệ tử tôi trừ nó phải chăng?

Quỷ vương liền thưa:

- Phải".

Tam Tạng nói:

- Nếu bảo đệ tử tôi bắt yêu, thì nó ưa lắm, song trái lẽ nên khó làm!

Quỷ vương hỏi:

- Có chuyện cho trái lẽ?

Vía Tam Tạng nói:

- Bởi yêu quái hóa hình Bệ hạ, nội triều ai nấy cũng lầm, dầu hoàng hậu cho tới cung nga cũng tưởng thiệt Bệ hạ, tuy học trò tôi giỏi, song chẳng dám đánh nó, vì sợ bá quan nói thầy trò tôi quyết đánh vua cướp nước, thì lỗi nọ về tôi, chớ ai biết là đánh yêu, mà giải oan cho bệ hạ.

Quỷ vương nói:

- Tôi còn có thái tử.

TamTạng nói:

- Dầu có Thái Tử , chắc yêu quái cũng đày rồi.

Quỷ vương nói:

- Nó chẳng đày con tôi, song ba năm nay cấm vào cung, nên mẹ con không thấy mặt.

Vía Tam Tạng hỏi:

- Vì cớ nào mà cấm vào cung?

Quỷ vương nói:

- Ấy là yêu đạo đề phòng, sợ mẹ con gặp nhau, luận bàn lậu tiếng chi đó.

Tam Tạng nói:

- Tuy còn thái tử mặc lòng, song tôi biết làm sao cho gặp đặng?

Quỷ vương nói:

- Có khó chi, mai nó đi săn, sư phụ đón đường thì gặp, thuật chuyện lại, ắt nó phải tin.

Vía Tam Tạng nói:

- Thái Tử là tai phàm mắt thịt, ngày nào cũng kêu nó bằng Phụ vương, sợ chẳng tin lời tôi nói.

Quỷ vương nghe nói, liền để Ngọc Khuê xuống mà đáp rằng:

- Như vậy tôi để lại vật nầy làm tin.

Vía Tam Tạng hỏi:

- Vật ấy có tích chi chăng?

Quỷ vương nói:

- Từ khi nó biến thành tôi về cung nói rằng: Toàn Chơn lấy Bạch Ngọc Khuê trốn rồi, nên ba năm nay không có vật ấy. Nếu thái tử nghe nói và thấy của tin, chắc động lòng báo oán.

Vía Tam Tạng nói:

- Như vậy Bệ Hạ đứng ngoài mà đợi, đặng thầy trò tôi thương nghị giúp cho.

Quỷ vương nói:

- Tôi đợi không đặng, để mượn Du thần đem tôi về cung, đặng mách bảo cho Hoàng Hậu rõ, bảo mẹ con nó hiệp ý mới xong.

Vía Tam Tạng gật đầu nói phải.

Quỷ vương từ tạ lui gót.

Vía Tam Tạng theo đưa, vấp cây té nhào, giựt mình thức dậy, miệng kêu đồ đệ liên thinh, Bát Giới thức dậy hỏi rằng:

- Sao chừng nầy thầy chưa ngủ, mà kêu Thổ Địa làm chi?

Tam Tạng nói:

- Ta mới thấy chiêm bao kỳ quái lắm!

Tôn Hành Giả nghe nói văng vẳng, chờ dậy bàn rằng:

- Tại thầy hay tư tưởng, nên thấy chiêm bao chưa lên non mà sợ yêu quái. Phần thì lo đi Tây Phương diệu vợi, lại thêm nhớ Trường An, cho nên mơ tưởng chừng nào thì chiêm bao chừng ấy. Chớ quyết đi cho tới Tây Phương, không lo sợ chi hết nên chẳng biết chiêm bao là gì.

Tam Tạng nói:

- Ta chẳng nhớ xứ mà chiêm bao, thiệt là điềm lạ lắm!

Nói rồi thuật chuyện vân vân...

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Điềm chiêm bao ấy là giúp danh tiếng cho tôi, để bắt yêu cho biết rằng chơn giả. Tam Tạng nói:

- Ngươi mở cửa ra xem thử, coi có Ngọc Khuê chăng?

Tôn Hành Giả mở cửa thềm, thấy Bạch Ngọc Khuê bịt vàng rất tốt.

Tôn Hành Giả mừng rỡ, đem vào nói rằng:

- Thầy ôi! Có vật nầy, chắc điềm ấy thiệt lắm. Ngày mai tôi sẽ khởi sự bắt yêu, song thầy phải nghe tôi mới đặng.

Tam Tạng hỏi:

- Ngươi bảo chuyên chi?

Tôn Hành Giả nói:

- Khoan đã, để tôi đưa vật nầy cho thầy, rồi nói chuyện mới đặng.

Nói rồi nhổ lông hóa ra hộp sơn đỏ, để Bạch Ngọc Khuê vào hộp đậy lại, đưa cho Tam Tạng mà dặn rằng:

- Mai thầy bưng cái hộp nầy, ngồi xem kinh dựa bàn Phật, ngoài thì mặc áo cà sa của Quan Âm, còn tôi đi thăm tin Thái Tử, thiệt đi săn thì tôi nhử vào chùa.

Tam Tạng hỏi:

- Ta thấy Thái Tử vô thì nói làm sao?

Tôn Hành Giả nói:

- Thái Tử gần vào chùa, tôi cho thầy hay trước, rồi tôi biến ra hình ông tướng, dài chừng vài tấc mà thôi. Thầy cũng để vào hộp sơn đậy lại, nếu Thái Tử vào lạy Phật, thầy cũng đừng chờ dậy nghinh tiếp chi hết. Cứ ôm hộp ngồi dựa xem kinh, chắc là Thái Tử nổi xung, truyền quân áp bắt. Thầy làm tỉnh đừng sợ chi, dầu biểu bắt, biểu trói, biểu nói cũng đừng nói cùng biểu chém cũng đừng sợ.

Tam Tạng nói:

- Chuyện chi thì chịu, chớ chúng giết cũng chịu thì chết còn gì, cái đó chắc ta không chịu!

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Thầy ôm tôi trong hộp, mà tôi đi cho chúng giết thầy sao? Thái Tử có hỏi, thì thầy nói như vầy: Tôi vâng chỉ vua Đại Đường, qua Tây Phương dâng bửu bối mà thỉnh kinh. Nếu Thái Tử hỏi dâng những báu gì? Thời thầy chỉ áo cà sa mà cắt nghĩa rồi nói rằng: Ấy là báu thứ ba, còn thứ nhì thứ nhứt rằng khác, Nếu hỏi vật gì nữa, thì thầy đáp rằng: Trong hộp nầy có một bửu bối biết chuyện một ngàn rưỡi năm. Nói rồi thả tôi ra, tôi sẽ nói chuyện với Thái Tử. Nếu Thái Tử còn ngại, thì có Bạch Ngọc Khuê làm tin.

TamTạng khen rằng:

- Kế ấy hay lắm, song kêu ông tướng bằng bửu bối chi?

Tôn Hành Giả nói:

- Kêu bằng Lập đế hóa.

Tam Tạng mừng rỡ y lời, chẳng bao lâu đã hừng đông nhứt.

Tôn Hành Giả truyền Sa Tăng, Bát Giới bảo hộ thầy, còn mình nhảy lên mây xem thử.

Khi ấy Tôn Hành Giả ở trên cao ngó xuống, thiệt thấy có thành trì, mây sầu dã dượi, yêu khí ê hề.

Xảy nghe pháo nổ một tiếng, người ngựa trong cửa thành Đông kéo ra, coi bộ đi săn thì phải.

Có một vị đội mão mặc giáp, cầm giáo mang gươm, giắt cung sau lưng, coi bộ như rồng cọp.

Tôn Hành Giả khen rằng:

- Chắc người nầy là Thái Tử, để ta giả ngộ một hồi.

Nói rồi nhảy xuống, hóa ra thỏ trắng chạy ngang qua, Thái Tử xem thấy liền bắn. Con thỏ chạy cách một lằn tên, mà theo hoài không kịp, lần lần đến cửa núi chùa Bửu lâm, Thái Tử nổi giận bắn một mũi tên, Tôn Hành Giả bắt đặng.

Chạy riết vào cửa núi, hiện hình giắt mũi tên trên ngỏ, rồi vào thưa với thầy như vầy: - Thầy ôi! Tôi gạt Thái Tử gần tới.

Nói rồi hóa ra ông tướng.

Tam Tạng để vào hộp đậy lại.

Nói về Thái Tử theo đến cửa núi ngó thấy cây tên, chớ con thỏ đâu mất!

Thái Tử lấy làm lạ than rằng:

- Rõ ràng bắn con thỏ, sao mũi tên ở trên cửa núi chùa Bửu lâm, có khi bạch thố lâu năm, thành tinh sao chớ!

Nói rồi nhổ tên, nhảy xuống ngựa, đi lần vào chùa, các quan quân hộ giá theo sau, các sãi trong chùa đều ra nghinh giá.

Thái Tử vào chùa lạy Phật, rồi ngó lên thấy một sãi, ngồi xem kinh dựa bàn.

Thái Tử nổi giận nói rằng:

- Thầy chùa rừng vô lễ quá, thấy ta đến không chào, lại ngồi làm cách! Quân bắt thầy ấy cho ta.

Quân lính vâng lời, kéo Tam Tạng xuống.

Thái Tử hỏi rằng:

- Ngươi là sãi ở núi nào mới tới?

Tam Tạng bái mà thưa rằng:

- Tôi vâng lệnh Đại Đường hoàng đế, đi dâng bửu bối mà thỉnh kinh.

Thái Tử nói:

- Ngươi ở Trung nguyên chắc có nhiếu báu lạ, bửu bối chi ngươi kể ta nghe? TamTạng nói:

- Cái áo cà sa tôi bận đây là báu thứ ba, còn thứ nhứt thứ nhì rằng khác.

Thái Tử nói:

- Áo cà sa ngươi bận có nửa thân mình, còn một bên bày cánh tay có quý chi mà gọi bằng báu?

Tam Tạng nói:

- Áo cà sa tuy vậy mà báu quá chừng, nếu muốn hiểu sự báu, thì nghe bài thơ nầy. Nói rồi ngâm rằng:

Áo tu bày nách chớ nên cười,

Báu lạ chi hơn của Phật trời,

Muôn chỉ ngàn kimgồm mối đạo,

Chín châu tám ngọc nhóm công đời,

Tiên nga dệt nó là đồ quý,

Bồ Tát cho ta phải của chơi,

Dầu chẳng chào vua chưa mấy lổi,

Cừu cha không trả uổng làm người.

Thái Tử nghe thơ nổi giận hét rằng:

- Hòa Thượng cả gan buông lời vô lễ, dầu ngươi khoe áo cà sa là vật trên trời cũng đặng, sao dám nói ta không trả cừu cha, uổng danh Thái Tử? Chẳng hay cha ta bị Oan ức chi, bởi đâu ngươi biết, hãy nói cho ta nghe?

Tam Tạng chắp tay thưa rằng:

- Sự ấy tôi không rõ, bởi tại bửu bối trong hộp nầy, gọi là Lập đế hóa. Bửu bối ấy biết việc nămtrăm năm đã rồi, với năm trăm năm tới, cộng một ngàn năm. Bởi Lập đế hóa nói sự ấy với tôi, xin hỏi ra thì rõ.

Thái Tử nghe nói, truyền giở hộp ra thấy có một ông tướng bằng ngón tay, nhảy ra chạy liền.

Thái Tử nói:

- Thứ cái hình mảy mủi, làm sao biết việc xưa sau?

Tôn Hành Giả nghe chê nhỏ liền ngay lưng ra, cao lớn ba thước bốn tấc rưỡi; quân lýnh kinh hãi nói rằng:

- Làm sao mà mau lớn như thổi, chừng ít ngày nửa có khi đứng đụng trời!

Tôn Hành Giả hiện đủ nguyên hình bấy nhiêu mà thôi, không biến cho cao nữa.

Khi ấy Thái Tử lấy làm lạ hỏi rằng:

- Lập đế hóa, Hòa Thượng nói nhà ngươi biết việc quá khứ vị lai, ấy là đánh tay hay xủ quẻ?

Tôn Hành Giả nói:

- Đừng chi hết mất công, nội trong ba tấc lưỡi nói thấu cả muôn điều.

Thái Tử hỏi:

- Vậy thì ngươi nói thử việc trong nước ta, coi thể nào?

Tôn Hành Giả nói:

- Trong nước khỏi hạn đã năm năm nay, bởi cách bảy năm trước nước Ô Kê bị hạn gần ba năm, đãûo võ hoài mà không linh nghiệm, có một người Toàn Chơn là đạo sĩ núi Chung nam, đến lập đàn đão võ, nước cao ba thước sáu tấc, nên vua kết làm bạn hữu. Có quả như vậy không?

Thái Tử khen rằng:

- Không sai một mãy, vậy xin nói nửa cho đủ điều!

Tôn Hành Giả hỏi:

- Còn ngươi biết ba năm nay ai trị nước Ô Kê chăng? Vì cớ nào mà Toàn Chơn vắng mặt?

Thái Tử nói:

- Thiệt ba năm trước cha tôi ngoạn kiểng với Toàn Chơn, bị nó hóa làm một trận dông giựt Ngọc Khuê của cha tôi mà trốn, nên lịnh truyền bế cửa vường huê, song cha tôi còn nhắc nhở Toàn Chơn vì cảm tình bằng hữu. Còn trị nước ba năm nay là cha tôi chứ ai.

Tôn Hành Giả cười khan.

Thái Tử hỏi hoài cũng chẳng nói.

Khi ấy Thái Tử nổi giận hỏi rằng:

- Sao ta hỏi ngươi hơn mấy lần, cũng không nói lại, cứ cười hoài mà cợt ta?

Tôn Hành Giả nói:

- Còn thiếu gì chuyện mà không dám nói, vì ngại có đông người.

Thái Tử nghe nói cũng phải, truyền quân sĩ ra ngoài, Thái Tử ngồi trên, Tam Tạng đứng dưới, Tôn Hành Giả làm cách nghiêm nghị, nói với Thái Tử rằng:

- Bị gió thổi đi là bệ hạ, cướp ngôi ngồi đó thiệt Toàn Chơn.

Thái Tử quở rằng:

- Đừng nói sai ngoa mà khốn! Từ khi Toàn Chơn về núi, cha ta trị nước thái bình, nếu phụ vương nghe đặng tiếng nầy, chắc ngươi đứt làm muôn đoạn!

Tôn Hành Giả hỏi Tam Tạng rằng:

- Quả thiệt như vậy hay không, tôi nói Thái Tử chẳng hề tin việc ấy. Thôi thầy đưa bửu bối, mà đổi điệp thông hành, đi qua Tây Phương mà thỉnh kinh, công đâu mà lo chuyện thiên hạ?

Tam Tạng đưa hộp cho Tôn Hành Giả, Tôn Hành Giả dừng mình một cái tự nhiên hộp son mất liền, lấy Bạch Ngọc Khuê đưa cho Thái Tử.

Khi ấy Thái Tử thấy vật cũ, liền sanh nghi nói lớn rằng:

- Như vậy là hòa thượng là Toàn Chơn năm trước, lấy bửu bối của cha ta. Nay giả làm thầy chùa đi dâng vật báu.

Nói rồi truyền quân bắt, Tam Tạng kinh hồn.

Tôn Hành Giả cản lại nói rằng:

- Thái tử đừng lậu, ta không phải là Lập đế hóa, còn có tên riêng.

Thái Tử giận nói rằng:

- Thiệt tên chi thì ngươi nói đi, đặng ta giãi đến pháp ti tra vấn.

Tôn Hành Giả nói:

- Ta là học trò của thầy đây, thiệt tên là Tôn Hành Giả đi thỉnh kinh bên Tây Phương. Hồi hôm thầy ta chiêm bao, thấy Bệ Hạ vế than khóc rằng: Bị Toàn Chơn xô xuống giếng bát giác lưu ly, rồi lấp đá lại. Toàn Chơn hóa hình bệ hạ, chiếm cứ ngôi trời, lại cấm ngươi không cho vào cung và ra vườn hoa, có ý sợ lậu tiếng nên Bệ Hạ cầu thầy ta trừ Toàn Chơn kẻo oan ức, và để ngọc ấy làm tin, lại nói mai, là bữa nay, có Thái Tử săn bắn, nên ta không nài khó nhọc, liền hóa ra thỏ bạc mà dắt vào đây. Sao ngươi thấy vật cũ mà không nhớ cha, ta lấy làm lạ lắm!

Thái Tử nghe nói có gốc, trong bụng cũng hơi tin, song chưa lấy làm chắc vì cha mình còn ngự trên ngai.

Khi ấy Tôn Hành Giả thấy Thái Tử làm thinh ngẫm nghĩ biết ý liền nói rằng:

- Điện hạ đừng hồ nghi chi hết, hãy về hỏi thăm Hoàng Hậu, ba năm nay vợ chồng ý ở có giống khi xưa chăng? Điện hạ nghe bấy nhiêu, thì đủ biết chơn giả.

Thái Tử nói phải liền bỏ Bạch Ngọc Khuê vào tay áo sửa soạn đi về.

Tôn Hành Giả níu lại nói rằng:

- Nếu binh về thì lậu sự, chi bằng đơn thân độc mã, lén vào thành, đi ngõ cửa sau vào hỏi riêng Hoàng Hậu, chẳng nên nói lớn, cũng chẳng khá nói thầm, nếu nó sanh nghi thì không còn tánh mạng.

Thái Tử y lời ra truyền quân lýnh rằng:

- Chúng bây đóng binh tại đó, ta về có việc gấp, đi rồi trở lại sẽ về thành.

Dặn rồi lên yên quầy quả.

Hồi 38
Ðông Cung hỏi mẹ, hay tà chánh
Bát Giới cỏng thây, biết giả chơn
Khi ấy Thái Tử về tới thành, lén đi ngỏ sau vào hoàng cung.

Thời may gặp Hoàng Hậu đương khóc ngoài Cẩm hương đình.

Vì cớ nào mà Hoàng Hậu khóc?

Bởi canh tư thấy chiêm bao, nửa nhớ nửa quên, nên ra Cẩm Hương đình khóc lén, tuy lén mà có thế nữ theo hầu.

Thái Tử thấy Hoàng Hậu, liền quì xuống lạy mừng, Hoàng Hậu thấy con thì mừng lắm, hỏi rằng:

- Ba năm nay không thấy mặt con, mẹ nhớ quá sức, bữa nay gặp gỡ mới an lòng. Thái Tử tâu rằng:

- Xin mẹ bảo cung nhơn lui ra, đặng con tâu một chuyện.

Hoàng Hậu cũng y lời.

Thái Tử quỳ lạy tâu rằng:

- Xin mẹ đừng bắt tội con, thì con mới dám hỏi.

Hoàng Hậu nói:

- Mẹ con tình nặng mười phần, chuyện chi mà không dám nói? Mẹ chẳng hề chấp, con nói cho mau.

Thái Tử tâu rằng:

- Chẳng hay ba năm nay, tính cha tôi thương yêu mẹ ra thể nào, có đặng như mấy năm xưa, hay là khác ý.

Hoàng Hậu nghe hỏi kinh hãi, ôm con nói rằng:

- Nếu con không hỏi, thì mẹ dầu xuống chín suối cũng không rõ cớ gì, con hãy nghe mà xét lẽ?

Nói rồi than rằng:

Thuở trước màn loan tợ lửa hồng,

Ba năm gối phụng lạnh như đồng,

Đêm thanh hỏi gióng tình dài vắn,

Người nói già suy hết cậy trông.

Thái Tử nghe mẹ nói mới bấy nhiêu, liền gở tay mà chạy, Hoàng Hậu kéo lại hỏi rằng:

- Con có chuyện chi cần gấp, nói chưa đủ việc liền đi.

Thái Tử tâu rằng:

- Mẹ Ôi! Nói chuyện lâu không tiện, bởi ban mai vâng lệnh đi săn bắn, may gặp Đường Tăng và Tôn Hành Giả có phép trừ yêu, thuật chuyện với tôi rằng:

- Hồi hôm Phụ vương ứng mộng rằng: Bị Toàn Chơn xô xuống giếng Bát giác lưu ly, nó giả hình Hoàng đế ba năm nay, không ai hiểu thấu. Nên ứng mộng cho Đường Tăng, đưa Ngọc Khuê làm dấu tích, cậy Tôn Hành Giả trừ yêu, con không lấy làm tin nên hỏi gióng mẫu hậu. Nay nghe rõ như vậy, thiệt yêu quái giả hình.

Nói rồi đưa Ngọc Khuê cho mẹ.

Hoàng Hậu cầm xem, khóc rằng:

- Con ôi! Mẹ hồi hôm chiêm bao, thấy cha của con mình mẩy ướt dầm, nói chết cách oan ức, đã cậy Đường Tăng trừ yêu và cứu mạng, cũng hiệp như lời con nói. Vậy thì mẹ cất bửu bối, còn con đi rước thầy cho mau, báo cừu cứu cha, đền ơn sanh thành dưỡng dục.

Thái Tử lên ngựa thẳng xông, đến chùa Bữu Lâm, thì mặt trời vừa chen lặn.

Khi ấy Thái Tử vào lạy Tôn Hành Giả và Đường Tăng.

Tôn Hành Giả đỡ dậy hỏi rằng:

- Thái Tử hỏi Hoàng Hậu hay chưa?

Thái Tử thuật chuyện lại, Tôn Hành Giả cười rằng:

- Lạnh ngắt như đồng, chắc nó là đồng biến ra đó, để ta đốt nó cho. Điện hạ về trước kẻo tối tăm, để mai ta sẽ đến.

Thái Tử than rằng:

- Tôi vâng lệnh đi săn, tối ngày không đặng vật chi hết, bây giờ cũng khó nổi về! Tôn Hành Giả nói:

- Chuyện ấy có khó chi, sao không nói trước.

Nói rồi nhảy lên mây, niệm chú thâu Sơn thần Thổ Địa, bảo bắt giùm ít con thú, cho Thái Tử về thành, Sơn thần Thổ Địa vâng lệnh, truyền âm binh bắt những chồn, beo, nai, thỏ, đem nạp cho Tôn Hành Giả.

Tôn Hành Giả truyền bứt gân hết thảy, đem bỏ theo dọc đường về thành vua.

Khi ấy Tôn Hành Giả nhảy xuống thuật chuyện cho Thái Tử hay, Thái Tử tạ từ, truyền quân lui gót.

ọc đường gặp thú vật nằm vạ không biết bao nhiêu, quân nhơn mừng bắt đem về, đều khen điện hạ hồng phước.

Còn Tôn Hành Giả có chuyện ngủ không đặng, hết canh một ngồi dậy thưa với Tam Tạng rằng:

- Thầy ôi! Tôi xin thương nghị việc nầy với sư phụ.

Tam Tạng hỏi: "Thương nghị sự chi?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Ban ngày tôi khoe tài với Thái Tử. Bắt yêu quái như lấy đồ trong túi áo, bây giờ tôi nghĩ lại thiệt khó vô cùng.

Tam Tạng hỏi:

- Khó làm sao?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Thầy biết tụng kinh siêu độ, chưa xem đến luật Tiêu Hà chế rằng: Bắt ăn trộm ăn cướp thì có của tang làm bằng mới đặng. Nay con yêu ấy làm vua đã ba năm, ngày lâm triều với bá quan, đêm ngủ với Hoàng Hậu, tôi lấy cớ chi mà bắt nó, rồi mới hài tội làm sao ?

Tam Tạng nói:

- Thì ngươi luận sơ nghe thử.

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Nếu tôi bắt đặng nó đi nữa, nó hỏi tôi rằng: Trẫm không phạm tội chi, sao ngươi hành hung bắt trẫm? Tôi có bằng cớ chi mà trả lời?

Tam Tạng nói:

- Ngươi là người thông thạo việc đời, tự ý tính lả nào mà giải oan kẻo tội nghiệp. Vì linh hồn cầu khẩn đã hết lời.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Tôi mới tính đặng một kế, cũng như bắt ăn trộm có đồ tang, song tánh thầy ở chẳng công bình, e làm không đặng việc.

Tam Tạng hỏi:

- Ta không công bình làm sao?

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Thầy thấy Bát Giới ú quá, nên thầy cưng như trứng mỏng, chuyện chi cũng hay binh vực.

Tam Tạng nói:

- Ta bây giờ không tư vị nữa, ngươi tính kế làm sao?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Đêm nay sáng trăng, Bát Giới đi với tôi đến giếng ấy mà vớt thây. Cái đó là tang vật. Mai vào đền mượn cớ trình điệp thừa cơ lấy thiết bảng đánh đùa, nó có bắt lỗi, đem thây ra làm tang tích, thì Hoàng Hậu khóc chồng. Thái Tử khóc cha, bá quan thấy vậy cũng động lòng, trông bắt đặng yêu mà trị tội.

Tam Tạng khen rằng:

- Phải lắm, phải lắm, song lại e Bát Giới không chịu đi.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Thấy chưa, tôi nói thầy có tánh riêng tây, hay cưng Bát Giới; sao thầy biết nó không chịu đi, miễn thầy ở công bình, chẳng những là Bát Giới phải đi, dầu nó Cửu Giới tôi sai cũng được.

Tam Tạng nói:

- Tự ý ngươi, bảo đặng thì bảo, sai đặng thì sai, ta chẳng hề tư vị chi hết.

Tôn Hành Giả mừng rỡ, đến giường Bát Giới nghe ngáy tiếng pho pho.

Tôn Hành Giả kêu hoài không dậy.

Tôn Hành Giả xách tai giở hỏng Bát Giới nói:

- Đừng khuấy, đừng khuấy. Để ngủ cho khỏe, đặng mai có đi.

Tôn Hành Giả nói:

- Không phải khuấy chơi đâu, kêu dậy có phương sanh lợi.

Bát Giới hỏi:

- Có lợi chi cho tôi hùn với?

Tôn Hành Giả nói:

- Thái Tử thuật chuyện con yêu ấy có nhiều bửu bối, mai chúng ta vào trình điệp, chắc là có việc tranh hành; nếu có quăng bửu bối ra, chúng ta biết lấy chi mà đỡ? Vậy thì thừa đêm nay lén lấy đem về.

Bát Giới cười rằng:

- Anh gạt tôi đi ăn trộm đồ, tôi cũng biết nghề nghiệp không lẽ chối từ, song tôi giao trước như vầy, như lấy đặng bửu bối, xin anh cho tôi, thì đi lập tức.

Tôn Hành Giả nói:

- Ta không bắt đặng yêu mà lấy tiếng, ai dùng bửu bối làm chi.

Bát Giới nghe nói mừng rỡ, nhảy dậy lấy áo bận liền, đi theo với Hành Giả.

Thiệt là:

Rượu ngon hừng mặt khách,

Của báu động lòng gian.

Khi ấy anh em đằng vân đến vườn ngự, thấy cửa vườn đóng cứng, xiềng khóa chắc khư, anh em nhảy vào trong vườn.

Tôn Hành Giả dậm chân chắc lưỡi, Bát Giới kinh hãi than rằng:

- Anh chưa thạo nghề nầy hay sao? động cho chúng hay chắc là mang gông cả lũ! Tôn Hành Giả nói:

- Ta há không biết hay sao, bởi hoa kiểng trong vườn ngự điêu tàn, nên động lòng than thở.

Bát Giới nói:

- Hơi nào mà thương bao đồng, hãy lo công việc mình kẻo trễ.

Tôn Hành Giả thấy cây chuối sung lắm, biết dưới gốc là giếng Lưu Ly, liền nói với Bát Giới rằng:

- Ngươi có nóng thì đào dưới gốc chuối nầy lấy bửu bối rồi về ngủ cho sớm.

Bát Giới hăm hở ngỡ là nó chôn bửu bối dưới gốc chuối, liền lấy đinh ba cuốc trốc gốc kê mỏ ủi chừng ba bốn thước bề sâu, đụng nhằm tấm đá lớn, mừng quá, rút mỏ lên nói rằng:

- May quá anh ôi, có tấm đá đậy trên chắc là chôn bửu bối.

Bát Giới rán ủi trốc tấm đá, bưng lên thấy sáng lóa, ngỡ là bửu bối chiếu hào quang, chẳng ngờ là trăng giọi trên mặt nước.

Khi ấy Bát Giới cằn nhằn:

- Phải hay có giếng, thì đem theo ít sợi dây, bây giờ tay không, xuống sao cho được.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Ngươi muốn xuống thì cổi quần áo đi, ta có đồ giúp được.

Bát Giới cũng y lời, Tôn Hành Giả kéo nhằn cây thiết bảng dài hơn tám chục thước bảo Bát Giới đeo một đầu.

Tôn Hành Giả cầm thiết bảng nhận lần xuống, rồi kéo lên hỏi rằng:

- Có mấy món bửu bối?

Bát Giới nói:

- Nước thì nhiều lắm, chớ không thấy bửu bối.

Tôn Hành Giả nói:

- Ở dưới đáy giếng, phải lặn xuống mà mò.

Bát Giới liền chịu, đeo cây thiết bảng, Tôn Hành Giả nhận xuống nữa.

Bát Giới thòng chân không tới đâu, liền lặn xuống một hơi mà chưa tới đáy.

Khi ấy Bát Giới mở con mắt ngó bốn phía, liền rẻ nước mà đi, thấy có cái lầu lớn, treo một tấm biển đề ba chữ: Thủy Tinh Cung.

Bát Giới kinh hãi nói rằng:

- Chắc là lọt xuống biển.

Chẳng ngờ giếng sâu quá thì có rồng, gọi là Tinh Long Vương.

Nói về quỷ Dạ Xa đi tuần giếng, xem thấy, vào cung báo rằng:

- Có hòa thượng tai lớn mỏ dài ở truồng dồng dồng, coi bộ muốn vào cung Thủy tinh.

