PDA

Xem đầy đủ chức năng : Chuyện kể Kim loại ( mỗi ngày 1 câu chuyện )



Nhoc_okie_h2t
28-01-2007, 03:18 AM
Li. Nhẹ nhất trong số các kim loại
Năm 1967 Liti nguyên tố đứng đầu tiên trong số các kim loại trong hệ thống tuần hoàn của Đ.I.Menđeleep đã kỉ niện 150 năm nó được tìm ra. Lễ kỉ niện này diễn ra lúc Liti đang ở độ sung sức: hoạt động của nó trong kỹ thuật hiện đại là thú vị và nhiều măt. Thế mà các nhà chuyên môn vẫn cho rằng, liti vẫn chưa bộc lộ hết khả năng của mình và họ tiên đoán cho nó một tiền đồ rộng lớn. Nhưng mời bạn, chúng ta cùng du lãm vào thế kỷ vừa qua , Hãy ngó vào phòng hóa học tĩnh mịch của nhà hóa học Thụy Điển tên là Iohan Apgut Acfvetxơn. Đây là nước Thụy Điển năm 1817.
... đó là ngày mà nhà hóa học tiền hành phần tích khoáng vật petalit tìm được mỏ mỏ Uto gần Stockholm. Ông đã kiểm tra đi kiểm tra lại các kết quả phân tích nhưng cứ mỗi lần như vậy ông chỉ nhận được kết quả tổng số các thành phần là 96%. Vậy thì mất vào đâu 4%? Sẽ ra sao nếu như...? Phải rồi không còn nghi ngờ gì nữa , khoáng vật này chứa thêm 1 nguyên tố mới mà từ trước tới nay chưa ai biết Acfvetxơn làm hết thí nghiệm này tới thí nghiệm khác và cuối cùng đã đạt được mục đích, một kim loại kiềm mới đã được phát hiên. Bởi vì khác với những " người họ hàng " gần gũi của mình. Kali và natri lần đầu tiên tìm thấy trong các sản phầm hữu cơ , nguyên tố mới này được phát hiện trong 1 khoáng vât, nên nhà hóa học đã quết định gọi nó là liti ( theo tiếng Hi Lạp " liteos" nghĩa là đá )
Ít lâu sau Acfvetxơn lại tìm thấy nguyên tố này trong các khoáng vật khác, còn nhà hóa học Thụy Điển nổi tiếng Berzelius thì lại phát hiện nó trong nước khoáng ở Cacxbat và Mariebat. Nhân đây cũng nói thêm rằng ngày nay các nguồi nước suối chữa bệnh ở Visi ( nước Pháp ) sở dĩ nổi tiếng khắp nơi vì những tính chất chữa bệnh rất tốt vì trong đó có các muối liti
Năm 1818, nhà bác học người Anh là Humphry Davy lần đầu tiên đã tách được những hạt liti tinh khiết bằng cách điện phân hiđroxit của nó , rồi đến năm 1855 một cách độc lập với nhau nhà hóa học Robert Bunsen người Đức và nhà vật lý học Matissen người Anh đã điều chế được liti nguyên chất bằng cách điện phân liticlorua nóng chảy. Đó là 1 KL mềm trắng như bạc , nhẹ hơn nước gần 2 lần. Về mặt này thì liti không gặp 1 đối thủ nào trong số các KL : nhôm nặng hơn nó 5 lần , sắt 15 lần , Chì 20 lần, còn osimi 40 lần.!
Ngay ở nhiệt độ trong phòng liti cũng phản ứng mãnh liệt với oxi của không khí . Bạn hãy thử để liti trong lọ thủy tinh có nút mài nhám . Mẩu KL sẽ hút hết không khí có trong bình, trong bình xuất hiện chân không và áp suất khí quyển " ấn" vào mạnh tới nỗi các bạn khó có thể kéo nó ra được. Vì vậy việc bảo quản liti là 1 việc khá phức tạp. Nếu như natri có thể bảo quản dễ dàng trong dầu hỏa hoặc xăng thì với liti không thể dùng cách ấy được vì nó sẽ nổi lên và bốc cháy ngay tức khắc. Để bảo quản liti người ta thường dìm nó trong bể chứa vazơlin hoặc parafin. Những chất này bao quanh km loại và không cho nó bộc lộ tính háu phản ứng của mình
Liti còn kết hợp mạnh mẽ hơn với hiđro . Chỉ với 1 lượng nhỏ KL này cũng có thể liên kết với 1 thể tích hiđro rất lớn. Trong 1 Kg liti hiđrua có 2800 lít khí hiđro! Trong những năm chiến tranh thế giới thứ 2 những viên phi công mỹ đã dùng những viên liti hiđrua làm nguồn hidro mang theo bên mình . Họ sử dụng chúng khi gặp nạn ngoài biển . Tác dụng với nước những viên này ngay lập tức bơm đầy khí hidro vào các phương tiện cấp cứu như thuyền cao su , áo phao, bóng-ăngten tín hiệu
Các hợp chất của liti có khả năng hút ẩm cực mạnh. điều đó khiến cho chúng được sử dụng rộng rãi để làm sạch không khí trong tầu ngầm , trong các bình thở không khí trong máy bay, trong các hệ thống điều hòa không khí. Bước vào thế kỷ XX liti mới được sử dụng trong công nghiệp, còn trong gần 100 năm trước đó thì chủ yếu người ta dùng nó trong y học để làm thuốc chữa bệnh thống phong.
Trong thời gian chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nước Đức rất cần thiết để sử dụng trong công nghiệp, do nước này không có quặng thiếc nên các nhà bác học phải tức tốc tìm 1 loại kim loại để thay thế. Nhờ có liti nên vấn đề này đã được giải quết một cách tốt đẹp. Hợp kim của chì với liti là 1 vật liệu chống ma sát tuyệt vời. Từ đó trở đi các hợp kim liti luôn gắn liền với các ngành kỹ thuật . Đã có những hợp kim của liti với nhôm , với berili , với đồng, kẽm, bạc và nhiều nguyên tố khác. Những triển vọng hết sức to lớn đã mở ra cho hợp kim của liti với magie, một kim loại nhẹ khác có tính chất kết câu rất tốt. nếu liti chiếm ưu thế thì hợp chất đó sẽ nhẹ hơn nước. Nhưng rủi thay các hợp kim có thành phần như vậy không bền vững, rất dễ bị oxi hóa trong không khí. Từ lâu các nhà hóa học đã mơ ước tạo ra một sự phối trí và một công nghệ đảm bảo tính bền lâu cho hợp kim liti-magie. Các nhà ở viện luyện kim mang tên A.A.Baicop thuộc viện hàn lâm khoa học liên xô đã giải quyết được bài toán đó: bằng lò nồi chân không nung bằng điện. Trong môi trường khí trơ agon họ đã điều chế được hợp kim của liti với magie mà không bị mờ xám trong không khí và nhẹ hơn nước
Nhiều tính chất quý báu của liti, như khả năng phản ứng cao, nhiệt độ nóng chảy thấp ( chỉ 180,5 độ C) , mật độ các hợp chất hóa học của nó nhỏ, đã khiến cho nguyên tố này được tham gia vào trong nhiều quá trình công nghệ trong luyện kim đen và luyện kim màu. Chẳng hạn nó đóng vai trò chất khử khí và khử oxi một cách xuất sắc, nó xua đuổi các chất khí như Oxi, nitơ ra ngoài các kim loại đang nóng chảy. nhờ có liti mà cấu trúc của một số kim loại trở nên mịn hạt, do đó mà những tính chất cơ học của chúng trở nên tốt hơn. Trong sản xuất nhôm liti thực hiện rất tốt vai trò chất thúc đẩy quá trình. Pha thêm các hợp chất của liti vào chất điện phân sẽ nâng được năng suất của bể điện phân nhôm; khi đó, nhiệt độ cần thiết của bể sẽ giảm xuống và tốn phí điện năng sẽ giảm rõ rệt.