Tỉnh Long vương phán rằng:

- Ấy là Thiên Bồng nguyên soái, hèn chi đêm trước Dạ Du thần đem hồn vua Ô Kê, đến cầu Đường Tăng thỉnh Tề Thiên đại thánh trừ yêu, nên nay mới tới đó.

Nói rồi ra ngoài ngõ kêu lớn rằng:

- Thiên Bồng nguyên soái vào trong nầy mà ngồi.

Bát Giới mừng rỡ bước vào, ngồi trên chò hỏ.

Bởi khi trước Bát Giới làm Thiên Bồng nguyên soái, nên ỷ với Long Vương.

Tỉnh Long Vương hỏi rằng:

- Nghe nói Nguyên soái bảo hộ Đường Tăng đi thỉnh kinh, sao lại rảnh rang đi dạo?

Bát Giới nói:

- Bởi anh ta là Tôn ngộ Không, sai xuống đây mà lấy bửu bối chi đó?

Tỉnh Long Vương nói:

- Tội nghiệp thì thôi, tôi nào có bửu bối, phải chi như Long Vương các biển các sông thì có, chớ tôi lúng túng trong giếng, không thấy mặt trời mặt trăng, làm sao có châu có báu.

Bát Giới nói:

- Đừng từ chối chi hết, hễ có thì đem ra cho mau.

Tỉnh Long Vương nói:

- Tôi có một cái bửu bối lớn và nặng nề, nên đem ra không nổi, xin Nguyên soái vào đó mà xem.

Bát Giới liền chịu.

Tỉnh Long Vương chỉ vua Ô Kê mà nói rằng:

- Bửu bối nằm đó.

Bát Giới xem thấy cười rằng:

- Ấy là đồ ăn của tôi trong lúc còn ở động, chớ bửu bối gì?

Tỉnh Long Vương nói:

- Bởi Nguyên soái không rõ, ấy là thây vua nước Ô Kê, từ khi sa xuống giếng, tôi để định nhãn châu trong mình, nên ba năm mà không thúi. Vậy Nguyên soái cõng lên cho Tề Thiên đại thánh, chắc là làm phép cải tử hườn sanh, đem vào đền vua, muốn báu chi cũng có.

Bát Giới nói:

- Như vậy thì ta cỏng, mà ngươi thì phải chịu tiền đạo tùy.

Tỉnh Long Vương nói:

- Tôi thiệt không có tiền, lấy chi mà chịu.

Bát Giới nói:

- Nếu không tiền thì khó kiếm đạo tùy.

Tỉnh Long Vương nói:

- Tự ý ngài, muốn cỏng thì cỏng đi, bằng không thì để đó.

Bát Giới liền bỏ mà đi.

Khi thấy Tỉnh Long Vương sai Dạ Xa cất trái châu tị thủy tức thì nước nổi minh mông, Bát Giới nó ngoái lại không thấy đền đài, đụng nhằm thây ma lạnh ngắt, liền trồi lên kêu lớn rằng:

- Đại ca đưa thiết bãng mà rước tôi.

Tôn Hành Giả hỏi:

- Có bửu bối hay không?

Bát Giới nói:

- Chẳng có bửu bối chi hết. Gặp Long Vương dưới đáy giếng bảo tôi cỏng thây ma, tôi không chịu mới kêu anh rước.

Tôn Hành Giả nói:

- Ấy là bửu bối sao chẳng cỏng lên?

Bát Giới nói:

- Cái thây ma xui quá, cỏng lên làm gì?

Tôn Hành Giả về đi ngủ.

Bát Giới kinh hãi nói rằng:

- Thôi anh ở đó, để tôi cỏng lên cho.

Nói rồi lặn xuống cỏng thây, trồi lên mặt nước.

Tôn Hành Giả đưa thiết bãng cho Bát Giới vịn, Bát Giới một tay bợ tử thi một tay níu thiết bãng, song còn sợ té, hả miệng cắn thiết bãng cho Hành Giả kéo lên, Bát Giới bỏ tử thi xuống đất, quơ quần áo bận liền.

Tôn Hành Giả xem rõ mừng rằng:

- Hiền đệ Ơi, người thác đã ba năm sao còn tươi sống.

Bát Giới nói:

- Long Vương có thuật chuyện rằng: Nhờ để châu định nhãn trên thây, nên còn tươi như mới chết.

Tôn Hành Giả nói:

- May lắm, may lắm! Một là hồn oan còn bận biệu, hai là giúp chúng ta thành công, vậy hiền đệ cỏng giùm một chút.

Bát Giới hỏi:

- Bây giờ mới cỏng đi đâu?

Tôn Hành Giả nói:

- Cỏng về chùa cho sư phụ.

Bát Giới lầm bầm rằng:

- Đương ngủ ngon quá chừng, bị con khỉ gạt đi sanh lợi, té ra bửu bối đâu không thấy, bắt vớt thây ma, bây giờ tội gì mà cỏng nữa.

Tôn Hành Giả nói:

- Ngươi chẳng cỏng thì thôi, ta cũng không ép, ngay giò cho ta đánh hai chục thì thôi.

Bát Giới le lưỡi rồi nói rằng:

- Cây gậy tang của anh nặng quá, nếu đánh tôi hai chục, thì cũng như thân thể ông nầy.

Tôn Hành Giả nói:

- Muốn khỏi đòn thì cỏng.

Bát Giới vác tử thi nhảy khỏi vườn huê.

Tôn Hành Giả nổi trận dông đồng bay tới Bữu Lâm Tự.

Bát Giới tức mình quá, nghĩ thầm rằng:

- Con khỉ gạt mình cực quá, để về trước mặt thầy mình sẽ kếim điều trả đủa.

Nói rồi cỏng thây về bỏ trước hàng ba, vào kêu thầy mà nói rằng:

- Sư phụ ra trước hàng ba mà coi.

Tam Tạng hỏi:

- Coi giống chi đó?

Bát Giới thưa rằng:

- Tôn Hành Giả bảo tôi cỏng thây ông ngoại nó về đó, thầy ra xem thử thể nào.

Tam Tạng với Sa Tăng đồng mở cửa ra xem, thấy tử thi như sống, Tam Tạng buồn bực than rằng:

- Thương hại thay không biết bệ hạđời trước cừu oán chi với yêu quái, nên nay bị nó giết oan, bỏ vợ bỏ con, nội trào đều không biết.

Nói rồi rơi nước mắt.

Bát Giới cười rằng:

- Không phải tổ phụ chi của thầy, mà khóc kể dữ vậy!

Tam Tạng nói:

- Đồ Đệ Ôi! Hễ người tu niệm thì lạt lòng. Thấy việc thảm không thương sao đặng, ngươi mở miệng mà cười lớn thiệt là không có lương tâm.

Bát Giới nói:

- Nếu tôi không có lương tâm, thì chẳng chịu vớt thây và cỏng, bởi anh tôi nói có phép cứu sống lại, nên tôi mới thỉnh về chùa.

Vừa nói và rảy tai văng nước ướt mình Tam Tạng.

Khi ấy Tam Tạng nói với Tôn Hành Giả rằng:

- Ngươi có phép cứu đặng một mạng, hơn lập bảy kiểng chùa, dầu thỉnh kinh công đức cũng không bằng cứu mạng.

Tôn Hành Giả nói:

- Thầy khéo nghe lời thằng điên nói bậy. Phàm con người chết 49 ngày trở lại, thì đã đi đầu thai, nay người chết đã ba năm, tôi cứu làm sao cho đặng!

Tam Tạng nghe nói hỡi ôi!

Bát Giới nổi giận nói rằng:

- Ấy là lời nói gạt thầy, sao lại cứu không đặng, thầy cứ niệm chú, chừng nào tử thi sống lại thì thôi.

Tam Tạng y lời, Tôn Hành Giả nhức đầu lòi con mắt.
Hồi 39
Một hột thuốc linh trời đã nấy
Ba năm chúa cũ mạng còn dài


Khi Tôn Hành Giả nhức đầu chịu không nổi liền năn nỉ rằng:

- Thầy ôi! Xin đừng niệm nữa, để tôi chạy thuốc.

Tam Tạng hỏi:

- Đi kiếm ở đâu bây giờ?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Trừ ra xuống Diên vương, mà lấy hồn vía.

Bát Giới nói:

- Thưa thầy, đừng nghe lời ấy, bởi sư huynh có nói trước với tôi rằng: Chẳng cần xuống Âm ti, ở trên dương gian cũng có thuốc.

Tam Tạng ngỡ thiệt, liền niệm chú, Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Thầy đừng niệm nữa, để tôi kiếm thuốc trên dương gian.

Bát Giới thưa rằng:

- Xin thầy niệm hoài anh tôi phải phục.

Tôn Hành Giả nổi giận mắng rằng:

- Mi là súc vật, sao quyết hại ta.

Bát Giới cười ngất nói rằng:

- Tại anh hay khuấy tôi, nên tôi phải khuấy lại.

Tam Tạng hỏi:

- Dương gian có thuốc chi mà cứu đặng.

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Nay tôi đi tìm ông Thái Thượng xin một viên thuốc hườn hồn thì cứu vua Ô Kê mới sống.

Tam Tạng mừng rỡ hối đi.

Tôn Hành Giả nói:

- Bây giờ đã hết canh ba, tôi vừa khứ vừa hồi chắc sáng trắng đi về mới tới, nếu để cái thây nằm trơ trơ như vậy, e mất thể diện người sang, phải có ai ngồi khóc cầm chừng mới đặng.

Bát Giới nói:

- Thôi anh đừng nói dài vắn chi hết, phần tôi khóc chớ ai, anh cứ việc để tôi lo việc khóc.

Tôn Hành Giả nói:

- Ngươi khóc thử cho ta coi thử thế nào.

Bát Giới dụi con mắt khóc om sòm.

Tam Tạng thấy vậy động lòng, cũng sa nước mắt.

Tôn Hành Giả cười lớn nói rằng:

- Khóc như vậy là phải cách lắm, nếu ngừng nghỉ thì ta đánh hai chục hèo.

Bát Giới nói:

- Thì anh hãy đi cho mau, chớ tôi có tánh khóc dai, và khóc và la hai ba ngày mới nín.

Khi ấy Tôn Hành Giả nhảy lên mây, thẳng đến cung Đâu Suất, gặp Thái Thượng đương nấu thuốc trong lò.

Thái Thượng lão quân liếc thấy Hành Giả, liền dặn học trò rằng:

- Chúng bây phải giữ gìn, có thằng ăn trộm thuốc rình mò đó.

Tôn Hành Giả nghe nói, bước tới bái và cười rằng:

- Tôi bây giờ đã giải nghệ.

Thái Thượng hỏi:

- Sao ngươi không bảo hộ Tam Tạng, lòng ngay vào lò thuốc làm chi?

Tôn Hành Giả thuật chuyện vua nước Ô Kê, rồi thưa rằng:

- Bởi cớ ấy nên tồi cầu Đạo tổ từ bi, cho một ngàn hườn thuốc hườn hồn, cứu người làm phước.

Thái Thượng đáp rằng:

- Con khỉ bất thông, nói nhiều lời phi lý. Thuốc hườn hồn đâu tới một ngàn hột, xin mà ăn trừ cơm hay sao?

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Không cho nhiều thì cho ít, chừng một trăm mấy viên cũng nên.

Thái Thượng nói:

- Không có, đi đi cho mau.

Tôn Hành Giả quây quả bước ra, Thái Thượng ngẫm nghĩ rằng:

- Không xong không xong! Con khỉ này khó chịu lắm, lẽ nào mới đuổi mà đi liền, chắc nó cũng lừa đảo làm mưu lớp chi đây, hễ nào cũng ăn cắp cho đặng, chi bằng kêu nó lại, cho một hột thì khỏi lo.

Nghĩ rồi chạy theo kêu lớn rằng:

- Ngộ Không trở lại đây, ta cho một viên thuốc.

Tôn Hành Giả trở lại nói rằng:

- Lão tổ biết cái tánh của tôi, nên mới cho trước, bằng không e mất hết cả bầu.

Thái Thượng cho một hột hườn hồn đơn, Tôn Hành Giả tạ Ơn rồi lui gót.

Nói về Bát Giới đương khóc kể có oai, xảy nghe tiếng kêu thầy, Tam Tạng nói:

- Tôn Hành Giả về đó, chẳng hay có thuốc hay chăng?

Tôn Hành Giả nói:

- Có có.

Liền kêu Bát Giới mà nói rằng:

- Sư đệ đi dậy chỗ, bây giờ còn kể lể làm chi, có khóc dai thì đi kiếm chỗ khác mà khóc.

Nói rồi biểu Sa Tăng múc nước.

Tôn Hành Giả cạy răng vua Ô Kê bỏ hột thuốc vào miệng, đổ nước mà thổi vô, một giờ nghe trong bụng vua Ô Kê sôi rầm rầm chuyển động. Ngặt tay chơn dở không lên.

Tam Tạng nói:

- Người đứt hơi đã ba năm; nguơn khí lâu phục lắm, nếu không có người sống thổi vào, thì tỉnh sao đặng.

Bát Giới nghe nói muốn lại thổi vô miệng một hơi.

Tam Tạng kéo lại nói rằng:

- Miệng ngươi ăn tạp hồi nhỏ, khí thanh không bằng miệng Ngộ Không.

Tôn Hành Giả lại ngậm miệng vua Ô Kê, thổi một hơi rất mạnh, vua Ô Kê bắt hơi thở đặng, chờ dậy quỳ lạy thưa rằng:

- Sư phụ Ôi:

Hôm trước hồn ma quì trước điện,

Bữa nay phách quế nhập vào thân.

Tam Tạng liền đỡ dậy mời ngồi.

Khi ấy các sãi mới dọn cơm sớm mai, thấy Hoàng đế ai ai cũng kinh hãi.

Tôn Hành Giả nhảy ra nói rằng:

- Các hòa thượng đừng có nghi ngại chi hết, ngài là chúa nước nầy, bởi bị yêu giết chết đã lâu, lão Tôn mới cứu sống lại, nay đem vào thành cho rõ chánh tà, các sãi hãy dọn cơm chay thiết đãi.

Mấy hòa thượng y lời.

Cơm nước xong xả, Tôn Hành Giả bảo vua Ô Kê thay đổi áo xiêm, mượn đồ thầy chùa mà bận.

Vua Ô Kê cũng vưng lời.

Tôn Hành Giả xem thấy cười rằng:

- Bệ Hạ ăn mặc như vầy, mà đi theo chúng tôi, chẳng là nhẹ thể lắm?

Vua Ô Kê quỳ thưa rằng:

- Sư phụ cứu tôi, ơn như cha mẹ, tôi xin cầm roi theo hầu hạ, cho đến Tây Phương. Tôn Hành Giả nói:

- Tôi chẳng muốn Bệ Hạ đi Tây Phương làm chi, miễn đi về thành bắt yêu, cho Bệ Hạ làm Hoàng đế, còn chúng tôi đi Tây Phương, nghĩa là ai lo phận nấy.

Nói rồi đồng ra đi, 500 sãi lạy rồi, theo đưa đón, kẻ thổi kèn người đánh trống, theo khỏi cửa non.

Tôn Hành Giả nói:

- Các ngươi chẳng nên làm như vậy, e lậu sự khó lòng. Hãy về giặt rửa phơi phong y phục của bệ hạ, hoặc mai chiều đem dưng mà lãnh thưởng thì xong hơn.

Các sãi vưng lời trở lại.

Nói về các vị đi tới thành nước Ô Kê thì chưa đặng nữa ngày, năm người vào trước ngọ môn. Tam Tạng nói với Hoàng môn quan rằng:

- Chúng tôi vưng chỉ Đại Đường hoàng đế, qua Tây Phương thỉnh kinh. Nay đến đây trình điệp xin ghi, đặng qua nước khác, xin đại nhơn vào tâu lại làm ơn.

Hoàng môn quan vào tâu lại, vua giả truyền đòi năm thầy vào đền.

Tôn Hành Giả dắt Tam Tạng vàođứng sửng trước sân chầu, không chịu quì lạy.

Bá quan văn võ lấy làm lạ, nói nhỏ với nhau rằng:

- Sãi quê mùa không biết lễ nghi, dám cả gan chẳng lạy!

Xảy nghe vua giả phán hỏi rằng:

- Hòa Thượng ở đâu đến đây?

Tôn Hành Giả nói rằng:

- Ta ở Nam Thiện bộ châu, vưng lịnh vua Đại Đường, qua Tây Phương thỉnh kinh với phật sống tại chùa Lôi Âm, nay mới đến đây trình điệp.

Vua giả xem điệp rồi phán hỏi rằng:

- Trong điệp nói có bốn thầy trò, sao bây giờ dư một người ấy, tên họ là chi, xứ sở ở đâu, có điệp phái hay chưa, lên đây khai cho rõ?

Vua Ô Kê kinh hãi, nói nhỏ với Hành Giả rằng:

- Sư phụ Ôi!Khai làm sao xin dạy?

Tôn Hành Giả thấy vua run lặp cặp, liền nắm tay mà nói rằng:

- Ngươi đừng kinh hãi, để ta khai thế cho.

Nói rồi bước tới nói lớn tiếng rằng:

- Bệ Hạ Ơi!Đạo sĩ ấy đã điếc và câm, khai làm sao đặng, sự tích tôi rõ hết, xin khai thế thì tiện hơn.

Vua giả phán rằng:

- Phải cứ thiệt khai ngay, bằng nói trớ trêu thì có tội!

Tôn Hành Giả ca rằng:

Người nầy câm, ngọng, thêm ngây điếc,

Ơû tại xứ nầy ai cũng biết.

Bị gã Toàn Chơn xuống xô hào.

Giả hình Hoàng đế dành cung khuyết,

Ba năm thủy ách rẻ quân thần,

Một hột kim đơn tươi khí huyết,

Đem tới đền vua rõ chánh tà,

Ta quyết giúp vua trừ yêu nghiệt.

Vua giả nghe ca, thất kinh hồn vía, hổ thẹn mười phần, liền giựt cây đao của quan Trấn điện tướng quân, rồi đằng vân bay mất.

Khi ấy Sa Tăng tức mình, hét tợ sấm, còn Trư Bát Giới mắng rằng:

- Cũng tại thói con khỉ không chịu làm tề, nói lậu cho yêu quái trốn đi, bây giờ biết nó đâu mà kiếm?

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Đừng có nói rầy xóm, hãy kêu Thái Tử ra lạy cha, Hoàng Hậu ra mừng chồng, bá quan đồng chầu chúa, Bệ Hạ lên ngôi như cũ, rồi ta sẽ bắt yêu, nó chạy ngõ nào cho khỏi!

Nội triều đồng y lời.

Khi ấy Tôn Hành Giả nhảy lên mây xem cùng bốn phía, thấy con yêu chạy qua hướng Đông Bắc.

Tôn Hành Giả rượt theo hét rằng:

- Yêu quái chạy đâu cho khỏi, có Lão Tôn đến đây.

Con yêu ấy cầm đao day lại nói rằng:

- Tôn Hành Giả thiệt tệ lắm, ta chiếm ngôi vua của người khác, cũng không can phạm đến ngươi, sao gánh chuyện đời như vậy?

Tôn Hành Giả cười hả hả nói rằng:

- Bộ mặt yêu lớn mật, muốn làm Hoàng đế.

Nói rồi giơ thiết bãng đập liền, yêu quái đưa đao ra đỡ, con yêu đánh một hồi không lại, liền chạy vào đền, hóa ra thầy Tam Tạng.

Còn Tôn Hành Giả chạy về, giá thiết bảng muốn đánh.

Giả Tam Tạng nói:

- Sao đồ đệ đánh thầy!

Tôn Hành Giả giả thiết bãng muốn đập Tam Tạng, Tam Tạng cũng nói như vậy, Tôn Hành Giả không biết ai là thiệt, ai là giả, liền hỏi Sa Tăng, Bát Giới rằng:

- Ai là thầy, ai là yêu quái?

Bát Giới nói:

- Anh đánh với nó trên thinh không, chúng tôi ngó theo mãi, sau day lại thấy hai thầy đứng một cặp, biết ai là giả chơn.

Tôn Hành Giả niệm chú thâu Du thần bảo rằng:

- Ta cậy chư thần biết ai thiệt thầy ta thì đem lên điện.

Nói vừa dứt tiếng, Tam Tạng giả đã lên rồi.

Tôn Hành Giả giơ thiết bãng đập Tam Tạng.

Du thần đỡ và nói rằng:

- Yêu quái biết đằng vân, nên nghe vái liền bay lên trước.

Tôn Hành Giả nổi giận, cầm thiết bãng nhảy lên, yêu quái nhảy xuống níu Tam Tạng xây tròn, coi không biết chơn giả.

Tôn Hành Giả tức mình trợn mắt ngồi đứng không yên.

Bát Giới thấy bộ lao chao, cười hoài cười hủy, Tôn Hành Giả nổi giận hỏi rằng: - Thằng điên, vui lắm hay sao mà cười dữ vậy?

Bát Giới cười ngất nói rằng:

- Anh nói tôi điên, mà anh lại điên hơn nữa, sao anh không chịu nhức đầu biểu niệm chú cẩn cô; thì biết ai chơn giả, tôi níu một người, Sa Tăng níu một người, yêu quái chạy đâu cho khỏi.

Tôn Hành Giả khen phải, liền bảo Tam Tạng niệm chú cẩn cô.

Tam Tạng niệm liền, Tôn Hành Giả nhức đầu như bửa, Tôn Hành Giả bảo thôi niệm, rồi hối thầy kia niệm chú cẩn cô.

Tam Tạng giả niệm lâm dâm Tôn Hành Giả không ngứa chút nào hết, Sa Tăng thấy vậy nắm tay, Bát Giới nói:

- Không biết niệm chú cẩn cô là yêu quái.

Nói rồi lầy cào cỏ đập liền.

Yêu quái kinh hãi xô Sa Tăng mà nhảy lên mây, Bát Giới Sa Tăng đều theo đánh. Tôn Hành Giả thấy ba người hỗn chiến, thì cười mà nói rằng:

- Yêu quái chạy ta như gà chạy mặt, nếu trợ chiến thì nó trốn đi. Chi bằng lén bay lên cao, ở trên đánh xuống. Tính rồi liền nhảy lên cao thấy ba người đồng lực.

Tôn Hành Giả muốn đập cho rồi.

Xảy nghe có tiếng kêu lớn rằng:

- Tôn ngộ khôngkhoan đánh đã.

Tôn hành giả ngó người lại, coi thấy Văn Thù Bồ Tát, Tôn Hành Giả bái và hỏi rằng: - Chẳng hay Bồ Tát đi đâu?

Văn Thù nói:

- Ta đến bắt con yêu quái cho ngươi.

Nói rồi lấy kiếng chiếu yêu soi nó.

Tôn Hành Giả dòm thấy trong mặt kiếng hiện hình sư tử lông xanh.

Tôn Hành Giả hỏi rằng:

- Ấy là con sư tử của Bồ Tát cưỡi, sao xuống thế thành tinh?

Văn Thù nói:

- Chẳng phải nó trốn ta, thiệt là vưng lịnh Phật mà xuống thế, bởi năm trước vua Ô Kê làm lành hay bố thí, nên Phật Tổ sai ta giả thầy chùa độ về Tây Phương, ta hỏi thử ít lời, vua Ô Kê nói không đặng, tức thì nổi giận, truyền trói tra tấn nước ba ngày đêm, bởi cớ ấy nên Phật Tổ sai Thanh Sư xô xuống giếng ba năm mà trừ tội ấy, nay đã mản hạn, các ngươi mới đặng thành công.

Tôn Hành Giả ngó lại thấy con yêu ấy đã đứng sững như chết rồi. Bát Giái, Sa Tăng cũng hầu mà nghe chuyện.

Khi ấy Tôn Hành Giả hỏi rằng:

- Tuy là trả cừu tư cũng phải, song phạm nhằm Hoàng Hậu, mất cách lịch sự rất nhiều.

Văn Thù nói:

- Nó chẳng hề phạm đến cung ngai có đâu động đến Hoàng Hậu, bởi nó là sư tử thiến thuở nay, Bát Giới nghe nói, chưa lấy làm tin, liền lại bên con yêu sư tử. Bởi thấy nó đứng chết cứng, nên mới dám rờ.

Bát Giới làm trây rờ thử, rồi cười ngất nói rằng:

- Thiệt là có tiếng không có miếng, chẳng say rượu cũng mang tiếng mang bầu!

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Vậy thôi Bồ Tát thâu nó mà đem về.

Văn Thù nói:

- Súc sanh chưa hiện nguyên hình lại, còn đợi chừng nào?

Con yêu quái ấy hiện hình sư tử.

Văn Thù lên cỡi về Ngũ Đài Sơn.


Hồi 40
Hồng Hài lập kế bắt Ðường tăng
Hành Giả dùng mưu trừ yêu quái
Khi ấy ba anh em Hành Giả vào đền, chúa tôi đồng quỳ lạy nghinh tiếp, Tôn Hành Giả thuật chuyện Văn Thù bồ tát thâu sư tử, vân vân, chúa tôi đều kinh hồn, lặng thinh không tạ Ơn Bồ Tát, Chúa tôi đương mừng rỡ, xảy thấy Hoàng môn quan vào tâu rằng:

- Có bốn ông hòa thượng đến ngoài.

Vua Ô Kê truyền chỉ mới vào, coi lại là sãi ở chùa Bữu lâm đem dưng áo mão đai giày đồ gởi, Tôn Hành Giả mừng rở, truyền dưng cho Hoàng đế mặc vào, Bão Tái tử lấy Ngọc khuê dưng ra, đặng chầu chực tung hô như mời.

Vua Ô Kê quỳ lạy khóc rằng:

- Tôi chết đã ba năm, nhờ ơn thầy cứu sống, tôi tình nguyện không làm vua nữa, dắt vợ con ra ngoài thành, xin chọn một vị sư phụ nào trị nước!

Tam Tạng nói:

- Chúng tôi là người tu hành, lẽ nào trị nước?

Vua Ô Kê nói:

- Xin sư phụ đừng nói khiêm, bởi đức thầy lớn lắm, đã làm thầy hết thãy, thì trị nước có dư.

Tam Tạng không chịu, chí dốc thỉnh kinh mà thôi.

Vua Ô Kê thấy Tam Tạng từ chối hoài, liền thĩnh Tôn Hành Giả, Tôn Hành Giả cười rằng:

- Chẳng nói giấu chi các ông, nếu tôi muốn làm Hoàng đế, thì lên ngôi thiên tử đã lâu, bởi làm hòa thượng quen rồi, tật làm biếng càng ngày càng ớn, nếu làm vua mất công đội mão thắt đai, rộn ràng nực nội, phải thức khuya dậy sớm, không đặng ngủ ngày, nghe báo có giặc thì lo, thấy dân mất mùa cũng sợ!Vậy thì ở đâu quen đó, nghề nào ưa nghề nấy mà thôi. Bệ Hạ làm vua, còn chúng tôi làm hòa thượng.

Bát Giái, Sa Tăng nghe nói đồng khen phải.

Khi ấy vua Ô Kê hết phép, túng phải mặc đồ vua lên ngai bá quan văn vỏ đồng tung hô chúc lạy, vua Ô Kê phán rằng:

- Trẩm nay lên ngôi cũ, thiệt nhờ ơn đức bốn thầy, vậy thì truyền thợ khéo vẻ chơn dung đặng quả nhơn thờ phượng, trẩm sẽ đem châu báu vàng ngọc, xin Bệ Hạ đội điệp thông hành mà thôi.

Vua Ô Kê phải y lời.

Rồi truyền chỉ phong tặng chùa Bữu lâm, và các sải dưng y phục, ân xá tù tội cho thiên hạ.

Khi ấy ăn tiệc xong rồi, bốn thầy trò từ giả, vua Ô Kê cầm không đặng, chẳng biết làm sao, truyền lấy xe loan mời Tam Tạng lên ngồi, vua Ô Kê và Hoàng Hậu Đông cung đẩy xe ra một đổi.

Bá quan thấy vậy, đưa tiếp khỏi thành, hai đàng giã từ kẻ lui người tới.

Nói về bốn thầy trò đi tới mãn tháng chín, hết thu qua đông.

Tam Tạng thấy một hòn núi cao chớn chở, thất kinh kêu Hành Giả nói rằng:

- Đồ đệ Ơi! Núi cao chắc có yêu tinh, đồ đệ phải coi chừng cho lắm.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Có tôi bảo hộ, thầy còn nghi sợ làm chi, hãy cứ việc đi mãi.

Tam Tạng nghe lời giục ngựa lên núi một hồi, Tôn Hành Giả thấy một đạo hồng quang như lửa, ở trong hang đá chiếu đỏ mây.

Tôn Hành Giả kinh hãi ôm ngang Tam Tạng đem xuống ngựa, kêu Sa Tăng, Bát Giới biểu đưa binh khí gì giữ xung quanh, vì có yêu tinh gần tới, Sa Tăng, Bát Giới nghe lời.

Nói về con yêu ấy là Hồng Hài Nhi, xưng hiệu Thánh Anh đại vương, ở Hỏa vân động, con trai của Ngưu Ma Vương và La Sát.

Khi ấy Hồng Hài ở trên mây ngó xuống nói rằng:

- Bấy lâu ta nghe Thiền Tử đầu thai làm Đường Tăng, nếu ăn thịt là trường thọ, nên ta ngóng trông đôi bữa, chờ đợi từ ngày, không dè bữa nay gặp mặt, chắc là hòa thượng trắng và mập ngồi trên ngữa hồi nãy, bị ba sãi xấu mới bảo hộ xung quanh, không biết hòa thượng nào biết có ta nên giữ trước! Như vậy thì hết kể ăn thịt Đường Tăng!