Trước kia chất điện phân của ăcquy chì gồm các dung dịch xút ăn da ( NaOH). Nhưng nếu pha thêm vào chất điện phân này vài gam liti hiđroxit ( LiOH ) thì tuổi thọ của ăcquy sẽ được tăng lên 3 lần . Ngoài ra, khoảng nhiệt độ của ăcquy cũng được mở rộng thêm. Nó không phóng điện ngay cả khi nhiệt độ lên tới 40 độ C, và ở 20 chục độ âm vẫn không bị đông đặc . Chất điện phân không có liti thì không thể chịu được những thử thách như vậy. Nhật Bản đã chế tạo được loại ăcquy tí hon độc đáo dùng cho các đồng hồ điện tử đeo tay: Bề dầy của ăcquy chỉ bằng 24 micron, nghĩa là mảnh hơn sợi tóc, trong đó cực dương là một màng liti cực mỏng còn cực âm thì bằng titan disunfit. Thiết bị điện tinh vi này chịu đựng được 2000 chu kỳ nạp và phóng điện, mỗi lần nạp điện cho phép đồng hồ làm việc từ 200 - 300 giờ. Các công trình sư của hãng chế tạo ô tô cũng đặt nhiều hi vọng không nhỏ vào liti. Chẳng hạn, ở Mỹ người ta đã chế tạo pon bằng liti dùng ô tô chạy hàng trăm km mà không cần phải thay pim.
Một số hợp chất hữu cơ của liti ( stearat, panminnat .v.v...) vẫn giữ nguyên được tính chất vật lý của mình trong khoảng nhiệt độ rộng. Điều đó cho phép sử dụng chúng làm nền cho các vật liệu bôi trơn trong kỹ thuật quân sự. Chất bôi trơn có chứa liti chúng giúp cho các xe chạy trên mọi địa hình đang làm việc ở Nam cực thực hiện được các hành trình vào sâu trong lục địa này nơi mà nhiệt độ bằng giá có khi thấp đến -80 độ C. Chất bôi trơn chứa liti là trợ thủ đắc lực cho những người đua ô tô, những người chủ của loại xe ô tô" juguli" tin chắc vào điều đó nên không phải ngẫu nhiên mà họ gọi nó là chất bôi trơn vĩnh cửu. Khi mới bắt đầu sử dụng chỉ cần dùng nó để bôi trơn 1 lần cho các thiết bị hay cọ sát của ô tô. Thế là nhiều năm sau không cần phải lập lại công việc đó nữa.
Trong chúng ta chắc ai cũng đã nghe nói đến những phép lạ mà người iôga Ấn ĐỘ thường làm. Trước mặt đám công chúng đầy kinh ngạc, họ nhai những chiếc cốc thủy tinh thành những mảnh nhỏ chẳng khác gì ăn chiếc bánh bích quy bình thường, rồi lại còn nuốt chúng với vẻ thích thú, như thể trong đời họ chưa hề được ăn một thức gì ngon hơn . Còn bạn đã từng nếm thử thủy tinh chưa ? " câu hỏi thật quá vô lý? Tất nhiên là chưa " Có lẽ bất cứ người nào khi đọc này đều nghĩ như vậy. Như thế là nhầm rồi đấy. Thực ra thì thủy tinh thông thường vẫn hòa tan trong nước. Tất nhiên không phải ở mức độ chẳng hạn chế như đường nhưng dù sao nó vẫn bị hòa tan. Những chiếc cân phân tích chính xác nhất cho biết rằng, cùng với cốc nước trà nóng chúng ta còn uống khoảng 1/vạn gram thủy tinh. Nhưng nếu khi nấu thủy tinh, ta pha thêm một ít muối lantan, muối ziricono và muối liti thì độ hòa tan của nó trong nước sẽ giảm hàng trăm lần. Thủy tinh sẽ rất bền vững ngay cả với axit sunfuric.
Hoạt động của liti trong ngành sản xuất thủy tinh không phải chỉ bó hẹp trong việc hạ thấp độ hòa tan của thủy tinh. Thủy tinh chứa liti được đặc trưng bởi những tính chất quang học rất quý giá, tính chịu nhiệt tốt, suất điện trở cao, mất mát điện môi ít. Đặc biệt liti còn tham gia vào thành phần của thủy tinh làm đèn hình trong các máy thu hình. Nếu ta xử lý kính xửa sổ thông thường trong các muối liti nóng chat thì trên bề mặt của nó hình thành một lớp bảo vệ: kính sẽ bền gấp đôi và chịu đựng tốt hơn với nhiệt độ cao. Pha thêm một lượng nhỏ nguyên tố này cùng làm giảm rất nhiều nhiệt lượng nấu thủy tinh.