Nói rồi nghĩ rằng:

- Thế làm hỗn thì nó giữ già, chắc bắt không đặng, chờ làm êm thì có thế lại gần, sẽ thừa cơ mà bắt nó.

Tính rồi liền xuống núi, chận đầu chừng 3 dặm, hóa ra thằng nhỏ tuổi, trần truồng bị trói trên cây, và khóc và la, kêu người cứu mạng làm phước.

Khi ấy Tôn Hành Giả thấy mây đỏ đã tan hết, liền mời thầy lên ngựa mà đi, Tam Tạng nói:

- Ngươi mới nói có yêu quái, sao lại biểu ta đi?

Tôn Hành Giả thưa:

- Bởi tôi thấy hơi đỏ như lửa, ở dưới núi mà xẹt lên mây, nên biết có yêu quái, nay hơi ấy tan hết, thì yêu quái đã đi xa rồi, tôi chắc nó là yêu quái đi đường, không can chi mà sợ. Vậy xin thầy lên ngựa mà đi.

Bát Giới cười rằng:

- Yêu tinh cũng có đi đường?

Tôn Hành Giả nói:

- Ngươi thiệt chưa hiểu sự ấy, nếu có động nào làm yến tiệc, thì nó mời yêu tinh các nơi phó hội, nên yêu ấy có ý đi ăn tiệc, chẳng tìm tâm bắt người, ấy là yêu tinh đi đường, sao gọi là không có?

Tam Tạng nghe nói, bán tinh bán nghi, liền lên yên giục ngựa.

Đi một hồi nghe tiếng kêu:

- Cứu tôi làm phước!

Tam Tạng kinh hãi hỏi rằng:

- Đồ đệ Ơi!Ai ở giữa hòn núi mà kêu vang?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Xin thầy đừng hỏi làm chi, cứ đường ngay mà đi mãi!

Tam Tạng y lời đi một hồi, nghe càng gần lắm!

Tam Tạng nói:

- Đồ đệ, tiếng kêu nghe rõ ràng, chắc là người mắc nạn cũng nên cứu người làm phước, chớ khá bỏ qua.

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Bữa nay xin thầy dẹp đỡ hai chữ làm phước lại, hỏi điềm lành không có, còn điềm dữ rất nhiều, hễ thương người thì hại mình, hay làm ơn mắc oán. Xin chuyện đâu bỏ đó, đừng nghe đừng hỏi làm chi.

Tam Tạng y lời không hỏi nữa.

Nói về Hồng Hài la càng ngày càng lớn.

Tôn Hành Giả nổi giận nghĩ rằng:

- Không biết con yêu nầy ở đâu, mà kêu hoài kêu hủy! Để ta làm phép mẹo dậu tinh cho cách bức nhau đừng thấy mặt mới đặng.

Nghĩ rồi đứng dừng lại, làm phép thâu đường, đưa mấy thầy trò qua bên kia núi, té ra con yêu ở phía sau lưng.

Khi ấy Hồng Hài kêu hoài không đặng, lấy làm lạ nói rằng:

- Mình đón đường cách có ba dặm, sao đi lâu tới vậy kìa, có khi đi vòng qua chót núi thì phải". Nói rồi đằng vân lên coi nữa.

Tôn Hành Giả ngó lên thấy, liền bồng Tam Tạng để xuống, kêu Sa Tăng Bát Giới nói rằng:

- Yêu tinh tới nữa, phải bảo hộ như khi nãy mới an.

Sa Tăng Bát Giới đều đưa khí giới mà vây phủ.

Khi ấy Hồng Hài ở trên mây xem thấy khen rằng:

- Hòa Thượng nào có tài thiệt, biết trước mà giữ gìn, nếu bắt không đặng người ấy thì hết trông ăn thịt Đường Tăng.

Nói rồi bay xuống, hóa ra con nít bảy tuổi, tay chân bị trói trên cây như khi trước, song bây giờ đón đường gần lắm, cách chừng một dặm mà thôi, cũng kêu la như trước.

Khi ấy Tôn Hành Giả thấy khí yêu đã tan, liền thỉnh thầy lên ngựa.

Tam Tạng trách rằng:

- Ngươi nói có yêu quái tới, sao lại biểu ta đi?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Cũng là yêu quái đi đường, không dám làm hổn.

Tam Tạng nổi giận mắng rằng:

- Con khỉ nầy cứ gạt ta mãi, khi lên núi lại nói có yêu tinh, ba hồi dọa ta nói có yêu có yêu, kéo đùa xuống ngựa, giây phút lại biểu lên yên, cứ nhát ta như vậy, lại kéo lên kéo xuống mãi, rủi gãy tay gãy cổ, thì mới làm sao?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Xin thầy đừng giận, dầu gãy tay gãy chơn còn trị đặng, rủi lầm yêu quái biết làm sao?

Tam Tạng giận muốn niệm chú cẩn cô.

Sa Tăng theo khuyên giải, Tam Tạng mới lên yên giục ngựa.

Xảy nghe tiếng kêu rằng:

- Thầy ôi!Cứu tôi với!Cứu tôi với!

Tam Tạng ngó thấy đứa nhỏ trần truồng, bị treo tay chơn trên đại thọ.

Tam Tạng gò cương lại mắng Hành Giả rằng:

- Con khỉ nầy làm biếng quá, ta nghe rõ ràng, tiếng người kêu cứu, nó một hai cứ nói là yêu, bây giờ ngươi coi, phải là người ta bị treo trên cây đại thọ, nào yêu quái ở đâu?

Tôn Hành Giả thấy thầy đương giận, không dám trả lời.

Tam Tạng cầm roi ngựa chỉ thằng nhỏ mà hỏi rằng:

- Ngươi là con nhà ai? Vì cớ nào mà bị trói tại đó?

Hồng Hài nghe nói liền khóc rằng:

- Thầy ôi, phía bên Tây núi nãy có một cái suối Khô Tòng, dựa suối ấy có một xóm lớn, nguyên trước ông nội tôi là Hồng Bá Vạn, tuổi già đã qua đời, để sự sản cho cha tôi là Hồng Thập Vân bởi cha tôi đãi đằng khách khứa, cho vay khắp nơi, bị quân hoang lường gạt, không trả vốn lời, cha tôi tức mình thề chẳng cho vay nữa, bởi cớ ấy nên quân hoang vay hỏi không đặng, vầy đoàn ăn cướp hằng ngày giết cha tôi, bắt mẹ tôi về làm yểm trại phu nhơn chi đó, lấy của sạch trơn. Khi ấy mẹ tôi ôm tôi trong lòng mà khóc, chúng nó hối đi theo, mẹ tôi bồng tới đây, lũ ăn cướp bảo giết tôi cho rảnh, mẹ tôi năn nỉ lắm, nó mới trói tôi tại đây, rồi dẫn mẹ tôi đi mất. Thương hại, tôi bị trói ba ngày đêm mà không thấy một người qua lại, chắc là chết đói trong rừng, chẳng ngờ nhờ phước ông bà, mới gặp thầy đi tới, xin thầy làm phước cứu tôi về nhà tôi sẽ bán mình mà đền ơn cứu tử.

Tam Tạng bảo Bát Giới mở xuống.

Bát Giới cũng nghe lời, Tôn Hành Giả cản lại nạt rằng:

- Yêu quái ta có biết mặt ngươi ở núi nầy, đừng giả hình mà gạt chúng, nếu nội nhà mi đã tuyệt, bây giờ giao mi cho ai? Ngươi lấy chi mà tạ Ơn, ấy lời nói trớ trêu mà té mối!

Hồng Hài làm bộ sợ run và khóc và năn nỉ rằng:

- Thầy ôi! Tuy cha mẹ tôi không còn, gia tài cũng hết. Song ruộng đất còn nhiều, ông ngoại tôi ở phía Nam, cô tôi ở phía Bắc, còn đầu suối có Lý Bứ là dượng tôi, trong rừng ấy có bác tôi là Hồng Tam, tại ấy cũng nhiều người quen lớn nữa. Nếu sư phụ cứu tôi về đó, tức thì bán ruộng đất đền ơn.

Bát Giới nói:

- Anh hạch hỏi làm chi, đứa con nít bây lớn nó nói cũng phải, cứu nó cho rồi.

Vừa nói vừa cắt dây cho nó, đem Hồng Hài xuống đất nó liền khóc mà lạy thầy.

Khi ấy Tam Tạng thấy càng thương, bảo lên ngồi trước yên ngựa.

Hồng Hài khóc mà thưa rằng:

- Thầy ôi! Tôi bị trói ba bữa rày, tay chơn đã tê mà cứng, mình mẩy đau rêm, vả lại tôi chưa từng cỡi ngựa, nên chẳng dám ngồi cao.

Tam Tạng nói:

- Thôi Bát Giới cỏng giùm một chút.

Hồng Hài lau nước mắt thưa rằng:

- Thầy ôi! Tôi không dám chịu ông ấy cỏng, bởi vì lông gáy nhọn như kim, sợ đâm nhầm chảy máu.

Tam Tạng nói:

- Thôi Sa Tăng chịu khó cỏng đi.

Hồng Hải lau nước mắt thưa rằng:

- Tôi bị ăn cướp hành hung, bây giờ nghĩ còn sợ! Nay thầy nầy mặc mày hung lắm, tôi chẳng dám gần.

Tam Tạng nói:

- Thôi, Tôn Hành Giả chịu khó cỏng một hồi.

Tôn Hành Giả cười hả hả rằng:

- Tôi cỏng cho, tôi cỏng cho.

Hồng Hài mừng rỡ nói:

- Cám ơn thầy vui vẻ, tôi lấy làm bằng lòng.

Tôn Hành Giả kê vai cỏng thử, nặng không tới bốn cân.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Mi là yêu quái, nay tới số rồi, cả gan cợt ta, tưởng ta không biết cội rễ.

Hồng Hài thưa rằng:

- Tôi là con nhà lương thiện, rủi mắc nạn mới đến nước nầy, sao sư phụ không thương, kêu tôi là yêu quái.

Tôn Hành Giả nói:

- Nếu mi không phải là yêu, sao mình nhẹ như giấy?

Hồng Hài nói:

- Tại tôi nhỏ xương nên ít nặng.

Tôn Hành Giả nói:

- Thôi ta cũng rán cỏng ngươi, song mắc đi tiểu, đại chi chi, thì phải nói cho ta hay trước.

Nói rồi liền cỏng đi theo thầy, tuy ngoài miệng nói xuôi, chớ trong lòng giận lắm, quyết lừa thế vật chết mới nghe.

Khi ấy Hồng Hài ở trên lưng Hành Giả, biết cố ý vật mình, Hồng Hài liền hớp gió Tây bốn lần thổi trên lưng Hành Giả.

Tôn Hành Giả nghe sau lưng ước nặng ngàn cân liền cười rằng:

- Con ôi! Con làm phép nặng, mà đè cha cho nhẹp ruột phải không?

Hồng Hài nghe hỏi gằn, liền xuất hồn lên mây bạc.

Còn Tôn Hành Giả cỏng nặng quá, nổi giận vật xuống đá nát thây.

Tôn Hành Giả giận cùn, xé tát tay chơn quăng dựa lộ.

Hồng Hài ở trên mây ngó thấy, nổi giận nói rằng:

- Hòa Thượng khỉ thiệt dữ quá, lúc nầy không bắt Tam Tạng, còn đợi chừng nào. Nói rồi nổi một trận gió, đá chạy cát bay, Bát Giái, Sa Tăng đều cúi đầu nhắm mắt, Tôn Hành Giả biết gió yêu, liền chạy lại giữ thầy mà không kịp, Tam Tạng bị Hồng Hài thỉnh về động.

Khi ấy lặn gió rồi. Tôn Hành Giả lại kêu Bát Giái, Bát Giới chờ dậy nói rằng:

- Anh ôi, gió lớn quá!

Tôn Hành Giả hỏi:

- Thầy ở đâu?" Bát Giới nói:

- Giông gió đùng đùng, thổi bét con mắt, chúng tôi mãn cúi đầu àm núp, còn thầy mọp trên lưng ngựa rõ ràng, sao bây giờ chẳng thấy ở đây. Không phải là tim bức mà bay mất!

Tôn Hành Giả nói:

- Thôi, bây giờ anh em ở đâu về đó!

Bát Giới nói:

- Phải, phải!

Sa Tăng nghe nói kinh hãi hỏi rằng:

- Anh nói cái gì lạ vậy? Bởi chúng ta nặng tội lắm, nhờ ơn Quan Âm Bồ Tát dạy khuyên, nên đặt tên lại mà tu hành cho giải nghiệp, bảo hộ thầy lạy Phật thỉnh kinh, ngõ đem công trừ tội; bây giờ anh bảo ở đâu về đó, thì chẳng là hữu thủy vô chung, trước cãi lịnh Quan Âm, sau bỏ tình sư phụ, còn chi công quả bấy lâu, chắc bị người sau biếm nhẻ!

Tôn Hành Giả nói:

- Sư đệ nói thông lắm, song sư phụ không nghe lời nói phải, cứ chấp kinh mà chẳng biết tùng quyền; bảo làm phước cho yêu, bằng không thì giận, thấy hết lòng bảo hộ, lại mắng nhiếc ngầy ngà, bởi chẳng nghe lời ta, nên khiến ngã lòng như vậy.

Như con yêu hồi nãy, thầy cũng nói là người ta, bắt cỏng lên cỏng xuống, bởi vậy nó mới lại gần, xuất hồn ra hóa gió mà bắt thầy, ta tức mình muốn bỏ đi cho rảnh, song hiền đệ có lòng chung thủy, thì đồng tìm yêu quái mà cứu thầy.

Bát Giới nói:

- Cũng đặng, cũng đặng, kẻ dắt ngựa, người gánh đồ, đi kiếm hết lòng cũng phải đặng

.

Khi ấy ba anh em kiếm hơn bảy chục dặm đường, cũng không thấy Tam Tạng.

Tôn Hành Giả nóng quá, nhảy vọt lên chót núi, hiện ra ba đầu sáu tay, cứ hay tay cầm một cây thiết bãng, đụng đâu đập đó, phá núi rầm rầm.

Nói về các vị Sơn Thần, Thổ Địa kinh hãi chạy tới rần rần, mấy ông thần nghèo lắm, áo quần rách rưới lang thang, cũng chạy tới đồng quỳ lạy ra mắt.

Tôn Hành Giả hỏi rằng:

- Vì cớ nào Thổ Địa, Sơn Thần đông quá?

Các Thần thưa rằng:

- Núi nầy gọi là Hiệu Sơn Đầu, cao sáu trăm dặm, cứ mười dặm thì một Sơn Thần mười dặm thì một Thổ Địa , nên cộng ba mươi Sơn Thần và ba mươi Thổ Địa, hết thảy là sáu mươi.

Hôm qua chúng tôi đã hay Đại Thánh đến, ngặt hội tề chưa đủ, nên trễ việc tiếp nghinh, xin thương tình thứ tội.

Tôn Hành Giả hỏi:

- Chẳng hay núi nầy có hết thảy mất con yêu?

Các Thần thưa rằng:

- Có một con, mà nó hại chúng tôi trùn đầu trùn óc, đến nổi hương tàn khói lạnh áo rách quần hư, chớ chi đặng vài con yêu, thì chúng tôi chết hết.

Tôn Hành Giả hỏi:

- Con yêu nầy ở đâu?

Các Thần thưa rằng:

- Nó ở tại động Hỏa Vân, gần Khô Tòng giảng. Thiệt nó, thần thông cao lắm, sai chúng tôi như thể gia đinh, bắt đốn cây chụm lửa, hoặc là hầu hạ đêm ngày. Còn lũ tiểu yêu còn xin tiền rằng khác!

Tôn Hành Giả nói:

- Các ngươi ở trên núi, ai cúng mà có tiền?

Các Thần nói:

- Nếu không có thì phải bắt thịt rừng mà dưng cho nó, nếu không thì phá miễu đập đồ, báo hại chúng tôi trần ai hết thảy. Xin Đại Thánh trừ nó mà cứu kẻ hiền lành. Tôn Hành Giả hỏi:

- Các ngươi biết gốc con yêu ấy hay không?

Các Thần thưa rằng:

- Tôi nói ra thì Đại Thánh đủ hiểu. Nó là con trai Ngưu Ma Vương, mẹ nó là La Sát (Thiết Phiến Công Chúa), còn tên nó là Hồng Hài (Hồng Hài Nhi), xưng hiệu là Thánh Anh đại vương. Trước kia nó tu tại Hỏa Diệm Sơn ba trăm năm, nên tu luyện đặng tam mụi chơn hỏa. Ngưu Ma Vương mới sa nó đến trấn núi nầy.

Tôn Hành Giả nghe đủ mọi lời, rồi cho Sơn Thần và Thổ Địa về hết.

Khi ấy Tôn Hành Giả, ở trên chót núi nhảy xuống, hiện nguyên hình nói với Sa Tăng Bát Giới rằng:

- Hai em đừng lo sợ, bề nào thầy cũng bình an, vì con yêu nầy có bà con với Lão Tôn, cha nó là Ngưu Ma Vương, mẹ nó là Thiết Phiến Công Chúa. Còn tên tộc nó là Hồng Hài. Nguyên 500 năm trước Lão Tôn có kết bạn với Ngưu Ma Vương, ta kêu Ngưu Ma Vương bằng anh, thì thằng Hồng Hài kêu ta bằng chú, chắc không lẽ ăn thịt ta?

Bát Giới cười ngát nói rằng:

- Anh ơi! Lời tục nói: Ba năm chẳng tới sân, dầu quen cũng xa lạ, huống chi chuyện nầy cách 5, 6 trăm năm chẳng hề có thăm viếng chi hết, mà n ó chịu nhìn hay sao?

Tôn Hành Giả nói:

- Dầu nó không nhìn mà kêu bằng chú, chớ lẽ nào dám hại thầy ta, vì cái danh của Lão Tôn, cha nó cũng phải sợ.

Khi ấy ba anh em đi hơn một trăm dặm, tới suối Khô Tòng. Có một cái cầu bắc ngang qua ngọn suối, dựa cầu có một cái động.

Tôn Hành Giả nói:

- Chắc là Hồng Hài Nhi ở đây. Vậy Sa Tăng đem gói đồ vô rừng mà giữ.

Sa Tăng y lời.

Còn Bát Giới và Tôn Hành Giả nhảy qua suối Khô Tòng, lại gần cửa động, thấy có tám chữ lớn như vầy: Hiệu Sơn, Khô tòng Giảng, Hỏa Vân Động.

Còn nhiều tiểu yêu hầu hạ Ở trong.

Tôn Hành Giả thấy chúng nó đang múa gươm múa giáo, liền hét lớn rằng:

- Chúng bây, mau vào báo với chúa động, bảo thả thầy ta ra, bằng không thì chết hết cả ổ.

Xảy có tiểu yêu vào báo rằng:

- Có một ông Hòa Thượng mặt tợ Thiên lôi, và một sãi mỏ dài tai lớn, đứng trước cửa động, biểu Đại Vương trả thầy.


Hồi 41
Ngộ Không mắc lửa thiêu
Bát Giới bị yêu bắt
Khi ấy Hồng Hài nghe báo cười rằng:

- Hai người ấy là Tôn Hành Giả với Bát Giái. Chúng nó đi kiếm thiệt giỏi chớ phải chơi! Tiểu yêu, bây đẩy năm cái xe ngũ hành góp lại.

Tiểu yêu vưng lời.

Khi ấy Bát Giới ngó thấy như vậy, liền nói với Tôn Hành Giả rằng:

- Đại ca, có khi yêu quái nó sợ chúng ta, nên mở cửa kéo xe, chở đồ đi trốn chăng? Nói vừa dứt tiếng thấy Hồng Hài cầm cây giáo hỏa tiêm dài tám trượng, đầu không đội mão, mình chẳng nịt giáp, chơn chẳng hia giày, nhảy đứng trên xe ra cửa động.

Mặt như dồi phấn, môi tợ thoa son.

Láng nhuốt tóc mây, cong vòng mày nguyệt.

Khi ấy Hồng Hài ra cửa hỏi rằng:

- Ai dám tới đây kêu gọi?

Tôn Hành Giả nói:

- Chú đây chớ ai. Vậy thời cháu trả thầy cho xuôi, đừng để mất nghĩa bà con, sau anh hay bị quở.

Hồng Hài nổi giận nạt rằng:

- Ai bà con với con khỉ già, mà kêu ta bằng cháu?

Tôn Hành Giả nói:

- Bởi cháu không rõ. Chú khi trước là Tề Thiên đại thánh. Và năm người nữa là bảy anh em. Mà chú là thứ bảy. Bởi khi ấy đến đây đã 500 năm dư, nên lớp đó chưa có cháu.

Hồng Hài chẳng hề tin, cầm giáo đâm nhầu.

Tôn Hành Giả đưa thiết bãng đỡ, và mắng rằng:

- Tiểu súc sanh, không biết thấp cao, quyết trận nầy một còn một mất.

Nói rồi đằng vân hỗn chiến hai mươi hiệp cầm đồng.

Còn Bát Giới ở ngoài coi rõ ràng, tuy con yêu không chạy song có một nghề đỡ, chớ đánh chẳng đặng Ngộ Không.

Bát Giới đằng vân, giá đinh ba đập lại.

Hồng Hài kinh hãi bại tẩu.

Tôn Hành Giả và Bát Giới đuổi theo.

Khi ấy Hồng Hài chạy đến cửa động, giở tay mà đấm mũi mình.

Bát Giới lấy làm lạ, cười ngất nói rằng:

- Thiệt con yêu khùng, không biết hỗ thẹn! Thế mi đấm mình cho sặc máu mũi và niệm chú, trong mũi bay ra khói đen, hả miệng phun lửa đỏ. Ban đầu cháy ít, lâu lâu lửa dẩy đỏ trời, thấy lửa trong con mắt Hồng Hài bay ra như chớp.

Bát Giới hoảng hốt nói rằng:

- Anh ôi! Lửa dậy từ bề chạy ngõ nào cho khỏi? Phen nầy tôi chắc bị quay.

Nói rồi bỏ Hành Giả cong lưng chạy đại.

Tôn Hành Giả ỷ giỏi, niệm chú tị hỏa và bắt ấn. Lũi vào lửa kiếm con yêu mà đánh. Hồng Hài thấy Tôn Hành Giả gần tới, liền phun lửa tam mụi trong con mắt và miệng mũi tuôn ra.

Tôn Hành Giả bị lửa lòa con mắt, kiếm chẳng đặng yêu. Túng phải quay lại nhảy qua con suối.

Còn Hồng Hài thấy Tôn Hành Giả chạy xa rồi, liền thâu lửa và truyền quân dẹp xe, mà đóng cửa động, lấy làm vui vẻ.

Nói về Tôn Hành Giả qua khỏi suối Khô Tòng. Nghe Bát Giới đương ngồi nói chuyện với Sa Tăng.

Tôn Hành Giả nổi giận, nạt lớn rằng:

- Mi là con heo sợ lửa, bỏ ta mà chạy về đây, thiệt là đồ vô dụng.

Bát Giới cười ngất nói rằng:

- Anh ôi! Lời xưa nói: Chim khôn tránh bẫy tránh dò, người trí lo xa trốn trước. Bởi con yêu ấy không quen thuộc chi với anh, nên nó chẳng nhìn cũng ph ải sao anh còn xưng chú kêu cháu làm chi? Nó đã giận phun lửa rần rần, sao anh không chạy theo tôi, hãy còn ở mà đánh liều mạng? Sao chẳng xét mình vô trí, lại chê tôi bất tài?

Tôn Hành Giả hổ người hỏi lảng rằng:

- Ngươi nhắm sức con yêu ấy hơn ta chăng?

Bát Giới nói:

- Nó dở lắm. Bởi tôi thấy như vậy mới trợ chiến với anh. Không dè nó chạy đổ lửa! Tôn Hành Giả nói:

- Tại người làm phá đám. Phải chi để nó đánh ít hiệp nữa, thì ta bắt sống như chơi.

Khi ấy Sa Tăng thấy hai người cãi lẽ với nhau, thì ngồi dựa cội tòng cười ngất.

Tôn Hành Giả hỏi:

- Vì cớ nào mà sư đệ cười khan?

Sa Tăng thưa rằng:

- Tôi nghe hai anh nói như vậy, thì con yếu ấy bất tài; nhờ có lửa mà thắng trận. Sao anh không dùng vật tương khắc mà trị nó, để ngồi cãi lẫy làm chi?

Tôn Hành Giả nói:

- Phải, vậy thì hai người ở đây. Để ta xuống mượn Long Vương biển Đông, phun nước trợ chiến mà bắt nó.

Nói rồi liền đằng vân đi tuốt.

Nói về Đông hải Long Vương Ngao Quảng thấy Tôn ngộ Không đến Thủy Tinh cung thì tiếp đãi tử tế.

Tôn Hành Giả nói:

- Tôi đến đây cậy ông một việc Nguyên thầy tôi đi tới núi Hiệu Sơn, suối Khô Tòng, bị chúa động Hỏa Vân là Hồng Hài bắt đi. Tôi đánh với nó, bị phun lửa nên thất cơ. Bởi cớ ấy nên Lão Tôn xuống đây, xin ông làm mưa trợ chiến.

Ngao Quảng nói:

- Sự làm mưa tôi không dám tự chuyên. Phải có chỉ Thượng Đế hiệp với Lôi Công làm sấm, Điển Mẫu làm chớp, Phong Bá nổi gió, Vân Đồng kéo mây thì mưa mới đặng.

Tôn Hành Giả nói:

- Ta không dùng gió mây sấm chớp, cần ba miếng nước cho tắt lửa mà thôi.

Ngao Quảng nói:

- Như vậy thì đặng. Để với các em tôi, đồng trợ với Đại Thánh một trận, mà cứu Đường Tăng.

Nói rồi cho mời ba em, đồng đi theo Tôn Hành Giả.

Khi tới Khô Tòng giảng, Tôn Hành Giả dặn bốn vị Long Vương rằng:

- Các ông hãy ẩn trên nầy, để tôi khiêu chiến. Nếu tôi thắng trận, thì các ông đừng trợ lực mất công. Chừng nào nó phun lửa ra, tôi kêu lớn các ông sẽ phun nước.

Bốn vị Long Vương y lời.

Còn Tôn Hành Giả vào rừng thuật chuyện cho Sa Tăng , Bát Giới hay, rồi cấp thiết bãng nhảy qua khỏi suối, gần đến cửa động chưa kịp khiêu chiến.

Tiểu yêu biết mặt, liền vào báo rằng:

- Tôn Hành Giả tới nữa.

Hồng Hài nghe báo, cầm giáo lên xe. Ra đến cửa động hỏi rằng:

- Tôn Hành Giả ngươi còn đến đây làm chi nữa?

Tôn Hành Giả nói:

- Đến đây không có chuyện chi lạ, ngươi trả thầy cho ta thì êm.

Hồng Hài nói:

- Con khỉ không biết chuyện đời. Thầy ngươi là đồ uống rượu của ta, lẽ nào chịu trả.

Tôn Hành Giả nổi nóng, đập một thiết bãng, Hồng Hài đưa giáo đỡ liền, đánh đặng hai mươi hiệp.

Hồng Hài đánh không lại liền chạy, cũng đấm mũi phun lửa ra.

Tôn Hành Giả ngó ngoái kêu lớn rằng:

- Long Vương ở đâu, sao không thấy mưa xuống?

Bốn vị Long Vương nghe kêu, liền phun nước một lượt. Bởi Tam muội chơn hỏa không phải như lửa thường mà tắt, có nước vào như chế thêm dầu. Mưa lớn chừng nào, thì lữa cháy thêm chừng ấy.

Tôn Hành Giả bắt ấn tị hỏa và niệm chú. Lặn trong lửa kiếm Hồng Hài mà đánh.

Còn Hồng Hài thấy Tôn Hành Giả đi gần tới, liền phun khói vào mặt.

Tôn Hành Giả nước mắt ra dầm dề.

Bởi Tôn Hành Giả khi trước bị lão quân đốt trong lò Bát quái, Tôn Hành Giả chun vào cung Tốn mà trốn lửa, bị khói un con mắt đã vàng, nên từ ấy sắp sau, không sợ lửa mà sợ khói. Bởi cớ ấy Tôn Hành Giả bị Hồng Hài phun khói vào mặt hai lần, thì nhắm con mắt mà chạy.

Hồng Hài thâu phép vào động.

Tôn Hành Giả cả mình những khói lửa, phần thì ngộp và nóng, nên nhãy xuống suối cho mát.

Chẳng ngờ bị nước rút hơi lửa vào trái tim, hồn liền bỏ xác, nghĩ vậy khá thương.

Khi ấy bốn vị Long Vương thấy vậy kinh hãi thâu mưa và kêu lớn rằng:

- Thiên Bồng nguyên soái và Quyện Liêm tướng quân, đi vớt sư huynh dưới suối cho kiếp!

Bát Giái, Sa Tăng nghe kêu hiệu thánh của mình, biết là Long Vương báo tin cần cấp. Hai người đồng chạy ra mé suối, thấy một người bị gió dập sóng giồi!

Sa Tăng hồ nghi nóng ruột, nhảy đại xuống vớt lên, coi lại thiệt thây Hành Giả chết queo, cả mình lạnh ngắt.

Sa Tăng ôm thây khóc kể rằng:

- Sư huynh ôi! Muôn năm đắc đạo đã trường sanh, một phút thất cơ nổng tử. Em thương tiếc biết chừng nào!

- Bát Giới cười rằng:

- Sư đệ khóc làm chi cho uổng nước mắt. Thiệt con khỉ giả đò chết, mà dọa chúng ta. Chớ nó có thất thập nhị huyền công, đời nào chết thiệt. Người hãy nắm cặp giò, kéo ra cho ngay thẳng, đặng ta làm phép cho mà coi.

Sa Tăng vưng lời, nắm cẳng Hành Giả kéo ngay ra, Bát Giới kéo tay cho giản gân cốt, rồi đỡ ngồi dậy dựa vào đầu gối mình, sửa chưng xếp bằng ngay thẳng.

Sa Tăng đỡ Hành Giả, còn Bát Giới chà hai bàn tay lại cho nóng háp mặt mày và bụng dạ cho Ngộ Không, vừa chà vừa mắng một hồi.

Tôn Hành Giả bắt hơi thở được, kêu lớn rằng:

- Thầy ôi!

Sa Tăng động lòng ứa nước mắt nói rằng:

- Thầy ôi! Sống ở với thầy đã hết lòng, nay tử khứ sanh lại cũng còn kêu sư phụ! Anh rán tỉnh lại cho mau. Có chúng tôi săn sóc.

Tôn Hành Giả nói:

- Có sư đệ đó sao?

Vừa nói vừa mở mắt ra than rằng:

- Lão Tôn bị rủi ro hết sức!

Nói rồi ngồi dậy ngó lên mây, hỏi lớn rằng:

- Anh em họ Ngao còn đó chăng?

Tứ hải Long Vương nói:

- Chúng tôi còn ở đây chờ đợi.

Tôn Hành Giả nói:

- Cám ơn các ông chịu nhọc mà rủi không nên việc! Nay xin lui về cung mà nghỉ ngơi, khi khác tôi sẽ mời nữa.

Bốn vị Long Vương vưng lời về hết, Sa Tăng vịn Hành Giả về cụm rừng.

Tôn Hành Giả kêu thầy và rơi lụy, Sa Tăng thưa rằng:

- Anh đừng phiền muộn làm chi. Hãy lo kế viện binh, mà cứu sư phụ.

Tôn Hành Giả nói:

- Khi trước Lão Tôn đánh tới Thiên cung, không ai cự lại. Nay con yêu nầy thần thông hơn ta nữa, biết viện ai bây giờ. Trừ ra thỉnh Quan Âm thì trị nó mới đặng. Ngặt ta còn bịnh và yếu, nên đằng vân không nổi, biết làm sao mà thỉnh Quan Âm! Bát Giới nói:

- Nếu muốn thỉnh ngài cũng không khó, vậy thì anh dặn dò cho kỹ đặng tôi thay mặt đi liền.

Tôn Hành Giả mừng rỡ khen rằng:

- Vậy thì hay lắm! Sư đệ đến Nam Hải làm lễ Quan Âm. Ngài hỏi đi đâu, thì em bạch cho rõ tên yêu và tên động tên núi, xin ngài từ bi xuống bắt nó mà cứu thầy. Bát Giới y lời, đằng vân quan Nam Hải.

Nói về Hồng Hài từ khi thắng Tôn Hành Giả, thì vui cười trong động.

Lại nói với tiểu yêu rằng:

- Tôn Hành Giả bị ta một trận, tuy không chết cũng ngất ngư, chắc nó viện binh báo cứu nữa. Chúng bây hãy mở cửa, đặng ta coi thử nó đi thỉnh ai?

Tiểu yêu y lời mở cửa động. Hồng Hài ra ngoài, đằng vân xem thử, thấy Bát Giới đi qua hướng Nam biết đi viện Quan Âm bồ tát.

Hồng Hài xuống bảo tiểu yêu rằng:

- Chúng bây lấy cái túi da, thay cái dây rút miệng túi cho chắc, đặng ta bắt Bát Giới bỏ vào túi như Như Ý ấy, hầm cho rục mà đãi chúng bây.

Tiểu yêu vưng lời thay dây miệng túi đem ra.

Hồng Hài chận đầu Bát Giới hiện hình Quan Âm ngồi trên núi.

Bát Giới đi trờ tới, ngỡ thiệt Quan Âm, liền đến trước mặt làm lễ rằng:

- Đệ tử là Trư ngộ Năng ra mắt.

Quan Âm giả hỏi:

- Sao ngươi không theo Tam Tạng đến đây có chuyện chi!

Bát Giới bạch rằng:

- Đệ tử đi với thầy tôi đến núi Hiệu Sơn, suối Khô Tòng, động Hỏa Vân, bị Hồng Hài bắt thầy tôi, nên đệ tử với sư huynh đồng đến động đòi thầy. Hồng Hài không chịu trả, anh em tôi đánh với nó bị lửa nên bại tẩu. Sư huynh tôi thỉnh Long Vương trợ thủy, đánh trận thứ nhì, té ra Long Vương mưa kjhông tắt lửa. Bởi cớ ấy, anh tôi bị thiêu, bịnh đi không nổi, nên sai đệ tử đi cầu Bồ Tát cứu thầy tôi.

Quan Âm giả nói:

- Chúa động Hỏa Vân không hề sát sanh hại mạng. Chắc là tại các ngươi xúc phạm Hồng Hài, ấy là tại Tôn Hành Giả. Nguyên trước Hồng Hài hóa ra con nít, tay chơn bị trói trên cây, cứ kêu cứu mạng. Thầy tôi bảo mở xuống, rồi sai Tôn Hành Giả cỏng một hồi, chẳng ngờ Tôn Hành Giả vật Hồng Hài một cái. Hồng Hài mới nổi gió mà bắt thầy tôi.

Quan Âm giả nói:

- Thôi ngươi đi theo ta đến động Hỏa Vân đặng ta nói giùm cho, chịu lỗi với chủ động mà xin tha Tam Tạng.

Bát Giới vưng lời đi theo Quan Âm giả đằng vân đến cửa động Hỏa Vân.

Quan Âm giả nói với Bát Giới rằng:

- Ngươi đừng nghĩ ngại chi hết, bởi chủ động nầy quen lớn với ta. Ngươi hãy đi theo mà làm lễ.

Bát Giới vưng lời theo vào động, bị tiểu yêu áp lại, bắt Bát Giới bỏ vào túi như ý, rút miệng túi treo lên trên trính.

Khi ấy Hồng Hài hiện hình thiệt nói lớn rằng:

- Trư Bát Giái, ngươi tài năng chi lắm, mà dám bảo hộ Tam Tạng đi Tây Phương? Sao lại thỉnh Quan Âm bắt ta nữa? Ngươi thiệt là con mắt To lắm, mà coi không biết Thánh Anh đại vương. Nay ta cho sắp nhỏ nó hầm ngươi, mà uống rượu một bữa. Bát Giới ở trong túi nghe rõ, nổi giận mắng rằng:

- Bây ở bất nhơn, làm kế mà bắt ta ăn thịt. Hễ ăn thịt ta, thì bây cũng bị dịch chết hết cả động, không còn một đứa, đừng ham ăn.

Nói về Tôn Hành Giả đương ngồi nói chuyện với Sa Tăng, xảy đâu trận gió mùi tanh, Tôn Hành Giả liền nhảy mũi, khi ấy Tôn Hành Giả đánh tay rồi kinh hãi nói rằng: - --- Không xong, không xong! Trận gió nầy có điềm chẳng lành, chắc là Bát Giới bị yêu bắt. Vậy thì sư đệ ngồi đây, đặng ta rán đi thám thính.

Sa Tăng thưa rằng:

- Anh hãy còn đau lưng đau mình, sợ đi chẳng nên, em xin thám thính coi thể nào? Tôn Hành Giả nói:

- Rất đổi Bát Giới là lau lách, còn bị nó thay. Huống chhi em tánh chơn chất, xợ lầm mưu trá. Bề nào anh cũng rán sức mới xong.

Nói rồi cắn răng, cầm thiết bãng đứng dậy, rán sức nhảy ngang qua suối, lần đến cửa động Hỏa Vân.

Khi ấy tiểu yêu ngó thấy, vào báo rằng:

- Có Tôn Hành Giả đến nữa.

Hồng Hài truyền tiểu yêu ra bắt.

Tôn Hành Giả biết mình còn bịnh không dám đánh, nhịn thua chạy vào bụi rậm trốn đi. Hóa ra gói đồ bỏ giữa lộ.

Tiểu yêu đuổi theo, kiếm không đặng Tôn Hành Giả. Lấy gói đồ về thưa với Hồng Hài rằng:

- Tôn Hành Giả thất kinh chạy mất, bỏ gói đồ lại đây.

Hồng Hài cười rằng:

- Nhắm gói đồ nầy không đáng bao nhiêu, bỏ dẹp đâu đó cũng đặng.

Tôn Hành Giả thừa dịp vắng người biến mất. Lại nhổ một sợi lông hóa ra gói đồ bỏ đó. Còn mình biến ra con lằn xanh bay lên trên ngạch cửa mà đậu.

Xảy nghe Bát Giới rên, nênt bay khắp nơi đi kiếm.

Đậu ngoài túi Như Ý nghe Bát Giới ở trong túi vừa than thở vừa mắng rằng:

- Thằng chúa yêu dám giả Quan Âm, gạt ta theo đến động mà nói giùm, bắt bỏ vào trong túi. Đã treo hỏng đất, lại còn hăm nấu rục mà đãi tiểu yêu! Nếu sư huynh ta đến đây, thì:

Cho biết Tề Thiên phép hiền linh,

Ra oai bắt hết lủ yêu tinh.

Miễn là mở túi đem ta xuống,

Đập ít Đinh ba mới phi tình.

Tôn Hành Giả đậu ngoài túi, nghe nói cười thầm rằng:

- Khá khen cho chịu ngột cả buổi trong túi da, mà hãy còn cứng!

Nghĩ rồi đương toan mưu mà cứu Bát Giới kẻo tội nghiệp, xảy nghe Hồng Hài hỏi:

- Sáu tên tướng mạnh, đến ta bảo dây!

(Sáu tên tướng mạnh là: Vân Lý Vụ, Vụ Lý Vân, Cấp Như Hỏa, Khoái Như Phong, Hưng Hồng Hiên, Hiên Hồng Hưng, sáu con tinh ấy là cật ruột của Hồng Hài tin cậy lắm mới phong làm Lục kiện tướng).

Khi ấy Lục kiện tướng đồng đến hầu.

Hồng Hài truyền rằng:

- Sáu đứa bây giờ mời Lão đại vương, đến ăn thịt Đường Tăng cho trường thọ.

Lục kiện tướng vưng lịnh đi liền, Tôn Hành Giả bay theo khỏi động.


Hồi 42
Ðại Thánh ân cần cầu Phật mẫu
Quan Âm nhơn đức trói Hồng Hài
Nói về Lục kiện tướng đi qua hướng Tây Nam, Tôn Hành Giả nghĩ rằng:

- Nó sai thỉnh Lão đại vương ăn thịt thầy ta, chắc Lão đại vương là cha nó, cha nó là Ngưu Ma Vương. Khi trước ta với Ngưu Ma Vương hãy còn làm yêu tinh. Tuy cách xa đã lâu năm, song chẳng quên diện mạo Ngưu Ma Vương, vì đầu trâu nên dễ nhớ. Vậy thì ta giả hình cha nó, coi nó biết hay chăng?

Nghĩ rồi bay tới trước xa biến hình Ngưu Ma Vương lại nhổ ít cái lông, làm lũ tiểu yêu săn bắn đàng trước.

Khi ấy Lục kiện tướng đi trờ tới, thấy Ngưu Ma Vương giả mà thưa rằng:

- Chúng tôi vưng lịnh Thánh Anh đại vương, mời Lão đại vương gia gia qua ăn thịt Đường Tăng cho trường thọ.

Ngưu Ma Vương giả nói:

- Thôi, các ngươi chờ dậy theo ta về nhà, đặng ta thay đổi áo xiêm sẽ qua phó yến. Lục kiện tướng thưa rằng:

- Xin Lão đại vương gia gia đừng trở về làm chi, e khứ hồi trễ nải. Bên chúa tôi thiếu chi y mão, xin đi luôn qua động sẽ đổi thay.

Ngưu Ma Vương giả cười rằng:

- Thiệt chúng bây tánh sốt sắng lắm. Thôi ta cũng y lời.

Nói rồi đồng đi theo Lục kiện tướng.

Khi về tới Hỏa Vân động, Cấp như Hỏa, Khoái như Phong chạy vào trước báo rằng:

- Lão đại vương gia gia đã đến.

Hồng Hài mầng rỡ khen rằng:

- Chúng bây giỏi lắm, đi lẹ như tên bay.

Nói rồi truyền nội động kéo cờ gióng trống, đồng nghinh tiếp Ngưu Ma Vương giả đi chẩm hẩm vào động ngồi trên.

Hồng Hài quỳ lạy ra mắt.

Ngưu Ma Vương giả cho ngồi hỏi rằng:

- Hôm trước con bắt Đường Tăng, người ấy tu hành đã mười đời, không vợ con chi hết. Nếu ăn một miếng thịt nó, thì sống đặng ngàn năm. Bởi cớ ấy nên con chẳng dám dùng riêng, mời phụ vương đồng hưởng.

Ngưu Ma Vương giả làm bộ hơ hải hỏi rằng:

- Đường Tăng nào đó con?

Hồng Hài thưa rằng:

- Đường Tăng đi thình kinh đó.

Ngưu Ma Vương giả hỏi rằng:

- Phải thầy Tôn Hành Giả hay chăng?

Hồng Hài thưa:

- Phải.

Ngưu Ma Vương giả lắc đầu và khoát tay và nói rằng:

- Đừng có chọc nó, đừng có chọc nó! Bởi con chưa biết lực Tôn Hành Giả, để cha nói cho mà nghe: Cách 500 năm trước, Tôn Hành Giả làm phản Thiên đình, Thượng Đế sai mười vạn thần binh đánh còn không lại, con dám ăn thịt thầy nó hay sao? Mau thả ra cho rảnh nếu con khỉ ấy nó hay tin ăn thịt thầy nó, nó không thèm đánh con làm chi. Nó lấy thiết bãng đập một cái cũng nát núi nầy, thì con đã nhẹp xương và chết hết cả động, cha già cả rồi lấy ai mà trông cậy a con.

Hồng Hài thưa rằng:

- Sao cha lại sợ chí khí của chúng, mà quên oai phong của mình! Con đánh với Tôn Hành Giả hai trận rồi coi cũng tầm thường lắm. Trận thứ nhứt con đốt nó bại tẩu. Trận thứ nhì nó viện Long Vương trợ thủy mà tưới không tắt lửa tam mụi của con, nó bị thiêu gần chết. Nó sai Bát Giới đi thỉnh Quan Âm. Con giả hình Quan Âm, dắt nó về động, bắt nhốt vào túi treo lên đó. Sớm mai nầy Tôn Hành Giả đến cửa động, con sai tiểu yêu bắt nó, nó thất kinh chạy bỏ gói đồ. Nên con mời phụ vương đến coi cho biết Đường Tăng, rồi sẽ làm thịt mà uống rượu.

Ngưu Ma Vương giả cười rằng:

- Con ôi! Con nhờ có tam mụi hỏa mà thắng Tôn Hành Giả, song nó có thất nhập nhị huyền công, biến hóa vô cùng!

Hồng Hài thưa rằng:

- Dầu nó biến hóa vật chi, con cũng nhìn ra hết thảy. Chắc là nó chẳng dám gới gần động Hỏa Vân đâu.

Ngưu Ma Vương giả nói:

- Con ôi! Nhìn làm sao mà biết cho đặng! Nó có biến ra vật lớn như tây tượng hùm beo làm chi mà biết. Nó biến ra muỗi mòng ong bướm thì con ra sao? Có khi nó hóa ra hình cha, con cũng lầm nữa chớ phải chơi?

Hồng Hài thưa rằng:

- Xin phụ vương đừng lo thái quá! Dầu nó da đồng xương sắt đi nữa, cũng không dám đến gần con.

Ngưu Ma Vương giả nói:

- Như vậy thì con thịêt giỏi trên đời, cự mới lại nó, nên rước cha ăn thịt Đường Tăng. Ngặt vì bữa nay cha ăn không đặng?

Hồng Hài thưa rằng:

- Sao bữa nay cha ăn không đặng?

Ngưu Ma Vương giả nói:

- Bởi năm nay tuổi cao tác lớn. Nên mẹ con ở nhà khuyên cha cãi ác tùng thiện. Nên cha đã ăn chay.

Hồng Hài thưa rằng:

- Chẳng hay Phụ vương ăn chay trường hay ăn chay thập?

Ngưu Ma Vương giả nói:

- Cha không phải trường chay, cũng không phải thập trai. Ấy là lôi trai mỗi tháng kiên bốn bữa.

Hồng Hài thưa rằng:

- Chẳng hay cha cử bốn ngày chi?

Ngưu Ma Vương giả nói:

- Tam tân phùng sơ lục. Nghĩa là mỗi tháng cứ ba ngày canh tân, và bữa mồng sáu. Nay nhằm ngày Tân dậu nên ăn chay. Để ngày mai cha tắm rữa Đường Tăng, sẽ nấu mà ăn chung một bữa.

Hồng Hài nghĩ thầm rằng:

- Cha mình ăn thịt người từ xưa đến nay, tính đã một ngàn tuổi, lẽ nào bây giờ lại ăn chay. Dầu trì trai một tháng bốn ngày, giải sao hết oan nghiệp!

Nghĩ rồi bước xuống hậu đường, kêu Lục kiện tướng hỏi rằng:

- Chúng bay thỉnh Lão đại vương tại đâu?

Lục kiện tướng thưa rằng:

- Chúng tôi gặp giữa đường năn nỉ thỉnh về lập tức.

Hồng Hài nói:

- Ta thấy chúng bây về mau lắm, nên nghi đi chẳng đến nhà.

Lục kiện tướng thưa rằng:

- Thiệt quả như vậy.

Hồng Hài nói:

- Không xong, không xong, ấy là Lão đại vương giả!

Lục kiện tướng thuật chuyện gặp đi săn vân vân.

Rồi nói rằng:

- Lẽ nào cha con mà không biết thiệt giả?

Hồng Hài nói:

- Ta coi hình dung cốt cách một mảy chẳng sai, ngặt không giống tiếng nói, nên ta nghi Hành Giả biến hóa. Vậy chúng bây hãy dàn khí giái cho sẳn đặng ta ra hỏi thử vài lời, như nói đặng thì thiệt cha ta, bằng trả lời không xuôi, thì nghe ta hự một tiếng, phải lập tức phủ vây mà bắt.

Các yêu tinh đồng vưng lịnh.

Khi ấy Hồng Hài trở ra quì lạy.

Ngưu Ma Vương nói:

- Sách có chữ: Gia vô thường lễ, ở nhà cứ việc thiệt tình thường sự, chẳng nên thủ lễ làm chi. Muốn nói chuyện gì thì nói.

Hồng Hài quỳ thưa rằng:

- Con thỉnh phụ vương đến đây, một là ăn thịt Đường Tăng, hai nữa hỏi một điều sở bức: Nguyên hôm trước con gặp thiền sư Trương Đạo Lăng, người thấy con tướng mạo thanh tân, nên hỏi ngày sanh mà coi giùm số. Bởi con quên lửng, xin cha dạy cho rành, đặng ngày sau tới Trương thiền sư để cậy người coi số.

Ngưu Ma Vương giả nghe hỏi cười thầm rằng:

- Con quỷ khôn quá! Phải chi nó hỏi chuyện nhà chuyện cửa, thì ta kiếm thế nói bừa, nay hỏi ngày sanh của nó, mình biết đâu mà nói!

Nghĩ rồi cười chuốm chiếm nói rằng:

- Thôi con chờ dậy, bởi cha tuổi già nên lẫn, quên phức ngày sanh tháng đẻ của con. Để mai cha về hỏi mẹ con, sẽ trả lời cho mà biết.

Hồng Hài nói:

- Phụ vương thường nhắc bát tự của con đã liền miệng, khen rằng sống lâu sánh với đất trời. Lẽ nào nay lại quên biệt! Chắc là giả mạo rõ ràng!

Nói rồi gầm một tiếng.

Khi ấy các yêu tinh nghe Hồng Hài hú lớn, chúng nó đồng áp lại phủ vây, Ngưu Ma Vương giả hiện hình thiệt. Cầm thiết bãng đỡ và nói rằng:

- Con ôi! Chẳng nên bất hiếu như vậy. Lẽ nào con lại đánh cha, sao không sợ Thiên Lôi đã tử?

Hồng Hài hổ ngươi nổi giận, giựt giáo đâm liền, Tôn Hành Giả hóa hào quang bay ra khỏi động, nhảy nganhg qua suối về rừng, đứng cười ngặt nghẹo.

Sa Tăng mừng rở hỏi rằng:

- Anh ôi! Giông một buổi về cười ngất một hồi chắc là cứu thầy đặng?

Tôn Hành Giả nói:

- Tuy cứu thầy chưa được, song ta đặng cửa trên.

Sa Tăng hỏi:

- Cửa trên làm sao?

Tôn Hành Giả thuật chuyện lại.

Sa Tăng thưa rằng:

- Anh tuy đặng cửa trên, song sợ sư phụ không còn tánh mạng.

Tôn Hành Giả nói:

- Sư đệ đừng lo sợ làm chi, để ta thỉnh Quan Âm xuống cứu.

Sa Tăng hỏi:

- Anh còn đau mình, đi sao đặng?

Tôn Hành Giả nói:

- Hết rồi, hết rồi.

Nói rồi cân đẩu vân bay qua Nam Hải, đến gành Lạc đà, ra mắt Quan Âm.

Quan Âm thấy Tôn Hành Giả lạy khan, liền hỏi rằng:

- Ngộ Không, ngươi đến đây có chuyện chi?

Tôn Hành Giả bạch thưa hết các việc.

Quan Âm nói:

- Tam muội hỏa của nó không phải tầm thường. Sao ngươi chẳng thỉnh ta cho sớm? Tôn Hành Giả bạch rằng:

- Đệ tử muốn thỉnh tức thời, ngặt bị thiêu bịnh đi không đặng, túng phải sai Bát Giới đi thế cho tôi.

Quan Âm nói:

- Sao ta không thấy Ngộ Năng đến đây?

Tôn Hành Giả bạch rằng:

- Phải! Bởi Hồng Hài giả hình Bồ Tát, Bát Giới ngở thiệt mới khẩn cầu, nó gạt đi theo vào động nói giùm, chẳng ngờ nó bắt Bát Giới bỏ vào túi da treo trên trính, lại hăm làm thịt.

Quan Âm nghe nói nội giận quở rằng:

- Loài yêu mị dám giảhình ta mà gạt Bát Giái!

Nói rồi lấy Tình bình quăng xuống biển.

Tôn Hành Giả thất kinh hồn vía, đứng dậy nói thầm rằng:

- Bồ Tát còn nóng nảy quá! Chắc là giận lắm mà quăng bửu bối của mình. Uổng quá! Uổng quá! Phải chi cho mình báu ấy, còn có ơn hơn.

Nói vừa dứt lời, thấy biển nổi sóng, có một con rùa quạ, chở Tịnh bình trên lưng, lội vào bờ, lên gành gặc đầu 24 cái như lạy.

Khi ấy Tôn Hành Giả xem thấy cười và nói nhỏ rằng:

- Nói vậy thì con rùa nầy ve ấy. Trong thể nó không ngó thấy cái tịnh bình trên lưng, nên lạy mà hỏi chi đó?

Quan Âm hỏi:

- Ngộ Không ngươi nói nhỏ chuyện chi vậy?

Tôn Hành Giả bạch rằng:

- Tôi không nói chuyện chi hết!

Quan Âm nói:

- Ngươi xách tịnh bình đem lên cho ta.

Tôn Hành Giả vưng lời, bước xuống rán sức xách không nổi, túng phải trở lên quỳ lạy bạch rằng:

- Đệ tử thiệt tình không xách nổi!

Quan Âm nói:

- Cớ gì ngươi xách không nổi cái ve nhỏ? Để ta cắt nghĩa cho rành: Khi nãy cái bình không thì nhẹ, nay thâu một biển nước vào đó, nên nặng mười phần, ngươi xách không nổi cũng phải.

Nói rồi bước xuống tòa sen, tay hữu xách tịnh bình để trên bàn tay tả. Con rùa quạ gặc đầu rồi chùi xuống biển.

Tôn Hành Giả nói:

- Vậy thì nó là vật giữ tịnh bình cho Bồ Tát.

Quan Âm nói:

- Nước cam lộ trong tịnh bình của ta không phải như nước biển của Long Vương, vì nó trừ đặng tam mụi chơn hỏa. Nay ta đưa cho ngươi, ngặt ngươi xách không nổi. Ta muốn cho Long Nữ cầm tịnh bình theo trợ chiến, lại e ngươi thấy tịnh bình là vật báu, Long Nữ là gái xinh. Ngươi đoạt luôn và của và người, ta biết ngươi trốn đâu mà kiếm. Vì tánh ngươi gian giảo là có tiếng, phải để vật chi làm bằng cớ, ta mới chịu cho.

Tôn Hành Giả bạch rằng:

- Tội nghiệp thì thôi, Bồ Tát đa nghi quá! Trong mình tôi có gia tài chi mà để lại làm tin. Có cái áo nầy, là của bà cho tôi hồi trước. Còn cây thiết bãng là vật tùy thân. Còn có cái kim cô trên đầu tôi bằng vàng, xin để lại cho Bồ Tát.

Quan Âm nói:

- Ngươi tính khôn thiệt! Ta chẳng dùng món chi hết thảy, chỉ quyết một cái lòng cứu mạng sau ót ngươi mà thôi.

Tôn Hành Giả bạch rằng:

- Lông cứu mạng của bà cho đệ tử giữ mình, nếu nhổ một sợi lông, e động chưng nó rụng hết.

Quan âm cười rằng:

- Con khỉ tiếc từ sợi lông, lẽ nào ta không tiếc tịnh bình và Long Nữ?

Tôn Hành Giả lạy lục và năn nỉ rằng:

- Xin Bồ Tát đừng nghi nan. Đầu không tưởng tăng cũng tưởng Phật. Xin từ bi xuống cứu thầy tôi.

Quan Âm thấy Ngộ Không cầu khẩn hết lòng, liền ra khỏi động Triều Âm, đã tới mé biển, truyền Ngộ Không qua biển trước, Tôn Hành Giả quỳ lạy bạch rằng:

- Tôi cân đẩu vân thì lỏa thễ, nên không dám đi trước sợ thất lễ với bà.

Quan Âm sai Long Nữ ra hồ hái một kiến sen thả xuống biển, bảo Ngộ Không lên ngồi, Tôn Hành Giả bạch rằng:

- Bèn sen nhỏ như vầy, chở tôi sao nổi?

Quan Âm nói:

- Ngươi nhảy xuống thử coi chìm không?

Tôn Hành Giả tới nhảy xuống, coi nó lớn như chiếc xuồng, Tôn Hành Giả mừng rỡ cười rằng:

- Không dè bè sen chở tôi nổi!

Quan Âm nói:

- Đã xuống thuyền sao không qua biển?

Tôn Hành Giả bạch rằng:

- Không chèo dầm, làm sao qua đặng?

Quan Âm nói:

- Chẳng dụng chèo buồm làm chi.

Nói rồi thồi một hơi đưa Hành Giả qua đến mé bờ.

Khi ấy Tôn Hành Giả nhảy lên khen rằng:

- Thiệt Bồ Tát pháp lực cao lắm, thổi tôi qua biển cả như chơi.

Quan Âm hiện hào quang bay khỏi núi Phổ đà, Long Nữ với Huệ Ngạn theo hầu tả hữu.

Quan Âm sai Huệ Ngạn về cha là Lý Tịnh, mượn ba mươi sáu ngọn đao Thiên cang, Huệ Ngạn vưng lịnh đi giây phút mượn đao đem về.

Quan Âm cầm ba mươi sáu ngọn đào quăng lên. Niệm chú ít câu, đao ấy hóa ra cái tòa sen tươi tốt. Quan Âm ngồi trên tòa sen. Chim Anh vỏ trắng bay trước, Quan Âm bay sau với Huệ Ngạn.

Khi tới núi Hiệu Sơn, Quan Âm niệm chú ám tự, thâu Sơn Thần Thổ Địa tới mà dạy rằng:

- Các ngươi đừng kinh hãi, ta bắt Hồng Hài mà thôi, chớ không chuyện chi lạ. Các ngươi chọn nội khoảng đất nầy rộng rãi ba trăm dặm, đừng cho cầm thú ở gần.

Thổ Địa Sơn Thần vưng lời dọn dẹp xong rồi trở về thưa lại.

Khi ấy Quan Âm cầm Tịnh bình chúc xuống, nước tuôn ra tiếng như sấm nổ.

Tôn Hành Giả khen thầm rằng:

- Thiệt là Quan thế Âm thần thông quảng đại.

Quan Âm truyền Ngộ Không sè bànt ay tả. Rồi lấy nhành dương liểu chấm nước cam lộ trong tịnh bình, để chữ mê trong bàn tay Hành Giả. Bảo nắm tay lại đi khiêu chiến, trá bại dụ Hồng Hài đến đây, sẽ làm phép bắt nó.

Tôn Hành Giả vưng lịnh làm theo như lời.

Nói về tiểu yêu thấy Tôn Hành Giả đến cửa động Hỏa Vân khiêu chiến. Liền trở vào báo lại, Hồng Hài nói:

- Chúng bây đóng cửa lại, đừng thèm tranh với nó làm chi.

Tiểu yêu y lời.

Tôn Hành Giả thấy vậy, liền kêu lớn rằng:

- Hồng Hài sao con đuổi cha đi, không mở cửa rước vào mà chịu lỗi?

Tiểu yêu vào báo rằng:

- Tôn Hành Giả nói nhục Đại Vương như vậy.