Từ xa xưa, giọt sương được làm biểu tượng cho tính trong suốt, nhưng ngay cả những thứ thủy tinh trong suốt như giọt sương cũng không đáp ứng được nhu cầu của kỹ thuật hiện đại. Kỹ thuật hiện đại đòi hỏi vật liệu quang học không những để cho những tia sáng nhìn thấy được bằng mắt đi qua mà còn phải để cho những tia không nhìn thấy chẳng hạn như tử ngoại đi qua. Với kính thiên văn thông thường các nhà thiên văn không thể thu được những bức xạ từ những thiên hà rất xa. Trong số các vật liệu mà bộ môn quang học biết tới thì liti clorua có động trong suốt cao đối với tia tử ngoại. Các thấu kính làm bằng các đơn tình thể của chất này cho phép các nhà nghiên cứu xâm nhập sâu thêm rất nhiều vào những bí mật của vũ trụ.
Liti đóng vai trò không nhỏ trong việc sản xuất các loại men sứ, men sắt, Các chất màu, đồ sứ và đồ sành có chất lượng cao. Trong công nghiệp dệ một số hợp chất của nguyên tố này được dùng để tẩy trắng vải, còn một số khác thì dùng để nhuộm vải.
Các muối liti rất quen thuộc với các nhà chế tạo và sử dụng thuốc nổ: chúng làm cho vệt đạn vạch đường và pháo sáng có màu xanh lục-lam rực rỡ.
Trò ảo thuật sau đây dựa trên khả năng hỏa thuật của liti. Bạn hãy dùng quy diêm để đốt một cục đường nhỏ, và sẽ chẳng có điều gì xảy ra cả: đường bắt đầu nóng chảy nhưng không cháy. Còn nếu trước đó bạn sát miếng đường đó vào tàn thuốc lá thì nó sẽ bốc cháy dễ dàng với ngọn lửa màu xanh da trời rất đẹp. Sở dĩ như vậy là vì trong thuốc lá cũng như nhiều thực vật khác, hàm lượng liti tương đối lớn. Khi đốt cháy thuốc là, một phần các hợp chất của liti vẫn còn lại trong tro tàn. Chính vì thế mà ta làm được trò ảo thuật đơn giản này.
Nhưng tất cả những gì vừa kể ở trên mới chỉ là những công việc thứ yếu,những " nghề phụ của liti. Nó còn làm được những công việc quan trọng hơn. Đây muốn nói đến ngành năng lượng học hạt nhân, ở đó, có thể chẳng bao lâu nữa liti sẽ bắt đầu đóng vai trò của một trong những " cây đàn vĩ cầm số 1". Các nhà hóa học đã xác định được rằng, hạt nhân của đồng vị liti 6 có thể bị notron phá vỡ. Khi hấp thụ nơtron hạt nhân liti trở nên kém bền vững và bị phân rã. Đó là 2 khí khá nhẹ là khí trơ heli và hiđro siêu năng - triti - cực kỳ hiếm. Ở nhiệt độ rất cao các nguyên tử triti và đơteri ( một đồng vị khác của hiđro) sẽ kết hợp với nhau. Quá trình đó kèm theo sự giải phóng một năng lượng khổng lồ mà thường được gọi là năng lượng nhiệt hạch
Các phản ứng nhiệt hạch cực kỳ mãnh liệt sẽ xảy ra khi dùng nơtron bắn phá liti đơteri - một hợp chất của đồng vị liti 6 với đơteri. Chất này được dùng làm nhiên liệu hạt nhân trong các lò phản ứng liti, là những lò mà so với những lò phản ứng urani thì có nhiều ưu điểm hơn: liti dễ kiếm và rẻ tiền hơn nhiều so với urani, còn khi phản ứng thì tạo ra các sản phẩn phân hạch có tính phóng xạ và quá trình phản ứng dễ điều khiển hơn.
Liti - 6 có khả năng bắt giữ các nơtron chậm khá tốt, đó là cơ sở để sử dụng nó làm chất điều tiết cường độ các phản ứng diễn ra ngay cả trong các lò phản ứng urani . Nhờ tính chất này mà đồng vị liti 6 còn được dùng trong các lá chắn chống bức xạ và trong các bộ pin nguyên tử có thời gian sử dụng lâu dài. Trong không gian không xa có thể liti 6 sẽ trở thành chất hấp thụ nơtron chậm trong các khí cụ bay dùng năng lượng nguyên tử.