Hồng Hài nói:

- Con khỉ ốm hay nói cà xốc, kể tới làm chi.

Khi ấy Tôn Hành Giả mắng nhiếc nhiều điều, thấy nó nhịn thua không thèm nói lại, tức mình phá cửa ầm ầm.

Hồng Hài nổi giận, cầm giáo nhảy ra hỏi rằng:

- Con khỉ cả gan phá cửa động, ngươi đã biết tội hay chưa?

Tôn Hành Giả nói:

- Con như đánh đuổi cha, thì tội bao lớn?

Hồng Hài nổi giận đâm nhầu.

Tôn Hành Giả đưa thiết bãng ra đỡ.

Đánh năm hiệp, Tôn Hành Giả trá bại.

Hồng Hài nói:

- Ta trở vào ăn thịt Đường Tăng.

Tôn Hành Giả nói:

- Xin trời làm chứng cho con tôi, nó bất hiếu như vậy!

Hồng Hài nghe nói nổi giận đuổi theo.

Tôn Hành Giả đánh ít hiệp rồi chạy nữa.

Hồng Hài không dè là kế, thấy Hành Giả sè bàn tay tả đưa ngay mặt nên mê mẩn cứ việc đuổi theo.

Lần lần gần đến chỗ Quan Âm, Tôn Hành Giả nói:

- Ta sợ mi, nên chạy đã tới Nam Hải, sao ngươi chưa trở lại, hãy còn theo Hồng Hài hoài?

Hồng Hài mê rồi, cứ việc rượt mãi.

Khi ấy Tôn Hành Giả nhảy đại lên hào quang của Bồ Tát mà núp.

Hồng Hài ngó trực tiếp thấy Quan Âm ngồi trên tòa sen, liền nổi giận hỏi rằng:

- Tôn Hành Giả thỉnh ngươi đến trợ chiến phải chăng?

Quan Âm làm thinh không nói lại, Hồng Hài hỏi nữa.

Quan Âm cũng làm thinh, Hồng Hài giận liền đâm một giáo.

Quan Âm hóa ra hào quang bay lên mây, Hành Giả, Mộc Tra bay theo nữa.

Còn Hồng Hài cười ngất nói rằng:

- Tôn Hành Giả thiệt là bất tài. Khi trước rước Long Vương làm mưa không tắt lửa, nay thỉnh Bồ Tát không biết nói, bị một giáo bay mất mà bỏ tòa sen. Để ta lên ngồi thử.

Nói rồi lên xếp bằng trên tòa sen, chắp tay nhái Bồ Tát.

Khi ấy Quan Âm cầm nhành dương chỉ xuống bảo lạy tức thì tòa sen hiện ra ba mươi sáu ngọn đao như cử Hồng Hài ngồi trên mũi đao, khó bề cục kịch!

Quan Âm sai Huệ Ngạn cầm cây hàng yêu đè đầu Hồng Hài loạn đã.

Hồng Hài chãy máu bắp vế, đau đớn mười phần. Túng nghề nhổ đao không kể đứt tay chảy máu.

Quan Âm thấy nó liều mạng như vậy, liền cầm nhành dương phất và niệm chú,bắn rơi sáu ngọn đau dính cứng như hàm răng.

Hồng Hài nhổ không nổi, hãi kinh năn nỉ rằng:

- Đệ tữ có mắt không tròng chẳng biết thần thông của Bồ Tát. Xin Phật từ bi quãng đại, thương xót chúng sanh, tha tôi khỏi thác. Tôi xin làm lành bỏ dữ, quy y theo phép Phật luôn luôn.

Quan Âm hiện xuống trước mặt Hồng Hài, hỏi rằng:

- Ngươi thiệt muốn tu theo phép ta chăng?

Hồng Hài gặc đầu khóc và thưa rằng:

- Nếu dung toàn tánh mạng, thì tôi chịu quy y.

Quan Âm nói:

- Như vậy ta thế phát cho ngươi.

Nói rồi lấy dao cạo đầu cho Hồng Hài, chừa ba cái vá, bới lên xong xã.

Tôn Hành Giả xem thấy cười rằng:

- Con yêu này xui quá! Bây giờ không phải là con gái, cũng không phải con trai, chẳng biết là vật chi đó!

Quan Âm nói:

- Nay ngươi đã theo phép Phật, ta chẳng nở bạc đãi. Kêu người là Thiện Tài đồng tữ có bằng lòng chăng?

Hồng Hài gặc đầu chịu hết, xin tha khỏi chết mà thôi.

Quan Âm chỉ một cái bảo lui, ba mươi sáu ngọn đao rã hết Thiện Tài không tì tích chút nào.

Khi ấy Quan Âm sai Huệ Ngạn đem đao trả cho Lý Thiên Vương. Còn Thiện Tài tánh bạo tàn chưa định, thấy thân thể lành lẻ không vết tích chi, thì giận mà nói rằng: - Ngươi có thần thông chi mà trị ta; ấy là phép thuật mà con mắt.

Nói rồi lấy giáo đâm liền.

Tôn Hành Giả sợ nhằm Quan Âm, đưa thiết bãng ra đỡ.

Quan Âm nói:

- Ngươi đừng đánh với nó làm chi, ta có phép trừng trị.

Nói rồi, lấy Kim cô trong tay áo quăng lên hô biến. Nó biến ra năm cái Kim cô. Quan Âm lấy năm cái Kim cô quăng vô mình Thiện Tài mà báo rằng:

- Đeo vào lập tức.

Nói vừa dứt tiếng, một cái Kim cô máng trên đầu Thiện Tài, còn bốn cái tròng vào hai tay hai chơn nó, rồi niệm chú Kim cô bóp riết lại, Thiện Tài đau nhức ngã lăn.

Thiệt là:

Dầu những loài yêu tài có mấy,

Không qua phép Phật diệu vô cùng

Hồi 43
Yêu quái Hắc Hà mưu bắt sải
Ðộng cung Tây Hải tới thâu cù
Nói về Quan Âm thấy Thiện Tài ngã lăn, mới thôi niệm chú, Thiện Tài hết đau hết nhức, coi lại trên đầu và tay chơn đều có Kim cô. Biết là vật ấy riết lại làm đau làm nhức, nên rán sức cổi hoài, mà cổi không đặng, vì nó dính liền với da thịt, cổi chừng nào đau chừng nấy, không biết tính làm sao.

Khi ấy Tôn Hành Giả xem thấy cười rằng:

- Bồ Tát biết tánh nàng không chịu ở, nên cho đeo vòng vàng cho vui lòng.

Thiện Tài nghe càng giận thêm, đâm Hành Giả một giáo.

Tôn Hành Giả chạy núp sau lưng Quan Âm mà bạch rằng:

- Xin Bồ Tát niệm chú cho mau!

Quan Âm cầm nhành dương nhúng nước cam lộ rảy cho Thiện Tài mà bảo rằng: "Nhập lại!".

Thiện Tài quăng giáo chắp hai tay, vì cặp Kim cô nó dính lại.

Thiện Tài lấy tay ra không đặng, mới chịu phép lạy Phật Quan Âm. (Nên nay bức tượng Quan Âm có vẻ Thiện Tài đeo Kim cô năm cái, chắp tay lạy Phật).

Khi ấy Quan Âm cầm Tịnh bình chúc xuống và niệm chú nước tuôn ra chảy về biển, còn cái bình không.

Rồi nói với Hành Giả rằng:

- Tuy Thiện Tài đã quy y, song còn tánh rừng rú, để ta bắt nó nhứt bộ nhứt bái, cho tới Phổ đà sơn, còn ngươi về cứu thầy cho kiếp.

Tôn Hành Giả mừng rở từ tạ lui về. Còn Thiện Tài nhứt bộ nhứt bái tới gành Lạc đà, rồi lạy Phật Quan Âm 53 lạy mới thành chánh quả.

Nói qua Tôn Hành Giả về gần tới rừng Tòng, thấy Sa Tăng đương dắt ngựa đi kiếm, anh em gặp nhau mừng rỡ, Sa Tăng hỏi thăm rằng:

- Anh đi thỉnh Bồ Tát đã lâu lắm, sao bây giờ mới về?

Tôn Hành Giả thuật chuyện lại, Sa Tăng mừng rở mười phần. Anh em đồng nhảy khỏi suối, xông vào động giết yêu tinh, mở túi da thả Bát Giới ra, sau mở Tam Tạng, và thuật chuyện vân vân. Tam Tạng quì day mặt về hướng Nam, lạy tạ Ơn Bồ Tát.

Còn Sa Tăng coi dọn cơm, thầy trò đồng ăn uống. Rồi cùng nhau ra khỏi động, thẳng chỉ Tây Phương.

Cách một tháng đi đến cụm rừng kia, Tam Tạng nghe tiếng sóng bủa.

Liền hỏi rằng:

- Các đồ đệ Ôi! Tiếng sóng ở đâu dữ vậy?

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Ba đứa tôi không nghe tiếng sóng, sao có một mình thầy nghe mà thôi, chẳng qua thầy nghi quá, nên quên hết tâm kinh!

Tam Tạng nói:

- Từ khi Ô Sào thiền sư truyền tâm kinh đến nay, ngày ngào ta không đóc! Thầy quên câu nào ở đâu?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Thầy quên câu nầy: Vô nhãn nhỉ tỉ thiệt thân ý. Nghĩa là: Không biết tới con mắt, lổ tai, lỗ mũi, cái lưởi, cái mình, cái ý. Nên người tu hành, con mắt chẳng xem sắc tốt, lỗ tai chẳng nghe tiếng tục tiểu, lỗ mũi chẳng ngửi hơi thơm, cái lưỡi chẳng nếm mùi ngon, cái mình chẳng thèm sung sướng, cái ý chẳng hay vọng tưởng, ấy là trừ sáu môi giặc trong mình. Chớ thầy trong ý hay nghi sợ yêu quái, lỗ tai nghe tiếng sóng cũng giật mình, sao gọi là nhờ tâm kinh, e đi Tây Phương không đặng.

Tam Tạng nói:

- Ta nghĩ từ khi phụng chỉ ra khỏi Trường An, chải gió tắm mưa, ăn sương nằm tuyết, biết ngày nào đến Phật mà thỉnh kinh.

Tôn Hành Giả nói:

- Thầy cứ nhớ quê hương hoài, thì đi khó tới Tây Phương lắm. Nếu bền lòng tri chí, lẽ nào thỉnh chẳng đặng bửu kinh.

Bát Giới nói:

- Nếu bị yêu bắt mãi, dục dặc như vầy hoài, dầu đi một ngàn năm cũng không tới Phật.

Sa Tăng nói:

- Nhị ca với tôi tuy bất tài, song bền lòng quảy gánh đi hoài, cũng có ngày đặng thành chánh quả.

Giây phút đi khỏi cụm rừng, đến mé sông lớn; nước đen như mực, sóng bủa có vòi! Tam Tạng hỏi rằng:

- Đồ đệ Ôi! Nước gì đen dữ vậy?

Bát Giới nói:

- Tại thợ nhuộm đổ chàm.

Sa Tăng nói:

- Không phải đâu, chàm gì đen dữ vậy? Chắc là gần lò mực, họ rửa mực đen nước cả sông.

Tôn Hành Giả dứt rằng:

- Chúng bây đừng nói vô ích, hãy lo kết đưa sư phụ qua sông.

Tam Tạng hỏi:

- Sông nầy lớn chừng mấy dặm?

Bát Giới nói:

- Chừng hơn mười dặm mà thôi.

Tam Tạng hỏi: "Ba đứa bây, tính ai cõng ta lội qua sông ấy?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Bát Giới cõng đặng.

Bát Giới nói:

- Tôi cõng không đặng đâu. Rất đổi cõng người phàm mà đằng vân hỏng đất ba thước còn nặng như núi thay, huống chi cõng mà lội qua sông sâu, chắc chôn tôi nơi đất cái!.

Khi ấy thầy trò đương bàn luận, xảy thấy có một người chèo đò, ở trên dòng nước thả xuống.

Tam Tạng mừng rõ nói rằng:

- Có đò chèo tới đó, kêu lại cho mau?

Sa Tăng cả kêu rằng:

- Đò, ghé đưa thầy trò ta, sẽ tạ Ơn xứng đáng.

Tên chèo đò ghé lại nói rằng:

- Chiếc xuồng nầy nhỏ xiếu, chở một lần sao hết bốn thầy!

Tam Tạng coi lại thiệt là chiếc ghe lường, ngồi trước chừng hai người thì khẩm. Liền hỏi rằng:

- Như vầy biết tính làm sao?

Sa Tăng thưa:

- Không hề chi, đi hai chuyến cũng đặng.

Bát Giới nói:

Để tôi đi trước với thầy.

Nói rồi đỡ Tam Tạng xuống thuyền, tên đò chèo riết. Đến giữa dòng nổi gió nổi sóng, đò ấy đã chìm.

Còn Sa Tăng hoảng hốt nói rằng:

- Sư huynh ôi! Đò chìm rồi, chắc thầy uống nước!

Tôn Hành Giả nói:

- Không phải chìm đâu. Nếu thiệt chìm thì Bát Giới cỏng thầy lên đặng. Ta coi tướng thằng chèo đò có hơi yêu khí, chắc là quái vật, giã dạng mà bắt thầy rồi.

Sa Tăng trách rằng:

- Sao anh không nói trước! Thôi, anh coi chừng ngựa và hành lý, để tôi lặn xuống kiếm thầy.

Nói rồi cởi áo, cầm Bữu trượng nhả xuống sông.

Nghe tiếng người nói chuyện, Sa Tăng men tới, thấy có một cái nhà lớn, ngoài treo tam biển có tám chữ như vầy: Hoành dương cốc, Hắc thủy Hà thần phủ. Nghĩa là dinh thần sông Hắc thủy, tại hang Hoành dương.

Sa Tăng nép dựa cửa, nghe tiếng nói rằng:

- Công bấy lâu cực khổ, nay mới về tay, Hòa Thượng nầy tu hành đã mười đời, ăn thịt nó thì sống hoài chẳng thác. Vậy chúng bây khiêng cái lồng sắt ra đây, bỏ thầy trò nó vào lồng, mà nấu cho thiệt chín, đặng mời cậu hai uống rượu cho trường thọ. Sa Tăng nghe rõ nổi giận, vác gậy phá cửa mà mắng rằng:

- Đồ quái gở, trả sư phụ và sư huynh cho ta!

Tiểu yêu kinh hãi vào phi báo, vân vân.

Con quái ấy nghe nói, liền nai nịt tề chỉnh, cầm roi sắt ra cửa động mắng rằng:

- Ai cả gan dám phá cửa ta đó?

Sa Tăng nói:

- Loài yêu quái giả hình bắt thầy ta, phải trả cho mau kẻo mà chết.

Con quái cười ha hả nói rằng:

- Hòa Thượng nầy không muốn sống, mới đến đây nạp mình. Ta bắt đặng thầy ngươi, tinh lan, thịt mà đãi khách. Nay ngươi tới đây, ta bắt nấu luôn một chảo, hết trông đi thỉnh kinh.

Sa Tăng nổi giận đập đùa, con quái ấy đỡ rồi đánh lại. Hai người giao chiến ba mươi hiệp cầm đồng.

Khi ấy Sa Tăng nghĩ thầm rằng:

- Con yêu nầy đồng lực với mình, đánh hoài vô ích, chi bằng trá bại dụ nó lên mé đặng anh ta đập một bãng cho rồi đời.

Nghĩ rồi liền bại tẩu.

Con quái ầy đứng dừng lại nói rằng:

- Ngươi chạy về cho rãnh, ta chẳng đuổi làm chi. Để viết thiệp mời người ăn tiệc.

Còn Sa Tăng thở hào hển, nhảy lên mé, thuật chuyện vân vân.

Tôn Hành Giả nói:

- Không biết con quái ấy thuộc về loại gì?

Sa Tăng nói:

- Tôi coi hình dạng nó, chắc là con trạch thành tinh, không cũng loài cù chi đó.

Tôn Hành Giả nói:

- Không biết cậu nó là ai?

Xảy thấy ông già ở dưới sông bước lên là lễ thưa rằng:

- Tôi là thần sông nầy ra mắt Đại Thánh.

Tôn Hành Giả nói:

- Hay là con yêu giả người đưa đò hồi nãy, bây giờ đến gạt ta chăng?

Ông già ấy lạy và khóc rằng:

- Tôi thiệt là thần sông Hắc thủy, không phải là yêu tinh, nguyên tháng 5 năm rồi, con yêu ấy ở Tây hải, thừa dịp nước lụt đến đây. Nó giao chiến với tôi, bởi sức già phải sút, nên nó chiếm cứ hang Hoành dương là chỗ ở của tôi. Tôi vào đơn kiện với Tây Hải Long Vương, chẳng ngờ là cậu nó, xử hiếp tôi phải nhường cho nó ở. Tôi muốn cáo với Thượng Đế, ngặt chức mọn không dám đến cửa Trời. Nay nghe Đại Thánh đến đây, nên tôi xin lấy lòng công bình trị tội loài độc ác.

Tôn Hành Giả nói:

- Như vậy thì Tây Hải long vương cũng có tội nữa. Thôi, Hà thần ở đây với Sa Tăng, ta đi bắt Ngao Thuận đến đây thâu nó.

Hà thần lạy tạ Ơn.

Khi ấy Tôn Hành Giả đằng vân tới Tây hải sa xuống, đương đi dưới đáy biển, xảy thấy con các mực ôm phong thơ trong hộp mà lội như tên bay.

Tôn Hành Giả đập chết, mợ hộp lấy thơ xem thấy như vầy:

"Cháu là Đã Khiết, trăm lạy dưng thơ cho cậu hai là Ngao lão đại nhơn. Trước saÜn mang ơn, nay lo đáp ngãi, cháu bắt đặng hai thịt ngon, trong đời ít có. Ngày sanh nhựt của cậu cũng gần đây. Sẳn dịp cháu làm tiệc chúc mừng cho cậu muôn tuổi. Xin cụ dời gót, cháu rất đội ơn".

Tôn Hành Giả xem rồi cười rằng:

- Con quỷ nầy nó bưng cái án cho ta.

Nói rồi bỏ thơ vào tay áo. Đi gần tới, gặp Dạ Xoa tuần tiểu.

Dạ Xoa thấy Đại Thánh, trở vào báo lời Tây Hải Long Vương.

Ngao Thuận liền ra nghinh tiếp ngồi xong mời uống trà.

Tôn Hành Giả nói:

- Thôi, tôi không uống trà, để mời ông nhậu rượu.

Ngao Thuận mời rằng:

- Đại Thánh bấy lâu tu hành theo phép Phật, cử tiêng tửu tục rất nghiêm. Sao lại mời tôi uống rượu?

Tôn Hành Giả nói:

- Tuy ông chưa uống rượu mặc lòng, mà ông đã mang tội uống rượu nặng lắm!

Nói rồi lấy thơ mời đưa ra.

Ngao Thuận mới xem qua, kinh hồn mất vía! Liền quì xuống thưa rằng:

- Xin Đại Thánh thứ tội, nó là con trai thứ nhì của em gái tôi. Bởi cha nó khi xưa tráo bờ bớt nước, bị Nguy Trưng chém đầu, nên tôi thấy cháu còn nhỏ dại, cho nó vào ở sông Hắc thủy mà tu thân, không dè nó làm dữ như vậy! Để tôi sai người đi bắt nó tức thì.

Nói rồi đòi Thái Tử Ma Ngang truyền điểm 500 lính bắt Tiểu Đà về nạp.

Thái Tử Ma Ngang vưng lịnh Tôn Hành Giả cũng từ biệt đi theo.

Khi đến ấy cửa sông Hắc thủy, Ma Ngang Thái Tử sai người vào báo tin rằng:

- Có con Tây hải Long vương là Ma Ngang đến.

Con quái ấy nghe báo hồ nghi rằng:

- Mình nghi người đem thơ mời không thấy trở lại, sao cậu chẳng đến, lại sai anh nầy tới!

Xảy thấy tiểu yêu vào báo rằng:

- Có một đạo binh đóng tại phía Tây.

Yêu Đà nói:

- Anh ta phó hội, sao lại đem binh, chắc có cớ chi đó!

Nói rồi nai nịt cầm roi sắt ra ngoài chào rằng:

- Đại biểu huynh, có tiểu đệ nghinh tiếp.

Thái Tử Ma Ngang cầm giản bước tới hỏi rằng:

- Mi mời cậu làm chi?

Yêu Đà nói:

- Tiểu đệ bấy lâu mang ơn cậu cho ở chốn này, chưa chút đền ơn đền nghĩa trả. Bữa hổm em bắt đặng Đường Tăng, bởi người ấy tu đã mười đời, ăn thịt nó thì trường thọ, nên mời cậu đến coi cho biết người, rồi sẽ làm thịt cho cậu uống rượu.

Thái Tử Ma Ngang nạt lớn rằng:

- Mi thiệt ngu si lắm, biết Đường Tăng là ai chăng?

Yêu Đà nói:

- Thầy sải đi thỉnh kinh chớ ai.

Thái Tử Ma Ngang nói:

- Mi biết sãi thỉnh kinh, mà không hiểu đệ tử người thần thông quảng đại.

Yêu Đà nói:

- Có Bát Giới tôi đã bắt rồi, còn Sa Tăng cũng bại tẩu, nào thấy thần thông bao giờ. Thái Tử Ma Ngang nói:

- Thiệt người không biết, Đường Tăng còn một người học trò lớn là Tề Thiên đại thánh phá thiên cung đời xưa, nay cách 500 năm dư, tu hành gọi là Tôn Hành Giả. Nay gặp đứa đi thơ, người đoạt đặng thơ của mi, liền vào cung Thủy Tinh bắt tội cha con ta đồng lỏa với mi. Vậy mi mau mau trả thầy trò Đường Tăng ra ta nói giùm cho lạy mà chịu lỗi, hoặc may tánh mạng hãy còn, nếu nghịch thì ta giết mi trước.

Yêu Đà nổi giận nói rằng:

- Ta với ngươi là anh em con cô con cậu ruột sao ngươi lại binh vực người dưng, lại còn biểu trả Đường Tăng cho nó, tưởng ta dễ biểu lắm sao? Thiệt nó có tài mà đánh với ta ba hiệp cho cầm đồng, thì trả Đường Tăng lập tức, bằng đánh không lại thì ta bắt luôn và nó mần hầm, chừng ấy chẳng biết bà con nào mà mời đóng cửa ăn ba thầy trò nó. Ai sợ nó thì sợ, chớ ta chẳng hề nhát bao giờ.

Thái Tử Ma Ngang mắng rằng:

- Đồ quái gỡ buông lời vô lễ, mi đừng khoe tài đánh với Tôn Đại Thánh sức ta là dở, mi dám cự hay chưa?

Yêu Đà nói:

- Hào kiệt anh hùng, sợ ai mà không dám đánh?

Nói rồi kêu bộ hạ đồng ra.

Hai người trở mặt đánh với nhau, dữ hơn trận Sa Tăng đó nữa.

Giây lâu Thái Tử Ma Ngang đánh Yêu Đà một giản chơn với, đá bồi một cái té nhào. Binh của Thái Tử bắt trói lại như bó sấu. Rồi lấy dây sắt xỏ xương cổ buộc lại dẫn lên bờ. Đem dưng cho Tôn Hành Giả xử tội.

Tôn Hành Giả nói:

- Cậu mi cho ở đây mà tu luyện, sao còn ỷ mạnh chiếm đạo phủ Hà thần, lại bắt thầy ta và Bát Giái. Tội ngươi đáng đập một cây Thiết bãng. Song nghĩ Thiết bãng của ta nặng lắm, đập một cái cũng tan xương. Thôi thầy ta và Bát Giới ở đâu, ngươi chỉ cho thiệt.

Yêu Đà thưa rằng:

- Tiểu Đà không biết Đại Thánh nên lầm. Nay anh tôi bắt rồi nhờ ơn Đại Thánh không giết, tôi cám nghĩa muôn đời. Sư phụ và lịnh đệ tôi còn cầm tại phủ, xin Đại Thánh tha trói, tôi về đem hai vị trả liền.

Thái Tử Ma Ngang thưa rằng:

- Thằng nầy gian trá mười phần, nếu thả ra e nó phản phúc.

Sa Tăng nói:

- Tôi biết chỗ, xin đi xúông đó cứu thầy.

Nói rồi rủ Hà thần đồng nhảy xuống sông đi tới dinh không thấy Tiểu yêu, vì nó thất kinh trốn hết. Vào sau dinh cứu Tam Tạng và Bát Giới đưa lên.

Khi ấy Bát Giới thấy Yêu Đà bị trói ké, liền xách cào cỏ lại nói rằng:

- Súc sanh, nay mi hết kể ăn ta, ta đập một Đinh ba cho nát óc.

Tôn Hành Giả can rằng:

- Thôi em tha nó chẳng giết làm chi, ấy là vị tình Tây Hải Long Vương và Thái Tử. Thái Tử Ma Ngang thưa rằng:

- Tôi chẳng dám ở trễ, nay cứu đặng sư phụ, tôi dẫn Yêu Đà về nạp. Tuy Đại Thánh không giết, chớ cha tôi cũng phạt một cách nặng nề.

Tôn Hành Giả nói:

- Vậy thì ngươi lãnh nó đem về cung, và nói ta gởi lời cám ơn lịnh tôn, sau sẽ đàm đạo.

Thái Tử Ma Ngang vân lời.

Còn Hà thần tạ Ơn Tôn Hành Giả.

Tam Tạng nói:

- Đồ đệ! Nay tính làm sao mà qua sông?

Hà thần nói:

- Xin lão gia lên yên, đừng lo việc ấy. Có tôi đi trước dẫn đường.

Nói rồi làm phép nước cạn khô một khúc sông như lộ.

Thầy trò qua khỏi lên bờ, nước đầy lại như cũ.

Nói về thầy trò qua khỏi sông, đi cũng lâu ngày lắm. Cuối tháng ba, đương đi thong thả, xảy nghe tiếng hò hét đông người, dường như binh ó!

Tam Tạng kinh hãi, ngó ngoái hỏi rằng:

- Chuyện chi mà inh ỏi như vậy?

Bát Giới nói:

- Chắc là lỡ non sụp đất.

Sa Tăng nói:

- Tôi nghe như sấm sấm rầm rầm.

Tam Tạng nói:

- Ta nghe như binh mã thì phải.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Chắc là bàn không trúng hết thảy, để Lão Tôn coi thử thể nào?

Nói rồi nhảy lên mây ngó xuống, thấy trước xa có một cái thành. Coi lại chỗ có tiếng tăm cũng gần, hơi hào quang nhấp nháng, chớ không phải khí yêu.

Tôn Hành Giả ngẫm nghĩ rằng:

- Chỗ tử tế hiền lành, sao tiếng tăm lại ó ré?

Coi cho kỹ thì là các hòa thượng đẩy xe, đồng hè với nhau niệm Đại lực vương Bồ Tát, rập một lượt nên tiếng nghe vang.

Khi ấy Tôn Hành Giả nhảy xuống cho gần mà coi, thấy trong xe chở những cây súc, ngói, gạch, đẩy lên chót núi, lớp thời đứng trên cao kéo lên.

Ở trên núi có hai cái ải, trước cửa ải là đường xe dốc đỗ, kéo và đẩy cũng khó lên. Con các sải đều ăn mặc rách rưới, coi chẳng khác tội nhơn!

Tôn Hành Giả nghĩ thầm rằng:

- Có khi làm chùa thì phải! Sao không đụng nhơn công, các sãi phải ra sức như vậy?

Hiennie*
20-04-2007, 12:42 AM
Hồi 44
Ðường Tăng nghe tiếng kinh hồn
Hành Giả đập xe cứu sãi
Xảy thấy hai thầy đạo sĩ chạy ra dốc sức, coi bộ các sãi sợ điếng xanh, rán đổ mồ hôi, kẻ kéo người đẩy.

Hành Giả than rằng:

- Thầy chùa sợ thầy pháp thì phải. Nói vậy bấy lâu mình nghe đồn đường đi Tây Phương có nước trọng thầy pháp mà khinh dễ thầy chùa là đây, để ta hóa ra đạo sĩ mà hỏi thử.

Tính rồi hiện hình như lời nói, tay gõ mõ miệng ca, đi gần tới trước mặt hai đạo sĩ kia, liền chấp tay mà bái.

Hai đạo sĩ đáp lễ rồi hỏi rằng:

- Chẳng hay tiên sanh ở đâu đến đây?

Tôn Hành Giả đáp rằng:

- Đệ tử đi du phương, đâu cũng là nhà, không có xứ sở, xin hai vị đạo trưởng chỉ dùm ngõ nào có nhà lương thiện, đặng tôi xin một bữa cơm chay.

Hai đạo sĩ cười rằng:

- Sao tiên sanh buông lời nhẹ thể như vậy?

Tôn Hành Giả hỏi:

- Làm sao mà nhẹ thể?

Hai đạo sĩ đáp rằng:

- Nói sự xin cơm chay như vậy, không phải là nhẹ thể hay sao? Chắc là thầy ở phương xa mới đến đây, chưa biết phong tục, nội thành nầy chẳng những là bá quan văn võ và nhà hào hộ trọng đạo mà thôi, dầu hoàng đế cũng vậy nữa.

Hành Giả xin cắt nghĩa cho rõ nước chi, hai đạo sĩ nói:

- Đây gọi là nước Xa Tri, chúng tôi có thân với Hoàng đế.

Tôn Hành Giả cười ngất nói rằng:

- Như vậy Hoàng đế cũng là người đạo sĩ.

Hai đạo sĩ nói:

- Hoàng đế đâu phải người tu. Nguyên 20 năm trước, trời hạn, cả nước đồng đảo võ mà không linh, thời may có ba vị thần tiên ở trên trời sa xuống, cứu dân độ thế?. Tôn Hành Giả hỏi:

- Ba ông tiên ấy là ai?

Hai đạo sĩ nói:

- Ba vị tiên ông là thầy chúng tôi. Thầy thứ nhứt là Hổ Lực đại tiên, thầy thứ nhì là Lộc Lực đại tiên, thầy thứ ba là Dương Lực đại tiên.

Tôn Hành Giả hỏi:

- Ba vị đại tiên phép lực ra thể nào?

Hai đạo sĩ nói:

- Ba tiên ông có tài làm mưa nổi gió như chơi, chỉ đá hóa vàng lập tức. Bởi cớ ấy thánh chúa trọng người đạo đức như bà con, các vị đại thần coi chúng tôi như bằng hữu.

Tôn Hành Giả nói:

Thầy có thần thông như vậy, vua trọng đãi cũng vừa. Song tôi muốn ra mắt sư phụ cho biết, không rõ đặng chăng?

Hai đạo sĩ cười rằng:

- Chúng tôi là học trò ruột của thầy, muốn đem ai ra mắt cũng đặng.

Tôn Hành Giả bái và nói rằng:

- Đội ơn hai ông, xin đem tôi cho biết mặt.

Hai đạo sĩ nói:

- Nán đợi tôi rồi công vụ, sẽ đem vào...

Tôn Hành Giả hỏi:

- Mình là người tu hành, sao lại có công vụ?

Hai đạo sĩ chỉ và nói rằng:

- Lũ sãi kia là dưới tay của chúng tôi, e các cậu hay làm biếng, nên phải đi điểm một chút, rồi trở lại tức thì.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Hòa Thượng cùng đạo sĩ cũng người tu hành, sao lại bắt sãi làm công việc cho mình?

Hai đạo sĩ nói:

- Nguyên khi đảo võ, thì một bên hòa thượng tụng kinh, một phía đạo sĩ làm phép. Hai đàng đồng tranh phần hơn mà ăn lương. Chẳng ngờ thầy chùa tụng kinh hai ba đêm mà không có mưa một hột, sau tới phiên thầy tôi làm phép, mưa xuống dầm dề. Hoàng đế bèn phong tặng thầy tôi, chê đám thầy chùa vô dụng. Liền xuống chỉ phá cửa chùa, cấp các sãi làmbộ hạ đạo sĩ, nên chúng tôi sai nó đốt than hái củi, gánh nước quét nhà, chúng nó làm công việc như đầy tớ. Ngay cất thêm nhà thờ phượng, nên sai chúng nó xe ngói, gạch, đá, cây, sợ làm biếng phải theo coi sóc.

Khi ấy Tôn Hành Giả nghe nói, níu hai đạo sĩ khóc mà than rằng:

- Tôi thiệt vô phước quá chừng, ra mắt thầy không đặng!

Hai đạo sĩ hỏi:

- Vì cớ nào mà ra mắt không đặng?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Tôi một là đi dạo, hai nữa kiếm bà con.

Hai đạo sĩ hỏi:

- Người thân của thầy là ai?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Tôi có một người chú, hồi nhỏ thế phát tu hành, mấy năm nay không thấy về xứ, nên tôi tìm kiếm khắp nơi. Có khi chú tôi bị cầm chưn chốn nầy, nên về không đặng. Phải chi tôi thấy mặt chú, sẽ theo hai vị ra mắt thầy.

Hai đạo sĩ nói:

- Sự ấy dễ lắm, vậy thì hai tôi ngồi đợi, tiên sanh đến đó kiếm tìm nội năm trăm tên thì đủ số, nếu có lịnh thúc, thì anh em tôi vị tình tha về, rồi sẽ đem tiên sanh ra mắt sư phụ.

Tôn Hành Giả bái tạ Ơn, rồi đi ra chỗ mấy thầy đứng đông đó.

Khi ấy Tôn Hành Giả đi gần đến, năm trăm sãi đồng quỳ lạy thưa rằng:

- Gia gia ôi! Chúng tôi không dám trốn tránh, năm trăm trên đủ mặt.

Tôn Hành Giả lắc đầu, khoát biểu đứng dậy, rồi nói:

- Đừng có sợ hãi, ta không phải đốc công, thiệt đi kiếm bà con có một người làm hòa thượng.

Các sãi nghe nói mừng rỡ, áp lại đứng vây xung quanh, kẻ thì ngóng cổ mà dòm, người lại tằng hắng và nhìn mặt, ai nấy cũng vái thầm cho đạo sĩ nhìn mình là bà con.

Tôn Hành Giả nhìn một hồi rồi cười ngất.

Các sãi hỏi rằng:

- Sao lão gia không kiếm bà con cho đặng, có chuyện gì vui mà cười?

Tôn Hành Giả nói:

- Các ngươi biết ta cười chuyện gì không? Thiệt tình các ngươi quê mùa lắm! Bởi cha mẹ sanh con xung khắc, mới đánh liều cho vô chùa, đáng lẽ các ngươi phải lo mà tụng kinh lạy Phật, sao lại đi ở mướn với đạo sĩ làm chi?

Các sãi nói:

- Nói vậy thì lão gia đến cười chê chúng tôi đó, song lão gia là người ở xứ xa mới đến, nên chưa rõ sự hoạn nạn của chúng tôi!

Tôn Hành Giả nói:

- Vì cớ nào mà mắc nạn?

Các sãi khóc và thưa rằng:

- Chúa tôi trọng đạo tiên, mà ghét thầy chùa lắm!

Tôn Hành Giả hỏi:

- Vì cớ nào vậy?

Các sãi thưa rằng:

- Bởi ba vị tiên ông, đến làm mưa kêu gió, nên chúa tôi yêu dùng lắm, nghe lời phá cửa chùa, bắt chúng tôi làm đày tớ cho ba ông ấy. Dầu đạo sĩ phương xa mới tới mừng vua cũng đặng thưởng, còn thầy chùa nào đi tới, cũng bắt bỏ vào đây.

Tôn Hành Giả:

- Chắc là ba vị đạo sĩ ấy thần thông quảng đại, nên vua mới yêu dùng, chớ sự hộ phong hoán võ là phép mọn của bàng môn có hay chi mà trọng đãi.

Các sãi thưa rằng:

- Ba vị ấy lại có phép chỉ đá hóa vàng và luyện thuốc trường sanh. Nay đương lo lập miễu Tam Thanh tụng kinh cho vua trường thọ muôn tuổi. Bởi cớ ấy nên vua trọng quá chứng.

Tôn Hành Giả nói:

- Như vậy thì các ngươi cũng nên trốn cho rãnh, còn ở đây làm chi?

Các sãi thưa rằng:

- Trốn ngõ nào cho khỏi! Bởi ba vị tiên trưởng đã tâu với Hoàng đế, họa hình chúng tôi rồi, dân khắp nơi trong nước, gọi là Hòa Thượng đồ, vua có đóng ấn và phê trong họa đồ rằng: Nếu ông quan nào bắt đặng một tên sãi trốn đem dưng thì cho lên chức ba cấp, còn như bực thứ dân mà bắt đặng sãi trốn đem nạp, thưởng một tên năm chục lượng bạc. Nên chúng tôi tính trốn không khỏi, phải ở đây chịu khổ già đời.

Tôn Hành Giả nói:

- Cực khổ và bó buộc như vậy, các ngươi cũng nên chết phức cho mát thân?

Các sãi thưa rằng:

- Lão gia ôi! Hòa Thượng chết cũng hơn ba phần, bây giờ còn chúng tôi chừng một góc tư! Nguyên trước hơn hai ngàn sãi bị làm nặng nề phát bịnh, chết lần mòn hết thảy trăm ngoài, còn hơn tám trăm người liều mình mà chết, còn lại năm trăm anh em tôi muốn chết không đặng, còn chịu khổ đời!

Tôn Hành Giả nói:

- Khó gì sự liều mình mà chết không đặng?

Các sãi nói:

- Chúng tôi thắt cổ thì đứt dây, đâm họng cũng trậm trầy, nhào xuống sông thì nổi phình, uống thuốc độc như ăn cơm bữa, biết làm sao cho chết bây giờ?

Tôn Hành Giả nói:

- Các ngươi có phước vô cùng nên trời cho trường thọ.

Các sãi nói:

- Ấy là trường lao khổ, chịu cực mãn đời. Chúng tôi ăn những cháo gạo lức, tối ngủ ngoài bãi cát mà chơi. Vừa nhắm mắt có thân nhơn an ủi.

Tôn Hành Giả nói:

- Ấy là thấy ma thương ma đói, chớ thần gì?

Các sãi nói:

- Không phải ma quỷ đâu, thiệt là thần Lục Đinh, Lục Giáp, Hộ Pháp, Dà Lam, hằng ứng mộng mách bảo rằng:

- Các ngươi chẳng nên liều mạng, rán chịu cực mà đợi Đường Tăng, người là phật La Hán đi thỉnh kinh, lại có một vị đồ đệ của ngài, là Tề Thiên Đại Thánh, thần thông quảng đại, tâm tánh công binh, nếu người đến đây thì trừ mấy thầy đạo sĩ bất nhơn, khi ấy vua trọng thầy như cũ.

Tôn Hành Giả nghe nói cười thầm rằng:

Chớ gọi Lão Tôn không phép nhiệm,

Trước kia thần thánh đã truyền danh.

Cười rồi từ giã các sãi trở lại tức thì. Hai đạo sĩ hỏi rằng:

- Thầy kiếm bà con đặng không?

Tôn Hành Giả nói:

- Năm trăm người bà con quen lớn với tôi hết thảy.

Hai đạo sĩ cười rằng:

- Bà con vì đông dữ vậy?

Tôn Hành Giả nói:

- Một trăm ở xóm bên tả, một trăm ở xóm bên hữu, một trăm bà con bên nội, một trăm bà con bên ngoại, một trăm là bạn hữu. Nếu tha hết năm trăm, thì tôi theo vào ra mắt, bằng không thả thì thôi.

Hai đạo sĩ nói:

- Chắc thầy nầy có bịnh điên nên nói xàm quá! Năm trăm hòa thượng ấy của vua cấp, nếu muốn tha đôi ba tên chúng tôi phải chạy giấy cho thầy tôi, khi dối rằng có đôi ba người bịnh. Rồi cách ít bữa khai tử thì mới bặt tin. Biểu tha hết thiệt bất thông lắm!

Tôn Hành Giả hỏi:

- Thiệt không chịu thả hay sao?

Hỏi luôn ba lần, hai đạo sĩ đều nói rằng:

- Lẽ nào thả đặng!

Tôn Hành Giả nổi giận, lấy như ý Kim cô trong lỗ tai ra, dồi lên hiện thành thiết bãng, đập hai đạo sĩ chết tươi.

Khi ấy năm trăm sãi ở xa ngó thấy kinh hãi đều bỏ xe chạy lại nói rằng:

- Không xong, không xong! Sao thầy dám đánh chết hoàng thân?

Tôn Hành Giả hỏi:

- Ai là hoàng thân?

Các sãi nói:

- Thầy của hai người chết nầy là Quốc Sư, vào đền chẳng lạy, lui ra chẳng tạ từ, sao thầy dám đánh chết hai vị Hoàng thân là học trò của Quốc Sư, chắc là mang họa lớn; e khi Quốc Sư nói chúng tôi giết đệ tử người, chắc năm trăm mạng không còn một! Xin thầy vào thành mà chịu sự nhơn mạng kẻo chúng tôi mắc án liên can.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Xin mấy thầy đừng sợ. Ta chẳng phải đạo sĩ. Thiệt là Tôn Hành Giả đến cứu các ngươi.

Năm trăm sãi đồng nói rằng:

- Không phải, không phải, chúng tôi biết Tôn Hành Giả mà.

Tôn Hành Giả hỏi:

- Các ngươi chưa gặp mặt làm sao mà biết?

Các sãi nói:

- Chúng tôi chiêm bao thấy một ông già xưng là Thái Bạch Kim Tinh, có nói diện mạo Tôn Hành Giả, nên chúng tôi biết.

Tôn Hành Giả hỏi:

- Ông già ấy nói với các ngươi làm sao?

Các sãi nói:

- Thái Bạch Kim Tinh nói tướng mạo như vầy:

Tề Thiên đại thánh tướng không cao,

Hình giống Lôi Công chẳng khác nào.

Mặt thồn đầu tròn mình tóp vạt,

Lông nhiều miệng nhọn tánh bào hao.

Tay cầm thiết bãng oai như cọp,

Trán đội kim cô sáng tợ sao.

Mắt lửa tròng vàng tài phép giỏi,

Lòng nhơn hay cứu kẻ lao đao.

Tôn Hành Giả nghe nói, nổi giận lại tức cười, liền nói lớn rằng:

- Các ông nói đúng rồi. Tôi thiệt không phải Tôn Hành Giả, ấy là học trò người; bắt chước thầy, đến đây gây họa. Còn thầy tôi đi mới tới đằng kia.

Các sãi nghe nói ngó ngoái lại.

Tôn Hành Giả hiện nguyên hình.

Khi ấy các sãi bị gạt, ngó ngoái không thấy ai, day lại thấy Tôn Hành Giả, đồng quỳ lạy thưa rằng:

- Chúng tôi xác phàm mắt thịt, không biết gia gia biến hóa đến đây. Xin gia gia lấy lòng từ bi, vào thành trừ yêu đạo cho rõ phép phật!.

Tôn Hành Giả nói:

- Vậy thì chúng bây đi theo ta.

Nói rồi dẫn các sãi tới chỗ kéo xe.

Tôn Hành Giả một mình kéo xe lên chót núi, rồi đập nát xe; cây đá ngói gạch đổ xuống. Lại bảo các sãi rằng:

- Chúng bây đi tứ tán, để mai ta vào ra mắt vua nước Xa Tri, sẽ trừ yêu đạo.

Năm trăm sãi thưa rằng:

- Gia gia ôi! Chúng tôi không dám đi xa, sợ bị quan bắt lắm!

Tôn Hành Giả nói:

- Như vậy thì ta cho các ngươi một phép giữ mình. Nói rồi nhổ một nắm lông, cho mỗi thầy mỗi sợi. Dặn để sợi lông ấy tại ngón tay vô danh là ngón áp út, cứ nắm tay lại mà đi, nếu có ai muốn bắt, thì nắm riết tay mà kêu Tề Thiên đại thánh, thì ta đến bảo hộ chúng bây. Rồi biểu thôi, thì lông ấy chun vào đầu ngón tay, trong móng áp út.

Các sãi vưng lời lãnh lông, rồi kêu thử Tề Thiên đại thánh, thì mỗi người đều thấy mỗi ông Đại Thánh chống thiết bãng đứng trước mặt mà giữ mình.

Rồi biểu thôi cũng biến mất, và trong móng tay áp út có sợi lông, đồng lạy mà khen rằng:

- Thiệt phép gia gia linh lắm!

Tôn Hành Giả nói:

- Các ngươi đừng trốn xa, hãy ở gần đây mà nghe tin tức. Nếu nghe đồn vua treo bảng chiêu an các sãi, thì trở về trả phép cho ta. Mất một vài lông cũng không đặng. Năm trăm sãi vân lời từ tạ ra đi rải rác.

Khi thấy Tam Tạng đợi Hành Giả không thấy về, bảo Bát Giái, Sa Tăng bảo hộ đi lần tới, gặp vài mươi thầy chùa còn bận bịu Tôn Hành Giả, Tam Tạng hỏi rằng:

- Ngộ Không, sao ngươi đi hèn lâu không thấy trở lại?

Tôn Hành Giả thuật chuyện, vân vân. Tam Tạng nghe nói kinh hãi than rằng:

- Bây giờ biết tính làm sao?

Các sãi nói:

- Xin lão gia an lòng. Tôn Đại Thánh gia gia thần thông quảng đại, chắc là bảo hộ bình an. Chúng tôi là sãi ở chùa Sắc Tứ Trí Uyên Tự, chùa nầy là của Tiên vương Thái Tổ lập có lên cốt tiên vương trong chùa; nên vua không dám phá, xin rước lão gia vào đó nghỉ ngơi, ngày mai Tôn Đại Thánh sẽ vào đền toan liệu.

Tôn Hành Giả nói phải.

Tam Tạng xuống ngựa đi theo các sãi đến chùa. Thấy có treo tấm biển đề năm chữ vàng: Sắc Kiến Trí uyên tự.

Các sãi vào trước mở cửa chùa, kêu ông sãi giữ cửa chùa, lên hương đèn xong xả. Tam Tạng vào lại Phật, rồi ra phương trượng nghỉ ngơi, ông sãi giữ chùa thấy mặt Hành Giả, liền lạy ra mắt mà kêu bằng Tôn gia gia.

Tôn Hành Giả hỏi:

- Sao ngươi biết ta?

Sãi giữ chùa bạch rằng:

- Tôi biết ngài là Tề Thiên Đại Thánh Tôn gia gia. Bởi Thái Bạch Kim Tinh thường ứng mộng mách bảo, nên tôi biết. Ngài có nói: Chừng nào Tôn gia gia đến đây thì cứu chúng bây khỏi nạn, nay gặp ngài tôi mừng biết chừng nào.

Tôn Hành Giả nói:

- Thôi, ngươi chờ dậy, mai sáng sẽ hay.

Các sãi dọn cơm chay thết đãi rồi sửa sang chỗ ngủ kỹ càng.

Đến canh hai Tôn Hành Giả còn thao thức, vì có việc trong mình, nên ngủ không đặng. Xảy nghe tiếng chiêng trống inh ỏi, Tôn Hành Giả lén ngồi dậy mặc áo, nhảy lên mây ngó xuống xem thử chuyện chi, thấy tại hướng Nam đèn đuốc sáng lòa, đạo sĩ đương cúng trên điện Tam Thanh.

Trước cửa điện có treo đôi liễn thêu như vầy:

Võ thuận phong điều, nguyện chúc Thiên tôn vô lượng pháp,

Hà thanh hải yến, kỳ cầu vạn tuế hữu dư niên.

Thích nôm:

Mưa thuận gió hòa, kính chúc Thiên tôn tài quá đổi,

Sông trong biển lặng, khẩn cầu vạn tuế tuổi còn hơn.

Còn ba thầy đạo sĩ mặc áo bát quái đương đọc khoa giáo.

Hai bên bảy tám trăm đồ đệ, đánh trống gióng khánh và dưng hương tụng kinh.

Tôn Hành Giả muốn hiện xuống khuấy chơi, ngặt một mình làm không nên việc. Tính về rủ Bát Giới và Sa Tăng.

Khi ấy Tôn Hành Giả lén về phương trượng, vỗ Sa Tăng và kêu nhỏ rằng:

- Ngộ Tịnh chờ dậy cho mau. Sa Tăng thức dậy hỏi rằng: -Sư huynh không ngủ hay sao?

Tôn Hành Giả nói:

- Ngươi chờ dậy đi ăn đám nầy với ta?

Sa Tăng hỏi:

- Ăn đám gì trong lúc canh ba.

Tôn Hành Giả nói:

- Tại miễu Tam Thanh đạo sĩ đương làm chay. Cúng hơn bảy chục cân bánh in, còn bánh bao kể không xiết, và đủ thứ trái cây. Nên rủ sư đệ đi hưởng cho mau, kẻo chúng dọn hết.

Bát Giới nghe bàn soạn, thức dậy nói rằng:

- Sao anh không kêu tôi đi với?

Tôn Hành Giả nói:

- Đừng có làm om mà thầy thức dậy, lén đi theo với ta.

Khi ấy ba người đằng vân đến miễu Tam Thanh, Bát Giới thấy đồ ăn muốn làm hỗn, Tôn Hành Giả níu lại can rằng:

- Đừng nóng họng mà chúng hay, để nó tan rồi sẽ tính. Vừa nói vừa bắt ấn niệm chú hớp một hơi bên hướng Tốn thổi ngay, hóa trận gió tắt đèn bay tượng. Bình bòng nhào ngữa, đèn sáp ngả ngang, các đạo sĩ thất kinh hồn vía.

Hổ Lực đại tiên nói:

- Trận cuồng phong lớn quá, hương đăng trà quả ngả lăn. Thôi, các ngươi đi nghỉ với ta, ngày mai sẽ tụng kinh bổ khuyết.

Các đệ tử y lời, đồ đạc còn nguyên đó hết.

Nói về Tôn Hành Giả và Sa Tăng, Bát Giới lên giàn, Bát Giới rờ nhằm món gì thì thỉnh món nấy.

Tôn Hành Giả nói nhỏ rằng:

- Đừng bốc hốt theo thói con nít, ngồi có thứ tự mà ăn uống cho đàng hoàng.

Bát Giới nói:

- Anh thiệt không biết mắc cỡ, tưởng là ai mời mà nói lẻ. Ra thân ăn vụng còn nói thứ tự lễ nghi, để lâu chúng mới gặp thì mang xấu!

Tôn Hành Giả hỏi:

- Ba cái cốt Tam Thanh ở đâu?

Bát Giới nói:

- Cốt ông Nguơn Thỉ ngồi giữa đó, còn cốt ông Thái Thượng Lão Quân ngồi bên hữu, phía bên tả là cốt ông Linh Bửu thiên tôn.

Tôn Hành Giả nói:

- Chúng ta phải hiện hình Tam Thanh, thì ngồi ăn mới vững.

Bát Giới nghe nói nóng ăn, nhảy lên lấy mỏ ủi lật cốt ông Thái Thượng xuống mà nói rằng:

- Ông ngồi đã mãn tiệc rồi, xin tránh chỗ cho tôi làm ba miếng.

Sa Tăng hiện ra ông Linh Bữu, đồng xô cốt xuống.

Tôn Hành Giả nói:

- Không xong, chúng ta xô cốt xuống giàn, nếu đạo sĩ thấy thì bể chuyện, vì ba cốt nào nằm dưới, còn ba ông nào ngồi trên; chi bằng giấu ba cốt thì ngồi ăn mới nhẹm. Bát Giới nói:

- Ba cốt lớn bằng người ta, biết giấu chỗ nào cho khuất?

Tôn Hành Giả nói:

- Ta thấy bên phía tay trái có một cái ao, đưa xuống đó thì tiện lắm.

Bát Giới nhảy xuống đem ba cốt thả xuống ao, rồi hiện hình Thái Thượng lên ngồi hưởng tiệc.

Tôn Hành Giả ăn rặc ròng trái cây, còn Bát Giái, Sa Tăng món nào cũng hảo.

Hai người làm một hơi sạch quét.

Rủi có tên đạo sĩ nhỏ, nhớ trực lại bỏ quên cái đẫu trên bàn. Liền ra rờ rờ mà kiếm, lấy đặng cái đẫu, nghe tiếng thở như người ta, thất kinh liền chạy hoảng! Đạp nhằm trái vải tươi trượt té chổng giò, cái đẫu móp hết, liền chắt lưỡi thở ra.

Khi ấy Bát Giới nín không đặng, liền cười hả hả.

Tên đạo sĩ nhỏ thất kinh hồn vía, và chạy và la.

Vào thưa rằng:

- Ông ôi! Không xong, không xong. Thầy ôi! Không khá, không khá!

Ba đạo sĩ còn thức, liền hỏi rằng:

- Chuyện chi vậy?

Đạo sĩ nhỏ và run và bạch rằng:

- Đệ tử bỏ quên cái đẫu trên bàn, nên ra mà kiếm, nghe có tiếng người ta thở và cười sằng sặc trên bàn. Tôi thất kinh té gần lỗ óc.

Ba đạo sĩ nổi giận rằng:

- Thắp đèn lên coi, tà ma ở đâu dám làm lộng như vậy?

Khi ấy bao nhiêu đạo sĩ đều dậy, thắp đèn dẫn ra coi.

Hồi 45
Miễu Tam Thanh, Ðại Thánh để danh
Nước Xa Tri, Ngộ Không đấu phép
Nói về Tôn Hành Giả tay tả nắm Sa Tăng, tay hữu nắm Bát Giái, hai người biết ý, ngồi làm thinh chẳng dám dĩ hơi. Những đạo sĩ đem đèn ra kiếm không thấy ai hết. Hổ Lực đại tiên nói:

- Không thấy ai vô đây, sao ăn gần hết đồ cúng?

Lộc Lực nói:

- In như người ta ăn thì phải. Bánh bao và bánh in mất hết chẳng nói làm chi, ngặt những trái cây lạ lắm! Coi lại cho kỹ, thì lột vỏ và bỏ hột ê hề, mà không thấy ai hết! Dương Lực đại tiên nói:

- Sư huynh đừng nghĩ ngại, tôi đã biết rồi. Chắc là chúng ta lòng thành nên Tam Thanh gia gia ngài giáng hạ mà nhậm lễ. Sẳn dịp ngài còn ở đây, chúng ta lạy mà xin nước kim đơn dưng cho triều đình kẻo ao ước.

Hổ Lực đại tiên khen phải. Truyền các đệ tử gióng trống mà cầu đão.

Giây phút thầy cả là Hổ Lực đại tiên quì lạy, xin cho nước kim đơn, đặng dưng cho vua Xa Trì, kẻo lòng mộ đạo.

Khi ấy Bát Giới nói nhỏ với Hành Giả rằng:

- Phải đừng ăn rán, thì về đã tới nơi. Báo hại ngồi dai mới thành sự, bây giờ biết nói làm sao?

Tôn Hành Giả nắm tay Bát Giới một cái, có ý không cho bàn soạn. Rồi nói lớn rằng: - Các tiểu tiên đừng lạy nữa. Chúng ta ăn yến tại hội bàn đào mới về đây, nên không đem kim đơn thủy. Để bữa khác sẽ cho.

Các đạo sĩ nghe nói mừng quýnh, run lập cập bạch với thầy rằng:

- Không thấy thuở Thiên tôn dáng hạ, đời nào gặp nữa mà trông. Xin quyết phép trường sanh cho đặng.

Hổ Lực đại tiên quỳ lạy bạch rằng:

- Xin Thiên tôn cho một chút nước kim đơn, kẻ đệ tử uống một điểm ngỏ đặng sống đời.

Sa Tăng nắm tay Tôn Hành Giả nói ý rằng:

- Đại ca ôi! Coi bộ nó mừng quýnh, nên mới cầu khẩn hoài.

Tôn Hành Giả nói:

- Thôi, vậy thì cho nó một chút.

Khi các đạo sĩ ngừng chiêng trống Tôn Hành Giả nói:

- Các tiểu yêu quỳ lạy làm chi, ta muốn để chút kim đơn tại đây, thì coi ra việc dễ lắm, không lấy làmchi quý, bằng không để lại, htì dứt cái mối đạo đi!

Các đạo sĩ đồng lạy và bạch rằng:

- Xin Thiên tôn thương tình đệ tử có lòng thành, để chút kim đơn làm tin, cho Triều đình trọng đạo.

Tôn Hành Giả nói:

- Như vậy thì đem đồ đựng lại đây.

Các đạo sĩ đồng lạy tạ Ơn. Còn ba thầy cả, khiêng cái ché lại, và đem chậu dựng lên. Chưa đủ lòng tham, lại còn rút bông chưng, lấy lục bình mà phụ thêm nữa!

Tôn Hành Giả nói:

- Thôi, các ngươi đi tản hết, nếu dòm lén lậu thì phải chết, chừng nào nghe kêu sẽ vào.

Các đạo sĩ như lời bảo.

Khi ấy Tôn Hành Giả lấy lục bình, vén quần đái đầy nhóc, Bát Giới nói:

- Tôi cũng thốn tới. Nói rồi kéo chậu lại đái thẳng chỗ gần đầy.

Còn Sa Tăng phụ thêm nữa chén.

Xong rồi kêu các đạo sĩ lãnh kim đơn thủy cho mau.

Các đạo sĩ lựu lại lạy tạ Ơn.

Rồi thỉnh chậu ché và lục bình xuống.

Hổ Lực bảo đệ tử đem chén chung lại rót uống một hớp, liền chùi miệng nhăn mày. Lộc Lực lấy làm lạ hỏi rằng:

- Anh uống có ngon hay không?

Hổ Lực nói:

- Không lấy làm ngon, có hơi khai lắm.

Lộc Lực múc trong chậu một hớp, nói rằng:

- Có hơi nước đái heo!

Tôn Hành Giả nghe nói, biết bể chuyện, tính phải để danh cho chúng biết.

Liền nói lớn như vầy:

- Đạo sĩ, đạo sĩ, bây tưởng như ngây, Tam Thanh là thánh, bao thuở xuống đây! Nay ta nói thiệt, cho các ngươi hay. Thầy ta vưng chỉ, quyết đến Phương Tây. Đến nay vô sự, đi dạo chốn nầy, hưởng đồ cúng kiến, chơi giỡn giải khuây. Các ngươi lạy lục, cảm động lòng nầy. Bởi xin nước quý, năn nỉ nói nhây. Kim đơn không có, phải tiểu cho đầy.

Các đạo sĩ nghe nói tới đó, liền lấy chổi đập đùa, kẻ lại vác ngói gạch liệng đại.

Ba người đằng vân bay về.

Đến phương trượng không dánh đánh tiếng vì sợ thầy hay, nằm ngủ lại như cũ.

Rạng ngày vua nước Xa Trì lâm triều, bá quan văn võ chầu chực.

Hoàng môn quan và tâu rằng:

- Có Hòa Thượng ở nước Đại Đường đi thỉnh kinh Tây Phương, ban cho đổi điệp thông hành.

Vua Xa Trì phán rằng:

- Hòa Thượng nầy cũng chướng, hết chỗ chết hay sao, mới tìm đến đây mà bỏ mạng! Vậy chớ quan tuần bộ đâu, không bắt nó giải cho Quốc Sư đem vào sổ? Thái sư tâu rằng:

- Đường Tăng Trung huê, đến đây hơn muôn dặm, cũng có thần thông hiệu pháp, mới dám đi Tây Phương mà thỉnh kinh. Xin Bệ Hạ đòi vào, xét điệp cho rõ, sẽ phê cho xuôi việc kẻo mất trắng.