Cũng như một số kim loại kiềm khác liti được sử dụng làm chất tải nhiệt trong các thiết bị hạt nhân. Ở đây có thể dùng một đồng vị dễ kiếm hơn của nó, đó là liti 7 ( trong liti thiên nhiên đồng vị này chiếm khoảng 93%) . Khác hẳn với " người anh em " nhek hơn mình, đồng vị này không thể dùng làm nhiên liệu để sản xuất triti, vì vậy mà nó không được quan tâm tới trong kỹ thuật nhiệt hạch. nhưng với vai trò là chất tải nhiệt thì nó lại tỏ ra rất đắc lực. Nhiệt dung và độ dẫn nhiệt cao, nhiệt độ của chất thái nóng chảy nằm trong khoảng rộng, độ nhớt không đáng kể và mật độ nhỏ - đó là những điều giúp nó hoàn thành tốt nhiệm vụ này.
Trong thời gian gần đây kỹ thuật tên lửa bắt đầu dành cho liti những địa vị quan trọng. Muốn vượt qua lực hút của trái đất để vượt lên khoảng không gian ngoài vũ trụ cần phải chi phí rất nhiều năng lượng. Chiếc phi thuyền từng đưa nhà du hành đầu tiên trên thế giới Iuri Gagarin lên quỹ đạo với động cơ với công suất tổng cộng 20 triệu mã lực. Đó là công suất của hai chục nhà máy thủy điện cỡ Đniep
Tất nhiên việc lựa chọn nhiên liệu cho tên lửa là điều cựu kỳ quan trọng. Cho đến nay dầu hỏa ( đúng là dầu hỏa già cả và tốt bụng) được oxi hỏa bởi oxi lỏng vẫn được coi là nhiên liệu hữu hiệu nhất. Khi đốt nhiên liệu này năng lượng phát ra lớn gấp hơn 1,5 lần so với khi cho nổ cũng một lượng như vậy loại thuốc nổ nitroglixerin là loại thuốc nổ mạnh nhất.
Việc sử dụng nhiên liệu kim loại có thể có những triển vọng tuyệt vời. Lần đầu tiên cách đây hơn nửa thế kỷ , các nhà bác học xô viết nổi tiếng là FA. Txanđer và Iu.V.Conđrachiuk đã khởi sướng lý thuyết và phương pháp dùng kim loại làm nhiên liệu cho tên lửa. Liti là một trong những kim loại thích hợp nhất cho mục đích này ( chỉ có berili mới có thể " huênh hoang " về suất tỏa nhiệt lớn ). Ở Mỹ người ta đã công bố những phát minh về nhiên liệu rắn dùng cho tên lửa trong đó có chứa từ 51-68% liti kim loại .
Một điều đáng chú ý là trong quá trình làm việc các động cơ tên lửa, liti lại phải chống chọi với ...liti. Là một thành phần của nhiên liệu, nó cho phép sản sinh ra nhiệt độ rất cao, còn các vật liệu gốm chứa liti( chẳng hạn như stupalit ) có tính chịu nhiệt cao thì được dùng làm lớp phủ ông phun và buồng đốt để bảo vệ chúng khỏi bị nhiên liệu liti phá hủy.
Trong thời đại chúng ta, kỹ thuật đã làm ra nhiều vật liệu tổng hợp đa năng - các polime. Chúng được sử dụng một cách thành công để thay thế thép, đồng thau, thủy tinh. Tuy nhiên , các nhà công nghệ đôi lúc gặp những khó khăn lớn khi việc chế tạo 1 số sản phẩm đòi hỏi họ phải liên kết các polime teflon chứa flo - một chất phủ chống ăn mòn tuyệt diệu - trong một thời gian dài vẫn không được sử dụng trong thực tiễn chỉ vì nó không chịu bám vào kim loại . Các nhà bác học Xô Viết đã hoàn chỉnh được một công nghệ hàn hạt nhân rất độc đáo để hàn gắn các polime với các vật liệu khác. Các bề mặt cần hàn được bôi một lớp mỏng các hợp chất của liti hoặc bo; Các hợp chất này được dùng làm lớp " keo hạt nhân " đackw biêtk . Khi dụng nơtron chiếu vào lớp keo này thì sẽ sinh ra các phản ứng hạt nhân kèm theo sự giải phóng một lượng năng lượng cực lớn. Nhờ vậy mà sau một khoảng thời gian cực ngắn chưa đến 1 phần tỉ giây , trong các vật liệu sẽ xuất hiện các vi đoạn có hiệt độ hàng trăm, thậm chí hàng ngàn độ. Nhưng cũng sau khoảng khăc này, các phân tử ở các lớp tiến giáp đã kịp dịch chuyển và đôi khi còn kịp tao ra những mối liên kết hóa học mới với nhau - quá trình hàn hạt nhân diễn ra như vậy.