Vua Xa Trì y tấum đòi vào. Bốn thầy trò ra mắt và dưng điệp.

Vua Xa Trì cầm điệp đương xem.

Xảy thấy Hoàng môn quan đến tâu rằng:

- Có ba vị Quốc Sư đến.

Vua Xa Trì thất kinh buông điệp, bước xuống điện mà tiếp nghinh.

Khi ấy Tam Tạng ngó thấy một thầy cả đi trước, hai thầy chùa vá theo sau.

Bá quan văn võ đều quì lạy, cúi đầu không dám ngó lên.

Vua Xa Trì phán hỏi rằng:

- Quốc Sư, trẩm không có việc chi, nên chẳng dám thỉnh, chẳng hay Quốc Sư, đến đây dạy điều điều chi?

Hổ Lực đại tiên nói:

- Tôi đi thưa một chuyện, còn bốn hòa thượng nầy ở đâu mới đến đây?

Vua Xa Trì nói:

- Bốn sãi nầy ở Đại Đường phụng chỉ qua Tây Phương thỉnh kinh, nay đến đổi điệp thông hành mà đi nữa.

Hỗ Lực đại tiên vỗ tay cười lớn rằng:

- Vậy mà tôi tưởng chúng nó đã trốn khỏi, không dè còn ở lại đây.

Vua Xa Trì kinh hãi hỏi rằng:

- Quốc Sư nói lạ lùng, trẫm nghe không hiểu; bởi chúng nó mới đến, trẫm truyền bắt giải cho Quốc Sư, chẳng ngờ Thừa tướng tâu, vân vân. Trẫm nghe cũng phải, nên đòi vào coi điệp ra thể nào, vừa thấy Quốc Sư đến chơi, sao lại nói tiếng lạ như vậy? Hay là chúng nó có lỗi với Quốc Sư chăng?

Hổ Lực đại tiên cười rằng:

- Bệ Hạ không rõ, bữa hôm qua chúng nói mới đến, đập chết hai đứa học trò tôi; lại phá xe, và thả hết 500 sãi. Hồi hôm chúng tôi đương cúng cầu nước thánh kim đơn dưng cho bệ hạ, chúng nó lén vào xô ba vị thánh thượng, hiện hình Tam Thanh ăn hết đồ cúng, chúng tôi ngỡ thiệt Tam Thanh giáng hạ, xin nước thánh mà dưng, chúng nó đái vào lục bình mà kiêu ngạo, chúng tôi bắt không đặng, chúng nó chạy mất đi. Té ra bây giờ còn lẫn bẩn lại đây, thiệt là trời cho trả oán.

Vua Xa Trì nghe tâu nổi giận truyền chém bốn thầy trò.

Tôn Hành Giả nói lớn rằng:

- Xin Bệ Hạ bớt trận lôi đình, cho tôi tâu với Quốc Sư hôm qua chúng tôi giết hai người đệ tử, có chứng ai chỉ ra? Thôi tôi cũng chịu đỡ cho xuôi, bắt hai sãi nầy đền mạng. Lại nói chúng tôi phá xe trả thù, không chứng cớ, cũng nhịn thua xin ở lại làm tù, xin Bệ Hạ đổi điệp thông hành, cho thầy tôi đi thỉnh kinh kẻo trễ. Chớ như nói chuyện hồi hôm chúng tôi đi làm tác tệ, sự ấy khó nghe. Bởi chúng tôi là thầy sãi mới đến đây, biết đường đâu mà đi phá đám? Nếu quả có sự ấy sao Quốc Sư không bắt nạp tức thì? Vả chăng thiên hạ nhiều người, sao nhè thầy tôi mà nói, xin Bệ Hạ xét lại mà xử cho công binh. Vua Xa Trì tánh hay lôi thôi, nghe Hành Giả đối nại cũng hữu lý, nên không biết sao mà giải quyết.

Xảy thấy quan Hoàng môn vào tâu rằng:

- Có một người hương chức già, xin vào tâu việc cần gấp.

Vua Xa Trì cho triệu vào.

Bốn mươi hương chức già đồng quỳ lạy tâu rằng:

- Mãn mùa xuân trời chưa mưa, chắc là phải hạn. Xin Bệ Hạ thỉnh một vị Quốc Sư đảo võ, đặng trời mưa cứu việc mùa màng.

Vua Xa Trì nghe tấu, liền ngó Tam Tạng mà phán rằng:

- Trẫm khi trước cũng bị hạn như năm nay, các sãi đảo võ không đặng. Nhờ có ba vị Quốc Sư xuống cầu mưa như thường, cứu dân khỏi chết, nên trẫm trọng đạo mà ghét tăng. Nay ngươi phạm tội với Quốc Sư lẽ thì không thứ, như ngươi dám cầu mưa với Quốc Sư để cho biết ai cao ai thấp. Nếu các ngươi cầu mưa đặng thì trẫm tha tội, và đổi điệp thông hành, bằng thua thì trẫm chém chết!

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Cái sự đảo võ kinh với Quốc Sư, tôi chắc làm đặng.

Khi ấy vua Xa Trì truyền quân lập đàn, đặng vua lên lầu ngũ phụng xem thử.

Ba vị Quốc Sư cũng theo vua lên lầu.

Còn Tam Tạng với ba trò đứng dưới lầu ngó lên lơ láo.

Giây phút thấy một ông quan lên báo rằng:

- Đàn tràng lập rồi, xin Quốc Sư đảo võ.

Hỗ Lực đại tiên từ tạ vua mà xuống lầu.

Khi ấy Tôn Hành Giả đó đường hỏi rằng:

- Tiên sanh đi đâu đây?

Hổ Lực đại tiên nói:

- Ta lên đàn đảo võ.

Tôn Hành Giả nói:

- Thầy ỷ quá chừng, không biết nhường cho kẻ phương xa cầu trước. Thôi thôi, tôi biết rồi, rồng mạnh không hơn rắn có thể, thầy hãy cầu trước đi. Song phải giao kết cho có vua làm chứng mới đặng.

Hổ Lực hỏi:

- Giao ước giống gì nữa?

Tôn Hành Giả nói:

- Thầy đảo võ, rồi tôi cũng đảo võ, nếu mưa xuống ai cũng tranh phần của mình. Phải giao trước cho rõ ràng mới đặng.

Hổ Lực đại tiên nói:

- Phép ta đảo võ đều có chừng, đánh lịnh bài một tiếng thứ nhứt nổi gió, đánh lịnh bài một tiếng thứ nhì thì trời kéo mây, tiếng thứ ba sấm chớp, tiếng thứ tư mưa tới, tiếng thứ năm tan mây. Công việc trong phiên ta nội bấy nhiêu đó, rồi tới phiên ngươi.

Tôn Hành Giả nói:

- Phải, phải, hay lắm, thầy cầu trước coi thử.

Hổ Lực đại tiên lên đàn, bốn thầy trò theo coi đồ trận. Thấy đài cao ba trượng, xung quanh cặm 28 ngọn cờ nhị thập bát tú. Trên bàn hương án, rực rỡ đèn hoa, có dựng một cây kim bài lưu hương, trong kim bài có chạm tên Lôi Thần, dưới bàn có năm ché nước đầy, mỗi ché nước đều thả thành dương liễu nỗi trên mặt, trên nhành dương lại để một miếng thiếc, có vẽ bùa ngũ lôi.

Còn xung quanh có năm cây trụ, mỗi cây trụ đều có đề tên thần. Cây thì đề thần gió, cây thì đề thần mây, cây thì đề Lôi Công, cây thì đề Điển Mẫu, cây thì đề Tứ Hải Long Vương. Mỗi cây trụ đều có hai đạo sĩ cầm trái chùy bằng sắt mà hờ, đợi nghe đánh lịnh bài sẽ đóng trụ ấy, ở phía sau nhiều thầy đạo sĩ viết sớ vẽ bùa. Còn vòng ngoài có bong hình Thổ Địa phù sứ cầm búa cầm sớ, coi như hình sống.

Lúc ấy, Hổ Lực đại tiên lên đàn, Đạo sĩ dưng gươm và bùa giấy vàng sẳn, Hổ Lực đại tiên cầm gươm làm phép, đọc chú đốt bùa. Đọc sớ rồi phong lại, đưa cho đạo sĩ để trên bàn tay hình nộm đốt luôn.

Giây phút đánh lịnh bài một cái xèng, gió hiu hiu thổi.

Bát Giới nói:

- Không xong, không xong, đạo sĩ nầy thật giỏi, đánh lịnh bài một tiếng, nổi gió tức thì.

Tôn Hành Giả nói nhỏ rằng:

- Hai anh em đừng nói chuyện chí với ta, để ta xuất thần đi lo công việc.

Nói rồi nhổ lông hóa hình giả đứng đó, còn hình thiệt biến lên mây.

Khi ấy Phong bà là Dì gió và Tốn nhị lang là thần Đông đương làm gió.

Tôn Hành Giả bước tới, Phong bà và Tốn nhị lang đồng chào.

Tôn Hành Giả nói:

- Lão Tôn bảo hộ Đường Tăng đi thỉnh kinh Tây Phương. Nay ta đàn cuộc đảo võ kinh với Hổ Lực đạo sĩ. Các người đừng giúp yêu đạo, trợ Lão Tôn thì có ơn, nếu còn cho một chút gió phất phơ sợi râu nó, ta cũng đập các ngươi hai chục thiết bãng chẳng dung.

Phong bà và Tốn nhị lang thưa rằng:

- Chúng tôi vưng lời Đại Thánh. Liền thâu gió tức thời.

Khi ấy Hổ Lực đốt bùa làm phép, vân vân rồi đánh lịnh bài một tiếng nữa.

Xảy thấy mây kéo cuộn cuộn, Tôn Hành Giả cầm thiết bãng lại hỏi rằng:

- Người tên chi, kéo mây đi đâu đó?

Vân Đồng xưng tên.

Tôn Hành Giả cũng thuật chuyện lại như hồi nãy, Vân Đồng vưng lịnh thâu mây, trời nắng lại chang chang.

Hổ Lực lấy làm lạ, cầm gượm xã tóc, niệm chú đốt bùa, đánh lịnh bài và đóng nọc (đóng trụ).

Khi ấy Lôi Công, Điễn mẫu vừa đi tới, gặp Tôn Hành Giả thuật chuyện đầu đuôi.

Lôi Công Đặng thiên quân nói:

- Hổ Lực đạo sĩ làm chánh phép ngũ lôi, đốt sớ thấu Thượng Đế, nên chúng tôi phụng chỉ giúp mưa.

Tôn Hành Giả nói:

- Như vậy thì ở đây mà đợi ta.

Còn Hổ Lực đại tiên không thấy sấm chớp, liền thêm hương làm phép, đánh một tiếng lịnh bài.

Khi ấy Tứ Hải Long Vương đồng tới.

Tôn Hành Giả đón lại hỏi rằng:

- Ngao Quảng đi đâu đó?

Ngao Quảng liền chào Đại Thánh, Tôn Hành Giả thuật chuyện, vân vân. Rồi nói với Ngao Thuận rằng:

- Hôm trước cám tình lịnh lang trói con quái mà cứu thầy tôi.

Ngao Thuận nói rằng:

- Tôi còn xiềng nó dưới biển, đợi Đại Thánh khi nào ghé sẽ xử tội, chớ tôi không dám tự chuyên.

Tôn Hành Giả nói:

- Tự ý ông trị tội nhẹ nặng cũng đặng, đừng đợi tôi làm chi.

Nói rồi day qua ngó các Long Vương mà nói rằng:

- Khi trước tôi nhờ bốn ông giúp sức, mà chưa thành công, nay xin giúp tôi cho nên việc. Hổ Lực đão sĩ nó đánh lịnh bài bốn lần rồi, tới phiên tôi đảo võ. Song tôi chẳng biết đốt bùa đọc chú và đánh lịnh bài, các ông cứ việc mưa giúp.

Đặng thiên quân đáp rằng:

- Đại Thánh biểu lẽ nào nào tôi dám cải. Song phải có hiệu lịnh mới xong, nếu không thì sấm chớp gió mưa không có thứ tự.

Tôn Hành Giả nói rằng:

- Như vậy thì các ông cứ coi chừng cây thiết bãng của tôi hễ đưa lên lần thứ nhứt thì nổi gió, đưa lên lần thứ nhì thì kéo mây vẫn vũ, đưa lên lần thứ ba thì sấm chớp, đưa lên lần thứ tư thì mưa, đưa lên thứ năm thì tành và nắng lập tức.

Ai nấy đồng chịu y lời.

Khi ấy Tôn Hành Giả sắp đặt xong xã, liền xuống thâu lông hiện hình nói lớn rằng:

- Tiên sanh đánh lịnh bài đã bốn lần không linh hiệu chi hết, vậy thì bước xuống, để cho tôi lên đàn.

Hổ Lực đại tiên túng phải bước xuống, đi lên lầu một nước.

Tôn Hành Giả theo sau lưng.

Vua Xa Trì phán rằng:

- Quả nhơn lóng tai nghe đủ bốn tiếng lịnh bài, sao không thấy mưa xuống?

Hổ Lực đại tiên nói lướt rằng:

- Bữa nay Long Thần đi khỏi?

Tôn Hành Giả hét lớn rằng:

- Long Thần đi khỏi bao giờ? Quốc Sư non tay ấn cầu không đặng, khéo kiếm chuyện mà đổ thừa. Để thầy tôi tụng kinh đảo võ thì có mưa lớn cho mà coi.

Vua Xa Trì phán rằng:

- Vậy thì Hòa Thượng lên đàn làm phép đi, trẫm còn ngự tại đây xem thử.

Tôn Hành Giả phụng chỉ xuống thỉnh thầy lên đàn.

Tam Tạng nói:

- Ta biết làm sao mà đão vỏ?

Hành Giả thưa rằng:

- Thầy cứ ngồi tụng tâm kinh, để mặc tôi giúp sức.

Tam Tạng y lời.

Khi ấy có một ông quan chạy lên hỏi rằng:

- Bệ Hạ truyền chỉ hỏi thầy: Sao không đốt bùa, đánh lịnh bài, cứ ngồi đọc lầm thầm mãi?

Tôn Hành Giả vội nói hớt rằng:

- Không cần mấy chuyện ấy, cứ tụng kinh đảo vỏ mà thôi.

Ông quan ấy lên lầu tâu lại.

Còn Tôn Hành Giả thấy thầy vừa tụng dứt tâm kinh, liền móc Như ý kim cô trong lỗ tai dồi lên, biến ra cây thiết bảng, đứng dựa bên, cầm thiết bảng đưa lên, vừa hạ thiết bảng xuống thì giông gió đùng đùng, dường như bão tố.

Tôn Hành Giả đưa thiết bảng lên nữa, mây kéo mịt mù, ai nấy đều lấy làm lạ.

Tôn Hành Giả giơ thiết bảng lần thứ ba, thì chớp giăng, sấm nổ.

Khi ấy bá tánh trong nước Xa Trì nghe sấm dậy vang trời, thì đều mừng rỡ, đặt bàn hương án.

Tôn Hành Giả kêu lớn rằng:

- Lão Đặng, coi có đứa con nào bất hiếu và quan nào bất trung, đánh ít người mà làm gương cho thiên hạ.

Nói rồi giây phút nghe sấm nổ rầm rầm, dường như lở non lở núi!

Tôn Hành Giả giơ thiết bảng lên nữa, mưa xuống dầm dề, từ cuối giờ Thìn đến giờ Ngọ mà chưa tạnh.

Khi ấy vua nước Xa Trì thấy đất bằng nổi sóng, đường lộ thành sông, thất kinh truyền chỉ rằng:

- Mưa đã đủ dùng rồi, nếu thêm nữa thì lụt, càng thêm hại lắm.

Tôn Hành Giả giơ thiết bảng lên, tức thì mưa tan mây tạnh, giây phút nổi nắng chan chan.

Vua Xa Trì mầng rỡ, bá quan văn võ khen rằng:

- Hòa Thượng giỏi lắm! Thường khi Quốc Sư đảo vỏ, khi thôi còn mưa pháy pháy một đôi giờ, còn Hòa Thượng này muốn tạnh thì thấy nắng!

Vua Xa Trì xuống lầu, lên ngai ngồi ngự, lấy điệp mà xem, quyết đổi điệp thông hành cho Tam Tạng.

Ba vị Quốc Sư cản rằng:

- Đám mưa nầy của chúng tôi, không phải các Hòa Thượng cầu đặng.

Vua Xa Trì phán rằng:

- Quốc Sư nói Long Thần đi khỏi, nên không mưa, sao hòa thượng lên đàn tụng kinh thì trời mưa như cầm chỉnh mà đỗ, bây giờ còn tranh hành làm sao?

Hổ Lực đại tiên tâu rằng:

- Tôi đảo vỏ thuở nay, Long Thần không dám trễ, chắc là bữa nay mấy vị mắt đi khỏi, kẻ có người không, nên chờ nhau mới chậm. Vừa ưa Hòa Thượng lên đàn tụng kinh lôi thôi đó, thì Long Thần mới vừa tới, nên nhơn đó mà nên công, xét lại mà coi thì biết ai mà thỉnh tới, lẽ nào mới ngồi một chút, mà xuống kịp hay sao?

Vua Xa Trì nghe nói, hồ nghi lưỡng lự.

Khi ấy Tôn Hành Giả đứng dưới sân chầu, nghe rõ liền tâu rằng:

- Bàng môn tả đạo làm chẳng nên công, nhờ có tài lợi khẩu. Ngay Tứ Hải Long Vương còn đó, tôi chưa cho về, như Quốc Sư có tài phép thì bảo Long Vương hiện hình trên mây, tôi chịu nhường công thứ nhứt.

Vua Xa Trì mừng rỡ phán rằng:

- Trẫm lên ngôi đã hai mươi hai năm, chưa từng thấy rồng thiệt. Nay nhờ Tăng, Đạo đấu phép, trẫm xem cho biết chơn long. Ai kêu rồng hiện hình, thì đặng phần thứ nhứt.

Hổ Lực đại tiên nói:

- Chúng tôi kêu không đặng, Hòa Thượng giỏi thì kêu thử mà coi!

Tôn Hành Giả bước ra ngước mặt kêu lớn rằng:

- Xin Tứ Hải Long Vương hiện nguyên hình xem thử?

Xãy thấy bốn rồng lộn trên mây, chúa tôi lấy làm lạ lùng, đồng thắp hương làm lễ. Vua Xa Trì vái rằng:

- Trẫm cám ơn bốn vị đại vương cho thấy, xin lui về, sau sẽ dọn lễ tạ Ơn.

Tôn Hành Giả nói:

- Thôi, các vị thần thánh lui về, sau sẽ trả lễ.

Nói rồi bốn rồng biến mất, chư thần cũng về trời.

Hồi 46
Ðạo sĩ cậy tài khi đạo Phật
Ngộ Không đấp phép hại loài tà
Khi ấy vua Xa Trì phê điệp đóng ấn, chưa kịp đưa ra, ba vị Quốc Sư liền quì xuống, vua Xa Trì kinh hãi bước xuống ngai đỡ dậy hỏi rằng:

- Sao bữa nay Quốc Sư làm lễ?

Ba đạo sĩ tâu rằng:

- Chúng tôi đến phò Bệ Hạ có hai mươi năm dư, giúp nước cứu dân đã nhiều công khó, nay vì một đám mưa mà Bệ Hạ bỏ qua sự nhơn mạng, hiếp chúng tôi biết chừng nào! Xin bệ hạ xét lại, cho chúng tôi đấu phép với Hòa Thượng, coi thử thể nào?

Vua Xa Trì vị tình không cấp điệp cho Tam Tạng.

Liền phán hỏi rằng:

- Quốc Sư muốn đấu phép chi?

Hổ Lực nói:

- Tôi ngồi kỳ kình với Hòa Thượng.

Vua Xa Trì phán rằng:

- Quốc Sư tính sai lắm, nghề ngồi kỳ là của Hòa Thượng, mình kình cách ấy làm chi?

Hổ Lực nói:

- Cách ngồi kỳ của tôi khác lắm, gọi là Vân thê hiển thánh.

Vua Xa Trì phán hỏi:

- Phép ấy ra làm sao?

Hổ Lực nói:

- Vân thê hiển thánh, nghĩa là làm phép lên thang mây. Chồng năm mươi cái ghế cho cao, hai bên như vậy, chẳng cho bắc thang leo lên, phải đằng vân bay ngồi trên chót. Giao ngồi mấy giờ đừng nhúc nhích, hễ động thì thua.

Vua Xa Trì biết sự khó, truyền chỉ hỏi rằng:

- Hòa Thượng nào dám chịu ngồi kỳ như vậy?

Tôn Hành Giả làm thinh.

Bát Giới hỏi: - Sao sư huynh không nói?

Tôn Hành Giả đáp rằng:

- Không nói giấu chi em, dầu xuống đất lên trời đào non tát biển, ta không bao giờ chạy, chớ sự ngồi trân trân ta phải chịu thua trước. Vì tánh ta lao chao đã quen, nen làm tỉnh không đặng , Tam Tạng nói:

- Ta ngồi kỳ đặng, khó một điều đằng vân.

Tôn Hành Giả mừng rỡ thưa rằng:

- Thầy ngồi đặng mấy giờ?

Tam Tạng nói:

- Ta tu luyện đã lâu, dầu ngồi ba năm cũng đặng.

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Hay lắm, hay lắm. Xin thầy chịu đi, tôi làm phép đưa lên trên chót.

Tam Tạng chắp tay bước đến, quì xuống tâu rằng:

- Bần tăng biết tọa thiền.

Vua Xa Trì truyền chỉ, lập đài hai bên điện.

Giây phút lập rồi xong xả, Hổ Lực đại tiên đằng vân lên ngồi đài phía Tây. Còn Tôn Hành Giả nhỗ một cái lông biến hình giã đứng đó với Sa Tăng, Bát Giái. Mình hiện ra hào quang, chở Tam Tạng để ngồi trên đài phía Đông, rồi hóa ra con ve nhỏ, bay lại đậu trên tai Bát Giới mà dặn rằng:

- Ngươi dặn Sa Tăng đừng nói chuyện với ta nữa.

Bát Giới gặc đầu, rồi dặn nhỏ Sa Tăng rằng:

- Đừng có nói chuyện với con khỉ giã mà lậu ra, đại ca đã xuất thần đi bão hộ sư phụ.

Sa Tăng cũng gặc đầu. Con ve còn đậu trên tai Bát Giái.

Nói về Lộc Lực đại tiên thấy hai người ngồi cả buổi như nhau, liền tính kế hại Tam Tạng.

Lộc Lực nhổ một sợi tóc con sau ót, búng lên, hóa ra con rệp lớn bằng ngón tay út đeo cổ Tam Tạng mà cắn.

Tam Tạng không dám gải. Rùn cỗ xúông mà cạ cho đã ngứa, nhưng cũng không đã chút nào.

Bát Giới nói:

- Không xong, không xong, thầy mắc phong đòn gánh.

Sa Tăng:

- Không phải, chắc là nhức đầu phong.

Con ve nói:

- Thầy ta là quân tử nói chẳng sai lời, đã hứa rằng ngồi kỳ tới ba năm, lẻ nào mới một giờ đã rút cổ; chúng bây đừng nói nữa, để ta bay lên coi thử thể nào?.

Nói rồi bay lên kiếm đặng con rệp, bắt bỏ xuống tức thì, lại cào cho đã ngứa.

Tam Tạng ngồi vững như thường.

Khi ấy Tôn Hành Giả nghĩ thầm rằng:

- Đầu thầy mình cạo hoài, con chí mén cũng không đặng, lẻ nào có rệp lớn như vầy, chắc là đám đạo sĩ biến hóa cho thầy mình thua nó, để ta làm lại mới nghe. Liền bay qua bên kia biến ra con rít nhỏ, đeo lỗ mũi Hổ Lực, cắn và kẹp đau quá, Hổ Lực té nhào, thiếu chút nữa mà hết thở, nhờ có nhiều người đỡ, nên chẳng hề chi.

Còn Tôn Hành Giả hiện hào quang đưa xuống.

Vua Xa Trì thấy Đường Tăng thắng, cầm điệp mời đưa ra, Lộc Lực đại tiên tâu rằng: - Anh tôi có tật trúng phong,bởi ngồi cao nên nhiễm gió mà té. Xin cho tôi thi cách bàng xai mai với Hòa Thượng, mới chắc hơn thua.

Vua Xa Trì hỏi:

- Thi cách ấy ra làm sao?

Lộc Lực đại tiên tâu rằng:

- Phép ấy đặt vật trong cũi, cũng như đặt vật trong hộp, ai nói trúng thì hơn, nếu Hòa Thượng giỏi hơn tôi thì tha đi, bằng thua xin làm tội án mạng theo luật.

Vua Xa Trì giữa sân chầu phán hỏi rằng:

- Trẫm đặt vật trong cũi, hai bên nói thử coi bữu bối chi?

Tam Tạng nghe hỏi than rằng:

- Đồ trong cái cũi sơn, biết bửu bối chi mà nói cho trúng!

Tôn Hành Giả hóa ra con ve, bay lại bên tai Tam Tạng mà nói nhỏ rằng:

- Xin thầy đừng lo, để tôi xem rồi bay về nói lại. Nói rồi bay xuống đít củi, thấy có hở một đường liền thâu hình nhõ chun vào. Ngó thấy cái áo để trên có thêu năm chữ: Sơn hà xã tắc áo. Còn ở dưới để một cái củn, trên lưng trên thêu năm chữ: Kiền khôn địa lý quần.

Tôn Hành Giả vò lại một cục, cắn chót lưỡi phun máu vào, biến ra một cái chuông bể, rồi hóa thành hình nhỏ chun ra. Bay lên nói nhõ với Tam Tạng rằng:

- Nó là một cái chuông bể.

Tam Tạng nói:

- Vua có nói trước là bửu bối, sao lại nói vật hèn?

Tôn Hành Giả nói:

- Thầy cứ nói theo tôi thì trúng.

Khi ấy Tam Tạng y lời mới bước lại.

Lộc Lực nói:

- Để tôi nói trước, ấy là hai món Sơn hà, Xã tắc áo, Kiền khôn địa lý quần.

Tam Tạng nói:

- Không phải đâu! Thiệt là một cái chuông bể.

Vua Xa Trì nỗi giận quở rằng:

- Hòa Thượng vô lễ quá chừng, chê nước trẫm không có vật báu; đem chuông vào đặt cũng không có chuông lành.

Vỏ sĩ kéo ra làm tội.

Tam Tạng tâu rằng:

- Xin Bệ Hạ truyền mở củi ra mà coi, nếu bữu bối thì bần tăng chịu tội. Vậy mới thiệt công bình, chớ xử như vầy oan tôi lắm!.

Vua Xa Trì truyền mở củi ra, thiệt có một cái chuông khờn mẻ.

Vua Xa Trì nổi giận lớn rằng:

- Ai đặt như vầy?

Hoàng Hậu bước ra tâu rằng:

- Thiệt tôi đặt Sơn hà xã tắc áo, và Kiền khôn địa lý quần, không biết vì cớ nào hóa ra như vậy!

Vua Xa Trì phán rằng:

- Hoàng Hậu lui vào cung. Trẫm biết việc nầy rồi, để trẫm đặt bữu bối khác.

Nói rồi truyền khiêng củi vào cung.

Vua Xa Trì hái một trái đào lớn sau vườn đặt vào củi. Truyền khiêng ra phán hỏi vật chi?

Khi ấy Tôn Hành Giả cũng vô củi như khi nảy, hiện hình ăn hết trái đào, bỏ hột trong củi, bay ra nói nhỏ với Tam Tạng rằng:

- Có hột đào ở trỏng.

Tam Tạng y lời bước tới.

Dương Lực nói hớt rằng:

- Có một trái đào chín mà thôi.

Tam Tạng cãi rằng:

- Không phải, có một cái hột đào lớn lắm.

Vua Xa Trì nổi giận nạt rằng:

- Trẫm đặt trái đào chín rõ ràng, sao ngươi nói là hột? Quốc Sư thứ ba nói trúng. Tam Tạng kêu nài rằng:

- Xin mở ra mới biết.

Vua Xa Trì truyền mở củi xem lại, thiệt có một cái hột đào trơ trơ, không còn chút võ!

Khi ấy vua Xa Trì kinh hải phán rằng:

- Thôi thôi! Quốc Sư đừng đặt đố với Hòa Thượng nữa, nhị thua đưa điệp cho rồi. Thiệt rõ ràng trẫm đặt trái đào, không biết ai hiện vào mà ăn còn lại cái hột! Chắc là Hòa Thượng nầy có quỷ thần giúp sức.

Xảy thấy Hổ Lực đại tiên vào tâu rằng:

- Xin Bệ Hạ truyền đem củi ra sau, tôi đặt vật cho nó nói.

Vua Xa Trì truyền theo như lời bảo, rồi hỏi như rằng:

- Bây giờ Quốc Sư muốn đặt vật gì?

Hổ Lực nói:

- Nó có phép tráo đồ, bây giờ đặt vật chi nó cũng tráo được, trừ ra đặt người ta thì nó hết tráo.

Nói rồi biểu đạo đồng vào cũi, đóng cũi lại rồi khiêng ra.

Khi ấy Tôn Hành Giả hiện vào trong cũi, xem thấy đạo đồng.

Tôn Hành Giả hiện ra hình Hổ Lực; đạo đồng xem thấy bái và hỏi rằng:

- Chẳng hay thầy hiện vô hồi nào?

Hổ Lực giả nói:

- Ta mới độn vào đây.