Thông thường, các nguyên tố nằm ở góc trên cùng bên trái của bảng Menđeleep đều phổ biến rộng rãi trong tự nhiên . Tuy vậy khác với đa số các " bạn láng giềng" của mình - natri, kali, magie, canxi, nhôm là những nguyên tố có nhiều trên hành tinh của chúng ta, liti lại tương đối hiếm . Trong tự nhiên chỉ có khoảng ba chục khoáng vật chứa nguyên tố quý báu này. Hợp chất thiên nhiên chủ yếu của liti là spođumen. Các tinh thể của khoáng vật này có hình dạng tựa như những thanh tà vẹt đường sắt hoặc thân cây, đôi khi đạt đến kích thước khổng lồ: tại bang Nam Dokota ( nước Mỹ ) đã tìm thấy một tinh thể dài hơn 15 m và nặng hàng chục tấn . Tại các mỏ ở Mỹ đã phát hiện ra các biến thể của spi đumen có mày xanh ngọc bích và màu tím phớt hồng rất đẹp.
Đó là các khoáng vật hiđenit và cunxit rất quý.
Đá pecmatit dạng granit có thể giữ một vai trò to lớn trong việc làm nguyên liệu sản xuất liti. Người ta dự tính rằng, trong 1 KM khối granit có tới hơn một trăm ngàn tấn liti. Đó là 1 khối lượng lớn hơn rất nhiều so với lượng liti khai thác được hàng năm ở tất cả các nước cộnglaij . Trong các kho tàng granit, bên cạnh liti còn có niobi, tantali, ziricon,thori,urani,neođium xezi,zeri,prazeođium và nhiều nguyên tố hiếm khác. Nhưng làm thế nào để bắt được đá granit phải chia sẻ của cải của nó với con người? Các nhà bác học đã ra sức tìm tòi và nhất định sẽ sáng tạo ra những phương pháp tựa như câu thần chú " Vừng ơi! Hãy mở ra" . cho phép con người mở của kho báu granit.
Để kết thúc câu chuyện về liti, chúng tôi xin kể một câu chuyện vui, trong đó nguyên tố này đã đóng vai trong rất quan trọng. Năm 1891, anh sinh viên vừa tốt nghiệp trường đại học tổng hợp Havard ở Mỹ tên là Rôbec Ut ( Robert Wood ) ( sau này trở thành nhà vật lý học nổi tiếng ) đã đến Bantimo để nghiên cứu hóa học tại trường đại học tổng hợp địa phương. Khi đến ở trong khu nhà trọ của sinh viên, Ut nghe đồn rằng, bà chủ hình như vẫn làm món thịt rán buổi sáng ... bằng những miếng thịt góp nhặt từ những đĩa thịt thừa lại từ bữa trưa ngày hôm trước. Nhưng làm thế nào để chứng minh điều đó ?
Vốn là người rất thích tìm lời giải độc đáo đồng thời lại đơn giản cho bài toán, lần này , Ut cũng không làm trái với những nguyên tắc của mình. Một hôm , trong bữa ăn chưa người ta dọn ra món bíttết, anh bè để thừa lại một đĩa vài miếng thịt khá to sau khi rắc lên đó 1 ít muối liti clorua - một chất hoàn toàn không độc, bề ngoài và mùi vị rất giống muối ăn bình thường. Ngày hôm sau những viên thịt rán trong bữa ăn sáng của sinh viên đã được đem " thiêu " trước khe hở của kính soi quang phổ . Vạch đỏ của quan phổ vốn đặc trưng cho liti đã cho một kết luận dứt khoát : bà chủ nhà trọ đã quá keo kiệt đã bị vạch trần. Còn Ut thì mãi nhiều năm sau vẫn thích thú mỗi khi hồi tưởng lại cuộc thực nghiệm tìm vết tích của mình
Còn tiếp : câu chuyện tiếp theo là Be . ( các bạn đọc hen )

Nhoc_okie_h2t
31-01-2007, 11:38 PM
Be. Kim loại của kỷ nguyên vũ trụ
Berili một trong những nguyên tốt tuyệt diệu nhất. Một nguyên tố cú ý nghĩa to lớn cả trên lý thuyết và thực tiễn.
... Việc làm chủ bầu trời, những chuyến bay dũng cảm của máy bay và khinh khí cầu sẽ không thực hiện được nếu không có kim loại nhẹ ; và chúng ta sẽ thấy trước rằng , vả Berili cũng sẽ đến giúp nhôm và magie là các kim loại hiện đại của ngành hàng không. Và khi đó máy bay của chúng ta sẽ bay với tốc độ hàng ngàn Kilômet một giờ
Một tương lai sáng lạn đang chờ đón Berili !
Hỡi các nhà địa hóa học , hãy tìm ra những mỏ mới . Hỡi các nhà hóa học , hãy tìm cách tách kim loại này ra khỏi người bạn đồng hành của nó là nhôm. Hỡi các nhà công nghệ học, hãy tìm ra những hợp kim nhẹ nhất , không chìm trong nước, nhứng như thép, đàn hồi như cao su, bền như pladin và vĩnh cửu như ngọc quý ....
Có thể những lời đó hiện thời xem ra giống như chuyện hoang đường. nhưng trước mắt chúng ta, biết bao chuyện hoang đường từng biến thành chuyện có thật đã hòa nhập vào tập quán hàng ngày rồi đó sao, và chúng ta quên rằng, mới 20 năm về trước chiếc radio và phim lồng tiếng đã chẳng ngân vang như câu chuyện hoang đường tưởng tượng đó ư ?"
Các đây gần nửa thế kỷ, nhà bác học Xô Viết vĩ đại , viện sĩ A.E. Ferxman đã viết như vậy. Lúc bấy giờ ông biết đánh giá đúng đắn ý nghĩa của Berili.
Đúng Berili là kim loại của tương lại. Và đến lúc ấy, trong Hệ thống tuần hoàn sẽ có những nguyên tố mà lịch sử của chúng tương tự như lịch sử của Berili, cũng lùi về quá khứ xa xôi.
... Hơn hai ngàn năm về trước , trên sa mạc Nubi, nơi có những mỏ ngọc bích nổi tiếng của nữa hoàng Cleopatre, những người nô lệ đã khai thác được những tinh thể đá xanh kỳ diệu. Từng đoàn lữ hành, lạc đà đã mang ngọc bích đến bờ biển Đỏ, rồi từ đó, ngọc bích đi vào cung điện của các vua chúa châu Âu, Cận Đông - các hoàng đế Vizanti , các quốc vương Ba Tư, các thiên tử Trung Hoa, các vương hầu Ấn Độ.
Với ánh hào quang lộng lẫy, với mầu sắc trong ngần , với vẻ đẹp huyền ảo khi thì xanh lục đậm, gầm như xanh thẫm, khi thì xanh lung linh trói ngời- trải qua nhiều thời đại, ngọc bích đã làm cho con người phải mê say. Nhà sử học cổ La Mã Plini Bố đã viết: " So với ngọc bích thì không vật nào có thể xanh hơn được..." Theo truyền thuyết, hoàng đế La Mã Neron- một con người tàn bạo và hiếu thắng, thường xuyên xem những trận đấu đẫm máu của bọn" người chọi " qua một tính thể ngọc bích mài nhẵn. Khi ở La Mã bùng lên một đám cháy, Neron đã ngắm nghía những ngọn lửa nhảy múa bập bùng qua viên ngọc bích " quang học ấy, trong đó mầu da xam của ngọn lửa rờn rợn hòa lẫn màu xanh lục của viên ngọc ( có lẽ phải đính chính một điều quan trọng trong truyền thuyết cổ này : theo nguồn tin trên báo chí thì chiếc ống nhòm của Neron hiện được giữ tại Vatican gần đây đã qua sự giám định của một chuyên gia về khoáng vật học , thì hóa ra tinh thể ấy không phải là ngọc bích mà là crizolit ). " Nó xanh lục, trong ngần, vui mắt và dịu dàng hơn cỏ mùa xuân...". A.I Kup-rin đã viết như vậy về ngọc bích
Cùng với việc tìm ra châu Mỹ, một trang lịch sử mới đã được ghi thêm vào lịch sử của loại đá xanh này. Trong ngôi mộ và đền miếu ở Mexico, Peru, Colombia, người Tây Ban Nha đã tìm thấy vô số ngọc bích lớn, màu lục thẫm. Chỉ mấy năm sau đó, họ đã vơ vét hết những của cải huyền bí này . Họ cũng đi tìm những địa điểm mà người xưa đã khai thác thứ ngọc kỳ diệu này nhưng không tìm thấy. Mãi đến giữa thế kỷ XVI, những kẻ chinh phục châu Mỹ mới làm chủ được bí mật của người Inca xâm nhập được vào kho báu chứa đầy ngọc bích xứ Columbia.
Với vẻ đẹp hiếm có, ngọc bích Columbia đã ngự trị trong nghề kim hoàn đến thể kủ XIX. Năm 1831, một người thợ nấu nhựa thông ở Uran tên Macxim Cogiepnicop khi nhặt củi khô trên rừng, gần con suối Tôcôva, đã tìm tháy viên ngọc bích đầu tiên ở nước Nga. Những viên ngọc bích lớn màu lục sáng của xứ Uran đã nhanh chóng được những người thợ kim hoàn thế giới thừa nhận.
Trong thời gian làm" quyền chỉ huy " xưởng mài mặt đá ở Ecaterinbua, Iacop Cocôvin - một con người liêm khiết, rất am hiểu về đá và cũng là nghệ nhân làm đá quý đã lãnh đạo việc khai thác các mỏ ngọc bích ở Uran. Năm 1834, một viên ngọc bích rất lớn, Nặng hơn 2Kg, tìm được tại một trong các mỏ ở đấy đã đến tay ông. Lúc bấy giờ ông đâu có biết viên đá đẹp đẽ từng đi vào lịch sử khoáng vật học với tên gọi " ngọc bích Cocôvin" ấy sẽ đóng vai trong định mệnh trong số phận ông.
Người chỉ huy đã tự tay mài những viên đá quý nhất . Lần này , ông cũng định chính tay mình mài các mặt viên ngọc bích khổng lồ. Nhưng ý định của ông không thực hiện được : theo một lời tố giác bịa đặt từ Pêtecbua ( Staint Peterburg ), một ban điều tra bất ngờ ập đến , ra lệnh lục soát nhà Cocôvin và đã tìm thấy viên ngọc bích mà ông không định dấu đi. Người ta đã áp giải Cocôvin về thủ đô cùng với viên ngọc. Bá tước Perôpxki vốn lừng danh là người sành sỏi và ưa thích đá quý đã tiến hành thẩm vấn vụ này. Ông đã đưa vụ án tới kết thúc mà mình vẫn hằng mong đợi: bá tước đã nhốt chàng Cocôvin vô tội vào tù ( trong tù vì không chịu được những lời vu khống bất lương nên ngay sau đó , người thợ ngọc đã tự sát ), còn viên ngọc bích thì vượt qua kho bạc nhà nước để bổ sung cho bộ sưu tập của bá tước. Nhưng viên ngọc cũng không ở đây được bao lâu: Vì đánh bạc bị thua to nên viên đại thần danh tiếng này đã đành lòng từ giã nó, và viên ngọc bích lại đến cư ngụ tại nhà viên cố vấn cơ mật của triều đình là công tước Cochubây - người chủ của bộ sưu tập đá quý lớn nhất nước Nga. Sau khi vị công tước này chết, con trai ông đã chuyên chở nhiều ngọc quý trong đó có cả " viên ngọc Cocôvin" sang Viên để bán hết . Theo thỉnh cầu của viện hàn lâm Nga, triều đình Nga hoàng đã bỏ ra một món tiền lớn để mua lại bộ sưu tập. Viên ngọc bích lớn nhất thế giới đã trở về tổ quốc ( Nga ) và hiện nay đang được trưng bày trong viện bảo tàng khoáng vật học thuộc viện hàn lâm khoa học Liên Xô ở Maxcơva.
Ngọc bích là một trong những khoáng vật của Berili. Aquamarin màu xanh nước biển và Vorobievit màu hồng anh đào,

ngocdunghihi
24-02-2007, 11:04 PM
phục bạn quá ko phải vì hiểu biết đâu nha mà là ngồi viết đc từng ấy chữ