Đạo đồng bạch rằng:

- Thầy hiện vào làm chi?

Hổ Lực giả nói:

- Sợ khi nãy Hòa Thượng có phép tàn hình, ngó thầy ngươi bước vào cũi, chắc là nó nói đạo đồng, thì mình ăn nó không đặng, nên ta lén vào cạo đầu ngươi, giã đò thầy chùa, thì nó nói không trúng.

Đạo đồng bạch rằng:

- Tự ý thầy toan tiệu, làm cách nào hơn nó thì làm.

Hổ Lực giả lấy Thiết bảng biến ra dao cạo, thế phát cho đạo đồng. Rồi làm phép biến quần áo ra đồ thầy chùa cho khác cách. Lại nhổ lông hóa ra cái mỏ và dùi, đưa cho nó mà dặn rằng:

- Đồ đệ nghe cho rõ: Nếu nghe kêu đạo đồng thì làm thinh, bằng kêu Hòa Thượng sẽ mở cữa mà bước ra, và gỏ mỏ và đi, miệng niệm Nam mô a di đà phật.

Đạo đồng y lời.

Khi ấy Tôn Hành Giả hiện hình nhỏ bay ra, đến dặn Tam Tạng rằng:

- Thầy nói Hòa Thượng trong củi thì trúng.

Tam Tạng bước lại, Lộc Lực nói hớt rằng:

- Đạo đồng trong củi Tam Tạng nói:

- Ấy là Hòa Thượng, không phải đạo đồng.

Hổ Lực kêu rằng:

- Đạo đồng bước ra cho mau?

Biểu hoài không đặng.

Bát Giới kêu lớn rằng:

- Hòa Thượng trong cũi, đi ra cho mau.

Xảy thấy cửa củi mở bét, Hòa Thượng trong củi tay gỏ mỏ, miệng niệm phật, chơn bước ra ngoài.

Bá quan văn vỏ đều khen trúng.

Ba Quốc Sư sửng sờ, vua Xa Trì kinh hải phán rằng:

- Chắc là thần thánh phù trợ Đường tăng, nên đạo đồng hóa ra Hòa Thượng.

Quốc Sư còn kình chống làm chi, để trẫm cấp điệp đặng họ đi cho rãnh.

Hổ Lực đại tiên tâu rằng:

- Bần đạo gặp người tài phép xứng tay, xin đấu phép cho tới nước, Khi nhỏ tôi có học võ nghệ tại núi Chung Nam, xin đấu cho phải dạ.

Vua Xa Trì hỏi:

- Quốc Sư đấu võ làm sao?

Hổ Lực đại tiên tâu rằng:

- Ba anh em tôi, có thần thông chém đầu rồi hườn lại, mổ ruột rồi hàn liền, tắm trong vạc dầu không phỏng.

Vua Xa Trì phán rằng:

- Ba phép ấy là phép chết không phải chơi đâu!

Hổ Lực tâu rằng:

- Tôi là đặng mới dám xứng tài, quyết thi cách đó thì hơn nó mới đặng.

Khi ấy vua Xa Trì phán rằng:

- Ba vị Quốc Sư muốn đấu phép chém đầu rồi hườn lại, mỗ ruột rồi hàn liền, và tắm trong vạc dầu sôi cũng không phỏng.

Hòa Thượng dám thi chăng?

Tôn Hành Giả nghe nói mừng quá, hiện hình ra, thâu lông lại, bàn luận nhỏ rằng:

- May lắm, may lắm, ta thi ba món chắc ăn.

Bát Giới thấy Tôn Hành Giả và cười và nói, liền hỏi rằng:

- Ba chuyện ấy chắc chết, chớ chắc ăn giống gì?

Tôn Hành Giả nói:

- Nếu ngươi không tin, nghe bài thơ nầy thì biết.

Nói rồi đọc rằng:

Đứt đầu ráp lại mới là tài,

Mổ ruột banh da triến tức thời,

Nằm giữa vạc dầu sôi sục sục,

Cũng như nực nội tắm mà chơi.

Ngâm thơ rồi thưa rằng:

- Tiểu tăng chặt đầu rồi hườn lại cũng đặng.

Vua Xa Trì hỏi:

- Thuở nay đã có thử lần nào chưa?

Tôn Hành Giả tâu rằng:

- Tôi hồi nhỏ có học phép ấy không biết linh chăng, thừa dịp nầy làm thử.

Vua Xa Trì cười rằng:

- Thầy chùa nhỏ hay liều mạng, tưởng chặt đầu là dễ, nên tập thử mà chơi!

Hổ Lực đại tiên tâu rằng:

- Làm như vậy chúng tôi mới vừa lòng.

Khi ấy vua Xa Trì truyền chỉ dọn pháp trường trước sân chầu.

Tôn Hành Giả nói lớn rằng:

- Tôi xin chịu chém trước, song chém rồi phải quăng cho xa, đến phiên Quốc Sư cũng vậy!.

Nói rồi đến pháp trường, Tả đao bắt trói lại rồi chém liền, quăng đầu xa lắc coi lại là cái cổ khô queo, không thấy chảy máu, nghe tiếng kêu trong bụng rằng:

- Bớ đầu trở lại cho mau!.

Còn Lộc Lực niệm chú truyền Thổ Địa níu cái đầu Hành Giả, Lộc Lực có học phép ngũ lôi, nên Thổ Địa y lời, không dám cãi lịnh.

Tôn Hành Giả kêu hoài không đặng, nổi giẩn bức dậy, hét lớn rằng:

- Mọc ra cho mau!. Tức thì mọc đầu ra như cũ.

Tả đao mất vía, vỏ sĩ kinh tâm.

Quan Giám sát vào tâu rằng:

- Hòa Thượng bị chém rồi, bây giờ đã mọc đầu lại!.

Xảy thấy Tôn Hành Giả chạy lại kêu bớ thầy.

Tam Tạng mừng rỡ an ủi rằng:

- Đồ đệ cực khổ quá!

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Làm giả ngộ mà chơi, có đau đớn gì gọi rằng cực khổ.

Sa Tăng, Bát Giới nghe nói đều mừng rỡ.

Khi ấy vua Xa Trì thấy vậy, kêu lớn rằng:

- Hòa Thượng lại đây lãnh điệp cho mau, trẫm không bắt tội.

Tôn Hành Giả nói:

- Tuy lãnh đặng điệp mặc lòng, song tới phiên Quốc Sư phải làm như tôi mới đặng. Hổ Lực đại tiên ỷ mình, ra pháp trường Tả đao trói rồi, chém quăng đầu ra xa lắc, coi cũng không thấy chảy máu.

Nghe tiếng kêu rằng:

- Đầu hườn lại cho mau!

Chẳng ngờ Tôn Hành Giả nhổ lông hiện hình giả đứng làm thinh, còn mình hiện ra con chó phèn tha đầu Hổ Lực đem bỏ dưới sông cái.

Khi ấy Hổ Lực kêu luôn ba tiếng, đầu không thấy về, xương cả mình đều kêu rốp rốp, giây phút hào quang đỏ trong cổ bay ra, hết nghe kêu nữa.

Tả đao coi lại là cọp lông vàng mà không đầu, thất kinh về tâu lại.

Vua Xa Trì nghe tâu bay hồn thất sắc.

Lộc Lực đại tiên tâu rằng:

- Dầu anh tôi bỏ mình thì thôi, sao thây lại hóa ra hình cọp, ấy là Hòa Thượng làm phép mà con mắt, tôi quyết trả thù mới nghe, sao cũng thi mổ bụng đặng nó chết cho rồi đời.

Vua Xa Trì tỉnh hồn kêu lớn nói rằng:

- Hòa Thượng, Quốc Sư đòi thi mổ bụng với người đó.

Tôn Hành Giả tâu rằng:

- Bần tăng không hay ăn đồ nấu đã lâu, hôm trước bị Ông già kia ép ăn đồ lạt, mấy bữa rày trong bụng ngầm ngầm. Nay sẳn dịp nầy, tôi mượn gươm Bệ Hạ mà mổ ra rửa ráy cho sạch sẽ; đặng đi qua Tây Phương.

Nói rồi đi lại chỗ pháp trường, ngồi dựa cây trụ mở nút áo bày bụng ra.

Tả đao trói lại. Tôn Hành Giả nói:

- Đừng trói tay, để ta rửa ruột.

Tả đao y lời cầm gươm mổ bụng.

Tôn Hành Giả sành soạn gan ruột một hồi, rồi khoanh lại như cũ. Thổi bụng một cái biểu triến, thiệt liền lại như xưa.

Tả đao hoảng hồn Tôn Hành Giả bước vào bên điện.

Khi ấy vua Xa Trì hãi kinh, đưa điệp nói rằng:

- Thánh tăng lãnh điệp đi Tây Phương kẻo trễ bây giờ.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Ấy là tiểu sự không vội chi, Nhị quốc sư phải đi mổ bụng.

Vua Xa Trì nói:

- Chuyện nầy không can chi tới trẫm, tại Quốc Sư thách đố, tới phiên thời phải đi. Lộc Lực nói:

- Bệ Hạ đừng lo, bề nào tôi cũng không thua mà sợ.

Nói rồi đi lại pháp trường.

Tả đao cũng mổ bụng như Hành Giả.

Lộc Lực gan sắp ruột, cầm giởn săm soi.

Còn Tôn Hành Giả cũng nhổ lông hóa hình giả, xuất thần hóa ra con ó đói, bay xuống thỉnh chùm ruột bay mất, không biết đem đi xứ nào!

Khi ấy Lộc Lực còn bụng không, máu ra lai láng.

Tả đao coi lại là thấy con nai trắng, quan Giám sát kinh hãi vào tâu lại, vân vân.

Vua Xa Trì thất sắc phán rằng:

- Nhị Quốc Sư sao lại hóa ra bạch lộc!

Tam quốc sư Dương Lực tâu rằng:

- Anh tôi thác thì thôi, sao lại hiện ra hình thú! Rõ ràng Hòa Thượng dùng phép mị mà làm nhục chúng tôi, xin báo thù sư huynh cho đặng.

Vua Xa Trì phán rằng:

- Tam Quốc Sư có phép chi mà báo thù?

Dương Lực nói:

- Tôi thi tắm dầu sôi với nó, ai dỡ thì chết, bởi tôi có phép giữ mình.

Vua Xa Trì nói:

- Tam Quốc Sư đòi thi nấu dầu với Hòa Thượng.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Như vậy tôi cám ơn lắm. Vì không tắm hơn mấy bữa rày, sẳn dịp rửa mình cho sạch cho luôn thể.

Vua Xa Trì truyền chỉ chụm lửa vạc dầu sôi trào lên.

Tôn Hành Giả chắp tay hỏi rằng:

- Chẳng hay tắm văn hoặc là tắm võ?

Vua Xa Trì phán hỏi:

- Tắm văn làm sao? Tắm võ làm sao?

Tôn Hành Giả tâu rằng:

- Tám văn thì để quần áo, nhảy vô vạc dầu rồi nhảy ra, nếu quần áo vấy một chút dầu cũng thua. Còn tắm võ thì cổi trần truồng, nhảy vào chảo dầu lặn hụp mà tắm.

Khi ấy vua Xa Trì ngẩm nghĩ hỏi:

- Tam Quốc Sư muốn cách nào?

Dương Lực tâu rằng:

- Tắm văn e nó có tẩm thuốc trong quần áo, chi bằng tắm võ hay hơn.

Tôn Hành Giả bái và thưa rằng:

- Xin tha tội vô lễ.

Nói rồi lại gần vạc dầu, cổi quần nhảy vào lặn hụp.

Còn Bát Giới ngó thấy vậy, liền cười và nói nhỏ với Sa Tăng rằng:

- Không dè con khỉ ốm có tài có phép.

Tôn Hành Giả nghe không rõ, nên sanh nghi, nghĩ rằng:

- Chắc là Bát Giới cười mình trần truồng mà làm khỉ. Như vậy thì: Khéo càng cực khổ, vụng đặng thanh nhân, mình cứ chịu hiểm nghèo, nó bất tài chừng nào thì càng sung sướng chừng nấy! Đã không biết thương công khó nhọc, lại kiêu ngạo chê cười. Để ta chó nó khóc một chuyến.

Nghĩ rồi lặn xuống biến ra một cái đinh nhỏ, hèn lâu chẳng trồi lên.

Quan Giám sát vào tâu rằng:

- Hòa Thượng bị dầu sôi đã rục!

Vua Xa Trì truyền đem đồ xóc thịt, vớt xương coi thử thể nào.

Quan Giám sát truyền đem rổ sắt có cán vớt hoài, mà không có xương xóc chi hết.

Khi ấy quan Giám sát vào tâu lại rằng:

- Hòa Thượng nhỏ xương đà tiêu hét, vớt hoài không có vật chi.

Vua Xa Trì truyền trói ba sãi lại.

Quan Hiệu úy thấy bộ Bát Giới dữ dằn, sợ phải phá nhào trói trước.

Tam Tạng kinh hãi tâu rằng:

- Xin Bệ Hạ dung cho tôi một giờ. Vì học trò đi theo, công khó bấy lâu nhiều lắm. Nay thua Quốc Sư mà chết trong chảo dầu, tôi lẽ nào tham sống. Nhờ Bệ Hạ cho tôi một chén cơm, và một bát nước, đến vạc dầu tôi tế nửa giờ, gọi là đủ nghĩa thầy trò, rồi tôi sẽ chịu tội.

Vua Xa Trì y tấu, và khen rằng:

- Người nước Trung Nguyên ở có nghĩa.

Nói về Tam Tạng lãnh cơm nước, đến bên vạc dầu khóe và kêu rằng:

- Đồ đệ Tôn Ngộ Không ôi! Xin vong hồn hiển linh, hưởng cơm nước và chứng lời văn tế. Nói rồi quì xuống khóc và đọc rằng:

Từ hết hung hăng chịu phép hiền,

Giúp ta mấy lúc nặng ơn chàng.

Những lăm chung dạ noi đường tía,

Ai ngỡ riên thân xuống suối vàng.

Sống quyết cầu kinh chi nại nhọc,

Thác còn tưởng phật mới là an.

Linh hồn theo dỏi xa muôn dặm,

Làm quỷ cũng về cực lạc phang.

Khi ấy Sa Tăng ở sau lưng Tam Tạng, còn võ sĩ áp nằm tay Bát Giới kéo đứng dựa vạc dầu.

Bát Giới thấy thầy đọc thơ điếu rồi, lại khóc than thảm thiết.

Bát Giới nổi giận thưa rằng:

- Ấy là thầy làm thơ điếu có phải văn tế đâu.

Sa hòa thượng, ngươi bưng cơm nước dưng lên, đặng ta tế sư huynh một độ.

Sa Tăng vưng lời, Bát Giới quì dựa vạc dầu đọc râm rằng:

Hởi ôi!

Xưa những làm hung,

Nay đà chết tốt.

Tuốt luốt chức Mã Ôn,

Rụi mịn đời khỉ đột.

Lửa cháy phải tan gân,

Dầu sôi tiêu tới cốt.

Rủ rồi vậy mới êm,

Lặn sao không biết ngộp.

Số vắn vỏi trời ôi!

Nói dông dài ảnh nột.

Ôi!

Bật Mã Ôn có linh,

Xin hưởng tô cơm sốt.

Tôn Hành Giả ở trong vạc dầu, nghe Bát Giới nhiếc mắng, chịu không đặng, tức mình hiện hình đứng dậy mắng rằng:

- Thằng xốc hèm, mi tế ai đó?

Tam Tạng mừng rỡ kêu lớn rằng:

- Đồ đệ Ôi! Báo hại thầy hết hồn hết vía! Bá quan văn võ trứơc khi nghe Bát Giới đọc văn tế thì cười vang, nay thấy vậy hãi kinh mọc ốc!

Đồng tâu rằng:

- Hòa Thượng ốm không chết còn đứng sững nói chuyện trong vạc dầu.

Quan Giám sát sợ mình mang tội khi quân, liền quì tâu rằng:

- Thiệt là chết rục rồi, bởi nhằm ngày độc nên Hòa Thượng hiện hồn làm quỷ.

Tôn Hành Giả nghe nói nổi nóng, nhảy ra lấy thiết bãng đập quan Giám sát nát thây, mà hỏi rằng:

- Ta chết bao giờ mà nói ta thành quỷ.

Võ sĩ thất kinh, mở trói cho Bát Giái.

Còn bá quan văn võ sợ đập bất tử, đồng quỳ lạy luôn luôn.

Tôn Hành Giả xách thiết bãng xốc lại.

Vua Xa Trì bước xuống ngai.

Tôn Hành Giả níu vua Xa Trì lại mà nói rằng:

- Chạy đâu cho khỏi? Biểu Tam Quốc Sư nhảy vô vạc dầu thì yên.

Vua Xa Trì run lập cập mà phán rằng:

- Tam Quốc Sư ôi! Đi tắm cho mau, kẻo để Thánh tăng đánh trẫm.

Dương Lực đại tiên cũng làm y như Tôn Hành Giả, nhảy vào tắm rửa trong vạc dầu, Tôn Hành Giả rờ thử mà coi, dầu lạnh như nước, nghĩ thầm rằng:

- Chắc là con rồng nào hiện vào đây mà bảo hộ nó.

Liền nhảy lên mây niệm chú, thâu Bắc Hải Long Vương đến mắng rằng:

- Con cá trạch khốn nạn, vô vạc dầu mà trợ đạo sĩ làm chi?

Bắc hải Long vương nói:

- Không phải anh em chúng tôi đâu! Bởi nó có phép ngũ lôi, nên luyện nhiều phép. Hai đứa anh nó học phép chặt đầu mổ bụng tại núi Tiêu Mạo, còn nó luyện con lãnh long là rồng lạnh theo hộ, để tôi bắt con rồng ấy, thì linh dương rục xương.

Tôn Hành Giả biểu thâu lập tức.

Khi ấy Bắc hải Long vương tàn hình hóa gió, bay đến vạc dầu, thâu lãnh long về biển.

Dương Lực chới với trong chảo dầu nhảy ra không đặng, ngã ngửa chết tươi, giây phút còn xương hết thịt.

Quan coi việc ấy vào tâu rằng:

- Quốc Sư thứ ba tiêu hết thịt rồi.

Vua Xa Trì than khóc buồn rầu, rồi đọc bài thơ điếu:

Gẫm lại làmngười khó lắm thay,

Quốc Sư phép tắc chửa cao tay.

Kêu mưa hù gió tài thì khá,

Mổ ruột nấu dầu chước chẳng hay.

Kình địch với Trời kình khó nổi,

Chống ngăn cùng Phật, chống sao tày,

Công linh mấy lúc trôi dòng nước,

Cuộc thế nên hư chút rủi may.


Hồi 47
Sông Thông Thiên, thầy trò bị cản
Miễu Linh Cảm, yêu quái tróc vi
Nói về vua Xa Trì khóc mãi.

Tôn Hành Giả kêu lớn nói rằng:

- Sao Bệ Hạ rối trí như vậy? Quốc Sư thứ nhứt là cọp, Quốc Sư thứ hai là nai, nay Quốc Sư thứ ba linh dương là con dê núi, nếu không tin thì vớt xương nó mà coi. Quan coi việc ấy vớt lên thiệt như vậy, liền tâu rằng:

- Trong vạc dầu vớt lên coi quả xương dê.

Tôn Hành Giả nói:

- Chúng nó là thú rừng thành tinh. Thấy khi số Bệ Hạ còn vượng, nên không dám làm hỗn, đợi thời suy chúng nó thí Bệ Hạ mà đoạt ngôi trời. May thầy trò ta đến đây trừ yêu mà cứu chúa tôi. Bệ Hạ còn tiếc nổi gì mà khóc?

Vua Xa Trì nghe rồi dường như tỉnh giấc chiêm bao.

Bá quan đều tâu rằng:

- Nhờ ơn Thánh tăng trừ yêu mà cứu trẫm. Bửa nay trời đã tối, Thái sư với bốn vị vào Trí uyên tự nghỉ ngơi, mai trẫm truyền dọn tiệc chay mà thiết đãi. Thái sư vưng chỉ thỉnh liền.

Rạng ngày vua lâm trào, cho thỉnh bốn thầy trò đãi tiệc, rồi thương nghị treo bãng chiêu tăng.

Vua Xa Trì ngự đến Trí uyên tự dự tiệc đặng đãi thánh tăng mà tạ Ơn.

Lúc nầy năm trăm sãi thấy bảng chiêu tăng, đồng tựu về Trí Uyên tự, lạy Hành Giả mà nói rằng:

- Chúng tôi nhờ ơn Tề Thiên đại thánh gia gia, tha chúng tôi khỏi chết. Nay nghe gia gia trừ yêu nghiệt, Hoàng đế treo bảng chiêu tăng, nên chúng tôi trở về trả phép và lạy tạ Ơn.

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Các ngươi về đặng bao nhiêu đó?

Năm trăn sãi thưa rằng:

- Về y số năm trăm.

Tôn Hành Giả dùn mình thâu lông lại.

Rồi nói với vua rằng:

- Thiệt tình Lão Tôn thả năm trăm sãi, và đập xe giết hai đạo sĩ rõ ràng, đến nay trừ yêu tinh rồi, mới rõ phép chánh. Vậy từ rày sắp sau, vua phải kính Tam giáo; trị nước nhờ nho, song phải kính tăng trọng đạo, tự nhiên vận nước lâu dài.

Vua Xa Trì tạ Ơn, đưa thầy trò lên đường.

Quan dân và các sãi đồng đưa khỏi thành mới trở lại.

Ngày kia đến mùa thu, thầy trò đi đến tối, Tam Tạng dừng ngựa hỏi rằng:

- Đồ đệ, m bây giờ tính ngủ ở đâu?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Trời có trăng xin thầy đi rán một đồi nữa, hoặc may gặp nhà ngủ nhờ.

Tam Tạng y lời, đi gần hai dặm, ngó thấy sóng bủa trắng đằng trước, sông rộng minh mông.

Bát Giới nói:

- Thôi rồi còn đường đâu mà đi nữa.

Sa Tăng nói:

- Coi bộ cái sông cản ngang lớn lắm!

Tam Tạng hỏi:

- Không biết sông lớn chừng mấy dặm?

Bát Giới nói:

- Không biết, không biết, tôi coi bộ nó rộng lắm, ngó chẳng thấy bờ.

Hành Giả nói:

- Để ta thử coi thể nào.

Nói rồi nhảy lên mây ngó xuống, thấy minh mông như biển, liền nhảy xuống thưa rằng:

- Thầy ôi! Sông rộng lắm, con mắt tôi ban ngày coi xa tới một ngàn dặm, ban đêm coi thấu tám trăm. Mà bây giờ không thấy mé, nên chẳng biết lớn bao nhiêu.

Tam Tạng nói:

- Bây giờ biết tính sao?.

Khi ấy Sa Tăng nói rằng:

- Giống chi đen đen trước mặt coi giống người ta.

Hành Giả nói:

- Ấy là cái bia dựng mé sông cái, trên bia có ba chữ Thông thiên hà, dưới có hai hàng chữ rằng: - Kinh quá bát bá lý. Kim cô thiểu nhơn hành, xin thầy đi lại cho mau.

Tam Tạng thấy bia, càng thêm thảm thiết Bát Giới thưa rằng:

- Thầy ôi, tiếng chuông mõ gần đây, chắc là có đám chi đó? Thầy trò mình tìm vào lo bỏ bụng ba miếng, mai sẽ kiếm ghe qua sông xong hơn.

Tam Tạng giục ngựa đi tẽ qua bãi cát. Thấy xóm ấy gần năm trăm cái nhà.

Tam Tạng thấy ngoài cửa ngõ đàng kia dựng cây phướn trong nhà hương thắp đèn chong.

Tam Tạng lại gần có ông già mang xâu chuổi lần, miệng niệm phật, và đi đóng cửa. Tam Tạng chắp tay bái xuống, ông già ấy đáp lễ và nói rằng:

- Thầy đi trễ quá! Phải chi đi sớm một chút, thì đã đặng chia phần chai tăng. Mỗi phần: Ba tô cơm khô, một cây vải trắng, và mười đồng tiền điếu, lại ngồi mâm cao cổ đầy. Thầy để trể chia rồi mới tới.

Tam Tạng nói:

- Tôi không phải đi chai tăng. Thiệt là Hòa Thượng nước Đại Đường vưng chỉ đi thỉnh kinh, lỡ bước xin vào tá túc.

Ông già ấy khoát nói rằng:

- Thầy tu hành chẳng nên vọng ngữ! Từ Đại Đường qua đây năm muôn bốn ngàn dặm, thầy đơn thân độc mã, đi sao cho tới đây?

Tam Tạng đáp rằng:

- Ông nói phải lắm, tôi nhờ có ba đứa đồ đệ bảo hộ đến đây.

Ông già nói rằng:

- Sao không biểu ba thầy ấy vào đây mà nghỉ!

Tam Tạng ngó ngoái lại kêu lớn rằng:

- Bớ đồ đệ vào đây mà nghĩ!

Ba người nghe kêu, đồng đi xốc vô vửa ngõ.

Ông già ấy bò càn và la lớn rằng:

- Có yêu tới, có yêu tới!

Tam Tạng đỡ dậy nói rằng:

- Xin ông đừng sợ, không phải yêu quái, thiệt là học trò tôi.

Ông già ấy run và nói rằng:

- Thầy lịch sự như tiên, sao kiếm học trò như quỷ ?

Tam Tạng nói:

- Tuy là xấu mặt, mà có phép trừ tà.

Ông già ấy dắt thầy trò Tam Tạng vào nhà khách, thấy các sãi đương gõ mõ tụng kinh, mấy sãi ấy day ra thấy ba người xốc vô, thất kinh hồn vía.

Các sãi lăn ra lục cục, bò càn hết không còn một sãi.

Khi ấy ba anh em thấy chuyện dị kỳ, đồng cười hả hả.

Tam Tạng mắng rằng:

- Chúng bây vô lễ lắm, đi vào nhà không biết khuôn phép, làm cho ông chủ thất kinh, lại phá đám mấy thầy bỏ việc tụng kinh mà chạy hết. Phải là tội ấy về ta chăng, vì dạy học trò không nghiêm nghị.

Ba anh em biết lỗi làm thinh.

Ông già ấy mới tin thiệt là đệ tử, liền nói rằng:

- Không hề chi, việc cũng đã mãn rồi, còn tụng kinh thêm chút đỉnh.

Nói rồi bảo gia tướng thắp thêm đèn đuốc, gia tướng đem đèn ra, ngó thấy ba anh em dị tướng, chúng nó và chạy và la:

- Có yêu, có yêu!.

Khi ấy có một ông chủ nhà nữa, chống gậy ra hỏi rằng:

- Yêu ma ở đâu, nữa đêm dám tới nhà lương thiện?

Ông già hồi nảy đứng dậy nói rằng:

- Thưa đại ca, ba ông ấy chẳng phải là ma, thiệt là đệ tử của Hòa Thượng nầy, ở Đại Đường đi thỉnh kinh bên Phật, tuy tướng dữ mà lòng lành.

Ông chủ nhà nghe nói buông gậy chào hỏi.

Lủ gia tướng thấy ba người ấy nói chuyện với chủ nhà, chúng nó mới hết sợ.

Chủ nhà truyền dọn cơm chay thết đải.

Khi cơm nước xong xả, Tam Tạng hỏi thăm ông chủ nhà họ chi?

Ông chủ nhà nói:

- Tôi họ Trần.

Tam Tạng nói:

- Đồng tông với tôi đó.

Nói rồi hỏi rằng:

- Ông làm đám chi hồi nảy?

Ông chủ nhà nói:

- Làm siêu độ trước mới rồi.

Bát Giới nghe nói cười rằng:

- Thuở nay tôi nghe nói tế sống mà chưa thấ, bây giờ mới gặp đám cầu siêu trước! Hai ông già ấy hỏi rằng:

- Bốn thầy thỉnh kinh sao không đi thẳng, ghé vào đây chẳng là tréo đường?

Tôn Hành Giả nói:

- Thầy trò tôi đi đường ngay, bị sông cái cản ngang nên phải quẹo. Phần lại trời tối, nên kiếm chỗ ngũ nhớ.

Hai ông già hỏi rằng:

- Bốn thầy thấy giống chi dựa mé sông chăng?

Tôn Hành Giả đáp rằng:

- Có thấy một cái bia đá mà thôi

ng chủ nhà nói:

- Đi cách bia ấy qua phía bên kia chừng một dặm đàng có cái miểu Linh Cảm đại vương. Thầy không ngó thấy sao?

Tôn Hành Giả nói:

- Tôi chưa ngó thấy. Chẳng hay làm sao mà gọi là Linh Cảm?

Hai ông ấy khóc mà nói rằng:

- Để tôi nói chuyện ông thần ấy cho mà nghe:

Hiền hích một phương nên miểu vỡ,

Oai linh ngàn dặm hộ lê dân,

Thường năm mưa móc mùa màng nhuận,

Đòi thuở mây lành làng xóm mừng.

Tôn Hành Giả lấy làm lạ hỏi rằng:

- Như vậy là tử tế lắm, ông còn than thở làm sao?

Ông ấy dặm chơn đấm ngực mà nói rằng:

Tuy có ơn mà oán cũng nhiều.

Bằng không ơn oán để cho người,

Mỗi năm cúng tê đồng Nam Nữ,

Chẳng phải thần linh, thiệt quỷ trời.

Tôn Hành Giả hỏi:

- Mỗi năm phải tế đồng nam và đồng nữ sao?

Ông già ấy nói:

- Phải.

Tôn Hành Giả nói:

- Ăn con người ta như vậy, sao gọi là thần. Trong thế năm nay tới phiên ông tế, nên mới khóc than?

Ông già ấy nói: