Hiennie*
11-01-2007, 12:53 PM
Không có đàn bà, nhà hóa mồ côi.
Từ xưa người ta đã nói như vậy. Còn các bạn, những nữ bạn đọc thông minh của tôi ơi, đã bao giờ các bạn được nhìn vào một căn phòng của hai người đàn ông chưa vợ? Đã bao giờ các bạn được thở thứ không khí nặng nề, được thấy sự bừa bãi thường xuyên ngự lại trong các nơi trú ngụ của những chàng trai trẻ lười biếng?
Nếu có anh em trai hoặc người yêu sống ở một thành phố khác, các bạn nên thử đến thăm họ. Tôi tưởng tượng ra sự sửng sốt của các bạn khi đẩy cửa bước vào và buột miệng kêu thốt lên: “Ôi kinh khủng quá”.
Câu chuyện của chúng ta bắt đầu từ căn phòng của hai chàng trai trẻ vào khoảng ba năm sau chiến tranh.
(Tôi muốn báo trước cho các bạn nữ rằng đọc câu chuyện này, đôi lúc họ phải ngượng ngùng đỏ mặt. Tôi xin lỗi trước và cam đoan rằng việc này hoàn toàn không phải tại tôi).
Vào thời gian đó, Na-ga-xi-ma Xi-ghe-ô và tôi, I-ô-xi-ô-ca Xu-tô-mu, hãy còn là những sinh viên chưa vợ.
Cửa sổ căn phòng nhỏ xíu của chúng tôi thuê ở thị trấn Can-đa trông thẳng ra mấy ngôi nhà thảm hại còn in vết tích của những lần cháy, những trận ném bom và những túp lều xấu xí được dựng vội trên các nền nhà bị phá hủy. Trong phòng, bùn rác đọng lại thiếu tí nữa thì thành vũng, còn mùa hè chúng tôi không biết làm thế nào để trốn khỏi lũ rệp nhiều vô kể.
Nhưng vào thời đó, để kiếm được một căn phòng như vậy cũng phải tốn mất biết bao công sức. Anh bạn của tôi, Na-ga-xi-ma Xi-ghe-ô mặc dù cùng họ với vận động viên bóng gậy lừng danh, có một thân hình hoàn toàn không vạm vỡ tí nào. Bộ ngực lép kẹp và cặp giò gầy gò của anh ta chứng minh cho một chế độ ăn uống rất kém và bừa bãi. Nhưng so với tôi, anh ta còn khá hơn nhiều: đã gầy đến mức khó tưởng tượng được, tôi lại còn bị thọt chân phải sau một trận bại liệt hồi còn nhỏ.
Cả hai chúng tôi thường ít khi có mặt ở trường đại học. Nông thôn lúc đó đang đói, và chúng tôi không thể trông chờ vào sự viện trợ của gia đình; vì vậy như phần lớn các sinh viên khác, phải tự mình đi tìm việc làm thuê để kiếm thêm. Nhưng việc làm của chúng tôi hồi đó khác xa với việc làm của những tay sinh viên láu cá ngày nay chỉ đi chơi thuê cho các dàn nhạc Ja cũng đã kiếm được mấy nghìn bảng. Chúng tôi phải đi bốc vác, chuyên chở những thứ máy móc dụng cụ điện nặng đến còng lưng cho các cửa hiệu, bán vé sổ số hoặc kèm hoa quả ở các bãi tắm - tóm lại, làm bất cứ việc gì mà ngày nay một thanh niên đội mũ lưỡi trai bốn góc của sinh viên nào cũng coi là rất đáng xấu hổ.
Chúng tôi mơ ước về con gái, bất kể loại nào, thậm chí - tôi xin lỗi vì hơi thô tục - cả gái đứng đường cũng được. Thời đó, những mơ ước như vậy, thậm chí cả các cô gái đứng đường cũng khịt mũi quay lưng lại đối với những cậu sinh viên nghèo đói sống bằng những khoản tiền thuê kiếm được tình cờ như chúng tôi.
- Giá bây giờ có được ả thật kháu nhỉ, - khi không tìm được việc gì, chúng tôi nằm dài trên những tấm nệm bẩn thỉu, thở dài. Chúng tôi bịt miệng và mũi bằng những vải màn như khẩu trang không phải vì ốm, mà chỉ đơn giản vì phòng mấy tháng nay chưa quét dọn, bụi đến không thở được, mà cả hai đứa đều lười, không muốn quét.
Vào buổi trưa một ngày mùa thu, khi những tia nắng mặt trời lọt vào phòng như xuyên qua lần cửa chớp, trong bầu không khí tươi mát vang lên giọng hát rất rõ của Ca-xa-ghi Xi-du-do đang biểu diễn qua đài, chúng tôi ngồi xổm trên chiếc nệm vấy mỡ và húp món canh khoai tây nấu bằng bếp điện. Mùi canh hơi thoang thoảng thơm trộn lẫn với mùi hôi của chiếc giường bẩn, và không hiểu sao tôi lại nhớ đến mùi của căn nhà thân thuộc ở nơi quê, mùi của làn da và mái tóc mẹ. Màu xanh hờ hững của bầu trời thu và những cái mùi đã gần như bị lãng quên đó bỗng làm tôi cảm thấy buồn.
- Này, nếu cậu không ăn thì đưa đây cho tớ, - vừa liếm chiếc bát đánh xoáy được ở một cửa hiệu ăn. Na-ga-xi-ma vừa nhìn tôi một cách thèm thuồng.
- Cậu cũng đã ăn vào phần tớ hai phần rồi còn gì.
- Mẹ kiếp, không thể sống thế này được nữa. Không chỉ thể xác mà cả tâm hồn cũng ngập ngụa trong bùn.
Đôi lúc Na-ga-xi-ma bỗng trở nên đa sầu cảm, đắm mình trong hồi tưởng và bắt đầu kể về tuổi thơ của mình trôi qua ở quận I-a-ma-an-xi - một miền đồi núi với rất nhiều những vườn nho tươi tốt.
- Mùa thu, - Na-ga-xi-ma thở dài. - Ở chỗ tớ mùa thu người ta bắt đầu thu hoạch nho: những chùm quả nặng trĩu, chín mọng ánh lên dưới nắng, những cọc chống bằng gỗ phải oằn cong lại. Lũ con gái đội mũ rơm bện, bắp chân quấn xà cạp, hái nho bỏ vào giỏ. Khi chúng dướn người lên để hái, giữa khoảng gấu váy và xà cạp quấn ở bắp chân lộ ra một khoảng da trắng nõn. Lúc đó tớ còn là một thằng lỏi con bé tí mà cũng đã cảm thấy ở đấy có một cái gì rất tuyệt.
Vừa vung đũa, hình như Na-ga-xi-ma vừa trông thấy trước mắt mình bức tranh đầy quyến rũ. Phần tôi, tôi cũng cố tưởng tượng ra những cô thôn nữ tinh nghịch trong làn ánh nắng mùa thu, những bắp chân tròn trắng mịn của họ. Được hái nho bên cạnh họ thì hạnh phúc biết mấy!
–Thôi, đủ rồi! – Giọng của Na-ga-xi-ma đưa tôi trở về thực tại không vui. - Phải đi thôi. Tự cậu cũng biết đấy, có tiền thì cũng sẽ có gái, - Na-ga-xi-ma đứng dậy, cởi chiếc áo dài bằng bông dính đầy dầu mỡ và túm lấy chiếc va-li độc nhất của hai đứa chúng tôi để trong hốc tường.
- Bẩn hết cả, - anh ta kêu to, vứt từ trong va-li ra những áo sơ mi và quần đùi. Trông Na-ga-xi-ma giống hệt như một con chó đang dùng chân bới đất. - Chẳng lẽ không có lấy miếng giẻ nào hơi sạch hơn à? Bẩn quá! Đấy chỉ là vì cậu đến nhà tắm cũng không chịu kỳ cọ cho kỹ một tý.
Nhưng thực ra đó là do chúng tôi nhét quần áo bẩn vào va-li, và chính Na- ga-xi-ma biết rất rõ điều ấy.
Tất nhiên, trong thời gian đầu chúng tôi ở chung với nhau, mỗi đứa đều có quần áo riêng của mình nhưng dần dần, không ai để ý, áo sơ mi của tôi chuyển sang người Na-ga-xi-ma, còn quần lót của Na-ga-xi-ma lại sang tôi. Thêm vào đó, để khỏi mất công giặt, chúng tôi thường chọn trong đống giẻ đã lâu không giặt này một cái gì đó còn khả dĩ ít bẩn hơn để mặc.
(Xin các bạn nữ đừng nhăn mặt, tôi đã báo trước rồi mà. Không chỉ có tôi và anh bạn của tôi, mà cả anh em trai và cả người yêu của các bạn - tất cả chúng tôi, những kẻ chưa vợ, đều sống như thế…).
Buổi chiều tôi và Na-ga-xi-ma chia tay nhau trong đám đông chen chúc ở ga Ô-tra-nô-mit-du. Anh ta đến một khu phố giàu có để giắt con chó của một ông chủ đi chơi. Đây là giống chó săn poanh - ta và khẩu phần ăn của nó hôm nào cũng có thêm mỡ và sữa. Thậm chí sau chiến tranh ở Nhật Bản vẫn còn những người tự cho phép mình được xa xỉ như vậy đấy!
Sau khi đi xuống ngọn đồi Xi-un-ga-đai, tôi đến văn phòng của “Hội cứu trợ những sinh viên nghèo toàn Nhật Bản”. Mặc dù có tên gọi rất to tát là văn phòng, nó chỉ gồm một căn phòng bé tí trong túp lều xiêu vẹo làm chỗ cho sinh viên đến. Trong căn buồng nhỏ này nhiều người được giúp tìm ra việc làm hoặc chỗ ở chỉ phải thuê với giá rẻ.
Trước cửa văn phòng, một toán sinh viên - tất cả cũng gầy gò như tôi - đang đứng đứng sưởi nắng dưới ánh mặt trời thu yếu ớt. Họ ăn mặc cũng rất xoành xĩnh - phần lớn là áo lính, một số có áo khoác ngoài đã sờn rách.
Chờ đến lượt mình, tôi bước vào văn phòng và bắt đầu đọc những tờ thông báo thuê việc dán ở các bức tường. Cần người quét dọn ở Hoàng cung - việc này được trả cũng khá, nhưng đối với tôi thủa nhỏ bị bệnh bại liệt, nó quá sức. Cần người bán bán vé xổ số - việc này phải chạy luôn chân mà tiền công lại quá ít. Những chỗ cần thầy dậy kèm - việc này hợp với tôi hơn cả - thì đã bị sinh viên của các trường đại học tổng hợp nổi tiếng nhất - Tô-ki-ô và Hi-tô-xu-ba-xi - chiếm hết.
Tôi thất vọng thở dài, thì chợt trông thấy ở góc phía bên dưới bảng một tờ thông báo nhỏ màu xám còn chưa bị bút chì đỏ của người thư ký văn phòng gạch chéo.
“Quận Ti-ba, cần một người dán áp-phích. Tiền công nhật - 200 Yên (đơn vị tiền tệ Nhật Bản). Tiền tàu xe được thanh toán”.
Có lẽ những sinh viên khác cũng đã trông thấy tờ thông báo này, nhưng chắc họ chê quận Ti-ba quá xa, không phải ai cũng muốn đi tít tắp như vậy khi trong bụng chẳng có gì.
Có nên đi không?
Tôi trầm ngâm quay con xúc xắc nằm trong túi quần. Tôi không mê tín, nhưng khi nào gặp khó khăn trong việc phải chọn một quyết định nào đó, tôi lại nhớ đến quân bài thần kỳ này. Nhu rất nhiều sinh viên sau chiến tranh phải chịu cảnh nghèo túng thiếu thốn, đói khát, lang thang, tôi không sống dựa vào sức mình và một khi đã không tin vào mình nữa, người ta thường làm theo những điềm báo ngẫu nhiên.
Con xúc xắc ngửa mặt chẵn lên trời. Đi!
Tôi thò đầu vào cửa sổ.
- Chọn được rồi à? - Người thư ký, một tay đàn ông trung niên đầu đã bắt đầu bạc, giở tìm qua mấy tờ giấy, hỏi - Công ty “Bạch hạc” khu phố thứ ba, đường Xim-pô. Tôi cần báo trước với anh rằng có tiếng tăm đáng ngờ lắm đấy.
- Đối với tôi không quan trọng.
Người thư ký im lặng chìa ra tờ giấy giới thiệu mà tôi cần phải trao cho người chủ thuê.
Đường Xim-pô… Tôi đã biết đường phố này. Đi đến đó mất chừng 15 phút. Hình như Xim-pô không bị ném bom và những ngôi nhà cũ của nó vẫn còn nguyên vẹn.
Tôi đi dọc theo hàng rào đổ nát. Từ trong các căn nhà thoảng ra mùi bữa cơm chiều, những con người đang bổ củi, đứng trò chuyện… Một ông già ca- mi-xi-bai (Người làm nghề kể chuyện bằng tranh vẽ trên giấy) ngồi trên chiếc xe đạp cũ với bộ đồ nghề buộc chặt trên giá đèo hàng đạp ngang qua tôi.
- Chị làm ơn chỉ hộ công ty “Bạch hạc” ở đâu ạ? - Tôi hỏi một người đàn bà cõng đứa con sau lưng đang đứng cạnh một ngôi nhà. - “Bạch hạc” nào? Chẳng lẽ ở chỗ chúng tôi có công ty như thế à? Tôi không biết. Nếu số nhà mười bảy, thì nó ở kia kìa, sau ngôi nhà này.
Tôi đi theo ông già ca-mi-xi-bai dọc theo đường phố tối mờ. Ông già ngoặt sang trái rồi dừng xe lại trước một ngôi nhà bẩn thỉu. Tôi lập tức hiểu rằng cái công ty bí ẩn “Bạch hạc” ở trong đó. Thế mà tôi cứ hình dung ra một tòa nhà trắng rất hiện đại! Ngôi nhà này chẳng những không giống hạc, mà nó lại giống một con quạ vừa mới chui từ hố rác lên.
Tôi đi vào cửa và thấy một bàn điện thoại, sau bàn là một người đàn ông đầu nhọn, đeo kính, quần Mỹ màu nâu - có lẽ vừa mua ở chợ trời. Nhìn bề ngoài, anh ta có vẻ như người nước ngoài vừa đến sống ở Tô-ki-ô không lâu.
- Anh Kim, hàng tôi để lại đây, - ông già nói với anh ta, rồi tháo chiếc hòm ở xe đạp ra đặt vào góc phòng.
- Được rồi, được rồi, ngày mai lại đến nhé.
Ông già gật đầu, bước ra.
Người đàn ông đầu nhọn cho ngón tay vào mũi ngoái rồi quay lại phía tôi.
- Cậu ở đâu thế?
- Tôi là sinh viên, thấy thông báo thuê việc của các anh. Thẻ sinh viên của tôi đây.
- Hừ… Rõ rồi… Chắc là hội sinh viên gửi cậu đến đây?
- Vâng, “Hội cứu trợ những sinh viên nghèo”.
- Thế đấy… Chúng tôi cần một người đi dán áp-phích quảng cáo. Cậu đồng ý làm việc này không?
- Đồng ý.
- Đấy kìa, - Kim nói, đưa ngón tay có chiếc nhẫn vàng chỉ vào góc phòng, nơi để những bó áp-phích cuộn tròn.
Chắc là ngày mai tôi phải đưa những cuộn áp-phích này đến quận Ti-ba xa lắc xa lơ, vào các xóm làng nông thôn để dán và phân phát cho nông dân.
Sau khi nhận tiền tàu xe và cầm một tờ áp-phích cho mình, tôi rời công ty “Bạch hạc”. Từ một nơi nào đó vẳng lại một tiếng rao của người bán bánh đậu. Tôi bỗng nghe đau nhói dưới ức. Không hiểu sao bên tai lại vang lên những lời của Na-ga-xi-ma nói lúc ăn sáng: “Không chỉ thể xác, mà cả tâm hồn cũng ngập ngụa trong bùn”.
Tôi vừa đi vừa mở tấm áp-phích ra xem. Những dòng chữ như nhảy đè lên nhau:
“ Người được khán giả A-xa-cu-xa rất yêu thích. Những giai điệu nổi tiếng qua giọng hát của E-nô-cân. E-nô-cân sẽ đến biểu diễn ở Xa-cu-ra-ma-ti!”.
Thậm chí đứa trẻ lên ba cũng biết tiếng E-nô-cân. Đó là diễn viên nổi tiếng nhất chuyên hát những bài hát vui. Anh ta không những biểu diễn trên sân khấu mà còn đóng phim. E-nô-cân luôn luôn được mời đến những phòng hòa nhạc tốt nhất của sáu thành phố lớn nhất trong nước. Và thật không hiểu tại sao con người danh tiếng kia lại định đi biểu diễn ở các thị trấn quê mùa hẻo lánh của quận Ti-ba này? Và nếu thế thật đi nữa, thì tại sao anh ta lại giao việc quảng cáo cho cái công ty không ai biết đến tên tuổi bao giờ này? Ở đây có một điều gì khó hiểu. Tôi lại nhớ tới lời của người thư ký văn phòng về cái tiếng tăm đáng nghi ngờ của công ty “Bạch hạc”.
Nhưng nghĩ cho cùng, điều đó có quan hệ gì đến tôi! Nếu tôi đi dán áp-phích cho họ ở Xa-cu-ra-ma-ti, tôi sẽ được nhận 200 Yên và tiền đi đường, ngoài ra tôi không cần gì thêm.
Với số tiền vừa nhận được, tôi vào quán gọi món ô-den (một món ăn Nhật Bản) mà đã lâu tôi không ăn, rồi trở về nhà. Không thấy Na-ga-xi-ma đâu cả - chắc anh ta còn đang lang thang ở một nơi nào đó.
Trùm kín người trong chiếc chăn cũ nặc mùi mồ hôi và bụi, tôi cố ngủ một giấc, nhưng không được. Tôi nghĩ về lũ con gái hái nho dưới ánh mặt trời mùa thu. Tim tôi nhảy rộn lên mỗi khi hình dung ra những bắp chân trắng nõn của họ…
Mười giờ sáng, bỏ mặc Na-ga-xi-ma tối qua kiếm ăn về đang nằm co quắp ngủ trên nệm, tôi quấn chiếc áo mưa cũ lên người, bước ra khỏi nhà.
- Sao cậu có vẻ cau có thế? Làm việc được chứ? - Kim hỏi tôi. Anh ta chỉ mấy cuộn áp-phích: - Bỏ tất cả mấy cái kia vào túi rồi đến chỗ có có ghi trong tờ giấy này.
Trong giấy ghi tên bốn làng nằm cạnh đường lớn. Không sao! Tất nhiên, việc thế này một ngày chỉ được có 200 yên cũng có hơi ít, nhưng từ chối bây giờ cũng đã quá muộn.
- Được rồi - tôi đồng ý, - Những điều viết trong áp-phích này có thật không đấy?
- Thế cậu nghĩ sao? - Kim phá ra cười rồi chăm chú nhìn tôi bằng đôi mắt ti hí.
Tôi chẳng có gì để hỏi thêm nữa.
Tôi nghĩ rằng áp-phích phải nhẹ lắm, dù sao cũng chỉ là giấy; nhưng khi mang túi lên vai, tôi mới hiểu rằng mình đã nhầm: túi khá nặng, đặc biệt là với tôi, người hồi bé bị bệnh bại liệt.
Đến Ti-ba tôi đi trên một toa tầu điện ngầm gần như không có khách. Với túi mang trên lưng, người ta có thể tưởng nhầm tôi là một anh chàng ở thành phố về làng để mua khoai tây. Hon nữa, trong toa quả có mấy người như thế thật. Đến ga I-ti-ga-va tôi chuyển sang ô-tô-buýt chạy dọc theo đường nhựa. Con đường chạy qua cây thông cổ thụ I-ti-ga-va nổi tiếng. Cạnh cây thông có một tấm áp-phích to tướng vẽ chân dung của I-kê-be Ri-ô.
Chiếc ô-tô-buýt đã ra khỏi thành phố. Khu rừng phong đầy nắng. Những cây dẻ gần như trơ trụi, lá rụng xuống nằm rải rác trên mặt đường như những đồng tiền vàng lớn. Những mái nhà nông dân bằng rạ trông có màu đỏ thẫm.
Người soát vé, một cô gái với đôi môi tô son đỏ chót, thông báo rằng sau hai bến nữa sẽ đến Xa-cu-ra-ma-ti.
Cuối cùng, tôi bước xuống xe.
Trước đây tôi cũng đã từng đi dán áp-phích. Năm ngoái, hồi bầu cử tổng thống, tôi, cũng như phần lớn sinh viên, ủng hộ đảng cấp tiến. Nhưng chính trị là chính trị, không có tiền thì không thể sống được, cho nên chúng tôi cũng không đến nỗi tự trách mình lắm nếu phải đi dán quảng cáo có ảnh của ứng cử viên đảng bảo thủ.
Nhưng bây giờ, đi nhét áp-phích vào hòm thư của các nhà nông dân, tôi cảm thấy một cái gì như sự cắn rứt lương tâm.
Trong làng rất vắng vẻ. Có lẽ tất cả mọi người đang ở ngoài cổng. Chỉ có những ả gà mái thơ thẩn trong sân, thấy tôi liền chạy tản ra. Trong một ngõ, tôi nhặt lên một số tạp chí cũ “Những ngôi sao điện ảnh”, nơi thường có in ảnh những diễn viên nổi tiếng và những bài hát mốt. Tôi nhét tờ tạp chí vào túi áo để trên đường về có cái đọc.
Có hai cậu bé đi dọc theo con đường làng sạch sẽ, tay cầm nhánh lá có mấy con sâu.
- Cái gì thế em?
- Chúng em cũng không biết.
- Thế các em có biết đọc không? Thí dụ như tấm áp-phích này chẳng hạn, - Tôi dúi cho hai cậu bé một cuộn giấy.
- Hoan hô! E-nô-cân sẽ đến chỗ chúng ta! - Chúng hét tướng lên.
- Các em biết anh ta à?
- Biết chứ. Em với bố đi xem phim và thấy E-nô-cân rồi. Nhung em quên mất tên phim.
- Còn bây giờ thì em sẽ được trông thấy người thật, - tôi mỉm cười nói. - Các em có thể giúp anh một việc được không?
- Còn xem việc gì đã chứ? - Hai cậu bé trịnh trọng tuyên bố.
- Việc đơn giản thôi: cấn phải dán những tờ áp-phích này lên tường của trường học và lên hàng rào cạnh nhà trưởng thôn. Làm được không?
- Được, - hai cậu bé sung sướng đồng ý.
Đến làng tiếp theo, tôi cũng làm y như vậy, lũ trẻ rất sẵn sàng giúp tôi. Ở trong thị trấn có khó hơn nhưng đến lúc đó thì chiếc túi sau lưng cũng đã xẹp đi, và khi tôi đến Xa-cu-ra-ma-ti thì nó trở nên hoàn toàn trống rỗng như chiếc bụng nhiều kiên nhẫn của tôi.
Tôi về đến Tô-ki-ô lúc trời đã bắt đầu tối. Cần phải đến công ty “Bạch hạc” để trả lại cho Kim chiếc túi và nhận tiền công. Kim vẫn ngồi sau bàn như cũ và đang tập trung tâm trí vào việc ngoáy mũi.
- Thế nào, dán hết rồi chứ?
- Hết rồi.
- Cám ơn cậu.
Rút từ trong ngăn bàn ra một túi da căng phồng, anh ta đếm rồi lấy mười tờ hai mươi yên và đặt xuống trước mặt tôi.
- Đừng tiêu hoang đi nhé. Tại sao cậu có vẻ cau có thế? Trông phờ phạc lắm.
- Thế à?
- Rất phờ phạc. Hay bị bồ đá?
- Tôi không có bồ bịch nào cả.
Tôi ngạc nhiên sao mình lại thành thật đến thế, mặc dù thật ra mà nói, bây giờ tôi cảm thấy nhiều cảm tình đối với Kim hơn là lúc sáng. Có thể, trong thâm tâm, tôi hy vọng rằng kết bạn được với Kim, tôi bao giờ cũng có thể kiếm ra việc làm, và thậm chí đôi lúc còn được anh ta cho đồ hộp Mỹ nữa.
Tất nhiên Kim không thể biết được những suy nghĩ sâu kín của anh sinh viên nghèo, nhưng giọng nói đầy tin cậy của tôi làm anh ta mỉm cười.
- Ôi cậu ngốc lắm! Chẳng lẽ cậu không thích con gái à?
- Vâng… à…tất nhiên.
- Thế thì vì sao?
Ngọn đèn điện treo trên chiếc đầu nhọn của Kim toa sáng mờ mờ. Anh ta, bằng thứ tiếng Nhật trọ trẹ bắt đầu lên lớp cho tôi, lấy thí dụ trong kho thực tế rất phong phú của mình, rằng cái quan trọng nhất là phải tạo ra một ấn tượng tốt đối với con gái. Để làm việc đó cần bắt cô ta phải chú ý đến mình. Nhưng đấy mới là một nửa. Con gái ngày nay thích đàn ông nếu không có túi tiền căng phải có tính cách mạnh.
- Cần phải hành động, đúng, đúng, cần phải hành động, chứ không múa lưỡi nói xuông.
- Anh bảo phải hành động, nhưng tôi thì có thể làm cái gì?
- Ôi cậu ngốc! - Kim phá ra cười, - Thí dụ, cứ tán bừa với chúng đủ mọi thứ linh tinh.
- Linh tinh à?
- Tớ bảo cậu ngốc lắm mà. Để đặt được mục đích, phương tiện nào cũng tốt cả. Chẳng việc gì phải ngượng nghịu ở đây hết. Cần phải tỏ ra lì lợm và nói láo không biết xấu hổ. Phải tấn công trên khắp các mặt trận: gọi điện, hẹn nơi gặp mặt, và liên tục nhắc đi nhắc lại rằng anh yêu em. Và nếu cô ta trông thấy cậu đi với người khác thì càng tốt. Điều này gây ấn tượng rất mạnh. Không người đàn bà nào trong trường hợp đó có thể bình tĩnh được. Tai họa cho họ là họ hay tự ái và dễ nổi máu khùng.
Hay tự ái và dễ nổi máu khùng! Ở bên nước của Kim, tất cả mọi người đều hay tự ái và dễ nổi máu khùng. Thức ăn cay làm cho máu nóng lên. Ở bên ấy đến bắp cải cũng đem ngâm ớt cay. Thêm vào đó họ lại ăn nhiều thịt. Người Nhật Bản ăn uống điều độ nên không thể làm theo lời khuyên của người Triều Tiên được. Ở đây, giá như có tiền….
- Xin lỗi anh, Kim, tôi sẽ còn đến nữa. Còn bây giờ tôi rất mệt.
- Thôi được. Nếu cần việc làm nữa, cứ đến đây nhé.
Chia tay với Kim xong, ra đến cửa tôi lại hỏi:
- Thế có thật E-nô-cân đến biểu diễn ở Xa-cu-ra-ma-ti không?
Lần này thì Kim nói thật.
- Mắt cậu để đâu? Cậu thử nhìn kỹ xem, trong áp-phích đề là Ê-no-cân chứ có phải là E-nô-cân đâu?
- Thế các anh không sợ người ta bắt phải chịu trách nhiệm về tội lừa dối à?
Đôi mắt của Kim sau cặp kính dày lóe lên cười mỉa mai; anh ta lắc đầu nói:
- Ở các làng không có ai tin rằng E-nô-cân có thể đến biểu diễn ở chỗ họ. Thường thường, các diễn viên ít nổi tiếng hơn sẽ thay anh ta. Không sao, cho đến nay chưa có vụ rắc rối nào cả.
Thần kinh của Kim vững lắm, chứ không như người Nhật Bản chúng tôi.
Suốt cả ngày hôm sau trời mưa không ngớt. Mái nhà chẳng bao lâu bị thấm nước, trên trần nhà xuất hiện mấy chỗ dột. Hơi lạnh ẩm ướt qua cửa sổ thốc vào phòng. Gần trưa, ngoài đường nghe có tiếng kèn, nhưng chắc người thổi không đủ hơi nên giữa chừng bị ngắt quãng, rồi một lúc sau lại vang lên.
Na-ga-xi-ma đi tìm việc làm. Còn tôi, vừa nhận được hai trăm yên tiền công dán áp-phích, hôm nay quyết định nghỉ ở nhà. Đáng lẽ cần phải đến trường một tý, nhưng sau ngày làm việc, người cứ mềm nhũn như bằng bông, không muốn bước chân ra khỏi phòng nhất là ngoài trời lại còn đang mưa.
Nằm trên đệm, tôi chăm chú nhìn trần nhà đầy những vết loang lổ. Đây là một trò tôi rất thích. Thuở bé, mỗi khi đau bịnh, tôi nằm suốt ngày và nhìn lên những vết bẩn trên trần nhà như vậy. Chúng khi thì trông giống những đám mây, khi thì biến thành những con quái vật, có lúc lại hóa ra một lâu đài bí mật.
Thỉnh thoảng tôi ngủ thiếp đi, tỉnh dậy, rồi lại mơ màng. Tiếng kèn đồng buồn bã ngoài cửa sổ hòa lẫn với tiếng mưa rơi tí tách.
Túi chiếc áo mưa móc trên đinh căng phồng lên, và tôi nhớ rằng trong đó có số tạp chí “Những ngôi sao điện ảnh” cũ tôi nhặt được hôm qua trong sân nhà của một nhà nông dân. Trang nào cũng có ảnh các diễn viên đứng với tư thế tự nhiên, những khuôn mặt được sửa phim rất nét, những nụ cười lộng lẫy và những núm đồng tiền duyên dáng trên má các nữ diễn viên nổi tiếng. Không biết cuộc sống của những con người này như thế nào nhỉ?
***
Thực ra mà nói, giữa tôi và bọn họ khác nhau không nhiều lắm. Tôi dán áp-phích được hai trăm yên còn họ phô hàm răng trắng kể lại cho thiên hạ về cuộc đời của mình.
“Một đôi bạn keo sơn, - tôi đọc dòng chữ ghi dưới một bức ảnh màu, - diễn viên I-kê-be và nữ diễn viên I-a-ma-gu-ti I-ô-xi-cô -một cặp lý tưởng”. Tay thanh niên có khuôn mặt thanh tú, đa tình, da mềm mịn, còn cô gái có cặp mắt vẽ công phu. Ôm nhau họ từ trong ảnh nhìn ra cười.
Trang cuối cùng, đã ngả sang màu vàng, của tờ tạp chí dành cho độc giả.
“Những người hâm mộ các ngôi sao điện ảnh ở quận Xa-ga và Na-ga-xi-ma Xi-ghe-ô-Na-ga-xi-ma-nô đề nghị tổ chức hội nghị những người bạn điện ảnh”.
Hừ… Tình bạn nẩy sinh một cách dễ dàng như bong bóng trong vũng nước ngoài đường dưới cơn mưa. Và cũng dễ dàng tan biến đi. Biết đâu, cả tình yêu cũng vậy…
Vừa ngáp vì buồn, tôi vừa nhẫm lại nghiên cứu những bức thư của độc giả.
“Tôi là người say mê mãnh liệt tài năng của nữ nghệ sĩ ba-lê Xi-xu-ma Cây-kê. Giá có được một người em như vậy thì thật là tuyệt diệu! Xô-bai-a-xi Xê-ta-rô. Quận Hi-ô-gô, xã Mu-cu-ra, làng I-ô-xi-môtô”.
“Tôi là một cô gái bình thường, mười chín tuổi, rất thích xem phim… nếu anh cũng yêu thích Va-cai-a-ma Xe-xu-kô, xin viết thư cho tôi theo địa chỉ: Tô-ki-ô khu phố Xê-đa-ta-ni, đường Cây-đô, số nhà 808, Mô-ri-ta Mi-xu”.
Đặt tay xuống dưới đầu, tôi nhìn lên trần nhà, cố hình dung ra cô gái đó như thế nào nếu cô ta viết cho tạp chí như vậy thông báo cả địa chỉ của mình. Nhưng có thể thử xem. Hai ngày sau cô ta sẽ nhận được thư tôi và nếu như mọi việc thuận lợi, cô ta sẽ là của tôi.
Như vậy đó, bắt đầu sự quen biết với người con gái mà sau này tôi đã ruồng bỏ như một con chó đáng thương…
Có thể rằng tất cả những gì xảy ra giữa chúng tôi đều là tình cờ, ngẫu nhiên. Nhưng chẳng phải nói chung tất cả mối quan hệ giữa con người với nhau đều là ngẫu nhiên đó sao? Những cặp vợ chồng thề nguyền suốt đời bên nhau cũng ngẫu nhiên làm quen với nhau sau một bàn ăn ở khách sạn. Tình yêu của họ bắt đầu từ một lần gặp gỡ tình cờ, thậm chí kỳ quặc. Nhưng phải trải qua khá nhiều thời gian, tôi mới hiểu được rằng sự ngẫu nhiên hoàn toàn không phải là vô nghĩa, là kỳ quặc. Tôi là kẻ vô thần, nhưng tôi nghĩ rằng sự phụ thuộc hàng ngày của con người vào các hiện tượng ngẫu nhiên là một trong những con đường mòn dẫn người ta đến với niềm tin của Chúa.
Không ai trong cái xã hội hiện đại này mơ ước được gặp một người đàn bà lý tưởng, nhưng riêng tôi, bây giờ tôi vẫn mơ ước về một con người như vậy.
Tôi sẽ không nói cô ta trông như thế nào vào cái ngày chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên. Nếu như tôi yêu cô ta, có lẽ tôi đã mãi mãi ghi nhớ tiếng cười, những cái chạm tay khe khẽ của cô ta và những sự âu yếm khác mà các cặp tình nhân thường trao đổi với nhau. Còn ở chúng tôi, những điều tương tự như vậy không có, vì tôi chỉ muốn thỏe mãn thèm khát dục vọng của mình. Nói một cách thô tục, tôi cần một người đàn bà qua đêm.
Tôi tìm được cô ta để, sau khi sử dụng xong, đem vứt đi như người ta vứt một bao thuốc lá rỗng, đã hút hết, khi từ toa tầu điện đêm bước xuống.
Trong bức thư trả lời, cô ta hẹn gặp tôi ở cạnh nhà ga Xi-ta-ki-tát-da-va, cách nơi cô ta sống không xa. Cô ta viết rằng không muốn gặp tôi ở các khu đông người Xin-du-cu hay Xi-bui-a vì sợ bị lạc.
Đến giờ tôi vẫn còn nhớ rõ nơi chúng tôi gặp nhau. Còn phải nói! Cạnh đó là khu vực vệ sinh của nhà ga, nó bốc mùi đến nỗi không thể không nhớ được. Những đoàn tàu chạy ầm ầm trên đầu, từ trên cầu những giọt nước đen bẩn thỉu nhỏ xuống đôi ủng đã rách nát của tôi.
Đây là một vùng ngoại ô ở Tô-ki-ô hãy còn chưa hồi phục lại những vết thương chiến tranh. Tôi sờ ví tiền trong túi và nghĩ với một sự nhẹ nhõm: “Dù sao thì cũng may cô ta không hẹn gặp ở trong quán cà phê”. Trong hoàn cảnh của tôi, phải tiêu phí những ba chục yên cho hai chén cà phê thì thật là ngốc nghếch, nhất là trong lúc vẫn chưa có những chỗ hẹn hò rẻ hơn nhiều mà bất cứ tay sinh viên Tô-ki-ô nào cũng biết.
Và đấy, tôi ngồi đợi. Kim đồng hồ ở cửa rạp chiếu bóng đã chỉ bốn giờ rưỡi.
Thư của cô ta gửi đến trong chiếc phong bì vàng khè, xấu xí. Trên tờ giấy viết thư rẻ tiền bằng nét chữ học sinh không đều, Mi-xu viết rằng cô ta làm ở xí nghiệp dược phẩm và người ta không cho về trước khi hết giờ làm việc.
“Chẳng lẽ ở trường đại học cũng có người hâm mộ Va-cai-a-ma Xe-xu-cô? Chủ nhật vừa rồi tôi xem phim “Những đỉnh núi xanh” có chị ấy đóng. Tuyệt thật. Tôi nhớ được bài hát trong bộ phim ấy và thường vừa làm vừa hát. Ngoài Xe-xu-cô ra, trong số các diễn viên mới tôi còn thích Xu-ra-ta Cốt-di”.
Vô số lỗi chính tả trong thư làm cho đến Na-ga-xi-ma cũng phải bò ra cười.
- Cậu vừa đào đâu ra được cô công chúa này thế? - Anh ta vừa cười vừa hỏi. - Ôi chàng “rùa”!.
Trong kho tiếng lóng của sinh viên hồi bấy giờ, “rùa” ám chỉ những chàng sinh viên dễ tính không đòi hỏi cao, còn “thỏ cái” là đối tượng tán tỉnh của anh ta, và như vậy tình yêu của họ cũng giống như việc rùa đuổi theo thỏ.
- Im đi! - Tôi tức giận hét lên. - Cậu thì đến một đứa như vậy cũng chẳng có!.
Nhưng, ngồi ngửi đến thỏa thuê cái mùi hôi thối bay ra từ khu nhà vệ sinh bên cạnh, tôi nhớ lại câu chuyện với Na-ga-xi-ma và cảm thấy kinh tởn đối với cả chính mình.
Ngày làm việc kết thúc vào năm giờ. Một đám đông từ nhà ga đổ ra, tản về mọi phía, nhưng vẫn chưa thấy cô gái nào giống nhu Mô-ri-ta Mi-xu.
Một chiếc xe quảng cáo dừng lại ở phía bên kia đường tàu, và một người đàn ông cao lớn bắt đầu quay những đĩa hát mới đang được ưa thích.
Tôi quyết định sẽ về nhà nếu cô ta không đến vào chuyến tàu sau.
“Trời phạt mày đấy. Thế mới đáng đời. cũng đòi đi làm nhân tình nhân ngãi”. - tôi thầm rủa mình.
Vừa lúc đó có hai cô gái nhìn quanh tìm kiếm, đi đến chiếc xe quảng cáo và hỏi người đàn ông cao lớn một điều gì đó. Khi ông ta chỉ về phía tôi, tôi hiểu ngay rằng một trong hai cô gái kia là người tôi đang chờ. Có thể, đó là cô đang đứng sau lưng bạn? Cả hai cô đều ngượng - điều này có thể thấy qua nét mặt của họ và qua việc họ cứ đẩy nhau đi lên phía trước.
- Cậu hỏi anh ta đi, - cô gái có hai bím tóc buông thõng trên vai như một nữ sinh trung học, thì thầm. Cô ta thấp lùn, vai rộng.
- Tự mình hỏi lấy!
Cả hai đều ăn mặc như những cô gái công nhân ngoại ô Tô-ki-ô: áo ngoài màu da cam và váy đen giống nhau. Thường thường, những cô gái này thích đi đến các chỗ chơi bi-a và bắn bia. Họ đi xem phim vào các ngày chủ nhật, khi vé bán rẻ hơn, và cuối buổi chiều, cẩn thận gấp những tờ quảng cáo chương trình còn thơm mùi mực in, mang về nhà.
“Mình xuống dốc quá”, tôi thầm kêu trong đầu.
Nhưng nếu đã thế, tôi sẽ cố không chịu thiệt, sẽ chọn lấy cô khá hơn.
Có lẽ người cao trông cân đối hơn. Cô ta có chiếc mũi xinh xắn, và nói chung, có vẻ hấp dẫn hơn
- Ai trong số các cô là Mô-ri-ta Mi-xu? Em à?
Tôi đã nhầm. Mô-ri-ta Mi-xu hóa ra là cô gái thấp lùn có đôi bím tóc sau lưng.
- Nhưng tại sao em không đến một mình?
- Nó rủ em cùng đến với nó. Nhưng em đã bảo với nó rằng em không nên đi, - cô gái người cao nói vẻ giận dỗi.
Tất nhiên, ngay từ đầu tôi đã hiểu rằng không phải để đi gặp một cô tiên giáng thế tuyệt trần nào, mà là một cô gái mà Na-ga-xi-ma hoàn toàn có căn cứ để cười nhạo. Nhưng bây giờ, khi đã gặp cô ta, tôi cảm thấy mình đáng thương đến nỗi…Dường như tôi không tìm thấy tên mình trong bảng danh sách những người được vào đại học, mặc dù trong thâm tâm, mặc dù trong thâm tâm, tôi vẫn hiểu rằng mình không trúng tuyển.
- Mi-xu, tớ về đây.
- Cậu sao thế! Cậu ở lại với bọn tớ đi - Mi-xu luống cuống nắm lấy tay bạn.
Cô ta gạt tay Mi-xu, và nhìn tôi với vẻ không thân thiện, chạy theo những bậc thềm đá xuống sân ga.
Lại một đoàn tầu ầm ầm chạy qua trên đầu chúng tôi. Bụi bốc lên mù mịt che kín đôi chân ngắn ngủi của Mi-xu thòi ra chiếc váy may theo mốt đã cũ. Đôi tất dài màu nâu nhạt kéo không căng gợi lên trong tôi một cảm giác khó chịu.
- Làm sao bây giờ? I-ô-cô bỏ em đi rồi, - cô gái nói lí nhí, lấy mũi giầy di di trên mặt đất.
- Việc gì mà em lo lắng thế? Chẳng lẽ em chưa bao giờ gặp đàn ông à?
- Anh bảo sao! Anh bảo sao! Em…
- Thế em đi xem phim cũng một mình à?
- Không, với I-ô-cô, - cô ta nở một nụ cười hiền lành nhưng đồng thời hơi đần độn - Những ngày nghỉ chúng em bao giờ cũng đi cùng nhau.
Tôi không còn có thể đứng thêm lấy một phút cạnh khu vệ sinh, nên bỏ đi ra khỏi sân ga. Cô gái, như một cô gái ngoan ngoãn bước theo sau. Tôi không còn có thể đứng thêm lấy một phút cạnh khu vệ sinh, nên bỏ đi ra khỏi sân ga. Cô gái, như một cô gái ngoan ngoãn bước theo sau.
- Chúng ta đi đâu đây?
- Rồi em sẽ biết. Nhưng đừng có ngạc nhiên đấy, - tôi nói, nhớ lại lời khuyên của Kim: “Hãy nói đủ mọi thứ linh tinh. Xong hết”.
Mọi thứ linh tinh! Tôi cảm thấy thương hại mình, tiếc thời gian đã bỏ ra để chờ cái cô gái xấu xí ấy với bộ mặt đền độn này.
Nhưng bỏ cô ta đi - không hiểu sao tôi cũng không thể.
Trời bắt đầu tối. Kết thúc một ngày làm việc, những con người cau có xô đẩy chen chúc nhau vội vã về nhà.
Mô-ri-ta Mi-xu gắng hết sức để không tụt lại sau. Thấp lùn, vai rộng, cô ta cố theo kịp tôi, bước những bước quá dài, người lắc lư trông rất khó coi, không ra dáng con gái.
Chúng tôi đi ra một quảng trường rộng. Đâu đâu cũng thấy từng cặp đi dạo. Trời khá lạnh, nhưng trên sống mũi Mi-xu lấm tấm mấy giọt mồ hôi nhỏ.
- Em chưa bao giờ đến những chỗ đông người như thế này cả. Thế còn anh?
- Đến rồi. Anh thường bán vé sổ xố ở đây. Nếu anh không làm thêm, thì không thể nào học ở trường đại học được.
Tôi ngần ngại nói ra sự nghèo khổ của mình, vì tôi hiểu rằng đang quan hệ với ai. Tìm cách để gây cảm tình với một cô gài thộn thế này thì quả là đáng buồn cười.
- Anh phải đi làm thêm à?
- Ừ. Cần cả tiền ăn uống và tiền học. - Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ cô ta nhìn tôi bằng một cái nhìn hết sức thông cảm. Rồi dừng lại, cô ta cho bàn tay nhỏ bé của mình vào túi chiếc áo khoác ngoài rẻ tiền.
- Có chuyện gì thế?
- Anh đã trả tiền vé tàu điện cho em, giờ em trả lại.
- Đừng vớ vẩn nữa!
Ngọn đèn báo hiệu ngã tư bật màu xanh, và mọi người vội vã đi qua đường, sang phía rạp chiếu bóng. Hoàn toàn không để ý đến những người xung quanh, Mi-xu nói rất to.
- Anh đừng tiêu phí tiền như thế. Để em tự trả cho em. Em tự trả lấy. Em và I-ô-cô mỗi đứa tự trả tiền vé cho mình khi đi xem chiếu bóng.
- Thế em có mang theo tiền không?
- Bốn trăm yên.
Bốn trăm yên. Nhiều gấp hai của tôi.
Tôi mượn của Na-ga-xi-ma một trăm, tôi cũng có một trăm nữa, nhưng không muốn tiêu chúng đi.
- Tuy em là con gái nhưng cũng có khá nhiều tiền đấy. Một tháng em làm được bao nhiêu?
Mi-xu khoe lương tháng của cô ta gần ba trăm yên, nhưng đôi khi nhiều hơn vì thiếu công nhân. Mi-xu giúp những người đóng gói, và vì vậy được nhận thêm. Cô ta cùng sống trong một phòng với I-ô-cô.
- Quê em ở đâu?
- Ca-va-cô-xi. Anh nghe thấy bao giờ chưa?
- Chưa. Có hay về nhà không?
Mặt nhăn lại buồn bã, Mi-xu lắc đầu. Có lẽ ở nhà cô ta có chuyện gì không hay.
Trong những năm tháng đó chúng tôi thường hay đến quán ăn: “Tiếng ca đêm”. Bây giờ nó đã bắt đầu tàn tạ đi, chớ hồi đó còn khá. Ban ngày trông có vẻ xấu xí, nhưng tối đến, khi trong phòng đèn nến đốt lên, những bóng mờ nhảy múa trên tường, cuộc sống ở đây trở nên sôi nổi. Bên ngoài bị một cây chắn ngang, quán ăn này trông giống như túp lều ở miền núi. Một người đàn ông mặc áo sơ mi Nga phục vụ khách hàng, mỗi lúc rỗi lại hát những bài hát Nga, tự đệm cho mình bằng đàn gió. Quán rượu này, cùng với “Dưới đáy” ở Xin-du-cu và “Địa linh” ở Xi-bui-a là những chỗ sinh viên rất thích đến.
Có lẽ đây là lần đầu tiên Mi-xu vào một quán ăn như thế này - mặc dù nó hoàn toàn không lấy gì làm sang trọng, vì mới bước qua chân cửa, cô ta đã giật lùi lại, hệt như gã chăn lợn đột nhiên thấy mình ở trong cung điện nhà vua.
- Ở đây có lẽ đắt lắm, - Mi-xu giật giật vạt áo tôi.
- Ừ… Tất nhiên! Nhưng em có bốn trăm yên cơ mà!
- Chừng ấy có đủ không? Nếu thế chỉ để lại vừa mua vé thôi.
Tôi biết rằng ở đây chỉ cần một trăm đồng yên là đủ, nhưng im lặng không nói gì.
- Đây đều là sinh viên cả à?
Mi-xu lúng túng nhìn những thanh niên mặc áo bờ-lu đen và những cô gái đội mũ bê-rê, miệng ngậm thuốc lá. Đây là đám thanh niên văn học và nhà hát, thích tụ tập lại để triết lý. Tôi không thể chịu được họ, những kẻ luôn mồm nói về thứ vật chất cao siêu, về chủ nghĩa hư vô, chủ nghĩa hiện sinh, trong khi đó dưới chiếc áo bờ-lu hợp mốt kia là những mớ rẻ lót bẩn thỉu, chân đi những đi tất rách nát, hôi hám.
- Tất cả họ đều là sinh viên phải không anh?
“Ôi cái con thộn này!” - tôi nghĩ thầm.
Một trong những kẻ đáng ghét kia ngồi xuống bực cầu thang gỗ dẫn lên tầng hai và bắt đầu chơi đàn gió. Một người nào đó cất tiếng hát, nhũng người khác bắt theo. Ai cũng cố tỏ ra mình là một tay ăn chơi ngang tàng, dường như đám sinh viên, bằng cả con người, bộ dạng của mình của mình muốn chứng tỏ rằng họ có quyền vui chơi theo ý muốn họ thích, và điều đó có nghĩa là cuộc sống thật sự. Nhưng dù sao vẫn có một cái gì đó bàng quang hờ hững ẩn trong nét mặt của họ.
- Em biết bài này không?
- Không.
- Bài “Xe tam mã”. Một bài hát Nga đấy.
- Em chưa nghe thấy bao giờ, - Mi-xu lắc đầu ra vẻ có lỗi. - Em chỉ mới hết trung học thôi.
- À - à. Thế thì đến đề nghị họ hát cho nghe bài “Những đỉnh núi xanh” đi, - tôi nói chọc.
Mi-xu cụp mắt nhìn xuống đất và nhăn mặt.
- Có việc gì thế?
- Ờ, ờ… ờ… ở đây có nhà xí không?
- Buồng vệ sinh à?
- Vâng ạ, - Mi-xu thở dài thật to, lôi từ trong túi áo khoác ra một tờ giấy vệ sinh.
Cuộc hẹn hò của chúng tôi bắt đầu cạnh khu vệ sinh, và bây giờ, chưa kịp ngồi vào bàn, cô ta lại nhắc đến nó.
“Một cặp hôi thối”, - một ý nghĩ bực bội thoáng qua trong đầu tôi.
Mi-xu đi khỏi, tôi rút thuốc lá ra châm lửa hút. Vừa lúc đó có người vỗ nhẹ lên vai. Tôi quay lại và thấy có một thanh niên đội mũ lưỡi trai thoa dầu va-de- lin, mốt của thời bấy giờ.
Đó là I-đô-ga-va, sinh viên cùng trường với tôi.
Người tái xanh, đeo kính không gọng, anh ta thuộc vào loại người bao giờ cũng ở trong tâm trạng sảng khoái.
- Cắn câu rồi à, anh bạn?
- Có việc gì thế?
- Tớ biết rằng anh bạn với cô bé… - anh ta giơ ngón tay ra dọa.
- Đừng có đùa ngu ngốc nữa! Tớ mà đi mất công với cái thứ… - tôi nhún vai đáp.
- Mất công để làm gì? - I-đô-ga-va nói bằng gọng mũi. - Cho nó uống một ngụm cốc-tay (rượu thập cẩm), thế là xong ngay.
Trong quán này người ta bán với giá tám mươi yên một chai cốc-tay gồm rượu vốt-ca và nước ga. Nó dễ uống, và cô gái ít kinh nghiệm thường hay mắc bẫy: chỉ cần một cốc, họ sẽ nhanh chóng say và không còn kiểm soát được mình nữa.
- Để tớ gọi cho, - I-đô-ga-va và bật ngón tay, gọi bồi bàn.
Khi Mi-xu quay lại, trên bàn đã có hai thứ rượu đựng thứ chất lỏng trong suốt. Bây giờ thì tôi hiểu rằng lúc đó cần phải nói với cô ta “Đừng uống”, nhưng I-đo-ga-va đứng nhìn về phía chúng tôi và mỉm cười, còn tôi thì lại ngại cái gã trắng trợn này. Anh ta sẽ cho rằng tôi sợ cả một đứa con gái như thế kia và đem điều đó đi ba hoa khắp trường. Thực ra, ở một nơi nào đó sâu kín trong lòng tôi có vang lên tiếng nói của lương tâm, nhưng nó bị một giọng khác át mất: “Thế mày là thằng người như thế nào đấy? Có phải mày sinh con đẻ cái với nó đâu! Chỉ thử một lần thôi thì có thể…”
- Cái gì đây? - Mi-xu mỉm cười tin cẩn, hỏi tôi.
Tôi im lặng rồi nhìn Mi-xu uống cạn cốc rượu như một uống một cốc nước chè.
- Chưa bao giờ em uống một thứ rượu vang nào như thế này. Hàng nhập khẩu phải không anh? Chắc là đắt tiền lắm?
- Tất nhiên là đắt, nhưng em đừng lo.
Mặt Mi-xu đỏ bừng lên, và cặp môi dầy của cô ta hé mở ra trông rất đần độn.
- Ở đây thích thật. Nếu I-ô-cô cùng đi với chúng ta, chắc nó phải tha hồ mà trầm trồ.
Mi-xu nói đã líu cả lưỡi. Ngồi trong góc của mình, I-đô-ga-va lại nháy mắt với tôi. Tiếng đàn gió lại vang lên. Một ông già râu rậm đội mũ bê-rê vừa đi vừa nghiêng đầu chào hết bàn này sang bàn khác.
- Giá họ hát bài “Những đỉnh núi xanh”…
- Còn phải nói, - tôi lầu bầu.
Ông già đến cạnh bàn chúng tôi, cầm lấy tay Mi-xu và thì thầm gì đó vào tai cô ta.
- Để cho cô ấy yên, - tôi hét lên. - Ông có bước đi không?
- Cứ để cho ông ta nói. Ông ơi, cháu sẽ trả tiền cho ông.
Ông già này làm nghề bói toán, chủ yếu là xem chỉ tay, ở các quán của Xi- bui-a và “Tiếng ca đêm”. Ông ta nói tất cả những gì vớ vẩn hiện ra trong đầu, nhưng có một câu làm tôi nhớ mãi. Ông ta nói rằng Mi-xu sẽ bất hạnh vì cô ta hay thương kẻ khác.
- Cháu là người quá tốt bụng, cô gái ạ, quá tốt. Và vì vậy bao giờ cháu cũng phải trả giá cho điều đó. Hãy cẩn thận, không đàn ông họ sẽ lợi dụng và mang hại cho cháu.
- Vớ vẩn! - Tôi phá ra cười. Mi-xu cũng cười rất to.
- Sau vài năm nữa cháu sẽ gặp một điều bất hạnh mà bây giờ cháu không thể tưởng tượng ra được.
Nhưng đó là cái gì, cuối cùng rồi ông già vẫn không nói ra.
Nhận tờ giấy hai chục yên rút từ trong chiếc ví đỏ của Mi-xu, ông già cúi chào rồi đi sang bàn khác.
Mi-xu đứng không vững nữa. Miệng hơi hé mở ra trông đần độn, cô ta tựa vào vai tôi, lảo đảo xuống thềm nhà.
I-đô-ga-va đang đứng ở phía dưới đường.
- Chúc một đêm hạnh phúc.
- Cút mẹ cậu đi!
Nhưng tôi đã nghĩ trước là mình sẽ đưa Mi-xu đến nơi nào.
Tôi đã từng đến làm thuê ở vùng này và biết rằng cách đây không xa, trên sườn đồi, cạnh đề-pô xe điện ngầm, có một phòng trọ, mà, nếu tin theo lời quảng cáo treo ở cửa ra vào, có thể qua đêm với giá một trăm yên.
Các cửa hiệu đã vắng khách mua. Người bàn hàng với bộ tóc chải sáp mượt vừa huýt sáo vừa đóng cửa. Trong một góc tối ở cuối phố vẫn còn quầy bán sách và tạp chí. Trên bìa một tạp chí có ảnh cô gái trẻ khỏa thân, hai tay đặt sau đầu. Mấy người đàn ông với ánh mắt sáng rực như lên cơn sốt đang đứng ngắm nghía.
Phía trước chúng tôi, một người đứng mang mấy tấm bảng quảng cáo ở trước ngực và sau lưng. Những tờ quảng cáo mời mọc mọi người đến một tiệm rượu, nơi đàn ông và đàn bà chỉ được vào theo từng đôi. Người quảng cáo cười với chúng tôi, nhưng khi tôi và Mi-xu đi ngang qua, ông ta lầu bầu một cái điều gì đó không rõ.
Một chiếc xe hòm bán khoai tây ngọt ầm ầm chạy ngang qua. Khoai tây được chế biến tại chỗ ngay trước mặt khách hàng.
“E-nô-cân…”
Tôi bỗng buồn rầu nhớ lại hôm đi dán những áp-phích của Kim. Có vẻ như tôi phản đối việc lừa bịp trắng trợn như vậy, nhưng chính tôi đã phân phát các tờ áp-phích đó cho những người nông dân.
Ở đó, họ không sợ khi viết E-nô-câu thay cho E-nô-cân, còn tôi, tôi sợ lừa dối cô gái này. Ánh đèn Xi-bui-a hiện ra mờ mờ, thấp thoáng phía xa… “Nghĩ cho cùng, tất cả mọi người đều lừa dối lẫn nhau, và thậm chí không ai muốn tìm hiểu xem đâu là sự thật, đâu là giả dối”.
- Anh yêu em. - nhìn chằm chằm về phía ánh những đèn Xi-bui-a, tôi nói như đang đọc một công thức toán học đã thuộc lầu.
- Chúng ta đi đâu thế này? - Mi-xu nói như thể không nghe thấy những lời của tôi. - Đây là ga Xi-bui-a à?
- Không, nhưng chúng ta cần phải ghé vào đây.
- Em phải về rồi, bà chủ nhà không cho em vào nhà muộn đâu.
- Việc gì mà em phải lo. Còn sớm lắm!
- Anh đã trả tiền cho em ở quán ăn, em sẽ trả một nửa. Vì…
- Vì cái gì? …
- Vì anh đã tiêu quá nhiều rồi. Có thể anh không còn để cho ngày mai nữa.
Mi-xu thò tay vào túi và im lặng chìa ra tôi tờ giấy một trăm yên nhàu nát.
- Không cần đâu.
- Không, không anh cầm lấy đi. Em còn tiền mà. Em còn có thể làm thêm. Em sẽ ở lại trực đêm, giúp những người đóng gói thế là sau năm ngày em sẽ có được năm trăm yên. Anh đừng lo, em…
Trong giọng nói của Mi-xu vang lên một cái gì như sự lo lắng chăm sóc của người mẹ. Thuở bé, mẹ tôi cũng nói với tôi như vậy.
Trong thời gian chiến tranh - lúc đó tôi học trung học - kiếm được miếng ăn khá gay go. Mỗi lúc ăn, mẹ tôi thường nhịn, bỏ vào bát chúng tôi phần của mình. Nếu chúng tôi từ chối, mẹ dỗ dành dịu dàng, và đôi lúc sự kiên nhẫn dai dẳng của mẹ làm tôi khó chịu.
Nhưng nhớ lại điều đó, tôi vẫn không ngượng ngùng nhét tiền của Mi-xu vào túi áo mình.
Một nhân viên đường sắt cầm ngọn đèn hiệu màu xanh đi qua đường. Từng đợt gió mang đến tiếng chủi rủa say rượu từ ngôi nhà khách sạn trung quốc nằm ở dưới chân đồi.
Trên đường phố I-a-ma-ta - đường phố của những khách sạn, quán trọ đêm - hoàn toàn vắng vẻ, im lặng. Khuya hơn tí nữa ở đây sẽ xuất hiện những người đàn ông đàn bà say rượu, nhưng bây giờ hãy còn chưa có ai.
Tôi nắm chặt trong tay tờ giấy bạc một trăm yên, mà, tôi biết, đủ để thuê một căn buồng nhỏ trong hai giờ ở quán trọ.
- Ta vào chứ?
Trong sân nhỏ, mấy cây tre mọc sát ngay trước cửa nhà, một vài hòn đá tảng nằm lẫn giữa bãi cỏ xanh. Qua cánh cửa để hở có thể trông thấy những đôi giầy đàn ông và phụ nữ đứng thành từng cặp trong hành lang.
- Ồ - ô - ô! - Mi-xu ngạc nhiên bước lùi lại.
- Em sao thế? - Tôi cầm lấy tay Mi-xu và kéo về phía mình. - Anh yêu em.
- Không… không… em sợ.
- Sợ cái gì? Anh đã nói là anh yêu em mà. Anh mến em, vì vậy mà anh mới đi cùng em đến hiệu ăn, và bây giờ anh không thể xa em được nếu chưa…
- Em sợ lắm.
Tôi cố ôm lấy người Mi-xu và chạm tay vào bộ ngực bé nhỏ của cô ta. Cô gái bỗng bất ngờ đẩy mạnh tôi ra. Nhưng tôi lại kéo cô ta đến gần, áp mặt vào tóc cô ta và vội vã thì thầm những lời từ lâu dồn nén trong tôi tích tụ như trong hầm lò. Những lời xa lạ, bẩn thỉu, khêu gợi nhục dục.
- Anh yêu em. Anh yêu em… anh muốn yêu em hết mình… anh yêu cả người em… không có gì phải sợ cả… Sẽ không có gì đáng sợ cả đâu. Em không tin anh sao? Không à? Thế thì tại sao em lại hẹn anh đến? Tại sao? Có thể anh làm cho em khó chịu kinh tởm? Em không thích anh ôm em à? - Tôi nói tất cả những gì đàn ông vẫn nói với đàn bà những khi không yêu nhưng lại muốn quyến rũ họ. - Sao em? Thế nghĩa là anh làm em kinh tởm chứ gì?
- Không, em mến anh, em…
- Thế làm sao em chứng minh được điều đó? Với bọn sinh viên các anh, bằng lời nói chưa đủ bọn anh nghe chúng đã chán rồi. Còn tình yêu? Thí dụ, có một nhà triết học nói rằng chỉ có kẻ ích kỷ mới không hiến mình trọn vẹn cho tình yêu.
Những lời cuối cùng tôi ứng khẩu bịa ra. Giá như nhà triết học nọ nghe được những lời ba hoa của tôi!
- Thứ nhất, việc sợ mất trinh bây giờ bị coi là một quan niệm đã quá lỗi thời đối với cuộc đời. Ngày nay các cô nữ sinh viên tự nguyện đi làm việc đó. Những người đàn bà khác lạc hậu so với sinh viên thì họ không thể từ bỏ được những định kiến cũ kỹ hủ lậu. Chẳng lẽ ở trường trung học người ta không nói với các em chuyện đó à?
- Không. Nó khó hiểu lắm.
- Tất nhiên. Ở trung học nói những chuyện đó còn hơi sớm. Nhưng ở đại học… Em có nghe nói tới phong trào giải phóng phụ nữ chưa? Để đàn ông và đàn bà bình đẳng, cần phải vứt bỏ hết mọi sự xấu hổ, nếu giữa họ xuất hiện dấu hiệu của tình yêu. Người ta dạy bọn anh như vậy đấy. Em có hiểu những điều anh nói không?
Nhìn chằm chằm vào mặt tôi, Mi-xu ngơ ngác gật đầu.
- Anh nói rằng cần phải xử sự khác đi. Hãy vứt bỏ những định kiến hủ lậu. Ta vào nhà này đi. Có thể lúc đầu em cảm thấy hơi sợ một tý. Nhưng, như một người nào đó nói, không thể có sự tiến bộ nào mà không kèm theo mạo hiểm.
Ôi những nhà triết học tội nghiệp! Nhưng cũng cần tìm cách sử dụng những kiến thức mà chúng tôi nhận được của các giáo sư chứ. Nói cho cùng, không lẽ tôi tiêu phí mà tôi phải chạy đi làm thuê để kiếm được. Nhưng than ôi, những “đoạn trích dẫn” từ các công trình khoa học kia gây được ấn tượng mong muốn đối với cô gái công nhân này.
- Thế nào, em đi không? - Tôi cầm lấy tay Mi-xu. Nhưng cô ta, như một con sư tử con, ra sức kéo lại.
- Không, đi về nhà thôi. Em van anh, đi về nhà thôi.
- Về nhà à? - Tôi hét tướng lên. - Thế này là thế nào? Tự cô hẹn tôi đến, đến thì cô lại đòi về nhà! Thế đấy, đồ… Tôi nói phải trái với cô mà cô cứ một mực cứng cổ như con lừa… Thôi được. Tùy cô. Tôi đi đây.
Và bước những bước dài, tôi đi dọc theo phố xuôi dốc. Tôi cáu điên người lên vì đã tiêu phí mất bao nhiêu thì giờ. Mà với ai mới được chứ? Nếu đây là một cô gái đáng giá thì đã đành. Nhưng tôi cáu kỉnh không phải chỉ với Mi-xu, mà cả với những nhà triết học, những giáo sư. Những bài giảng của họ tỏ ra vô tích sự!
Một cơn đau đột ngột nhói lên ở lưng và vai phải của tôi. Có lẽ lại bắt đầu cơn động kinh mà đã nhiều lần tôi mắc phải kể từ sau khi bệnh bại liệt. Mỗi khi quá mệt hoặc xúc động mạnh, bao giờ tôi cũng bị những cơn đau nhói như vậy.
Vừa lên cơn đau và cảm thấy Mi-xu chạy theo sau tôi không nhìn lại, tiếp tục rảo bước. Cô ta đuổi kịp tôi và vừa thở vừa hỏi:
- Anh giận à?
- Tất nhiên.
- Anh sẽ không đến nữa à?
- Thì còn làm sao nữa? Chính cô muốn tỏ ra cho tôi biết là tôi không cần thiết cho cô….
- …
- Nhưng nếu cô không thích đi với tôi, tôi cũng chẳng bắt buộc…
- Anh… em… Nhưng em không muốn đến đó.
- Nếu thế thì xin chào! …
Chúng tôi đi xuống chân đồi. trong hiên nhà của một tiệm ăn Trung Quốc, hai người đàn ông mặt đỏ bừng vì rượu đang ngốn ngấu ăn một bát gì đó.
- Anh không muốn gặp em nữa à?
- Không.
Cơn đau, mỗi lúc một buốt hơn, bỗng nhói vào sau lưng tôi. Tôi buột miệng kêu lên, tay ôm lấy vai phải.
- Anh làm sao thế? - Mi-xu ngạc nhiên và sợ hãi nhìn thẳng vào mắt tôi
- Không sao cả. Thời bé anh bị bệnh bại liệt. Em thấy đấy, vai phải anh bị thõng xuống. Thêm vào đó, anh lại bị thọt nữa. Vì vậy con gái không yêu anh. Anh, một thằng tàn tật, cần cho ai? Chưa có ai yêu anh cả… Hừ - ừ - ừ… cả em nữa, cũng như những người khác…
- Anh thọt à?
Ánh sáng chập chờn của những ngọn đèn đường dọi thẳng xuống mặt Mi- xu: cô ta nhìn tôi với vẻ thông cảm. Tội nghiệp, cô ta thực sự tin vào tất cả những lời nói của tôi.
- Vâng, tôi ốm yếu. Tôi tàn tật. Vì vậy con gái không ai yêu tôi cả. Vì vậy mà cô cũng quay mặt đi… Tôi biết…
Bỗng nhiên, hai bàn tay nhỏ bé của Mi-xu nắm chặt lấy những ngón tay tôi.
- Ôi, em thương anh lắm!
- Tôi không cần phải thương.
- Thế nghĩa là anh chưa đến đây lần nào cả à? - Tất nhiên. Ai đến đây với một đứa tàn tật nghèo khổ? Và đấy, hôm nay… Anh nghĩ ra rằng em… Ôi thằng ngốc…
Lúc đó tôi chỉ cáu kỉnh và hoàn toàn không nghĩ gì về những điều đó. Nhưng chính những lời giả dối này, những lời không xứng đáng cho cả một bộ phim tồi nhất, đã tác động đến Mi-xu mãnh liệt.
- Nhưng … nếu thế… nếu thế… thì… thì ta vào đi…
Nhưng … nếu thế… nếu thế… thì… thì ta vào đi…
Một đoàn tàu phanh rít lên ken két chạy theo đường phụ vào đề-pô. Mấy người say rượu ngồi trên hè của một quán giải khát nheo mắt nhìn chúng tôi.
Mi-xu ngập ngừng bước theo tôi, đầu cúi thấp, và trong vẻ mặt của cô ta có một cái gì trẻ con, yếu đuối, bất lực.
Thật là lạ, nhưng sự ham muốn của tôi bỗng biến mất.
Thay vào đó, trong người tôi xuất hiện một sự thương hại mà từ trước tới nay tôi không hề có. Cả một cái gì như lòng hối hận nữa.
Tôi xuống dốc quá chừng! Chỉ có kẻ đểu cáng nhất mới lỡ lợi dụng những tình cảm của một người bất lực yếu đuối như thế kia để thỏa mãn dục vọng của mình.
- Hừm… Nhưng cô nghĩ lại có quá muộn không đấy? - Tôi vẫn tiếp tục đóng cái vai cũ.
- Anh vẫn còn giận à? Anh tha cho em.
- Đủ rồi! cô làm tôi chán ngấy lên rối. Tôi không còn muốn đi đến đó nữa.
Nói xong, tôi bước nhanh theo lối đi bộ nhỏ hẹp về phía nhà ga. Mi-xu, như một con chó, thất thểu đi theo tôi. Một người đàn ông vấp phải cô, buông ra mấy câu chủi tục. - Đợi em với. Em thở không ra hơi nữa.
- Cái gì?
- Anh bước đi như lính ấy. Đến sân ga, tôi đi chậm lại. Mi-xu thở hổn hển, mặt cô tái xanh, mồ hôi đọng trên sống mũi thành giọt. - Thế nào, tim cô đau à?
- Không, bao giờ em cũng ra mồ hôi như vậy.
- Hừm…
- Anh tha cho em. Em có lỗi, nhưng thực ra em không muốn làm anh giận.
Trên sân ga gió thổi mạnh. Những cô gái làm ở quán ăn đêm, vừa hết giờ làm việc đã chạy rất nhanh - đến nỗi bùn không kịp rời ra khỏi giầy của họ - xuôi theo bờ dốc ngọn đồi để xuống sân ga. Nếu như lúc đó tôi hiểu được vì sao họ lại vội vã như vậy, có lẽ tôi cũng hiểu được cả Mi-xu đang đứng trước mặt tôi: Mỗi người trong bọn họ ở nhà đã có chồng, con, tình yêu, hạnh phúc gia đình đang chờ đợi… Còn Mi-xu…
- Em phải làm gì bây giờ? Đèn quảng trường cạnh ga đã tắt hết, chỉ còn cửa sổ hai, ba nhà còn sáng. Cạnh một cửa sổ như vậy, một ông già mặc bộ quần áo cứu quốc quân màu xanh rách tả tơi như bù nhìn đuổi chim đang đứng ôm hòm gỗ quyên bố thí.
Mi-xu chạy đến chỗ ông già.
- Thôi đi, ông ta chẳng bán gì đâu. Giả danh đi quyên góp, nhưng thực ra được bao nhiêu ông ta đều chiếm riêng cho mình cả.
Nhưng Mi-xu đã mở chiếc ví đỏ của mình, rút ra đồng mười yên, bỏ vào hòm gỗ. Ông già rút từ túi vải bên sườn ra một hộp giấy đen nhỏ.
- Anh xem này, - Mixu giơ chiếc thánh giá bằng sắt rẻ tiền lên mỉm cười một cách ngớ ngẩn, cho rằng tôi cũng sẽ vui mừng với món hàng của cô ta. - Cho cháu thêm hai cái nữa. - Mi-xu lại ném thêm hai đồng mười yên vào hòm, và ông già, vẫn thản nhiên, chìa ra cho cô ta thêm hai hộp giấy màu đen.
- Em mua cái đồ vứt đi ấy làm gì?
- Em đánh mất lá bùa hộ mệnh của em rồi. Còn một thánh giá này em tặng anh.
- Anh cần cái của này lắm đấy!
- Anh cầm lấy đi. Nhất định nó sẽ mang may mắn đến cho anh. - Cô ta cố sức nhét hộp giấy vào tay tôi và toét rộng miệng ra cười.
- Thôi, đủ rồi, - tôi nhăn mặt. - Đi về nhà đi.
- Thế anh không giận em nữa chứ? Không giận thật chứ? Anh có muốn chủ nhật sau gặp nhau nữa không? Em có thể đến nhà anh…
Nghe những lời cuối, tôi nhăn mặt lại, và cô ta hiểu ngay rằng không thể làm được điều đó. Tôi hình dung ra Na-ga-xi-ma sẽ cười giễu tôi như thế nào - và cả những đứa bạn khác nữa, - nếu cô ả quê mùa này đến nhà tôi.
Cô ta đã làm cho tôi phát ngấy. Sau khi nói rằng tự tôi sẽ hẹn bao giờ gặp nhau lại, không chào tạm biệt, tôi sỗ sàng đẩy Mi-xu về phía nhà ga. Vừa đi, cô gái vừa ngoái nhìn tôi; khi cô ta khuất hẳn, tôi cảm thấy trong lòng một sự nhẹ nhõm.
Mệt mỏi và cau có, tôi chán ngán lê bước về nhà. Na-ga-xi-ma đang nằm, dải băng quấn ngang mũi, chăn kéo lên tận cằm.
- Thế nào?
- Cái gì thế nào? - Tôi lầu bầu, cởi quần dài, vội vàng chui xuống dưới tấm chăn ẩm. Hình như Na-ga-xi-ma còn muốn hỏi thêm một điều gì đó, nhưng tôi đã thụt đầu vào trong chăn, và anh ta đành thôi không quấy tôi nữa.
Hai ngày sau tôi đến gặp Kim. Tôi tin rằng mình đã chiếm được cảm tình của anh ta và hy vọng sẽ kiếm được một việc làm gì đó.
Kim vẫn ngồi chỗ lần đầu tiên tôi thấy anh ta. Gác hai chân lên bàn, anh ta đang say sưa ngoáy mũi.
- A, chào cậu! - Anh ta nhìn tôi chằm chằm và mỉm cười ranh mãnh. - Sao cậu lại vẫn cau có thế? Chắc lại cãi nhau với bồ?
- Tôi cần việc làm. Bây giờ không còn lúc nghĩ đến con gái nữa.
- Việc làm à? Hừm… thật ra thì cũng có thể tìm được, - anh ta nói, miệng nhai kẹo cao su.
- Anh biết đấy, tôi sẵn sàng làm bất cứ việc gì, nếu được…
- Tớ có một việc đặc biệt cho cậu. Nếu cậu làm tốt, tớ sẽ trả hậu. Hình như có lần cậu bảo rằng biết lái xe.
- Đúng thế.
- Tốt lắm.
Tôi lập tức đoán rằng việc chẳng phải đơn giản, một khi Kim đã rào đón trước tôi như vậy. Có thể là buôn lậu chẳng hạn? - Trong thời gian gần đây báo chí thường viết về những vụ người nước ngoài mang hàng buôn lậu qua Hồng- kông.
- Cậu làm người môi giới.
- Môi giới à? Thế có phải mang vật nặng không?
- Ôi đồ ngốc!
Kim phá ra cười đến nỗi làm bụi trên bàn tay sạch, rồi anh ta cầm lấy điện thoại, nói một tràng bằng tiếng Triều Tiên, cuối cùng kết thúc bằng tiếng Nhật:
- Tất cả sẽ ổn thỏa. - Và, đặt ống nghe xuống, nhổ miếng kẹo cao su trong miệng ra, nói: - Nào chàng sinh viên, đi thôi.
Chúng tôi bước ra đường phố lát đầy vàng của những chiếc là mùa thu. Những cô nữ sinh trung học mặc váy ngắn, tay sách cặp chạy ngang qua chúng tôi, miệng líu ríu một điều gì đó.
- Nếu không thích việc này, tớ có thể tìm cho cậu một việc khác.
- Việc gì?
- Chân tay, - Kim nhìn tôi từ đầu đến chân, - Nhưng theo tớ, việc này không hợp với cậu. Nó cần phải có sức khỏe và một số điều kiện khác nữa.
- Thế tôi phải làm những gì?
- Bám lấy bọn đàn bà người Mỹ. bọn chúng nhiều đứa điên lắm. Tớ sẽ làm quen cậu với một ả…
Bây giờ chẳng cần thiết kể lại những gì Kim thì thầm vào tai tôi lúc đó. Tôi cần phải đi lại gần gũi với một trong số những người đàn bà da trắng làm hộ lý trong quân đội chiếm đóng và sống tại các khách sạn ở Ca-đa.
Đi lại gần gũi với đàn bà? Chẳng lẽ đó chính là cái mà chiều qua tôi tìm cách để đạt được với Mi-xu?
- Không, việc này không hợp với cậu, - anh ta có vẻ tiếc rẻ nói. - Cậu nên làm người môi giới thì hơn.
Tất nhiên, tôi còn tiếc nhiều hơn Kim. Đời tôi xuống dốc đến thế là cùng! Anh ta đánh giá cái thể xác của tôi! Và tự tin, không nghĩ đến chuyện sẽ bị tôi phản đối, đề nghị với tôi một việc như vậy! Nhưng thực ra, Kim đã biết tôi là người như thế nào rồi.
Nghề môi giới - nó cũng lương thiện như nghề làm đĩ. Trên đời này có có nhiều người đàn ông không tự mình chiếm được trái tim đàn bà. Vì vậy, người làm nghề môi giới phải giúp đỡ những kẻ hèn nhát đó.
Có cái gì là không có ở Tô-ki-ô những năm sau chiến tranh!
Ban đêm, trong công viên U-e-nô, những người đàn ông mặc váy, trát phấn nem luốc, đi lang thang. Khắp nơi, những kẻ môi giới chạy đi chạy lại tìm khách hàng.
Nghề môi giới… Trước đây tôi chưa hề nghe là có nghề như vậy. Nhưng, bước theo kim, tôi hiểu rằng: chính tôi, bằng kinh nghiệm của chính bản thân mình, sẽ buộc phải tin điều đó - than ôi - không phải là điều bịa đặt.
Chúng tôi đi dọc theo theo một bãi tập cũ. Trước chiến tranh, ở đây là doanh trại của một sư đoàn cận vệ. Bây giờ những đường hào mọc lút đầy cỏ, sụp lở, đọng nước lầy lội. Gió thổi qua bãi tập bốc mù mịt. Thời đó, ở ngoại ô Tô-ki-ô có rất nhiều chỗ trở nên hoang tàn như vậy.
Những chỗ này là nơi những người làm nghề môi giới tiến hành công việc của mình, nhờ đó mà đĩ điếm và tình dục đồng giới tha hồ phát triển. Chiến tranh không chỉ tàn phá đất đai, mà cả tâm hồn con người.
- Ta đi đâu đây?
- Đến nơi rồi, - Kim hất đầu chỉ về phía trại lính trông giống như một dãy chuồng ngựa.
Ở đó, một người đàn ông mặc áo da đen đứng cạnh chiếc xe hơi cũ hiệu “Đát-tô-xan”.
- Cậu này là sinh viên. Muốn việc làm. Tôi biết cậu ta. Có thể tin tưởng được. - Kim vỗ nhẹ lên vai tôi.
Trên má phải của người đàn ông có một vết sẹo.
Ông chăm chú nhìn tôi.
- Anh biết lái xe không?
- Biết.
- Tốt lắm
Tôi học được nghề lái xe khi làm ở khu vực quân sự Mỹ.
- Đã lái xe như thế này chưa?
- Rồi.
- Thế này nhé, tôi sẽ ở đây đến tối. Trong thùng xe có một chiếc áo vét mới. Anh thay áo và khoảng mười giờ đến nhà hát “Hi-ga-xi-mi-a-cốt-da” ở Xun-da- cu. Ở đó, anh sẽ thấy một người đàn ông chừng năm mươi tuổi, để ria. Đó là khách hàng của anh. Tên ông ta là Ca-me-ta. Quản đốc xưởng của một nhà máy nào đó. Nhưng điều đó đối với anh không quan trọng. Hiện nay ông ta đang yêu một diễn viên múa. Vai trò của anh trong vở kịch này là: anh cần phải làm cho cô diễn viên kia tin rằng ông ta là một quản đốc của một nhà máy lớn.
- Nhưng tôi…
- Biết rồi, biết rồi. Anh giả đóng vai lái xe của ngài quản lý. Hãy cố đóng cho thật tốt. Rõ chưa?
- Rõ rồi.
- Ngày mai đưa xe đến đây và trả lại áo. Tạm thời trả cho anh ba trăm yên. Sau này tiền công sẽ phụ thuộc vào chính bản thân anh.
Chia tay với Kim và người đàn ông mặc áo da, tôi đi về nhà. Bước qua một con hào, tôi nhổ nước bọt xuống bãi nước bẩn.
“Giá bây giờ có được một ả thật kháu” - tôi nhớ lại những lời tôi và Na-ga- xi-ma thường nói khi nằm trên nệm nhìn trần nhà.
Nhưng hóa ra khát khao đó không chỉ có những chàng sinh viên nghèo. Chẳng lẽ khi tôi về già cũng sẽ cố tìm cách chiếm đoạt một cô diễn viên nào đó thông qua những người môi giới? Nhưng thực ra, việc này có liên quan gì đến tôi? Tôi cần việc làm, chẳng có gì phải bàn cãi ở đây cả.
Gần mười giờ tối, tôi ngồi vào chiếc “Đát-tô-xan” cũ kỹ, rời khỏi bãi tập, và theo lời dặn, đi đến nhà hát nổi tiếng “Hi-ga-xi-mi-a-cốt-da”. Nơi ngay sau chiến tranh đã cho ra sân khấu trình diễn những điệu thoát y vũ và những diễn viên múa khỏa thân.
Người đàn ông để ria đang đi đi lại lại chờ ở chỗ hẹn trước. Ông ta làm ra vẻ đọc báo, nhưng thực ra đang chăm chú nhìn bốn phía. Điệu bộ ông ta gợi lên trong tôi cảm giác vừa buồn vừa thương hại cùng lúc.
- Ông là Ca-me-ta?
- Vâng. Anh ở đằng ấy đến?
- Vâng đằng ấy.
- Đấy, như người ta nói, sự may mắn, - ông ta bối rối nói. Rồi rút ra từ trong túi một chiếc khăn mùi xoa rất sạch, xỉ mũi.
Một con người cẩn thận, - tôi nghĩ. - Cẩn thận và nhát gan. Có lẽ không bỏ việc một ngày nào. Hơn nữa lại là một người cha đứng đắn của một gia đình đứng đắn. Những ngày chủ nhật quây quần với vợ con, nằm trên đi-văng nghe đài, răn dạy con, buổi tối uống một trai rượu vang loại tốt.
Nhưng con người cẩn thận này một lần cùng với các bạn đồng nghiệp trẻ của phòng mình và… Cô diễn viên múa sẽ không thèm để ý đến một người đàn ông năm chục tuổi nếu ông ta không phải là quản lý hoặc giám đốc. tôi hình dung ra cảnh ông ta ghen tị nhìn viên quản lý của mình…
Sau khi học xong đại học, tôi cũng sẽ trở thành quản đốc phân xưởng một xí nghiệp hoặc nhà máy nào đó. Cuộc đời hiện ra với tôi vô dụng và kinh tởm.
- Gọi cô ấy ra chứ?
- Vâng, tôi nhờ anh.
- Tên cô ấy là gì?
- I-ne-ta.
Ở cầu thang và trong hành lang không có ai cả. Phía trên nghe có tiếng kèn. Một thanh niên mặc áo vàng đứng giở tập bản nhạc trước cánh cửa có đề chữ “Người lạ miễn vào”.
- Xin lỗi anh, có thể đề nghị chị I-ne-ta được không ạ?
- Anh cần chị ta để làm gì?
Tôi đưa cho anh năm điếu thuốc lá Mỹ mà Kim giao cho tôi, anh ta liền gật đầu, mở cửa:
- I-ne-ta, chị có khách.
Trong phòng thấp thoáng vô số những bóng người khỏa thân, một số diễn viên múa nữ đang đứng trên bàn ăn súp mì sợi, số khác, mặc váy đỏ trong suốt đứng hút thuốc lá, nói chuyện với nhau. Một cô gái tách ra khỏi đám mặc váy đỏ, vừa gãi chiếc mông trắng, vừa đi về phía tôi.
- Tôi nghe anh đây.
- Ngài quản lý… - tôi bắt đầu nói.
- Quản lý à?
- Vâng, ngài quản lý Ca-me-ta mời chị đi dùng bữa. Ngài đang chờ ở phía dưới.
Tôi gãi mông, cô gái mở to cặp mắt kẻ rất công phu:
- Cụ quản lý… - nhìn bộ mặt son phấn, không tỏ ra cảm xúc gì của cô ta, tôi nhớ lại nụ cười của Mi-xu.
- Ông ta đúng là quản lý thật à?
- Vâng, ngài ấy là cấp trên của tôi.
- Tôi sẽ ra ngay bây giờ.
Nháy mắt với chính mình, tôi đi xuống cầu thang với nụ cười thỏa mãn trên môi.
- Thế nào?
- Ổn cả. Nhưng đừng quên rằng ông là quản lý đấy nhé.
Tôi cho xe chạy từ trong góc phố ra, giúp Ca-me-ta đang luống cuống khi thấy I-ne-ta xuất hiện ngồi vào xe. Cô ta đã kịp khoác lên người một chiếc áo màu xanh loại rẻ tiền, vừa nhai kẹo cao su vừa lẩm bẩm một điều gì trong mũi.
- Thưa ngài quản lý, ngài ra lệnh đi đâu ạ? - tôi hỏi.
- Ờ - ờ - ờ…Ca-me-ta rặn trong cổ họng như thể bị chứng táo bón. Ngoài ra ông ta không thể nói gì thêm. Có lẽ tôi cần phải giải quyết lấy việc này.
- Ở các khách sạn “Xin-ki-ô” và “Xu-kít-đi” bây giờ đầy người. Hơn nữa có thể có người trông thấy ngài. Tôi nghĩ không nên đến đó.
- Ừ - ừ - ừ…
- Hay là ta đến “Xin-du-cu”. - Tôi quay lại phía cô gái. - Ngài quản lý thường đến “Xin-ki-ô” và “Xu-kít-đi” để bàn công việc, còn “Xin-du- cu” thì ít đến. Ở đó không ai biết ngài.
- Nhưng “Xin-du-cu” là …
- Tất nhiên đấy không phải là khách sạn sang trọng. Nhưng ngài quản lý dậy chúng tôi phải tiết kiệm và mình cũng giữ đúng nguyên tắc đó.
- Anh là lái xe của ngài Ca-me-ta à?
- Vâng đồng thời là thư ký.
Tôi đã nhập vai đến nỗi tự mình cũng tin vào những lời bịa đặt của chính mình. Nhưng liếc thấy trong gương bộ mặt của ngài Ca-me-ta đang ngồi bối rối cạnh cô diễn viên múa, tôi quay lại với thực tế: “Có lẽ ông ta cần một cốc để mạnh dạn hơn”.
Tôi dừng xe cạnh khu thủy tạ “Mu-xa-xi-nô”.
Từ đây xuống đến tận nhà ga, những quán ăn nằm áp sát vào nhau như những hộp diêm. Mùi dầu mỡ, mùi thịt rán bay đầy phố, những cô bồi bàn lớn tiếng mời gọi khách hàng.
- Ở đây cũng có thể dùng tạm được, thưa ngài quản lý.
Khi Ca-me-ta bước ra khỏi xe, tôi khẽ xô ông ta: Này đừng ngượng, hãy bạo lên. Ông ta lảo đảo, suýt ngã.
- Có nên tiêu phí ở chỗ này không? - Ông ta lo lắng hỏi.
- Đâu có! Ở đây chỉ cần trăm yên là đủ.
Tự tôi cũng đi vào một hiệu khác và gọi món thịt cá voi rán. Xong tôi ra ngồi vào xe, vừa ngáp vừa nhìn ra bốn phía, đợi những khách hàng đáng kính của tôi. Một lát sau. I-ne-ta chạy ra.
- Tai họa! Ngài quản lý say rồi!
- Thế thì hỏng hết mất!
Tôi không đợi sự việc lại chuyển hướng như vậy. Tôi vẫn phải bằng mọi cách thi hành đầy đủ nhiệm vụ của người mặc áo khoác da giao cho. Có khi nào tôi còn gặp may như hôm nay nữa không?
- Thưa bà kính mến, tôi muốn thưa với bà một chuyện. Ngài thủ trưởng của tôi đã mất trí vì bà đấy… Bà nên dịu dàng hơn với ông ta.
- Dịu dàng hơn?
Người đàn bà dướng đôi lông mày vẽ dài ra rất khéo nhìn tôi rồi phá lên cười. Trên má cô ta hiện lên mấy lúm đồng tiền.
- Thế anh không biết gì cả à?
- Tôi cần phải biết gì mới được chứ?
- Ôi, đồ ngốc. Chẳng lẽ Kim không nói gì với anh cả à?
- Kim? Sao lại Kim ở đây?
Cô gái lại phá ra cười. Những điều cô gái sau đó kể cho tôi nghe, thật ra mà nói, không phải là điều bất ngờ đối với tôi. Tôi cũng đã ít nhiều đoán ra rằng giữa Kim, người mặc áo da và cô gái này có một sự liên hệ nào đó, nhưng không nghĩ rằng vở diễn của họ lại chặt chẽ đến vậy. Tự bản thân các cô gái không tiện - và cũng khó - kiếm đựoc khách hàng. Nhưng phái một làm nghề môi giới đến loại người thộn như ngài Ca-me-ta này, ông ta sẽ không sợ bị lừa và xì tiền ra ngay.
- Ngài Ca-me-ta đến kìa! - cô diễn viên múa kêu to. Ca-me-ta chuếnh choáng say, râu ria ướt đẫm rượu. Cô diễn viên liếc nhìn sang phía tôi.
- Ta đi thôi, khi ngài quản lý còn chưa tỉnh lại.
- Đúng thế, - Ca-me-ta sảng khoái nói. - Nhanh lên, tài xế, không, đồ quỷ sứ, ngày mai ta đuổi cổ đi đấy.
Vừa dậm Pê-đan, tôi lại cố hình dung ra cảnh Ca-me-ta trong gia đình của mình. Đấy, cuối tuần ông ta sẽ từ nhà máy trở về nhà (có lẽ ông ta ở ngoại ô thành phố). Ngoài hiên những chiếc áo quần trẻ em đang phơi khô dần. Ca-me- ta giúp vợ dọn dẹp nhà cửa suốt ngày chủ nhật nằm trên đi-văng nghe đài. Còn buổi sáng thứ hai cẩn thận và lịch sự, ông ta đến nhiệm sở của mình.
Trong khu phố Tu-đa-ghe-ni, khu phố của khách sạn và nhà trọ, nơi chúng tôi đi ngang qua, rất im ắng. Lũ chuột bị choáng bởi ánh đèn pha, chạy vội ra sau lưng những thùng rác và các hàng rào bằng gỗ không sơn. Cô diễn viên, với vẻ mặt trầm ngâm, tụa vai vào cửa xe, khẽ hát:
Người đàn bà mà tôi ruồng bỏ,
Giờ đang vui với ai,
Ở đâu?
Tôi không quên được đôi mắt nâu,
Của những người mà tôi ruồng bỏ.
Đôi mắt vẫn đang nhìn tôi đâu đó,
Vẫn về ám ảnh tôi đêm đêm…
- Bài hát gì đấy?
- Sao, anh không biết à? Đây là bài ca của Mi-nê.
- Ờ - ờ - ờ…
Đó là Ca-me-ta và cô diễn viên dang nói chuyện với nhau sau lưng tôi. Mười phút sau, họ cùng nhau đi qua chiếc cổng ngoài còn chưa thắp đèn để vào sân trong tối tối mờ mờ của một ngôi nhà trọ đêm…
*
Qua mấy chiếc cổng ngoài còn chưa thắp đèn, chúng tôi đi vào sân trong tối mờ mờ của ngôi nhà trọ đêm. Tôi khẽ mở cửa và để Mi-xu vào trước. Trong hành lang có hai đôi giầy - một đôi của đàn ông đã lâu không đánh, đế dầy cộm, một đôi của đàn bà sạch sẽ nhưng đã bong đế. Cô hầu phòng mặt gầy choắt xuất hiện, thái độ mời mọc, hỏi chúng tôi cần phòng suốt cả đêm hay chỉ một lúc. Nhận được câu trả lời, cô ra hiệu mời đi theo mình. Chúng tôi lên tầng hai. Trong phòng có mùi hôi hám, chắc là nhà vệ sinh ngay ở đâu bên cạnh.
Cô hầu phòng đi ra, để hai chúng tôi lại một mình.
Trên chiếc bàn thấp có một ấm chè đã nguội, một cái khay và mấy chiếc chén. Mi-xu ngồi bất động, hai tay đặt lên đầu gối, đầu cúi thấp. Để xua đuổi sự bối rối, tôi ngáp thật to và ngắm nghía tờ giấy bọc kẹo sô-sô-lát nằm trên khay. Trên tờ giấy có ghi “Mô-na-cô, đặc biệt ngon khi hai người ăn chung”.
Có một người nào đó trước đây dùng tay đập muỗi trên bức tường xám, để lại những cánh muỗi khô và dấu vết của bàn tay.
Cửa sổ được bịt bằng những tấm ván để người ngoài đường khỏi tò mò nhìn vào. Trong góc còn một chiếc chăn và một bình nước.
Tôi nhìn qua khe hở giữa những tấm ván ra đường phố. Trời mưa. Một người đàn bà cầm ô che đang nặng nề leo dốc, nơi tuần trước tôi và Mi-xu cãi nhau. Một đoàn tàu chậm chạp bò theo nhánh đường phụ vào đề-pô, người nhân viên đường sắt mặc áo mưa đang huơ đèn - có lẽ ra hiệu cho thợ lái tầu trên đầu máy
- Đến đây với anh, - tôi cố nói ra vẻ tự nhiên, nhưng hóa lại quá to, thêm vào đó giọng như đứt quãng. - Nào đến đây. Chẳng lẽ em không thấy anh buồn lắm à? - Tôi biết cách tác động đối với cô ta. Ông già xem tướng ở quán ăn hôm nọ nói nhiều điều vớ vẩn, nhưng vẫn có phần đúng: Mi-xu quá thương và tin người - có lẽ và đã sống khá lâu ở nông thôn, giữa những con người chất phác, hoặc vì xem nhiều phim và hay đọc tạp chí “Những ngôi sao điện ảnh”. Đúng thế hay không, không biết, nhưng hôm nay, làm ra vẻ ốm đau, bất hạnh, tôi đã dễ dàng lôi được cô ta đến cái quán trọ này. - Sao em lại còn bắt anh phải chịu đau khổ thêm nữa? - Úp mặt xuống gối, tôi phải cố nhịn được cười.
Túm lấy tay Mi-xu, tôi dùng sức kéo cô ta đến cạnh; và ôm chặt lấy ngang vai, tôi bắt đầu mở khuy chiếc áo khoác ngoài rẻ tiền trên ngực cô ta. Mi-xu giơ hai tay lên ôm mặt.
Vừa lúc đó tôi chợt thấy trên cổ tay Mi-xu một vết tròn màu đỏ thẫm to bằng đồng xu bé. Không, đây không nốt ruồi mang hạnh phúc, đây là một vết tròn lạ lùng, gợi lên một cảm giác khó chịu.
- Cái gì ở cổ tay em thế?
- Em không biết. Nó sinh ra nửa năm nay rồi.
- Em đã đến bác sĩ khám chưa?
- Chưa. Để làm gì? Vì nó không đau và thậm chí cũng không ngứa.
Trong áo khoác ngoài, Mi-xu mặc một chiếc áo sơ mi đàn ông đã cũ, và trong nữa là bộ ngực còn chưa nảy nở với những núm vú nhỏ.
- Anh đừng nhìn thế, em xấu hổ lắm…
- Em ngốc lắm. Thế em mang cái mẩu sắt này thật à?
Cởi chiếc áo sơ mi ra khỏi người Mi-xu, tôi thấy giữa ngực chiếc thánh giá nhỏ cô ta mua của ông già nọ vào chủ nhật tuần trước. Chỉ có khác là sợi dây lụa đã thay cho chuỗi xích. - Vứt cái của nợ này đi. - Tôi dứt đứt dây và ném chiếc thánh giá sang một bên.
Khi tôi bắt đầu hôn, trên sống mũi cô ta hiện lên một nếp nhăn.
- Ôi, đau quá!
- Đồ ngốc!
Sự việc kết thúc nhanh chóng một cách bất ngờ. Một cơn buồn nôn kéo lên cổ, và tất cả xung quanh trở nên bẩn thỉu, kinh tởm: bức tường xám với những con muỗi bẹp gí và dấu bàn tay… chiếc khăn len dầy… bình nước nằm trong góc… và cô ta… một con bò cài núc ních, lười biếng… bộ ngực cáu bẩn mà tôi vừa hôn xong, chiếc mũi tẹt… những sợi tóc bết dính và mảng trán đẫm mồ hôi. Vết tròn màu đỏ thẫm trên cổ tay… Ôi, ngu ngốc, bẩn thỉu! Điếu thuốc trong miệng đắng nghét, khó chịu. Ngoài cửa sổ mưa vẫn rơi, bầu trời xám xịt như chiếc mền bông bẩn, úp trên những ngôi nhà cũng xám xịt. Ở một nơi nào đó, phía sau những mái nhà này, là văn phòng của Kim. Có lẽ anh ta bây giờ gác chân lên bàn ngoái mũi. Còn ở một nơi khác phía đằng kia thành phố Tô-ki-ô, con người cẩn thận Ca-me-ta đang che ô vội vã bước theo đường phố lầy lội để đi về nhà… Ôi, tất cả sao mà đáng nguyền rủa, đáng kinh tởm đến thế!
- Anh I-ô-xi-ô-ca!
- Gì đấy?
- Anh lần đầu đấy à?
- Im đi!
- Bây giờ anh không còn buồn, anh…
- Cô có thể im đi được không?
Tôi chậm chạp xỏ chân vào đôi tất cứng đờ vì mồ hôi và bẩn, khoác áo lên người.
Trên đường đến ga, tôi im lặng, còn Mi-xu, như một con chó ngoan ngoãn, bước theo sau và cứ muốn bắt chuyện. Tôi phải cố kìm hãm lắm mới không chủi cho cô ta một thôi - lúc đó sao tôi cảm thấy kinh tởm cô ta đến thế.
Trên sân ga, một nhân viên đường sắt dùng loa phóng thanh cầm tay đề nghị hành khách ra khỏi mặt đường tàu. Không nhìn lại Mi-xu, tôi lẩn vào đám đông hành khách và nhảy lên cửa một toa tàu vừa đứng bánh.
- Thế lần sau chúng ta gặp nhau ở đâu?... - Mi-xu hét lên sau lưng tôi, nhưng cửa toa đã đóng sập lại, và tôi không còn nghe thấy cô ta nói gì thêm.
- “Ai còn gặp cô nữa? Tôi không muốn trông thấy mặt cô nữa đâu! Đồ ngốc! Đồ thộn! Cô cần cho tôi không nhiều hơn so với những người này, những con người mà giờ đây tôi đang giẫm lên chân, đang dùng khuỷu tay, dùng vai chen lấn để vào toa. Và bất cứ một người nào cũng xa lạ đối với tôi như cô mà thôi!” - Tôi nghĩ trong bụng như vậy, có thể chỉ là để mong tự bào chữa cho mình.
Tàu chuyển bánh. Mi-xu với vẻ mặt căng thẳng bước bên cạnh cửa toa, rồi chạy theo. Tôi ngoảnh mặt đi.
Bánh tàu gõ đều xuống những chỗ nối trên đường ray. Tôi nhớ lại bài hát của cô diễn viên múa:
Người đàn bà mà tôi ruồng bỏ,
Giờ đang vui với ai,
Ở đâu?
Đồng hồ treo tường trong xưởng đóng hộp chỉ bảy giờ.
- Ôi mệt quá, - I-ô-côi-ma I-ô-xi-cô vươn vai, lấy tay che miệng ngáp rồi đứng dậy khỏi bàn. - Làm thế đủ rồi.
Xưởng đóng hộp đặt trong một ngôi nhà gỗ nhỏ. Ném số thuốc còn làm dở vào thùng, I-ô-cô nhắc ấm chè từ bếp điện xuống.
- Cậu ở lại à?
Mi-xu gật đầu, đón chén nước từ tay I-ô-cô.
- Cậu có chuyện gì thế, thời gian gần đây cậu thường hay ở lại làm đêm.
- Không sao. Cậu đừng lo.
- Nhưng nếu như cậu về muộn, nước trong buồng tắm nguội đi, cậu lại không tắm rửa được. Mà này, hôm nay sao lão Ta-gu-ta lại có gì không bằng lòng đấy. Kêu ca về cậu…
- Cái gì?
- Cậu chẳng nghe tớ gì cả. Tớ nói rằng đêm qua lúc về nhà cậu không đóng chặt cửa và Ta-gu-ta chửi cậu về chuyện ấy đấy.
I-ô-cô treo chiếc tạp dề dính đầy thuốc của mình lên tường và đưa bản tay xoa vai, nói.
- Thôi, tùy cậu… còn tớ về đây.
- Tớ không giữ cậu đâu.
- Tạm biệt.
- Chào cậu.
I-ô-cô ra về, còn Mi-xu ở lại một mình trong sự im lặng của gian xưởng vắng vẻ. Bên ngoài, gió thổi xào xạc, những đường dây điện kêu rít lên, cây cối nghiêng ngả. Mặc dù cách Tô-ki-ô chỉ khoảng hai mươi phút tàu hỏa chạy điện, ở đây vẫn còn giữ lại được một vài cánh rừng phong.
Những cánh rừng này và những ngôi nhà nông dân lợp cỏ lác vẫn còn nguyên, thậm chí cả sau trận ném bom khủng khiếp năm 1945. Từ nhà ga xe lửa, một dãy phố buôn bán chạy dài về phía rừng. Trên dãy phố này, cũng như trước chiến tranh, có các cửa hiệu bán măng sào, hiệu cắt tóc, cửa hàng đồ hiệu của một tay địa chủ trong vùng. Những cánh đồng trồng hành bắt đầu ngay từ cuối dẫy phố. Đất ở đây đen, màu mỡ, và hành thu hoạch rất khá. Giữa cánh đồng hành là một ngôi nhà bốn góc không lớn lắm - đó là xí nghiệp dược phẩm, nơi Mi-xu làm việc. Sau chiến tranh, vợ chồng nhà Va-ca-bai-a lập nên ở đây một xưởng làm xà phòng, nguyên vật liệu là dầu cá. Xà phòng giặt không sạch, mùi hôi, nhưng hồi đó đến thứ hàng này cũng hiếm, và xí nghiệp nhanh chóng phát đạt. Hai vợ chồng thuê một số công nhân, rồi một số nữa, mở rộng sản xuất. Từ lâu, vùng này đã nổi tiếng một loại thuốc dân gian chữa bệnh ngoài da “A-ca-ta”. Nhiều người địa phương biết phương thức chế tạo thuốc này, và hai vợ chồng Va-ca-bai-a có đầu óc kinh doanh đã không quên bỏ qua điều đó. Thế là bên cạnh xà phòng họ bắt đầu cho sản xuất thêm “A-ca-ta”.
Trong xưởng đóng đồ hộp có bốn người đàn ông làm việc. Mi-xu và I-ô-cô thỉnh thoảng đến giúp họ chùi chai lọ và đóng hộp thuốc. Thông thường, họ phải dùng cồn xúc sạch đựng thuốc và xếp chúng vào hòm. Buổi tối ở xí nghiệp, người ta đóng hộp xà phòng.
Từ trước đến nay Mi-xu ở lại đêm khi nào người ta yêu cầu. Còn thường ngày, ăn tối ở xưởng xong, cô chạy vội về nhà, tắm rửa, rồi cùng I-ô-cô đi dạo phố hoạc giở xem những quyển tạp chí mốt trong cửa hàng sách. Nhưng từ ngày ấy cô đã năm lần ở lại làm đêm. Năm đêm - đã là hơn năm trăm yên, ngày hai mươi này cô sẽ được lĩnh. Để có một nghìn yên, cần phải làm thêm năm đêm nữa.
Một nghìn yên! Đó là… Một tuần trước đây, vào ngày hôm sau của lần gặp gỡ thứ hai với anh sinh viên, cô trông thấy ở cửa hàng hiệu may y phục thời trang một chiếc áo vét nữ màu vàng. Không phải chiếc áo khoác ngoài rẻ tiền mà cô vừa mua ở quầy cạnh ga, mà là áo vét nữ, loại các ngôi sao điện ảnh Ta-ca-mi-ne Hi-đê-cô và Xu-ghi I-ô-cô vẫn mặc. Nhẹ như bông, mỗi lúc cầm như sáp tan trên tay, trước đây đến trong chiêm bao cô cũng không dám mơ tới. Nhưng bây giờ cô quyết định mua nó, dù có đắt đến bao nhiêu. Và cô còn thấy những đôi tất nam. Cũng cần phải mua cả chúng nữa. Bởi vì tất anh ấy đã rách nát cả! Ngày hôm ấy ở nhà trọ, khi cởi tất anh ấy vừa gãi chân vừa nói:
- Anh đã quen như thế này rồi. Mà thủng thế này thì cũng việc gì! Nhét nó xuống sâu hơn trong giầy và không ai trông thấy nữa cả.
- Nếu lần sau mà tặng anh ấy ba đôi tất, chắc anh ấy phải mừng lắm! Mi-xu mỉm cười đầy hạnh phúc.
“Lần này mình sẽ đến nhà anh ấy, giặt dũ cho anh ấy, mạng lại tất”.
Cô hình dung ra cảnh cô sẽ ngồi giặt trong căn phòng sáng sủa, đầy ánh mặt trời của anh sinh viên. Giống hệt như bộ phim mà Mi-xu xem ba tháng trước đây. Trong phim cũng có một cô gái giặt sơ mi cho anh sinh viên.
“Mình sẽ giặt suốt ngày, miễn sao anh ấy chỉ việc học, không phải lo gì khác!” Trước mắt cô lại hiện ra những cảnh trong phim, và Mi-xu thở dài.
- Này, cô mơ màng cái gì thế? Tỉnh lại đi.
Có người vào gõ cửa sổ.
Đó là Ta-gu-ta, công nhân của xưởng. Ông ta sống cùng gia đình ở trong xí nghiệp.
- Chẳng lẽ cô không biết rằng cấm không được ở lại trong xí nghiệp sau tám giờ à?
Với Mi-xu và I-ô-cô, Ta-gu-ta bao giờ cũng nghiêm khắc.
- Nhưng, chú Ta-gu-ta…
- Tôi không muốn nghe gì hết cả. Hôm qua cô về không đóng cửa xưởng, hôm nay lại ở khuya. Nếu mất cái gì, ai sẽ chịu trách nhiệm? Cô à?
Ta-gu-ta thích đọc những lời giáo huấn dài dòng. Ông ta có thể nói luôn mồn như nhai kẹo cao su.
“Cái lão Ta-gu-ta này thật đáng ghét”.
Nghe tiếng chân Mi-xu ngoài hành lang, I-ô-cô ra mở cửa. Căn phòng họ thuê của ông Xin-tô, thầy dạy thổi sáo cho các học sinh địa phương, ở tầng hai. Trước đây căn phòng này là nhà kho, do đó nó ngoảnh mặt về phương bắc, và thậm chí trong những ngày nắng, mặt trời cũng không thể chiếu sáng vào tận đấy được.
Nằm trên giường, I-ô-cô cừa nhai đậu nành tẩm đường vừa giở xem quyển tạp chí “Những ngôi sao điện ảnh”. Cô là người hâm mộ tài năng của I-xi-maha. Trên giường cô treo vô số ảnh của diễn viên này. Thậm chí có lần I-ô-cô còn viết cho anh ta một lá thư:
“Anh I-xi-ha-ma, - cô vừa ngậm đầu chiếc bút chì hóa học, vừa viết, - anh sống ra sao? Còn tôi sống bình thường và làm việc tốt. Tôi xem tất cả những phim anh đóng. Tôi là việc ở xí nghiệp dược phẩm… Tôi… “ và vân vân…
I-ô-cô viết sự thật. Quả là cô đi xem tất cả những phim có I-xi-ha-ma đóng. Đôi khi để làm được việc đó cô phải đến các quận khác của thành phố. Thêm vào đó, mỗi phim của I-xi-ha-ma cô đều xem đến hai ba lần. Bỏ thư vào thùng bưu điện ở đối diện xí nghiệp, I-ô-cô chờ thư trả lời rất lâu. Nhưng mãi I-xi-hama vẫn không viết cho cô
- Cậu không quên đóng cửa chứ? - I-ô-cô đặt tờ tạp chí xuống chăn, hỏi.
- Ta-gu-ta đến và lại mắng tớ.
- Cái lão khó chịu thật. Người ta bảo lão hám gái lắm.
Hai cô gái không thích Ta-gu-ta. Thứ nhất, ông ta không che giấu thái độ xấu của mình đối với họ; thứ hai, ông ta là một người đặt điều khủng khiếp và thậm chí đã tung ra những điều bịa đặt về họ giữa đám đàn ông. Thường thường, khi chỉ có hai người với nhau, các cô gái hay thảo luận về Ta-gu-ta, phẫn nộ, chửi rủa ông ta; nhưng lần này, không chú ý nghe lời người bạn gái đã bắt đầu câu chuyện thường lệ. Cô nhớ lại cái ngày khi những hạt mưa tí tách rơi từ bầu trời xám xịt như mảng mền bông xuống mặt đất… đường phố đẫm nước mưa… cửa sổ nhà trọ đêm cũng đẫm nước mưa… ánh điện Xi-bui-a mờ mờ qua làn nước mưa… người đàn bà đi ngược lên dốc trơn…
Ngày hôm ấy thật buồn, và nói chung, thật kinh khủng.
Cô không muốn cái đó lặp lại. Cô rất đau. Giá như I-ô-xi-ca yêu cô không có cái đó! Nhưng anh ấy giận dữ, thất vọng khi Mi-xu từ chối, và nói rằng không thể có tình yêu mà không có cái đó. Còn Mi-xu không biết phải làm gì khi nghe anh ấy nói như vậy. Từ thủa nhỏ, tim cô cứ như vỡ ra mỗi lúc trông thấy người nào bất hạnh hoặc đau khổ, đặc biệt khi nguyên nhân của sự đau khổ đó lại chính là cô. Và đêm hôm đó ở quán trọ trên dốc đổ sũng nước cũng vậy. Cô rất đau. Nhưng vì I-ô-xi-ca cô chịu đựng.
Chưa bao giờ giữa cô và I-ô-cô có điều gì bí mật nhưng bây giờ cô không dám nói với bạn: cô xấu hổ.
- Tớ muốn ngủ, I-ô-cô ạ.
- Thì ngủ đi.
Mi-xu muốn suy nghĩ về một điều gì đó vui sướng, trong sáng, và cô bắt đầu nghĩ đến chiếc áo vét nữ màu vàng. Chỉ còn năm ngày nữa cô sẽ được mặc chiếc áo đẹp đẽ này đến nơi hò hẹn. và bây giờ I-ô-xi-ca có đưa cô đi tới đâu cô cũng không còn phải xấu hổ nữa.
Đã một tuần qua, mà I-ô-xi-ô-ca chẳng có tin gì tới. Hàng ngày, cô hồi hộp chờ một lá thư hay một tấm bưu thiếp, nhưng vẫn chẳng có gì cả. Hết giờ làm việc về, cô không thể đi bình thường, mà cứ rảo bước dần, và cuối cùng là chạy, thở hổn hển, cô mở cửa và lập tức nhìn ngay về phía cuối hành lang, nơi có chiếc bàn chủ nhà thường để thư từ hai cô gái.
Lại thêm hai tuần nữa mà luồng ánh sáng xuyên qua tấm cửa kinh cửa sổ từ lâu không lau chỉ chiếu sáng những bực cầu thang đầy bụi.
- Hôm nay không, nhưng ngày mai sẽ có, nhất định sẽ có… - Mi-xu áp chiếc thánh giá nhỏ lên ngực. - Ngày mai… ngày mai…
Rồi ngày mai cô lại áp thánh giá lên ngực và hy vọng vào ngày mai kế tiếp nữa.
Tấm bùa cô mang trước đây rồi đánh mất và thay bằng chiếc thánh giá này, cô mua ở Ca-va-cô-xi, quê cô.
Ca-va-cô-xi… Quê hương… Đã từ lâu nơi đó trở thành quán trọ cho các võ sĩ đạo… Buôn bán sầm uốt… Đời sống sung túc… Đến trong chiến tranh, ở đó cũng không bị bom…
Nhưng Mi-xu không muốn về nhà. Không có cô, cả bố, cả dì ghẻ sẽ dễ chịu hơn.
Mi-xu là con gái một của bố cô, trước khi người dì ghẻ với ba đứa con của mình về ở. Bà ta không phải là người xấu, nhưng Mi-xu lập tức hiểu rằng sự có mặt của đứa con chồng làm bà ta khó chịu. Còn Mi-xu luôn luôn cảm thấy nặng nề nếu như cô làm phiền người khác, vì vậy cô bỏ nhà đi và bây giờ sống một mình giữa những người xa lạ.
Lại đến ngày chủ nhật. Thường xuyên vào các ngày này Mi-xu và I-ô-cô ăn trưa xong là đi đến rạp chiếu bóng “Mi-na-ga-xi-ma-mi-cát-de: ở phía sau mấy dẫy quầy buôn. Đấy là rạp chiếu bóng duy nhất trên đường phố của họ, với giá vé bốn chục yên thường chiếu hai bộ phim Nhật Bản, và trước lúc vào cửa có phát những tờ chương trình in mực xanh nhòe nhoẹt trên giấy vàng khè. Trong phòng chiêu, trẻ con kêu khóc, đàn ông hút thuốc thản nhiên, từ buồng vệ sinh bốc ra mùi khó chịu. Nhưng hai cô gái không để ý đến điều đó. Vừa nhai chân mực khô, họ vừa tìm chỗ, ngồi xuống và dán mắt vào màn ảnh đặt trong khung gỗ thếp vàng. Thường thường, nội dung phim họ đã biết trước qua tạp chí “Những ngôi sao điện ảnh”. Nhưng thú vị biết bao khi được nín thở nhìn tất cả những điều đó tận mắt.
Nhưng chủ nhật tuần này hai cô gái không đến rạp “Mi-Na-ga-xi-ma-mi-cátde”, họ quyết định đi Xe-ít-tô, nơi những diễn viên điện ảnh nổi tiếng Tat-da-ki Đi-un, Xu-ki-ô-ca và Ti-a-ki và - còn nổi tiếng hơn nữa - Mi-phu-ne Tô-xi-rô và Phut-di-ca Xu-xu-mu, sống. Cả xưởng phim lớn nhất cũng ở đó.
Một trong những đường nhựa thẳng tắp hai bên đường toàn anh đào chạy thẳng từ ga Mu-xa-xi-nô đến Xe-ít-dô. Sau mười phút đi xe lửa điện, họ xuống ga Xe-ít-do. Hai cô gái tưởng mình như rơi vào một đất nước xa lạ nào khác. Những biệt thự trắng tinh nằm khuất giữa một màu xanh ngọc bích, những con đường đi bộ được quét sạch bóng. Sao mà ở đây khác hẳn đường phố bẩn thỉu của họ với những bức tường lở khói, những cửa hiệu nhỏ bé bán măng xào, những nhà xí hôi thối! Một thanh niên người Âu cưỡi chiếc xe đạp đắt tiền đi từ trong cổng biệt thự ra.
Đúng, Mi-phu-ne Tô-xi-rô và Xu-ki-ô-ca Ti-a-ki sống ở đây. Hai cô gái nhìn nhau và thở vào thật sâu.
- Thế đấy!
- Tuyệt thật!
Hãnh diện rằng giờ đây họ đang thở cùng một bầu không khí với các diễn viên nổi tiếng, hai cô gái đi chầm chậm dọc theo phố.
Họ đọc những tấm quảng cáo gặp trên cổng và gặp rất nhiều những tên người nước ngoài: Đơ-gie-mi Đan, Lu-i-xơ Liu-i-xơ… Từ các phòng vọng ra tiếng chó bécgiê, tiếng đàn dương cầm…
Các cô gái muốn hỏi những người qua đường nhà của các diễn viên họ hâm mộ ở đâu, nhưng người qua đường ở đây toàn sang trọng quá, nên hai bạn không dám đến gần họ.
Mặt trời đã thấp xuống, những đám mây nơi chân trời ngả sang màu hồng, nhưng họ vẫn còn đi mãi, đi mãi trên đường phố sạch sẽ, trong lòng chất chứa những rung cảm thiêng liêng.
Bỗng I-ô-cô kêu thốt lên.
- Cái gì thế? Đau tim à? - Mi-xu chạy vội đến bên bạn.
- Không. Xem kìa!. Xem kìa…
Thì ra đó là nhà của Ta-ca-mi-ne Hi-đê-cô.
I-ô-cô mặt tái nhợt, dừng lại cạnh nhà. Trên cổng có một bảng đề “Ta-ca-mine Hi-đê-cô”, còn bên cạnh trong ngoặc ghi “Hi-rai-a-ma” Đó là họ thật của nữ diễn viên. Là những người bạn thường xuyên đọc tạp chí “Những ngôi sao điện ảnh”, các cô gái còn biết nhiều chi tiết hơn thế nữa kia.
- Chẳng lẽ đây là nhà của chị ấy à?
- Tất nhiên. Xem bảng đấy kìa.
Ngôi nhà chẳng có gì đặc biệt, cũng như các ngôi nhà Nhật Bản bình thường khác, chỉ thêm mấy cây hoa leo quấn quanh một khung thếp vàng đặt trước cửa sổ, và phía sau khung là mấy khóm hoa hồng.
Trong nhà im lặng, có lẽ không ai có nhà. Cô bé I-ô-cô sững sờ đứng nhìn quanh và bỗng nhiên ngập ngừng đi đến bên thùng gỗ dùng để đựng thực phẩm treo ở cổng, mở ra.
- Cậu làm gì thế? - Mi-xu ngạc nhiên.
Nhưng I-ô-cô đã lôi ra một chai sữa không.
- Cậu điên đấy à… Người ta trông thấy kìa!
- Không sao. Ai cần cái chai không này làm gì! Mà có thể sáng nay chính chị Ta-ca-mi-ne Hi-đe-cô đã uống sữa từ cái chai này? Tớ lấy nó về làm kỷ niệm. Thế cậu không muốn lấy à? - Và I-ô-cô bắt đầu nhặt ở trong vườn, biết đâu nữ nghệ sĩ đi dẫm lên những hòn sỏi này?
Với cảm giác lẫn lộn bối rối và xấu hổ, Mi-xu đứng nhìn bạn. Có thể, một tuần trước đây cô cũng đã vui mừng chạy đi nhặt sỏi trong vườn nhà Ta-ca-mine Hi-đe-cô, nhưng bây giờ cô cho sự phấn khởi của bạn là ngây ngô, sự say mê của I-ô-cô đối với I-xu-ha-ma và Xa-tô-u là trẻ con.
“Còn mình, mình đã gặp I-ô-xi-ô-ca và đã biết bí mật của đàn ông”.
Mi-xu cảm thấy buồn, cô nhìn I-ô-cô với vẻ kẻ cả.
- Thôi đủ rồi, ta về thôi.
Trên đường về, họ trông thấy nhà của Ki-xi-ca-va A-ki-ra, diễn viên hài kịch. Anh ta cũng thuộc vào số người được hai cô gái hâm mộ. Người to cao, cân đối như một lực sĩ, giọng nói dễ nghe, dịu dàng, A-ki-ra thường biểu diễn cùng với Ta-ca-mi-ne Hi-đe-cô. Anh ta, như một diễn viên nổi tiếng cần phải có, là chủ một biệt thự sang trọng xây theo lối châu Âu. Một chiếc chăn rất lớn phơi trong sân biệt thự.
- Ôi - ôi - ôi, - I-ô-cô phá ra cười, - chăn của Ki-xi-ca-va to quá, gấp đôi của chúng mình.
Mi-xu im lặng nhìn chiếc chăn đôi.
Họ về nhà lúc chập choạng tối.
Trong toa xe lửa chạy điện người chật ních. Phần lớn là những cặp vợ chồng mang theo con cái trở về nhà sau chuyến đi chơi ngày chủ nhật. Mi-xu và I-ô-cô vất vả mãi mới chen ra được sân ga.
- Đợi tớ một tý nhé?
- Cậu đi đâu?
- Một tí thôi.
Để bạn đứng đấy, Mi-xu chạy đến dẫy hàng có ánh điện sáng mờ mờ đằng xa. Lạy chúa! Trong quầy hàng hiệu may Âu phục thời trang, dưới ánh đèn màu, vẫn còn treo bộ áo da cổ lông trắng, đôi găng tay tượt tuyết và chiếc áo vét nữ.
“Đến ngày hai mươi cần phải làm thêm năm trăm yên”. Và đây, ngày lĩnh lương. Mi-xu đến sớm hơn mọi người, dọn dẹp xong, thỉnh thoảng lại chạy ra xem đồng hồ. Thường ngày, thời gian lúc nghỉ trưa trôi qua rất nhanh, nhưng hôm nay kim đồng hồ dường như cứ đứng ỳ tại chỗ.
- Mi-xu, cô có việc gì thế? Sao cứ chạy ra chạy vào như vậy? - Vợ viên quản lý hỏi cô.
Sau bữa trưa, viên quản lý ngồi trên xe đạp đi đến ngân hàng.
Vào ngày lĩnh lương, tâm trạng mọi người đều thoải mái. Những người đàn ông tụ tập trước của văn phòng không bịa đặt nói nhảm như thường lệ, mà huýt sáo những bài ca mốt.
- Bây giờ tôi sẽ phát lương.
Công nhân rút thẻ của mình trong túi bảo hộ lao động và lần lượt đi vào phòng quản lý; Lúc trở ra mỗi người cầm một phong bì. Chỗ của mọi người trong hàng được xếp theo tuổi đồi và chức vụ, tay nghề, vì vậy mà Mi-xu và I-ôc-ô đứng sau cùng.
- Người sau cùng bao giờ cũng gặp may, I-ô-cô cười nói. - Mẹ tớ thường bảo vậy.
Ta-gu-ta đang đứng trước bàn viên quản lý.
- Không, không, - viên quản lý vừa khoát tay, vừa nói. - Xí nghiệp của chúng tôi không lớn lắm. Tôi đối xử với mọi người và anh em như thân thích. Nhưng anh đã bốn lần vay nợ tôi.
- Lần này là cuối cùng. Xin anh hãy tin tôi. Tôi sẽ cố không vay nữa. -Thấy các cô gái, Ta-gu-ra bối rối.
- A! chào các cô! - Viên quản lý thở ra nhẹ nhõm, quay về phía hai cô gái và giở sổ lương.
- I-ô-côi-a-ma - hai ca đêm. Mô-ri-ta - Mười ca đêm. Khá lắm! Đây, nhận lấy. Nhưng đừng tiêu hoang nhé.
Rút từ ngăn bàn ra hai phong bì tiền lương, ông ta bỏ cả tiền công làm ca đêm vào đấy.
Ta-gu-ta nhìn hai cô gái bằng ánh mắt ghen ghét.
Từ văn phòng, Mi-xu và I-ô-cô đến xưởng đóng hộp. - Cái lão Ta-gu-ta thế nào ấy nhỉ? - I-ô-cô ngạc nhiên hỏi. - Nợ lút đầu, không mang gì về nhà cả, lại còn vay tiền để uống rượu và chơi bạc.
Trong giờ nghỉ chưa, họ thường thấy Ta-gu-ta cùng mấy người bạn ngồi vào góc xưởng đánh bài. Mi-xu còn biết nhiều điều về ông ta nữa, nhưng giờ đây cô không quan tâm đến Ta-gu-ta.
Đã qua rồi những đêm mất ngủ, khi cô ở một mình trong xuởng vắng dùng cồn rửa chai lọ, nghe tiếng gió rít buồn bã ngoài trời. Thế là xong! Bây giờ cô có thể đi mua ngay chiếc áo vét màu vàng cho cô và tất cả cho I-ô-xi-ô-ca.
- I-ô-cô!
- Gì thế?
- Tớ cần đi đường này chừng mười lăm phút.
- Để làm gì?
- Muốn mua một vài thứ.
Mi-xu cởi áo lao động, đi giầy và bước ra đường. Một cơn gió lạnh thổi bụi bốc mù mịt cạnh một xí nghiệp.
Cạnh cổng, Ta-gu-ta đang đứng cùng một người đàn bà và hai đứa trẻ - một đứa trên lưng và một đứa trên tay mẹ. Gió đưa vẳng đến câu chuyện của họ.
- Thôi đi về nhà. - Người đàn bà là vợ của Ta-gu-ta. - Tôi không phải xin cho tôi. Hãy thương lấy các con.
- Tôi đã nói với cô rằng không thể được! Không thể được, thế thôi! - Ta-gu-ta dẫm chân hét.
Mi-xu không muốn nhìn thấy cảnh người khác cãi nhau, cô đứng nấp vào sau cánh cổng.
Một lúc sau có tiếng người bước vội, Ta-gu-ta đi ngang qua chỗ cô đứng, nhổ nước bọt, lầu bầu:
- Ôi, phát ngấy lên rồi.
Vợ của Ta-gu-ta vẫn buồn rầu đứng giữa đường. Ngay đầu ngọn gió.
- Chào chị, - Mi-xu chào chị ta.
- A, chào cô! Cô đi đâu đấy?
- Đến cửa hàng ạ. Em muốn mua một vài thứ.
- Mua à? Còn chúng tôi thì không dám mơ gì đến chuyện mua bán nữa cả. - Chị ta lắc lắc đứa trẻ sau lưng. - Cha của chúng lại không mang gì về cả.
Chị ta kể rằng một nửa số tiền lương Ta-gu-ta đem đi uống rượu, chơi bài, và hiện nay đi đâu không biết. Ngày mai nhất thiết phải trả tiền ăn sáng ở trường cho con trai, đã ba tháng chưa trả, - nhưng Ta-gu-ta không chú ý đến gia đình gì cả, thậm chí đến một cặp sách cũng không mua nổi cho đứa trẻ.
- Còn may là tôi làm được ít nhiều. Và anh ấy cứ ỉ vào tôi, đến nỗi chẳng ngó ngàng gì đến công việc nữa cả. Nhưng nếu như không có lương của tôi thì làm sao sống được.
Chị ta than vãn rất lâu cho số phận cay đắng của mình. Khi đứa bé trên lưng bắt đầu khóc, người đàn bà khẽ lắc lắc đôi vai, và đứa trẻ lại nín lặng, há hốc miệng chăm chú nhìn Mi-xu. Khuôn mặt đứa trẻ xanh xao, trên môi có mấy vết lở nhỏ.
- Vâng, tình cảnh các chị tội thật. Nhưng biết làm sao bây giờ? - Chờ được lúc thuận tiện, Mi-xu chào chị ta, đi tiếp.
Đến các quầy hàng có thể đi tắt qua đất hoang; và Mi-xu, nóng lòng mua ngay chiếc áo vét nữ, rảo bước gần như chạy những gò, hố mấp mô.
- Mẹ ơi, về thôi, - đứa bé nói bằng một giọng thảm thiết. Gió mang tiếng khóc của nó đuổi theo Mi-xu, - Về nhanh lên.
- Ôi chúng mày làm tao chán ngấy lên rồi! - Người đàn bà nói.
Bụi do gió cuốn lên làm mờ mắt Mi-xu, còn những giọng nói theo gió vẳng lại như cắt tim cô ra làm từng mảnh.
Tiếng khóc của đứa bé… lời van của đứa lớn… giọng nói đau khổ của người mẹ… ông già trong bộ quần áo cứu quốc quân rách nát như bù nhìn đuổi chim… người đàn bà nặng nề leo lên dốc… cơn mưa tẻ ngắt… những cửa sổ ướt đẫm nước mưa của quán trọ đêm… chiếc giường ẩm ướt và còn nữa… còn một giọng nói… Một giọng nói mệt mỏi của ai đó…
“Mày cần phải quay trở lại gặp người đàn bà ấy, tiền của mày sẽ cứu được chị ta và mấy đứa con."
“Nhưng đã bao đêm mình không ngủ, làm việc không ngơi tay”, - Mi-xu cố phản đối giọng nói đó.
“Tao biết, tao biết cả. Cả việc mày muốn mua chiếc áo vét nữ màu vàng, cả việc để đạt được mục đích đó, mày đã phải làm việc một mình, khi tất cả ngủ ngon. Tao biết. Nhưng chính vì vậy mà tao muốn mày phải đưa một nghìn yên kia cho mấy đứa trẻ và người mẹ của chúng”.
“Không, không. Tại sao mình lại phải đưa? Mình chẳng có liên quan gì ở đây cả. Đấy là lỗi của Ta-gu-ta, lão ấy phải chịu trách nhiệm với gia đình”.
“Đúng, nhưng không phải chỉ mình lão ta. Tất cả mọi người đều phải chịu trách nhiệm. Cần phải biết thông cảm trước nỗi đau khổ bất hạnh của người khác, phải biết coi chúng như chính mình… Trên ngực mày có cây thánh giá…”.
Dường như Mi-xu cảm thấy hơn là hiểu được ý nghĩa của những lời nói trên. Trước mắt cô chập chờn bộ mặt tái nhợt xanh xao của đứa bé, đôi mắt nhìn chăm chú và những vệt lở đỏ hồng quanh vành môi. Tim Mi-xu nhói lên. Cô không đủ sức để nhìn thấy chúng, nhưng chúng cứ hiện ra rõ mồn một trước mắt cô, làm cô không thể chịu đựng nổi.
Lấy tay dụi mắt, Mi-xu quay trở lại gặp người đàn bà.
- Chị ơi! - Người đàn bà và mấy đứa con quay lại phía cô. - Chị cần bao nhiêu tiền? Em cho vay.
Mi-xu chìa bàn tay nắm chặt tờ giấy một nghìn yên. Cô cố nở một nụ cười, nhưng miệng lại méo xệch thảm hại.
- Nhưng cô đừng nói gì với ông Ta-gu-ta nhé.
Vừa lúc đó Mi-xu bỗng cảm thấy đau nhói ở cổ tay.
Những vết tím thẫm đỏ bằng đồng tiền xuất hiện ở tay cô hơn nửa năm nay. Chúng không đau và không ngứa, nhưng một lần khi I-ô-xi-cô ôm lấy người cô, cổ tay cô bỗng đau nhói lên…
Lại thêm nửa tháng nữa qua. I-ô-xi-cô vẫn bặt tihn như cũ. Có chuyện gì xảy ra với anh ấy? Hay là anh ấy quên rồi? Hay là ốm đau gì? Đúng, có lẽ anh ấy ốm. Nằm một mình và không ai chăm sóc. Mi-xu lo lắng.
Tuy anh ấy có nói rằng không bao giờ được đến nhà anh ấy, nhưng nếu như anh ấy ốm thật thì sao? Không cần phải đến, cần phải đến…
Và thế là vào trưa một ngày thứ bảy Mi-xu mặc chiếc áo khoác ngoài đã cũ màu da cam và bước ra khỏi nhà.
Khi qua hiệu may y phục thời trang cô ngoảnh mặt đi và rảo bước nhah hơn. Từ bé, cô đã có thói quen nén những ước muốn của mình lại.
Mi-xu đã biết nơi ở của I-ô-xi-ô-ca. Nhận được lá thư đầu tiên, cô đã cất phong bì với địa chỉ người gửi. Hôm nay cô lấy nó ra và bỏ vào túi áo. Sau đó, tìm trên bản đồ Tô-ki-ô trên tường văn phòng và biết rằng khu phố của I-ô-i-ôca ở cách ga Ô-tra-nô-mit-du không xa, cô đi đến Xin-du-cu. Đến đó cô chuyển sang xe lửa điện và hai mươi phút sau xuống tàu. Một nhân viên đường sắt còn trẻ sau khi đọc địa chỉ trên phong bì của Mi-xu, chỉ đường cho cô.
Mặc dù đã về chiều, ngoài đường phố vẫn cón ấm. Một đám sinh viên đội mũ lữoi trai vuông bốn góc và những cô gái tay xách cặp đứng tụ tập quanh các quầy sách và bán cà phê. Cô liếc nhìn họ, hy vọng sẽ thấy I-ô-xi-ô-ca.
Đi hết khu phố Xi-un-ga-đai, Mi-xu rẽ sang tay trái như anh nhân viên đường sắt chỉ dẫn. Cô còn phải hai - ba lần đưa phong bì ghi địa chỉ hỏi những người qua đường trước khi đến được ngôi nhà một tẩng có cánh cửa ra vào bị vỡ và được dán lại bằng giấy báo. Khi Mi-xu đẩy cửa, cánh cửa kêu rít rất to. Trong hành lang không có ai. Mấy đôi ủng lính và giầy phụ nữ nằm ở góc.
- Xin lỗi! - Mi-xu lên tiếng gọi to.
- Cô cần ai? - Một giọng phụ nữ không còn trẻ đáp lại, và một người đàn bà to béo đầu trùm khăn, tay cầm que thông lò bước ra hành lang. - Cô cần gì? - Bà ta hỏi với giọng không lấy gì làm cởi mở lắm.
- Cháu… cháu đến tìm I-ô-xi-ô-ca.
- Tìm I-ô-xi-ô-ca à? - Người đàn bà nhìn Mi-xu từ đầu đến chân. - Thế cô là ai?
- Cháu … cháu là người quen của anh ấy. Anh ấy có nhà không ạ?
- Không. Đã từ lâu không biết biến đi đâu mất. Thậm chí không trả tiền nhà lẫn tiền điện, còn trong phòng bẩn thỉu đến không bước chân vào được nữa.
- Thế anh ấy đi đâu rồi ạ?
- Đi đâu à? Tự tôi cũng đang muốn biết điều đó. Tôi không lấy tiền đặt trước và hắn trả ơn tôi như thế đấy! Bọn sinh viên ngày nay đều như vậy cả. Không còn có thể tin ai được nữa.
Thất vọng, Mi-xu chạy ra khỏi nhà. Cô vội vã đi ngược lên phố Xi-un-gađai. Ở đây toàn là sinh viên đội mũ lưỡi trai bốn góc thoa dầu Va-dê-lin.
- Tối nay ta đi chơi ván cờ chứ?
- Không tớ đi đánh bi-a.
Những câu chuyện ồn ào của đám sinh viên lại càng làm Mi-xu nhớ đến I-ô-xi-ô-ca. Cô nhìn lại quầy bán sách và nhìn sâu vào trong, hy vọng thấy I-ô-xi-ô-ca ở đâu đấy. Cô nhìn cả vào quán trà. Nhưng không ở đâu có I-ô-xi-ô-ca cả.
Mặt trời đang lặn, nhuốm một nửa bầu trời trong ánh lửa màu đỏ sẫm. Người chen chúc nhau ở cửa bán vé tàu. Mấy cậu bé chạy đi chạy lại bán báo buổi chiều.
Mi-xu đứng giữa quảng trường trước nhà ga, hàng người xếp hàng mua vé đã thưa thớt, mà Mi-xu vẫn đứng, vẫn chờ một điều gì đó, thẫn thờ…
Dần dần tôi quên Mô-ri-ta Mi-xu và không hề nghĩ đến rằng giờ cô ta đang ở đâu, ra sao, dường như chưa bao giờ có hai lần gặp gỡ giữa chúng tôi.
Nhu một con tàu trên mặt biển khuất dần sau phía chân trời, bóng dáng của Mi-xu đầu tiên mờ dần trong trí nhớ của tôi, rồi biến thành một điểm nhỏ không còn nhận ra, và cuối cùng hoàn toàn mất hẳn. Tôi cho rằng cô ta đã không có và sẽ không bao giờ có ý nghĩa gì đối với tôi.
Nhưng quên đi một con người đâu có thể dễ dàng, và tôi còn hai lần nhớ tới Mi-xu. Như bóng một đám mây lướt qua đỉnh núi cao đứng cô đơn giữa trời, những hồi tưởng kia cũng vậy, chỉ một thoáng lướt qua tâm hồn tôi rồi biến mất.
Lần thứ nhất xảy ra vào mùa xuân năm sau đó. Lần đó tôi đi thả khinh khí cầu quảng cáo để kiếm thêm. Công việc rất đơn giản: nằm dài dưới nắng trên mái nhà, tôi phải chú ý theo dõi sao cho những quả khinh khí cầu không bị gió cuốn đi. Từ phía dưới vẳng lên tiếng ồn ào của thành phố: tiếng máy xe hơi, tiếng chuông tàu điện, tiếng còi tàu. Và xung quanh tôi là những mái nhà của Tô-ki-ô trải dài, cả một biển mái nhà. Những ngôi nhà trông giống như các hộp diêm, xếp từng hàng không đều nhau, chạy ra tận chân trời. Vô số những ngôi nhà. Và trong đó vô số những con người… Những con người cũng như tôi…
“Trên đời này biết bao nhiêu là người, và tất cả đều khác nhau, không thể tìm ra được hai kẻ giống nhau,- tôi vừa xoa bóp đôi bàn tay bị tê, vừa nghĩ. - Họ sống vui mừng, đau khổ…”
Và tôi nhớ đến Mi-xu.
“Và cô ta đã mất hút đi trong thành phố khổng lồ mờ mịt này, - tôi nghĩ, - không biết giờ này cô ta đang làm gì?”
Ý nhĩ đó hiện lên trong đầu tôi như một mẩu gỗ nhỏ nổi lên bề mặt dòng nước đục, nổi lên một thoáng rồi lại biến mất trong lòng sâu…
Một lần khác, tôi ngồi trong hiệu cắt tóc cạnh nhà tôi không xa, chẳng biết làm gì, tôi giở xem mấy tờ tạp chí trên bàn, trong số đó có cả “Những ngôi sao điện ảnh”.
Trên trang cuối cùng, như thường lệ, đăng những bức thư của độc giả.
Một ả ngớ ngẩn nào đó kể về mình, về những người thân, về công việc, nghề nghiệp và mối tình bất hạnh của mình… Cô ta viết rằng cô ta bị một sinh viên, người mà cô ta đã làm quen qua thư từ và được cô ta hiến thân trong lần gặp gỡ thứ ba, bỏ rơi.
Cô gái này có tên khác, và có lẽ Mi-xu không bao giờ dám viết như vậy, nhưng dù sao bức thư này nói về chuyện của chúng tôi.
Phía dưới đăng thư trả lời của tòa soạn. Có lẽ do một bà có văn hóa nào đó viết. Bà ta giận dữ, bằng những lời đẹp đẽ, lên án chàng trai nọ, lên án sự vô trách nhiệm của anh ta, tuyên bố rằng một người đàn ông như vậy không xứng đáng với tình yêu của phụ nữ và cuối cùng bà ta khuyên cô gái hãy quên anh ta đi để bắt đầu làm lại cuộc đời mới.
Tôi ngẩng đầu lên khỏi trang tạp chí. Ông thợ cắt tóc già lách cách tông đơ, còn cậu bé giúp việc đang rán bánh trên bếp điện.
Đọc xong bức thư, tôi cảm thấy ác cảm đối với tác giả của nó. Mặt bà ta có lẽ cũng dày như đế ủng, nên mới tự cho mình quyền nhìn người khác một cách trịnh thượng như vậy. Câu trả lời của bà ta không cứu được ai và cũng không giết chết ai. Hơn nữa, chẳng lẽ lại có thể dùng những lời giáo huấn thô thiển để cứu chữa lành các vết thương lòng? Nghĩ cho cùng, bà ta cũng đã làm một cách vô trách nhiệm.
- Cuộc đời bây giờ là thế đấy. Ở đâu cũng vậy cả thôi, - Ông già thợ cắt tóc nói với khách hàng.
Tôi ném tờ tạp chí sang một bên và quên ngay Mi-xu.
Thêm một năm trôi qua. Những lúc khó khăn Kim lại giao việc cho tôi, dù là không hoàn toàn trong sạch lắm, nhưng nhờ vậy mà tôi tốt nghiệp được đại học.
Năm đó bắt đầu chiến tranh ở Triều Tiên.
Các trường tư nhân trong nước gặp phải những khó khăn tài chính, vì vậy sinh viên được tuyển vào học đã được tốt nghiệp không bị một hạn chế nào cả. Nhờ thế mà tôi và bạn tôi, Na-ga-xi-ma, vốn rất ít đến trường nghe giảng và kiến thức khoa học cũng chẳng được bao nhiêu, cũng được nhận bằng. Thế là chúng tôi bị vứt ra đường…
- Thôi nhé, tạm biệt cậu. Chúc cậu mạnh khỏe.
- Tạm biệt.
Chúng tôi chia tay nhau trên sườn dốc ngọn đồi Xi-un-ga-đai.
Chúng tôi quả là những người bạn chân chính: ăn cùng một bát, thậm chí dùng chung cả quần áo lót, và bây giờ chúng tôi xa nhau. Mỗi người đều dấn bước vào cái đại dương có tên gọi là xã hội. Cái gì sẽ đến với chúng tôi? Ai biết trước được! Nhưng chúng tôi muốn rằng bên cạnh tôi và bên cạnh bạn tôi luôn có một người đàn bà…
Khóa học của chúng tôi gặp may. Nhờ chiến tranh Triều Tiên, công nghiệp phát triển, và chúng tôi tìm ra việc khá dễ dàng. Tất nhiên chúng tôi không dám mơ ước sẽ được đến làm việc ở các ngân hàng, công ty lớn - ở đó họ chỉ lấy người tốt nghiệp đại học tổng hợp Tô-ki-ô.
Tôi vào làm việc ở một hãng buôn đinh. Hãng này không thuộc vào loại lớn, ngoài giám đốc và hai viên quản lý, biên chế của nó gồm hơn hai chục nhân viên. Nhưng hãng này kí hợp đồng với các xí nghiệp sắt rất lớn, và vì vậy rất có tương lai. Việc làm ăn của nó đang phát đạt, và tôi hoàn toàn bằng lòng. Nói cho cùng, việc nó hơi nhỏ nhưng chưa phải là điều quan trọng lắm.
“Thà làm đầu gà trống còn hơn làm đít bò cái”, - tôi kết thúc bức thư gửi về nhà báo việc đã kiếm được chỗ làm bằng câu châm ngôn mà tôi học được trong các năm làm sinh viên.
Cuối cùng, trước mắt tôi, sau bao nhiêu năm đói khát, cùng quẫn, đã xuất hiện niềm tin, ánh sáng.
Trong số nhân viên của hãng, hầu như không ai có trình độ đại học, chỉ riêng một mình tôi vừa mới rời ghế sinh viên, tức là người trẻ nhất và có học thức nhất. Vì vậy, ngay từ ngày đầu tiên, tôi đã không nghi ngờ rằng các cô gái sẽ nhìn tôi với một sự ngưỡng mộ.
Nhưng cái cơ bản nhất là cần thiết phải trở thành đầu gà trống. Điều này tốt hơn là đứng ở bực cuối cùng của một công ty lớn - tức là làm đít bò cái.
Trong tàu điện ngầm, tôi đứng nhìn vào cửa kính tối đen, cố hình dung ra mình 10 - 15 năm sau sẽ như thế nào và mỉm cười rạng rỡ.
Những chiếc ghế bành quay sang trọng bọc da mà các ông quản lý Ca-tao-ca và I- ô-xi-mu-ra ngồi không giống như ghế của những nhân viên cộng sự khác. Những bộ máy điện thoại màu trắng in bóng trên mặt bàn sáng loáng. Buổi sáng tất cả mọi người đứng chào Ca-tao-ca và I-ô-xi-mu-ra. Còn Hi-rôi-a-ma phải mang chè vào tận phòng họ.
Mười năm năm sau tôi cũng sẽ trở thành người như vậy.
Để có được điều đó, cần phải làm gì?
Trên đường về nhà, tôi mua ở hiệu sách cũ mấy quyển “Bí mật thành công”. “Làm công danh như thế nào”. Đọc chúng rất khó, cũng khó như hiểu chúng nói về những chuyện gì, Tác giả của một trong số những quyển sách như vậy, quyển sách “Sức mạnh của niềm tin” (dịch từ tiếng Anh), khuyên hàng ngày đứng trước gương nói to lên điều mình muốn đạt được. Tác giả cuốn sách này khẳng định rằng sự tự ám thị như vậy sẽ thôi miên con người, làm khơi dậy trong anh ta những sức mạnh thần bí giúp anh ta thực hiện được bất kỳ một mơ ước nào. Và tất cả những cuốn sách này đều đồng thanh khẳng định rằng để đạt được công danh, mọi phương tiện đều tốt cả…
Vào giờ nghỉ trưa, khi tất cả đều đi chơi và trong phòng không còn ai, tôi vào phòng rửa mặt, đến đứng trước gương và khẽ nói.
- Tôi sẽ đạt được danh vọng! Ta sẽ đạt được danh vọng bằng bất kỳ giá nào! Ta sẽ đạt được tất cả.
Khuôn mặt tôi trong gương trông rất đần độn và thảm hại, méo mó như người đang bị chứng táo bón hành hạ. Tuy vậy, tôi vẫn nhắc đi nhắc lại những lời trên một cách thành tâm, cố gắng.
Và một lần, khi tất cả đã đi dạo chơi, tôi đang đứng trước gương và thực hiện nghi lễ thường ngày của mình, thì chợt nhận thấy trong gương, bên cạnh mặt mình khuôn mặt một cô gái trẻ.
Cô gái bối rối trước.
Đó là Mi-u-ra Ma-ri-cô, cháu gái của ngài giám đốc. Có lẽ vì vậy mà hai người quản lý, trong lúc nói chuyện, gọi cô ta là “Mi-xơ” (Miss: mi-xơ) dùng để gọi kính trọng các cô gái chưa chồng). Cô ta đã làm việc ở đây sang năm thứ hai.
- Tôi tưởng là có kẻ trộm vào đây…
- Ờ - ờ - ờ…
- Xin lỗi anh, - cô ta mỉm cười nói. - Tôi đi chơi về và nghe tiếng của anh, tôi rất ngạc nhiên và còn định gọi người đến. - Cô ta rót một cốc nước đầy và vừa uống vừa nhìn thẳng vào mặt tôi. - Anh kỳ quặc thế nào ấy I-ô-xi-ô-ca ạ!
- Sao chị lại cho là như vậy?
- Anh sống kín đáo, tách biệt, ít nói chuyện với ai, và bỗng nhiên lại nói chuyện với chính mình ở trong phòng rửa mặt.
Tôi nghe cô ta nhưng đầu nghĩ hoàn toàn về chuyện khác. Ôi đôi mắt của cô ta! Lấp lánh như hai viên kim cương đen! Cặp môi cô ta vừa uống nước xong đỏ hồng, mọng ướt, những giọt nước long lanh chảy lăn theo chiếc cằm trắng như tuyết.
Tôi nhớ lại câu chuyện của Na-ga-xi-ma về những cô gái hái nho trong nắng mùa thu.
Ôi giá như tôi được yêu một cô như vậy, hoặc ít ra được nói chuyện với cô ta! Và đấy, Mi-u-ra Ma-ri-cô đang đứng trước mặt tôi! Có lẽ cô ta còn đẹp hơn các cô thôn nữ kia nữa.
Và tôi bỗng nhiên thấy rằng trong tôi, sự khâm phục trước sắc đẹp của Ma- ri-cô còn trộn lẫn một cảm giác vụ lợi khác. Bởi vì cô gái này là cháu gái của ngài giám đốc, và như thế có nghĩa là sự gần gũi với cô ta đối với tôi sẽ không vô ích.
- Biết làm sao được! - Tôi thở dài. - Bởi vì ở đây tôi là lính mới; tôi lại có nhiều điều phải lo lắng. Thứ nhất, cần phải học sử dụng bàn tính. Trước đây chưa bao giờ tôi học cái này cả. Và bây giờ đêm nào tôi cũng thấy những bàn tính có chân cứ đuổi riết theo tôi.
- Tội nghiệp! - Ma-ri-cô phá ra cười. - Quả thường ngày tôi cũng thấy anh hay cau có gẩy từng con tính. Nhưng anh đã tốt nghiệp đại học và việc này anh cũng sẽ làm được không khó gì.
- Này, - tôi nói bằng một giọng nghiêm chỉnh. - Hay chị dạy cho tôi? Chị tính rất giỏi mà.
- Nhưng…
- “Nhưng” cái gì nữa? Người nào biết rồi cần phải giúp những người chưa biết - đó là nghĩa vụ của tình người.
Cô gái cúi đầu, xoay xoay chiếc cốc trong tay. Rồi e thẹn nhìn tôi. Khuôn mặt cô ta thật đẹp, thật dịu dàng. Không như mặt của ả ngốc tốt bụng Mi-xu.
Những buổi học của chúng tôi diễn ra ở một quán trà cách chỗ làm việc không xa.
Ma-ri-cô bày vẽ rất tận tình, còn tôi là một học sinh ngoan ngoãn, cố gắng nhất.
Chúng tôi chọn quán trà là vì, thứ nhất, tôi không muốn cho các nhân viên khác chỉ có trình độ trung cấp kỹ thuật vốn hàng ngày đã nhìn tôi với vẻ không thiện cảm, biết rằng tôi, một kỹ sư có bằng hẳn hoi, lại không biết sử dụng bàn tính: thứ hai, ở trong quán trà cũng dễ bắt những câu chuyện thân mật với Ma- ri-cô hơn.
Ý nghĩ về cô ta càng ngày càng hay xuất hiện trong đầu tôi, và những cuộc gặp gỡ với Mô-ri-ta Mi-xu giờ trở nên xa xôi, đến nỗi tôi không còn tin chắc có thật sự đã bao giờ tồn tại trên đời này một cô gái với tên Mô-ri-ta Mi-xu hay không?
Nhưng những hành động của chúng ta đối với người khác không thể không để lại dấu vết gì, chúng không biến mất như những bông tuyết tan dưới ánh mặt trời tháng hai. Anh có thể vĩnh viễn từ bỏ, có thể quên đi nhưng nên nhớ rằng những hành động của anh sẽ được giữ lại trong trí nhớ, trong kỷ niệm của người khác. Nhưng lúc đó tôi nào có nghĩ đến điều này…
Chẳng lẽ tôi lại giảo quyệt, mất dạy hơn những người đàn ông khác? Tôi không nghĩ như vậy. Ít ra là một nửa trong số chúng ta phải trải qua những gì như giữa tôi và Mi-xu, và sự cố gắng của tôi để được Ma-ri-cô yêu mến và để chiếm cảm tình của giám đốc, chắc bất cứ nhân viên nào cũng hiểu được …
Vâng, tôi không phải là con người đứng đắn, nhưng chẳng lẽ tôi là lọai đặc biệt trong đội ngũ những nhân viên phục vụ của các công ty ở Tô-ki-ô, những người vẫn mơ ước về một cuộc sống sung túc, yên ổn?
Vâng, tôi quyết định lợi dụng tình yêu của Ma-ri-cô cho con đường danh vọng của mình, nhưng quả thật tôi cũng yêu mến cô ta. Tôi say mê chiếc cổ trắng như tuyết, nụ cười mỉm thoáng qua và sự thông minh nhanh nhẹn của cô ta.
Hai tháng sau khi tôi nhận việc, vào đầu tháng sáu, hãng của chúng tôi tổ chức một cuộc đi chơi tập thể dành cho các nhân viên. Đó là sáng kiến của giám đốc. Buổi dạo chơi tập thể này này nhằm mục đích tạo sự gần gũi thân mật giữa những người đã làm việc ở đây lâu và những nhân viên mới đến. Chỗ để dạo chơi ở cạnh một trong những chiếc hồ ở chân núi Phút-di-a-ma.
Thứ bảy, chúng tôi đi tàu hỏa đến Ô-đem-ba rồi chuyển sang ô-tô buýt. Ngày hôm đó nóng nực, trong xe ngột ngạt. Những ngọn đồi xanh lướt nhanh ngoài cửa sổ. Nhưng không ai chú ý đến đến phong cảnh. Chúng tôi hò hát, khao nhau các loại bánh kẹo, Xai-a-ma-xan, người già nhất trong số các nhân viên của hãng, thổi kèn ác-mô-ni-ca.
- Xem kìa, I-ô-xi-ô-ca và Ma-ri-cô cứ quấn quýt với nhau. Ở tàu hỏa cũng vậy, ở ô tô cũng vậy, cứ cặp kè. Có chuyện lôi thôi rồi.
Mọi người cười trêu chúng tôi, nhưng đó chỉ là những câu đùa vô tư, không ác ý.
- Các người chỉ nói… chúng tôi chỉ… Việc này thì có gì đặc biệt đâu nào? - Ma-ri-cô chống chế, mỉm cười sung sướng và ngượng nghịu.
Tôi không cố che giấu tình cảm của mình như khi ở nhà nữa.
- Trước khi đến làm việc ở hãng, em làm gì ở đâu? - Tôi vừa nhai kẹo ngọt mà Ma-ri-cô đưa cho tôi vừa suồng sã hỏi, mắt nhìn lên cửa sổ lên những ngọn cây ngả nghiêng bên đường. - Chắc là sống ở quê với bà ngoại?
- Không, -cô ta bất ngờ trước giọng nói của tôi. - Trước đây em có làm ít lâu tại văn phòng của xí nghiệp dược phẩm Cây-đô.
“Xí nghiệp dược phẩm Cây-đô? Mình nghe cái tên này ở đâu rồi nhỉ?”
- Ở đó chế thuốc à?
- Vâng. Trước đây làm xà phòng, còn bây giờ làm thuốc.
“Mình đã nghe điều này ở đâu nhỉ? A phải rồi, Mi-xu… Hình như Mi-xu làm ở đó.
- Xí nghiệp nhỏ thôi, nhưng em thích ở đó lắm.
- Thế ở đó có cô Mi-xu… Mô-ri-ta Mi-xu làm không?
- Có. Hình như quê cô ta ở Ca-va-cô-xi phải không? Anh biết cô ta à, anh I- ô-xi-ô-ca?
- Không, anh chỉ hỏi vậy tôi. Một anh bạn của anh…
Tôi im lặng.
Cô ta không nhận thấy gì cả. Nhưng nếu có nhận thấy, thì tôi cũng có cách giải thích rằng mặt tôi đỏ lên và vì mệt và vì trong xe nóng quá.
Lát sau chúng tôi đến cạnh một chiếc hồ nước xanh. Những mái nhà màu đỏ màu vàng xung quanh chiếc hồ chìm ngập trong màu xanh của cây cối, còn những ngôi nhà nghỉ mát trông hệt như những hộp đồ chơi. Các cô gái ồn ào xô đẩy nhau xuống xe.
Mùa nghỉ mát mùa hè còn chưa bắt đầu, nhưng trên bờ hồ các quán ăn, các cửa hàng lưu niệm đã mở cửa.
Một gia đình người Mỹ - có lẽ là sĩ quan trong quân đội chiếm đóng - đang ngồi thuyền gắn máy lướt trên mặt hồ.
- Tuyệt quá! - Ma-ri-cô thì thầm, mắt không rời chiếc thuyền lướt nhẹ trên mặt nước đang rẽ mặt hồ phẳng lặng ra làm hai nửa.
Gió thổi chiếc khăn trên đầu cô ta phất phơ.
- Anh có thích thể thao không, anh I-ô-xi-ô-ca?
- Có.
- Môn gì?
- Cưỡi ngựa.
Không biết tại sao tôi lại trả lời như vậy. Có lẽ là vì muốn khoe khoang. Và ngay lập tức tôi phải trả giá cho chuyện đó.
- Anh hay cưỡi ngựa à?
- Đôi khi.
- Hay quá! Anh biểu diễn cho chúng em xem nhé! Hình như ở đâu đây có cho thuê ngựa.
Từ chối lúc này đã quá muộn.
Đằng sau quầy bán đồ lưu niệm, chúng tôi thấy bốn người nông dân đang dắt ngựa cho ăn. Ma-ri-cô chạy đến chỗ họ, tôi thất thểu theo sau. “Muốn ra sao thì ra. Chỉ làm sao đừng sợ. Đây có phải ngựa đua của trường đua Tô-ki-ô đâu, chỉ là mấy con nghẽo nông dân thôi mà!”
Nhưng tôi rất lo cho cánh tay phải của tôi.
Đúng như tôi đoán, mấy con ngựa rất gầy, mắt đầy ghèn, hàng đàn ruồi bâu quanh. Mọi người đứng nhìn chúng tôi cười đùa, trêu chọc. Tôi cần phải tỏ rõ mình!
Người nông dân thấy tôi vất vả mới leo lên được lưng ngựa, cười khẩy. Con ngựa già lo lắng nheo mắt, lắc đầu, cong đít lên như muốn hất khỏi mình một gánh nặng không biết từ đâu mang đến.
- Hình như lần đầu tiên anh cưỡi ngựa? - Người nông dân kính cẩn hỏi.
- Ai bảo anh thế?!
- Nếu thế thì không cần phải giúp anh.
Tôi suýt nữa thì văng tục, may có Ma-ri-cô đứng bên cạnh.
Không bao giờ tôi nghĩ rằng con ngựa lại to đến như vậy. Tôi có cảm tưởng như chân tôi đang ngồi kẹp lên trên một chiếc thùng lớn tướng. Người nông dân khe khẽ lấy tay vỗ lên mông ngựa và nó bắt đầu khuệnh khoạng bước đi.
- Anh I-ô-xi-ô-ca, cẩn thận không ngã đấy, -Ma-ri-cô kêu to.
- Khéo vẽ trò! - Cánh đàn ông nhìn tôi ghen tị và không thiện cảm.
Tôi chẩm chậm đi qua trước mặt họ.
“Không có gì ghê gớm cả, - tôi tự động viên mình. - Loài ngựa như thế này không bao giờ chạy nhanh hoặc lồng lên đâu”. Nắm chặt dây cương, tôi quay người nở một nụ cười đắc thắng.
Ma-ri-cô đứng trên bờ hồ lấp lánh đáp lại tôi một nụ cười rạng rỡ. Bầu trời tháng sáu rất trong xanh.
Con ngựa bỗng nhiên đứng lại và bắt đầu ngắt cỏ ăn.
Tôi kéo căng dây cương và đánh khe khẽ lên sườn ngựa, nhưng nó không hề mảy may chú ý đến tôi và vẫn tiếp tục gặm cỏ.
- Sao thế, anh I-ô-xi-ô-ca?
- Sao cậu dừng lại thế? Phóng đi xem nào.
Tất cả mọi người nhìn tôi, và tôi luống cuống, mồ hôi rịn ra trên trán. Tôi đánh mạnh lên mông ngựa, nó ngẩng đầu lên như muốn nói: “Này sao anh cứ quấy nhiễu tôi thế nhỉ?” - và uể oải bước đi tiếp.
Tôi quay lại phía Ma-ri-cô nở một nụ cười đắc thắng.
Nhưng Ma-ri-cô, đứng bên bờ mặt hồ lấp lánh ánh bạc, nhìn tôi hơi bối rối. Bầu trời tháng sáu trong xanh…
Con ngựa lại dừng. Bây giờ nó dùng chiếc đuôi dài đuổi ruồi và đám ruồi bay rối rít quanh bộ mặt đẫm mồ hôi của tôi.
- Tại sao anh không bắt nó chạy nhanh lên, anh I-ô-xi-ô-ca?
- E… Ngựa nó thông minh lắm. Nó biết ai đang cưỡi nó chứ. Nếu là người mới, đến tai nó cũng chẳng thèm nhúc nhích.
“Được rồi, đợi đấy, đồ chết tiệt, - tôi nghĩ thầm. - Đợi đấy, rồi tao sẽ cho mày nhảy lồng lên”.
Tôi lấy hết sức bình sinh đấm mạnh lên phần mông của ngựa. Tốt lắm. Con ngựa vươn cổ ra và rảo bước chạy dọc theo đồng cỏ xanh.
Tôi quay lại mỉm cười đắc thắng với Ma-ri-cô.
Còn Ma-ri-cô, đứng trên bờ mặt hồ lấp lánh buồn ngơ ngác nhìn tôi.
Nhưng ngựa lại dừng. Nghe có tiếng nước chảy xuống đất. Năm… Mười… mười một giây… Tôi có cảm tưởng như nó kéo dài vô tận.
- Làm cái trò ngu ngốc gì thế kia?
- Nhìn phát lợm!
- Đấy là còn chưa…
Con ngựa trơ tráo quay chiếc mông rộng về phía đám phụ nữ và cong đuôi lên. Mùi phân tươi lập tức xộc vào mũi tôi.
Tôi cảm thấy như chính mình vừa làm cái việc bất nhã đó ngay trước mắt đám đông đáng kính. Không thể chịu nhục nhã hơn nữa, tôi tụt xuống đất, và con ngựa ngu ngốc đó, thấy mình được tự do, chạy ngay về phía chủ của mình.
Đám phụ nữ ôm bụng cười ngặt nghẹo, cố tránh không nhìn tôi. Còn cánh đàn ông thân mật vỗ vai tôi cười rất to.
Ma-ri-cô không còn trên bờ hồ nữa…
Nhưng tuy thế, cái tình tiết đáng xấu hổ đó vẫn mang lại lợi cho tôi. Từ trước đến nay các bạn đồng nghiệp có vẻ tránh tôi, bây giờ quan hệ giữa chúng tôi trở nên thân mật hơn.
Khi ăn trưa và trong ô-tô trên đường về nhà, mọi người chỉ nói về tôi; nhưng Ma-ri-cô ra sức bảo vệ tôi, và thỉnh thoảng, tôi lại bắt gặp ánh mắt đầy thông cảm của cô ta.
Để khỏi phải đi lại con đường buổi sớm đến đây, chúng tôi chọn một con đường khác, mặc dù nó xa hơn.
Vầng mặt trời to màu hung đỏ treo nơi chân trời, hào phóng tỏa từng dòng ánh sáng lên làng mạc, đồi rừng, ruộng đồng. Ngọn Phút-di-a-Na-ga-xi-ma bệ vệ nổi cao lên trong từng làn sương nhạt.
- Anh có giận em không đấy ? - Ma-ri-cô ép sát vào người tôi, hỏi.
- Vì sao?
- Vì em bắt anh cưỡi ngựa.
- Em nói gì vậy! có gì đâu… đến khỉ cũng có lúc rơi trên cây xuống nữa là…
Tôi cảm thấy mình rất hạnh phúc.
Những năm tháng sinh viên vất vả đã lùi lại phía sau. Những cơn đói thường xuyên, những lần làm thuê cho Kim, những tấm áp phích giả dối …. Vĩnh biệt, quá khứ. Bây giờ tôi cho là một người đàn ông đầy nghị lực, đầy quyết tâm sắt đá trở thành đầu của một con gà trống.
Tôi sẽ làm nên công danh! Bằng bất cứ giá nào tôi cũng sẽ làm nên công danh!
Lúc trời đã bắt đầu tối, chúng tôi thấy ở giữa rừng có mấy ngôi nhà bằng gỗ giống như trại lính. Xung quanh đó không có lấy một bóng nhà dân nào.
- Cái gì kia? Trường học à - Tôi hỏi người bán vé.
- Đâu?
- Mấy ngôi nhà trống như trại lính kia kìa.
- À-à đó là trại hủi. Bệnh viện dành cho những người bị bệnh hủi.
- Dành cho những kẻ bị trời phạt à?
- Cho họ đấy.
- Đóng cửa sổ lại nhanh lên, không vi trùng bay vào xe bây giờ.
Tất cả đều cười, nhưng có một vài người vội chạy lại đóng cửa sổ thật.
Bệnh viện dành cho những người hủi! Nó đứng cô đơn giữa rừng. Xung quanh không có một ngôi nhà dân nào. Dưới bầu trời chiều xám, cánh rừng và những ngôi nhà trông buồn bã dường như có một bóng đen của sự buồn thảm nặng nề trùm lên tất cả.
- Những người hủi cần phải nhốt ra ngoài đảo và làm cho tuyệt đường sinh đẻ, để họ không còn con cái khổ sở, - tôi nói.
- Anh nói nghiêm chỉnh đấy à? - Ma-ri-cô mệt mỏi hỏi tôi.
- Nghiêm chỉnh. Chẳng lẽ anh nói không phải sao?
- Nhưng dã man quá. Anh không thương hại những người như vậy à.
Cả hai chúng tôi bối rối im lặng. Nhưng khi xe đến Ôm-đem-ba, sự bối rối im lặng cũng biến mất. Chúng tôi thì có liên quan đến những người bị bệnh hủi? Tôi không muốn biết đến họ! Và thậm chí ngồi nghĩ đến chuyện có nên thương hại họ hay không cũng đã ngớ ngẩn rồi.
Ma-ri-cô lại trở nên vui vẻ. Tôi kể cho cô ta nghe những mẩu chuyện tiếu lâm, cô ta cười rất to, bàn tay bịt miệng.
Đến Tô-ki-ô chúng tôi chia tay nhau. Những người có gia đình đi ngay về nhà, còn mấy chàng độc thân chưa muốn giải tán vội.
- Bây giờ đi tắm một cái thì khoái biết mấy!
- Đúng lắm! Ta đến nhà tắm Thổ-Nhĩ Kỳ đi! Một người nào đó đề nghị, tất cả mọi người hưởng ứng.
- Đi nhà tắm Thổ Nhĩ Kỳ đi!
Trong thời gian gần đây ở Tô-ki-ô bắt đầu xuất hiện những nhà tắm Thổ Nhĩ Kỳ. Đến đây sự mệt mỏi của cả ngày sẽ như được trút sạch, nhưng cái chính - và điều này hấp dẫn chúng tôi nhiều hơn cả - ở đó có những cô xoa bóp gần như trần truồng phục vụ.
Ở nhà tắm Thổ Nhĩ Kỳ tôi lại nhớ đến Mi-xu.
Từ xưa người ta đã nói như vậy. Còn các bạn, những nữ bạn đọc thông minh của tôi ơi, đã bao giờ các bạn được nhìn vào một căn phòng của hai người đàn ông chưa vợ? Đã bao giờ các bạn được thở thứ không khí nặng nề, được thấy sự bừa bãi thường xuyên ngự lại trong các nơi trú ngụ của những chàng trai trẻ lười biếng?
Nếu có anh em trai hoặc người yêu sống ở một thành phố khác, các bạn nên thử đến thăm họ. Tôi tưởng tượng ra sự sửng sốt của các bạn khi đẩy cửa bước vào và buột miệng kêu thốt lên: “Ôi kinh khủng quá”.
Câu chuyện của chúng ta bắt đầu từ căn phòng của hai chàng trai trẻ vào khoảng ba năm sau chiến tranh.
(Tôi muốn báo trước cho các bạn nữ rằng đọc câu chuyện này, đôi lúc họ phải ngượng ngùng đỏ mặt. Tôi xin lỗi trước và cam đoan rằng việc này hoàn toàn không phải tại tôi).
Vào thời gian đó, Na-ga-xi-ma Xi-ghe-ô và tôi, I-ô-xi-ô-ca Xu-tô-mu, hãy còn là những sinh viên chưa vợ.
Cửa sổ căn phòng nhỏ xíu của chúng tôi thuê ở thị trấn Can-đa trông thẳng ra mấy ngôi nhà thảm hại còn in vết tích của những lần cháy, những trận ném bom và những túp lều xấu xí được dựng vội trên các nền nhà bị phá hủy. Trong phòng, bùn rác đọng lại thiếu tí nữa thì thành vũng, còn mùa hè chúng tôi không biết làm thế nào để trốn khỏi lũ rệp nhiều vô kể.
Nhưng vào thời đó, để kiếm được một căn phòng như vậy cũng phải tốn mất biết bao công sức. Anh bạn của tôi, Na-ga-xi-ma Xi-ghe-ô mặc dù cùng họ với vận động viên bóng gậy lừng danh, có một thân hình hoàn toàn không vạm vỡ tí nào. Bộ ngực lép kẹp và cặp giò gầy gò của anh ta chứng minh cho một chế độ ăn uống rất kém và bừa bãi. Nhưng so với tôi, anh ta còn khá hơn nhiều: đã gầy đến mức khó tưởng tượng được, tôi lại còn bị thọt chân phải sau một trận bại liệt hồi còn nhỏ.
Cả hai chúng tôi thường ít khi có mặt ở trường đại học. Nông thôn lúc đó đang đói, và chúng tôi không thể trông chờ vào sự viện trợ của gia đình; vì vậy như phần lớn các sinh viên khác, phải tự mình đi tìm việc làm thuê để kiếm thêm. Nhưng việc làm của chúng tôi hồi đó khác xa với việc làm của những tay sinh viên láu cá ngày nay chỉ đi chơi thuê cho các dàn nhạc Ja cũng đã kiếm được mấy nghìn bảng. Chúng tôi phải đi bốc vác, chuyên chở những thứ máy móc dụng cụ điện nặng đến còng lưng cho các cửa hiệu, bán vé sổ số hoặc kèm hoa quả ở các bãi tắm - tóm lại, làm bất cứ việc gì mà ngày nay một thanh niên đội mũ lưỡi trai bốn góc của sinh viên nào cũng coi là rất đáng xấu hổ.
Chúng tôi mơ ước về con gái, bất kể loại nào, thậm chí - tôi xin lỗi vì hơi thô tục - cả gái đứng đường cũng được. Thời đó, những mơ ước như vậy, thậm chí cả các cô gái đứng đường cũng khịt mũi quay lưng lại đối với những cậu sinh viên nghèo đói sống bằng những khoản tiền thuê kiếm được tình cờ như chúng tôi.
- Giá bây giờ có được ả thật kháu nhỉ, - khi không tìm được việc gì, chúng tôi nằm dài trên những tấm nệm bẩn thỉu, thở dài. Chúng tôi bịt miệng và mũi bằng những vải màn như khẩu trang không phải vì ốm, mà chỉ đơn giản vì phòng mấy tháng nay chưa quét dọn, bụi đến không thở được, mà cả hai đứa đều lười, không muốn quét.
Vào buổi trưa một ngày mùa thu, khi những tia nắng mặt trời lọt vào phòng như xuyên qua lần cửa chớp, trong bầu không khí tươi mát vang lên giọng hát rất rõ của Ca-xa-ghi Xi-du-do đang biểu diễn qua đài, chúng tôi ngồi xổm trên chiếc nệm vấy mỡ và húp món canh khoai tây nấu bằng bếp điện. Mùi canh hơi thoang thoảng thơm trộn lẫn với mùi hôi của chiếc giường bẩn, và không hiểu sao tôi lại nhớ đến mùi của căn nhà thân thuộc ở nơi quê, mùi của làn da và mái tóc mẹ. Màu xanh hờ hững của bầu trời thu và những cái mùi đã gần như bị lãng quên đó bỗng làm tôi cảm thấy buồn.
- Này, nếu cậu không ăn thì đưa đây cho tớ, - vừa liếm chiếc bát đánh xoáy được ở một cửa hiệu ăn. Na-ga-xi-ma vừa nhìn tôi một cách thèm thuồng.
- Cậu cũng đã ăn vào phần tớ hai phần rồi còn gì.
- Mẹ kiếp, không thể sống thế này được nữa. Không chỉ thể xác mà cả tâm hồn cũng ngập ngụa trong bùn.
Đôi lúc Na-ga-xi-ma bỗng trở nên đa sầu cảm, đắm mình trong hồi tưởng và bắt đầu kể về tuổi thơ của mình trôi qua ở quận I-a-ma-an-xi - một miền đồi núi với rất nhiều những vườn nho tươi tốt.
- Mùa thu, - Na-ga-xi-ma thở dài. - Ở chỗ tớ mùa thu người ta bắt đầu thu hoạch nho: những chùm quả nặng trĩu, chín mọng ánh lên dưới nắng, những cọc chống bằng gỗ phải oằn cong lại. Lũ con gái đội mũ rơm bện, bắp chân quấn xà cạp, hái nho bỏ vào giỏ. Khi chúng dướn người lên để hái, giữa khoảng gấu váy và xà cạp quấn ở bắp chân lộ ra một khoảng da trắng nõn. Lúc đó tớ còn là một thằng lỏi con bé tí mà cũng đã cảm thấy ở đấy có một cái gì rất tuyệt.
Vừa vung đũa, hình như Na-ga-xi-ma vừa trông thấy trước mắt mình bức tranh đầy quyến rũ. Phần tôi, tôi cũng cố tưởng tượng ra những cô thôn nữ tinh nghịch trong làn ánh nắng mùa thu, những bắp chân tròn trắng mịn của họ. Được hái nho bên cạnh họ thì hạnh phúc biết mấy!
–Thôi, đủ rồi! – Giọng của Na-ga-xi-ma đưa tôi trở về thực tại không vui. - Phải đi thôi. Tự cậu cũng biết đấy, có tiền thì cũng sẽ có gái, - Na-ga-xi-ma đứng dậy, cởi chiếc áo dài bằng bông dính đầy dầu mỡ và túm lấy chiếc va-li độc nhất của hai đứa chúng tôi để trong hốc tường.
- Bẩn hết cả, - anh ta kêu to, vứt từ trong va-li ra những áo sơ mi và quần đùi. Trông Na-ga-xi-ma giống hệt như một con chó đang dùng chân bới đất. - Chẳng lẽ không có lấy miếng giẻ nào hơi sạch hơn à? Bẩn quá! Đấy chỉ là vì cậu đến nhà tắm cũng không chịu kỳ cọ cho kỹ một tý.
Nhưng thực ra đó là do chúng tôi nhét quần áo bẩn vào va-li, và chính Na- ga-xi-ma biết rất rõ điều ấy.
Tất nhiên, trong thời gian đầu chúng tôi ở chung với nhau, mỗi đứa đều có quần áo riêng của mình nhưng dần dần, không ai để ý, áo sơ mi của tôi chuyển sang người Na-ga-xi-ma, còn quần lót của Na-ga-xi-ma lại sang tôi. Thêm vào đó, để khỏi mất công giặt, chúng tôi thường chọn trong đống giẻ đã lâu không giặt này một cái gì đó còn khả dĩ ít bẩn hơn để mặc.
(Xin các bạn nữ đừng nhăn mặt, tôi đã báo trước rồi mà. Không chỉ có tôi và anh bạn của tôi, mà cả anh em trai và cả người yêu của các bạn - tất cả chúng tôi, những kẻ chưa vợ, đều sống như thế…).
Buổi chiều tôi và Na-ga-xi-ma chia tay nhau trong đám đông chen chúc ở ga Ô-tra-nô-mit-du. Anh ta đến một khu phố giàu có để giắt con chó của một ông chủ đi chơi. Đây là giống chó săn poanh - ta và khẩu phần ăn của nó hôm nào cũng có thêm mỡ và sữa. Thậm chí sau chiến tranh ở Nhật Bản vẫn còn những người tự cho phép mình được xa xỉ như vậy đấy!
Sau khi đi xuống ngọn đồi Xi-un-ga-đai, tôi đến văn phòng của “Hội cứu trợ những sinh viên nghèo toàn Nhật Bản”. Mặc dù có tên gọi rất to tát là văn phòng, nó chỉ gồm một căn phòng bé tí trong túp lều xiêu vẹo làm chỗ cho sinh viên đến. Trong căn buồng nhỏ này nhiều người được giúp tìm ra việc làm hoặc chỗ ở chỉ phải thuê với giá rẻ.
Trước cửa văn phòng, một toán sinh viên - tất cả cũng gầy gò như tôi - đang đứng đứng sưởi nắng dưới ánh mặt trời thu yếu ớt. Họ ăn mặc cũng rất xoành xĩnh - phần lớn là áo lính, một số có áo khoác ngoài đã sờn rách.
Chờ đến lượt mình, tôi bước vào văn phòng và bắt đầu đọc những tờ thông báo thuê việc dán ở các bức tường. Cần người quét dọn ở Hoàng cung - việc này được trả cũng khá, nhưng đối với tôi thủa nhỏ bị bệnh bại liệt, nó quá sức. Cần người bán bán vé xổ số - việc này phải chạy luôn chân mà tiền công lại quá ít. Những chỗ cần thầy dậy kèm - việc này hợp với tôi hơn cả - thì đã bị sinh viên của các trường đại học tổng hợp nổi tiếng nhất - Tô-ki-ô và Hi-tô-xu-ba-xi - chiếm hết.
Tôi thất vọng thở dài, thì chợt trông thấy ở góc phía bên dưới bảng một tờ thông báo nhỏ màu xám còn chưa bị bút chì đỏ của người thư ký văn phòng gạch chéo.
“Quận Ti-ba, cần một người dán áp-phích. Tiền công nhật - 200 Yên (đơn vị tiền tệ Nhật Bản). Tiền tàu xe được thanh toán”.
Có lẽ những sinh viên khác cũng đã trông thấy tờ thông báo này, nhưng chắc họ chê quận Ti-ba quá xa, không phải ai cũng muốn đi tít tắp như vậy khi trong bụng chẳng có gì.
Có nên đi không?
Tôi trầm ngâm quay con xúc xắc nằm trong túi quần. Tôi không mê tín, nhưng khi nào gặp khó khăn trong việc phải chọn một quyết định nào đó, tôi lại nhớ đến quân bài thần kỳ này. Nhu rất nhiều sinh viên sau chiến tranh phải chịu cảnh nghèo túng thiếu thốn, đói khát, lang thang, tôi không sống dựa vào sức mình và một khi đã không tin vào mình nữa, người ta thường làm theo những điềm báo ngẫu nhiên.
Con xúc xắc ngửa mặt chẵn lên trời. Đi!
Tôi thò đầu vào cửa sổ.
- Chọn được rồi à? - Người thư ký, một tay đàn ông trung niên đầu đã bắt đầu bạc, giở tìm qua mấy tờ giấy, hỏi - Công ty “Bạch hạc” khu phố thứ ba, đường Xim-pô. Tôi cần báo trước với anh rằng có tiếng tăm đáng ngờ lắm đấy.
- Đối với tôi không quan trọng.
Người thư ký im lặng chìa ra tờ giấy giới thiệu mà tôi cần phải trao cho người chủ thuê.
Đường Xim-pô… Tôi đã biết đường phố này. Đi đến đó mất chừng 15 phút. Hình như Xim-pô không bị ném bom và những ngôi nhà cũ của nó vẫn còn nguyên vẹn.
Tôi đi dọc theo hàng rào đổ nát. Từ trong các căn nhà thoảng ra mùi bữa cơm chiều, những con người đang bổ củi, đứng trò chuyện… Một ông già ca- mi-xi-bai (Người làm nghề kể chuyện bằng tranh vẽ trên giấy) ngồi trên chiếc xe đạp cũ với bộ đồ nghề buộc chặt trên giá đèo hàng đạp ngang qua tôi.
- Chị làm ơn chỉ hộ công ty “Bạch hạc” ở đâu ạ? - Tôi hỏi một người đàn bà cõng đứa con sau lưng đang đứng cạnh một ngôi nhà. - “Bạch hạc” nào? Chẳng lẽ ở chỗ chúng tôi có công ty như thế à? Tôi không biết. Nếu số nhà mười bảy, thì nó ở kia kìa, sau ngôi nhà này.
Tôi đi theo ông già ca-mi-xi-bai dọc theo đường phố tối mờ. Ông già ngoặt sang trái rồi dừng xe lại trước một ngôi nhà bẩn thỉu. Tôi lập tức hiểu rằng cái công ty bí ẩn “Bạch hạc” ở trong đó. Thế mà tôi cứ hình dung ra một tòa nhà trắng rất hiện đại! Ngôi nhà này chẳng những không giống hạc, mà nó lại giống một con quạ vừa mới chui từ hố rác lên.
Tôi đi vào cửa và thấy một bàn điện thoại, sau bàn là một người đàn ông đầu nhọn, đeo kính, quần Mỹ màu nâu - có lẽ vừa mua ở chợ trời. Nhìn bề ngoài, anh ta có vẻ như người nước ngoài vừa đến sống ở Tô-ki-ô không lâu.
- Anh Kim, hàng tôi để lại đây, - ông già nói với anh ta, rồi tháo chiếc hòm ở xe đạp ra đặt vào góc phòng.
- Được rồi, được rồi, ngày mai lại đến nhé.
Ông già gật đầu, bước ra.
Người đàn ông đầu nhọn cho ngón tay vào mũi ngoái rồi quay lại phía tôi.
- Cậu ở đâu thế?
- Tôi là sinh viên, thấy thông báo thuê việc của các anh. Thẻ sinh viên của tôi đây.
- Hừ… Rõ rồi… Chắc là hội sinh viên gửi cậu đến đây?
- Vâng, “Hội cứu trợ những sinh viên nghèo”.
- Thế đấy… Chúng tôi cần một người đi dán áp-phích quảng cáo. Cậu đồng ý làm việc này không?
- Đồng ý.
- Đấy kìa, - Kim nói, đưa ngón tay có chiếc nhẫn vàng chỉ vào góc phòng, nơi để những bó áp-phích cuộn tròn.
Chắc là ngày mai tôi phải đưa những cuộn áp-phích này đến quận Ti-ba xa lắc xa lơ, vào các xóm làng nông thôn để dán và phân phát cho nông dân.
Sau khi nhận tiền tàu xe và cầm một tờ áp-phích cho mình, tôi rời công ty “Bạch hạc”. Từ một nơi nào đó vẳng lại một tiếng rao của người bán bánh đậu. Tôi bỗng nghe đau nhói dưới ức. Không hiểu sao bên tai lại vang lên những lời của Na-ga-xi-ma nói lúc ăn sáng: “Không chỉ thể xác, mà cả tâm hồn cũng ngập ngụa trong bùn”.
Tôi vừa đi vừa mở tấm áp-phích ra xem. Những dòng chữ như nhảy đè lên nhau:
“ Người được khán giả A-xa-cu-xa rất yêu thích. Những giai điệu nổi tiếng qua giọng hát của E-nô-cân. E-nô-cân sẽ đến biểu diễn ở Xa-cu-ra-ma-ti!”.
Thậm chí đứa trẻ lên ba cũng biết tiếng E-nô-cân. Đó là diễn viên nổi tiếng nhất chuyên hát những bài hát vui. Anh ta không những biểu diễn trên sân khấu mà còn đóng phim. E-nô-cân luôn luôn được mời đến những phòng hòa nhạc tốt nhất của sáu thành phố lớn nhất trong nước. Và thật không hiểu tại sao con người danh tiếng kia lại định đi biểu diễn ở các thị trấn quê mùa hẻo lánh của quận Ti-ba này? Và nếu thế thật đi nữa, thì tại sao anh ta lại giao việc quảng cáo cho cái công ty không ai biết đến tên tuổi bao giờ này? Ở đây có một điều gì khó hiểu. Tôi lại nhớ tới lời của người thư ký văn phòng về cái tiếng tăm đáng nghi ngờ của công ty “Bạch hạc”.
Nhưng nghĩ cho cùng, điều đó có quan hệ gì đến tôi! Nếu tôi đi dán áp-phích cho họ ở Xa-cu-ra-ma-ti, tôi sẽ được nhận 200 Yên và tiền đi đường, ngoài ra tôi không cần gì thêm.
Với số tiền vừa nhận được, tôi vào quán gọi món ô-den (một món ăn Nhật Bản) mà đã lâu tôi không ăn, rồi trở về nhà. Không thấy Na-ga-xi-ma đâu cả - chắc anh ta còn đang lang thang ở một nơi nào đó.
Trùm kín người trong chiếc chăn cũ nặc mùi mồ hôi và bụi, tôi cố ngủ một giấc, nhưng không được. Tôi nghĩ về lũ con gái hái nho dưới ánh mặt trời mùa thu. Tim tôi nhảy rộn lên mỗi khi hình dung ra những bắp chân trắng nõn của họ…
Mười giờ sáng, bỏ mặc Na-ga-xi-ma tối qua kiếm ăn về đang nằm co quắp ngủ trên nệm, tôi quấn chiếc áo mưa cũ lên người, bước ra khỏi nhà.
- Sao cậu có vẻ cau có thế? Làm việc được chứ? - Kim hỏi tôi. Anh ta chỉ mấy cuộn áp-phích: - Bỏ tất cả mấy cái kia vào túi rồi đến chỗ có có ghi trong tờ giấy này.
Trong giấy ghi tên bốn làng nằm cạnh đường lớn. Không sao! Tất nhiên, việc thế này một ngày chỉ được có 200 yên cũng có hơi ít, nhưng từ chối bây giờ cũng đã quá muộn.
- Được rồi - tôi đồng ý, - Những điều viết trong áp-phích này có thật không đấy?
- Thế cậu nghĩ sao? - Kim phá ra cười rồi chăm chú nhìn tôi bằng đôi mắt ti hí.
Tôi chẳng có gì để hỏi thêm nữa.
Tôi nghĩ rằng áp-phích phải nhẹ lắm, dù sao cũng chỉ là giấy; nhưng khi mang túi lên vai, tôi mới hiểu rằng mình đã nhầm: túi khá nặng, đặc biệt là với tôi, người hồi bé bị bệnh bại liệt.
Đến Ti-ba tôi đi trên một toa tầu điện ngầm gần như không có khách. Với túi mang trên lưng, người ta có thể tưởng nhầm tôi là một anh chàng ở thành phố về làng để mua khoai tây. Hon nữa, trong toa quả có mấy người như thế thật. Đến ga I-ti-ga-va tôi chuyển sang ô-tô-buýt chạy dọc theo đường nhựa. Con đường chạy qua cây thông cổ thụ I-ti-ga-va nổi tiếng. Cạnh cây thông có một tấm áp-phích to tướng vẽ chân dung của I-kê-be Ri-ô.
Chiếc ô-tô-buýt đã ra khỏi thành phố. Khu rừng phong đầy nắng. Những cây dẻ gần như trơ trụi, lá rụng xuống nằm rải rác trên mặt đường như những đồng tiền vàng lớn. Những mái nhà nông dân bằng rạ trông có màu đỏ thẫm.
Người soát vé, một cô gái với đôi môi tô son đỏ chót, thông báo rằng sau hai bến nữa sẽ đến Xa-cu-ra-ma-ti.
Cuối cùng, tôi bước xuống xe.
Trước đây tôi cũng đã từng đi dán áp-phích. Năm ngoái, hồi bầu cử tổng thống, tôi, cũng như phần lớn sinh viên, ủng hộ đảng cấp tiến. Nhưng chính trị là chính trị, không có tiền thì không thể sống được, cho nên chúng tôi cũng không đến nỗi tự trách mình lắm nếu phải đi dán quảng cáo có ảnh của ứng cử viên đảng bảo thủ.
Nhưng bây giờ, đi nhét áp-phích vào hòm thư của các nhà nông dân, tôi cảm thấy một cái gì như sự cắn rứt lương tâm.
Trong làng rất vắng vẻ. Có lẽ tất cả mọi người đang ở ngoài cổng. Chỉ có những ả gà mái thơ thẩn trong sân, thấy tôi liền chạy tản ra. Trong một ngõ, tôi nhặt lên một số tạp chí cũ “Những ngôi sao điện ảnh”, nơi thường có in ảnh những diễn viên nổi tiếng và những bài hát mốt. Tôi nhét tờ tạp chí vào túi áo để trên đường về có cái đọc.
Có hai cậu bé đi dọc theo con đường làng sạch sẽ, tay cầm nhánh lá có mấy con sâu.
- Cái gì thế em?
- Chúng em cũng không biết.
- Thế các em có biết đọc không? Thí dụ như tấm áp-phích này chẳng hạn, - Tôi dúi cho hai cậu bé một cuộn giấy.
- Hoan hô! E-nô-cân sẽ đến chỗ chúng ta! - Chúng hét tướng lên.
- Các em biết anh ta à?
- Biết chứ. Em với bố đi xem phim và thấy E-nô-cân rồi. Nhung em quên mất tên phim.
- Còn bây giờ thì em sẽ được trông thấy người thật, - tôi mỉm cười nói. - Các em có thể giúp anh một việc được không?
- Còn xem việc gì đã chứ? - Hai cậu bé trịnh trọng tuyên bố.
- Việc đơn giản thôi: cấn phải dán những tờ áp-phích này lên tường của trường học và lên hàng rào cạnh nhà trưởng thôn. Làm được không?
- Được, - hai cậu bé sung sướng đồng ý.
Đến làng tiếp theo, tôi cũng làm y như vậy, lũ trẻ rất sẵn sàng giúp tôi. Ở trong thị trấn có khó hơn nhưng đến lúc đó thì chiếc túi sau lưng cũng đã xẹp đi, và khi tôi đến Xa-cu-ra-ma-ti thì nó trở nên hoàn toàn trống rỗng như chiếc bụng nhiều kiên nhẫn của tôi.
Tôi về đến Tô-ki-ô lúc trời đã bắt đầu tối. Cần phải đến công ty “Bạch hạc” để trả lại cho Kim chiếc túi và nhận tiền công. Kim vẫn ngồi sau bàn như cũ và đang tập trung tâm trí vào việc ngoáy mũi.
- Thế nào, dán hết rồi chứ?
- Hết rồi.
- Cám ơn cậu.
Rút từ trong ngăn bàn ra một túi da căng phồng, anh ta đếm rồi lấy mười tờ hai mươi yên và đặt xuống trước mặt tôi.
- Đừng tiêu hoang đi nhé. Tại sao cậu có vẻ cau có thế? Trông phờ phạc lắm.
- Thế à?
- Rất phờ phạc. Hay bị bồ đá?
- Tôi không có bồ bịch nào cả.
Tôi ngạc nhiên sao mình lại thành thật đến thế, mặc dù thật ra mà nói, bây giờ tôi cảm thấy nhiều cảm tình đối với Kim hơn là lúc sáng. Có thể, trong thâm tâm, tôi hy vọng rằng kết bạn được với Kim, tôi bao giờ cũng có thể kiếm ra việc làm, và thậm chí đôi lúc còn được anh ta cho đồ hộp Mỹ nữa.
Tất nhiên Kim không thể biết được những suy nghĩ sâu kín của anh sinh viên nghèo, nhưng giọng nói đầy tin cậy của tôi làm anh ta mỉm cười.
- Ôi cậu ngốc lắm! Chẳng lẽ cậu không thích con gái à?
- Vâng… à…tất nhiên.
- Thế thì vì sao?
Ngọn đèn điện treo trên chiếc đầu nhọn của Kim toa sáng mờ mờ. Anh ta, bằng thứ tiếng Nhật trọ trẹ bắt đầu lên lớp cho tôi, lấy thí dụ trong kho thực tế rất phong phú của mình, rằng cái quan trọng nhất là phải tạo ra một ấn tượng tốt đối với con gái. Để làm việc đó cần bắt cô ta phải chú ý đến mình. Nhưng đấy mới là một nửa. Con gái ngày nay thích đàn ông nếu không có túi tiền căng phải có tính cách mạnh.
- Cần phải hành động, đúng, đúng, cần phải hành động, chứ không múa lưỡi nói xuông.
- Anh bảo phải hành động, nhưng tôi thì có thể làm cái gì?
- Ôi cậu ngốc! - Kim phá ra cười, - Thí dụ, cứ tán bừa với chúng đủ mọi thứ linh tinh.
- Linh tinh à?
- Tớ bảo cậu ngốc lắm mà. Để đặt được mục đích, phương tiện nào cũng tốt cả. Chẳng việc gì phải ngượng nghịu ở đây hết. Cần phải tỏ ra lì lợm và nói láo không biết xấu hổ. Phải tấn công trên khắp các mặt trận: gọi điện, hẹn nơi gặp mặt, và liên tục nhắc đi nhắc lại rằng anh yêu em. Và nếu cô ta trông thấy cậu đi với người khác thì càng tốt. Điều này gây ấn tượng rất mạnh. Không người đàn bà nào trong trường hợp đó có thể bình tĩnh được. Tai họa cho họ là họ hay tự ái và dễ nổi máu khùng.
Hay tự ái và dễ nổi máu khùng! Ở bên nước của Kim, tất cả mọi người đều hay tự ái và dễ nổi máu khùng. Thức ăn cay làm cho máu nóng lên. Ở bên ấy đến bắp cải cũng đem ngâm ớt cay. Thêm vào đó họ lại ăn nhiều thịt. Người Nhật Bản ăn uống điều độ nên không thể làm theo lời khuyên của người Triều Tiên được. Ở đây, giá như có tiền….
- Xin lỗi anh, Kim, tôi sẽ còn đến nữa. Còn bây giờ tôi rất mệt.
- Thôi được. Nếu cần việc làm nữa, cứ đến đây nhé.
Chia tay với Kim xong, ra đến cửa tôi lại hỏi:
- Thế có thật E-nô-cân đến biểu diễn ở Xa-cu-ra-ma-ti không?
Lần này thì Kim nói thật.
- Mắt cậu để đâu? Cậu thử nhìn kỹ xem, trong áp-phích đề là Ê-no-cân chứ có phải là E-nô-cân đâu?
- Thế các anh không sợ người ta bắt phải chịu trách nhiệm về tội lừa dối à?
Đôi mắt của Kim sau cặp kính dày lóe lên cười mỉa mai; anh ta lắc đầu nói:
- Ở các làng không có ai tin rằng E-nô-cân có thể đến biểu diễn ở chỗ họ. Thường thường, các diễn viên ít nổi tiếng hơn sẽ thay anh ta. Không sao, cho đến nay chưa có vụ rắc rối nào cả.
Thần kinh của Kim vững lắm, chứ không như người Nhật Bản chúng tôi.
Suốt cả ngày hôm sau trời mưa không ngớt. Mái nhà chẳng bao lâu bị thấm nước, trên trần nhà xuất hiện mấy chỗ dột. Hơi lạnh ẩm ướt qua cửa sổ thốc vào phòng. Gần trưa, ngoài đường nghe có tiếng kèn, nhưng chắc người thổi không đủ hơi nên giữa chừng bị ngắt quãng, rồi một lúc sau lại vang lên.
Na-ga-xi-ma đi tìm việc làm. Còn tôi, vừa nhận được hai trăm yên tiền công dán áp-phích, hôm nay quyết định nghỉ ở nhà. Đáng lẽ cần phải đến trường một tý, nhưng sau ngày làm việc, người cứ mềm nhũn như bằng bông, không muốn bước chân ra khỏi phòng nhất là ngoài trời lại còn đang mưa.
Nằm trên đệm, tôi chăm chú nhìn trần nhà đầy những vết loang lổ. Đây là một trò tôi rất thích. Thuở bé, mỗi khi đau bịnh, tôi nằm suốt ngày và nhìn lên những vết bẩn trên trần nhà như vậy. Chúng khi thì trông giống những đám mây, khi thì biến thành những con quái vật, có lúc lại hóa ra một lâu đài bí mật.
Thỉnh thoảng tôi ngủ thiếp đi, tỉnh dậy, rồi lại mơ màng. Tiếng kèn đồng buồn bã ngoài cửa sổ hòa lẫn với tiếng mưa rơi tí tách.
Túi chiếc áo mưa móc trên đinh căng phồng lên, và tôi nhớ rằng trong đó có số tạp chí “Những ngôi sao điện ảnh” cũ tôi nhặt được hôm qua trong sân nhà của một nhà nông dân. Trang nào cũng có ảnh các diễn viên đứng với tư thế tự nhiên, những khuôn mặt được sửa phim rất nét, những nụ cười lộng lẫy và những núm đồng tiền duyên dáng trên má các nữ diễn viên nổi tiếng. Không biết cuộc sống của những con người này như thế nào nhỉ?
***
Thực ra mà nói, giữa tôi và bọn họ khác nhau không nhiều lắm. Tôi dán áp-phích được hai trăm yên còn họ phô hàm răng trắng kể lại cho thiên hạ về cuộc đời của mình.
“Một đôi bạn keo sơn, - tôi đọc dòng chữ ghi dưới một bức ảnh màu, - diễn viên I-kê-be và nữ diễn viên I-a-ma-gu-ti I-ô-xi-cô -một cặp lý tưởng”. Tay thanh niên có khuôn mặt thanh tú, đa tình, da mềm mịn, còn cô gái có cặp mắt vẽ công phu. Ôm nhau họ từ trong ảnh nhìn ra cười.
Trang cuối cùng, đã ngả sang màu vàng, của tờ tạp chí dành cho độc giả.
“Những người hâm mộ các ngôi sao điện ảnh ở quận Xa-ga và Na-ga-xi-ma Xi-ghe-ô-Na-ga-xi-ma-nô đề nghị tổ chức hội nghị những người bạn điện ảnh”.
Hừ… Tình bạn nẩy sinh một cách dễ dàng như bong bóng trong vũng nước ngoài đường dưới cơn mưa. Và cũng dễ dàng tan biến đi. Biết đâu, cả tình yêu cũng vậy…
Vừa ngáp vì buồn, tôi vừa nhẫm lại nghiên cứu những bức thư của độc giả.
“Tôi là người say mê mãnh liệt tài năng của nữ nghệ sĩ ba-lê Xi-xu-ma Cây-kê. Giá có được một người em như vậy thì thật là tuyệt diệu! Xô-bai-a-xi Xê-ta-rô. Quận Hi-ô-gô, xã Mu-cu-ra, làng I-ô-xi-môtô”.
“Tôi là một cô gái bình thường, mười chín tuổi, rất thích xem phim… nếu anh cũng yêu thích Va-cai-a-ma Xe-xu-kô, xin viết thư cho tôi theo địa chỉ: Tô-ki-ô khu phố Xê-đa-ta-ni, đường Cây-đô, số nhà 808, Mô-ri-ta Mi-xu”.
Đặt tay xuống dưới đầu, tôi nhìn lên trần nhà, cố hình dung ra cô gái đó như thế nào nếu cô ta viết cho tạp chí như vậy thông báo cả địa chỉ của mình. Nhưng có thể thử xem. Hai ngày sau cô ta sẽ nhận được thư tôi và nếu như mọi việc thuận lợi, cô ta sẽ là của tôi.
Như vậy đó, bắt đầu sự quen biết với người con gái mà sau này tôi đã ruồng bỏ như một con chó đáng thương…
Có thể rằng tất cả những gì xảy ra giữa chúng tôi đều là tình cờ, ngẫu nhiên. Nhưng chẳng phải nói chung tất cả mối quan hệ giữa con người với nhau đều là ngẫu nhiên đó sao? Những cặp vợ chồng thề nguyền suốt đời bên nhau cũng ngẫu nhiên làm quen với nhau sau một bàn ăn ở khách sạn. Tình yêu của họ bắt đầu từ một lần gặp gỡ tình cờ, thậm chí kỳ quặc. Nhưng phải trải qua khá nhiều thời gian, tôi mới hiểu được rằng sự ngẫu nhiên hoàn toàn không phải là vô nghĩa, là kỳ quặc. Tôi là kẻ vô thần, nhưng tôi nghĩ rằng sự phụ thuộc hàng ngày của con người vào các hiện tượng ngẫu nhiên là một trong những con đường mòn dẫn người ta đến với niềm tin của Chúa.
Không ai trong cái xã hội hiện đại này mơ ước được gặp một người đàn bà lý tưởng, nhưng riêng tôi, bây giờ tôi vẫn mơ ước về một con người như vậy.
Tôi sẽ không nói cô ta trông như thế nào vào cái ngày chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên. Nếu như tôi yêu cô ta, có lẽ tôi đã mãi mãi ghi nhớ tiếng cười, những cái chạm tay khe khẽ của cô ta và những sự âu yếm khác mà các cặp tình nhân thường trao đổi với nhau. Còn ở chúng tôi, những điều tương tự như vậy không có, vì tôi chỉ muốn thỏe mãn thèm khát dục vọng của mình. Nói một cách thô tục, tôi cần một người đàn bà qua đêm.
Tôi tìm được cô ta để, sau khi sử dụng xong, đem vứt đi như người ta vứt một bao thuốc lá rỗng, đã hút hết, khi từ toa tầu điện đêm bước xuống.
Trong bức thư trả lời, cô ta hẹn gặp tôi ở cạnh nhà ga Xi-ta-ki-tát-da-va, cách nơi cô ta sống không xa. Cô ta viết rằng không muốn gặp tôi ở các khu đông người Xin-du-cu hay Xi-bui-a vì sợ bị lạc.
Đến giờ tôi vẫn còn nhớ rõ nơi chúng tôi gặp nhau. Còn phải nói! Cạnh đó là khu vực vệ sinh của nhà ga, nó bốc mùi đến nỗi không thể không nhớ được. Những đoàn tàu chạy ầm ầm trên đầu, từ trên cầu những giọt nước đen bẩn thỉu nhỏ xuống đôi ủng đã rách nát của tôi.
Đây là một vùng ngoại ô ở Tô-ki-ô hãy còn chưa hồi phục lại những vết thương chiến tranh. Tôi sờ ví tiền trong túi và nghĩ với một sự nhẹ nhõm: “Dù sao thì cũng may cô ta không hẹn gặp ở trong quán cà phê”. Trong hoàn cảnh của tôi, phải tiêu phí những ba chục yên cho hai chén cà phê thì thật là ngốc nghếch, nhất là trong lúc vẫn chưa có những chỗ hẹn hò rẻ hơn nhiều mà bất cứ tay sinh viên Tô-ki-ô nào cũng biết.
Và đấy, tôi ngồi đợi. Kim đồng hồ ở cửa rạp chiếu bóng đã chỉ bốn giờ rưỡi.
Thư của cô ta gửi đến trong chiếc phong bì vàng khè, xấu xí. Trên tờ giấy viết thư rẻ tiền bằng nét chữ học sinh không đều, Mi-xu viết rằng cô ta làm ở xí nghiệp dược phẩm và người ta không cho về trước khi hết giờ làm việc.
“Chẳng lẽ ở trường đại học cũng có người hâm mộ Va-cai-a-ma Xe-xu-cô? Chủ nhật vừa rồi tôi xem phim “Những đỉnh núi xanh” có chị ấy đóng. Tuyệt thật. Tôi nhớ được bài hát trong bộ phim ấy và thường vừa làm vừa hát. Ngoài Xe-xu-cô ra, trong số các diễn viên mới tôi còn thích Xu-ra-ta Cốt-di”.
Vô số lỗi chính tả trong thư làm cho đến Na-ga-xi-ma cũng phải bò ra cười.
- Cậu vừa đào đâu ra được cô công chúa này thế? - Anh ta vừa cười vừa hỏi. - Ôi chàng “rùa”!.
Trong kho tiếng lóng của sinh viên hồi bấy giờ, “rùa” ám chỉ những chàng sinh viên dễ tính không đòi hỏi cao, còn “thỏ cái” là đối tượng tán tỉnh của anh ta, và như vậy tình yêu của họ cũng giống như việc rùa đuổi theo thỏ.
- Im đi! - Tôi tức giận hét lên. - Cậu thì đến một đứa như vậy cũng chẳng có!.
Nhưng, ngồi ngửi đến thỏa thuê cái mùi hôi thối bay ra từ khu nhà vệ sinh bên cạnh, tôi nhớ lại câu chuyện với Na-ga-xi-ma và cảm thấy kinh tởn đối với cả chính mình.
Ngày làm việc kết thúc vào năm giờ. Một đám đông từ nhà ga đổ ra, tản về mọi phía, nhưng vẫn chưa thấy cô gái nào giống nhu Mô-ri-ta Mi-xu.
Một chiếc xe quảng cáo dừng lại ở phía bên kia đường tàu, và một người đàn ông cao lớn bắt đầu quay những đĩa hát mới đang được ưa thích.
Tôi quyết định sẽ về nhà nếu cô ta không đến vào chuyến tàu sau.
“Trời phạt mày đấy. Thế mới đáng đời. cũng đòi đi làm nhân tình nhân ngãi”. - tôi thầm rủa mình.
Vừa lúc đó có hai cô gái nhìn quanh tìm kiếm, đi đến chiếc xe quảng cáo và hỏi người đàn ông cao lớn một điều gì đó. Khi ông ta chỉ về phía tôi, tôi hiểu ngay rằng một trong hai cô gái kia là người tôi đang chờ. Có thể, đó là cô đang đứng sau lưng bạn? Cả hai cô đều ngượng - điều này có thể thấy qua nét mặt của họ và qua việc họ cứ đẩy nhau đi lên phía trước.
- Cậu hỏi anh ta đi, - cô gái có hai bím tóc buông thõng trên vai như một nữ sinh trung học, thì thầm. Cô ta thấp lùn, vai rộng.
- Tự mình hỏi lấy!
Cả hai đều ăn mặc như những cô gái công nhân ngoại ô Tô-ki-ô: áo ngoài màu da cam và váy đen giống nhau. Thường thường, những cô gái này thích đi đến các chỗ chơi bi-a và bắn bia. Họ đi xem phim vào các ngày chủ nhật, khi vé bán rẻ hơn, và cuối buổi chiều, cẩn thận gấp những tờ quảng cáo chương trình còn thơm mùi mực in, mang về nhà.
“Mình xuống dốc quá”, tôi thầm kêu trong đầu.
Nhưng nếu đã thế, tôi sẽ cố không chịu thiệt, sẽ chọn lấy cô khá hơn.
Có lẽ người cao trông cân đối hơn. Cô ta có chiếc mũi xinh xắn, và nói chung, có vẻ hấp dẫn hơn
- Ai trong số các cô là Mô-ri-ta Mi-xu? Em à?
Tôi đã nhầm. Mô-ri-ta Mi-xu hóa ra là cô gái thấp lùn có đôi bím tóc sau lưng.
- Nhưng tại sao em không đến một mình?
- Nó rủ em cùng đến với nó. Nhưng em đã bảo với nó rằng em không nên đi, - cô gái người cao nói vẻ giận dỗi.
Tất nhiên, ngay từ đầu tôi đã hiểu rằng không phải để đi gặp một cô tiên giáng thế tuyệt trần nào, mà là một cô gái mà Na-ga-xi-ma hoàn toàn có căn cứ để cười nhạo. Nhưng bây giờ, khi đã gặp cô ta, tôi cảm thấy mình đáng thương đến nỗi…Dường như tôi không tìm thấy tên mình trong bảng danh sách những người được vào đại học, mặc dù trong thâm tâm, mặc dù trong thâm tâm, tôi vẫn hiểu rằng mình không trúng tuyển.
- Mi-xu, tớ về đây.
- Cậu sao thế! Cậu ở lại với bọn tớ đi - Mi-xu luống cuống nắm lấy tay bạn.
Cô ta gạt tay Mi-xu, và nhìn tôi với vẻ không thân thiện, chạy theo những bậc thềm đá xuống sân ga.
Lại một đoàn tầu ầm ầm chạy qua trên đầu chúng tôi. Bụi bốc lên mù mịt che kín đôi chân ngắn ngủi của Mi-xu thòi ra chiếc váy may theo mốt đã cũ. Đôi tất dài màu nâu nhạt kéo không căng gợi lên trong tôi một cảm giác khó chịu.
- Làm sao bây giờ? I-ô-cô bỏ em đi rồi, - cô gái nói lí nhí, lấy mũi giầy di di trên mặt đất.
- Việc gì mà em lo lắng thế? Chẳng lẽ em chưa bao giờ gặp đàn ông à?
- Anh bảo sao! Anh bảo sao! Em…
- Thế em đi xem phim cũng một mình à?
- Không, với I-ô-cô, - cô ta nở một nụ cười hiền lành nhưng đồng thời hơi đần độn - Những ngày nghỉ chúng em bao giờ cũng đi cùng nhau.
Tôi không còn có thể đứng thêm lấy một phút cạnh khu vệ sinh, nên bỏ đi ra khỏi sân ga. Cô gái, như một cô gái ngoan ngoãn bước theo sau. Tôi không còn có thể đứng thêm lấy một phút cạnh khu vệ sinh, nên bỏ đi ra khỏi sân ga. Cô gái, như một cô gái ngoan ngoãn bước theo sau.
- Chúng ta đi đâu đây?
- Rồi em sẽ biết. Nhưng đừng có ngạc nhiên đấy, - tôi nói, nhớ lại lời khuyên của Kim: “Hãy nói đủ mọi thứ linh tinh. Xong hết”.
Mọi thứ linh tinh! Tôi cảm thấy thương hại mình, tiếc thời gian đã bỏ ra để chờ cái cô gái xấu xí ấy với bộ mặt đền độn này.
Nhưng bỏ cô ta đi - không hiểu sao tôi cũng không thể.
Trời bắt đầu tối. Kết thúc một ngày làm việc, những con người cau có xô đẩy chen chúc nhau vội vã về nhà.
Mô-ri-ta Mi-xu gắng hết sức để không tụt lại sau. Thấp lùn, vai rộng, cô ta cố theo kịp tôi, bước những bước quá dài, người lắc lư trông rất khó coi, không ra dáng con gái.
Chúng tôi đi ra một quảng trường rộng. Đâu đâu cũng thấy từng cặp đi dạo. Trời khá lạnh, nhưng trên sống mũi Mi-xu lấm tấm mấy giọt mồ hôi nhỏ.
- Em chưa bao giờ đến những chỗ đông người như thế này cả. Thế còn anh?
- Đến rồi. Anh thường bán vé sổ xố ở đây. Nếu anh không làm thêm, thì không thể nào học ở trường đại học được.
Tôi ngần ngại nói ra sự nghèo khổ của mình, vì tôi hiểu rằng đang quan hệ với ai. Tìm cách để gây cảm tình với một cô gài thộn thế này thì quả là đáng buồn cười.
- Anh phải đi làm thêm à?
- Ừ. Cần cả tiền ăn uống và tiền học. - Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ cô ta nhìn tôi bằng một cái nhìn hết sức thông cảm. Rồi dừng lại, cô ta cho bàn tay nhỏ bé của mình vào túi chiếc áo khoác ngoài rẻ tiền.
- Có chuyện gì thế?
- Anh đã trả tiền vé tàu điện cho em, giờ em trả lại.
- Đừng vớ vẩn nữa!
Ngọn đèn báo hiệu ngã tư bật màu xanh, và mọi người vội vã đi qua đường, sang phía rạp chiếu bóng. Hoàn toàn không để ý đến những người xung quanh, Mi-xu nói rất to.
- Anh đừng tiêu phí tiền như thế. Để em tự trả cho em. Em tự trả lấy. Em và I-ô-cô mỗi đứa tự trả tiền vé cho mình khi đi xem chiếu bóng.
- Thế em có mang theo tiền không?
- Bốn trăm yên.
Bốn trăm yên. Nhiều gấp hai của tôi.
Tôi mượn của Na-ga-xi-ma một trăm, tôi cũng có một trăm nữa, nhưng không muốn tiêu chúng đi.
- Tuy em là con gái nhưng cũng có khá nhiều tiền đấy. Một tháng em làm được bao nhiêu?
Mi-xu khoe lương tháng của cô ta gần ba trăm yên, nhưng đôi khi nhiều hơn vì thiếu công nhân. Mi-xu giúp những người đóng gói, và vì vậy được nhận thêm. Cô ta cùng sống trong một phòng với I-ô-cô.
- Quê em ở đâu?
- Ca-va-cô-xi. Anh nghe thấy bao giờ chưa?
- Chưa. Có hay về nhà không?
Mặt nhăn lại buồn bã, Mi-xu lắc đầu. Có lẽ ở nhà cô ta có chuyện gì không hay.
Trong những năm tháng đó chúng tôi thường hay đến quán ăn: “Tiếng ca đêm”. Bây giờ nó đã bắt đầu tàn tạ đi, chớ hồi đó còn khá. Ban ngày trông có vẻ xấu xí, nhưng tối đến, khi trong phòng đèn nến đốt lên, những bóng mờ nhảy múa trên tường, cuộc sống ở đây trở nên sôi nổi. Bên ngoài bị một cây chắn ngang, quán ăn này trông giống như túp lều ở miền núi. Một người đàn ông mặc áo sơ mi Nga phục vụ khách hàng, mỗi lúc rỗi lại hát những bài hát Nga, tự đệm cho mình bằng đàn gió. Quán rượu này, cùng với “Dưới đáy” ở Xin-du-cu và “Địa linh” ở Xi-bui-a là những chỗ sinh viên rất thích đến.
Có lẽ đây là lần đầu tiên Mi-xu vào một quán ăn như thế này - mặc dù nó hoàn toàn không lấy gì làm sang trọng, vì mới bước qua chân cửa, cô ta đã giật lùi lại, hệt như gã chăn lợn đột nhiên thấy mình ở trong cung điện nhà vua.
- Ở đây có lẽ đắt lắm, - Mi-xu giật giật vạt áo tôi.
- Ừ… Tất nhiên! Nhưng em có bốn trăm yên cơ mà!
- Chừng ấy có đủ không? Nếu thế chỉ để lại vừa mua vé thôi.
Tôi biết rằng ở đây chỉ cần một trăm đồng yên là đủ, nhưng im lặng không nói gì.
- Đây đều là sinh viên cả à?
Mi-xu lúng túng nhìn những thanh niên mặc áo bờ-lu đen và những cô gái đội mũ bê-rê, miệng ngậm thuốc lá. Đây là đám thanh niên văn học và nhà hát, thích tụ tập lại để triết lý. Tôi không thể chịu được họ, những kẻ luôn mồm nói về thứ vật chất cao siêu, về chủ nghĩa hư vô, chủ nghĩa hiện sinh, trong khi đó dưới chiếc áo bờ-lu hợp mốt kia là những mớ rẻ lót bẩn thỉu, chân đi những đi tất rách nát, hôi hám.
- Tất cả họ đều là sinh viên phải không anh?
“Ôi cái con thộn này!” - tôi nghĩ thầm.
Một trong những kẻ đáng ghét kia ngồi xuống bực cầu thang gỗ dẫn lên tầng hai và bắt đầu chơi đàn gió. Một người nào đó cất tiếng hát, nhũng người khác bắt theo. Ai cũng cố tỏ ra mình là một tay ăn chơi ngang tàng, dường như đám sinh viên, bằng cả con người, bộ dạng của mình của mình muốn chứng tỏ rằng họ có quyền vui chơi theo ý muốn họ thích, và điều đó có nghĩa là cuộc sống thật sự. Nhưng dù sao vẫn có một cái gì đó bàng quang hờ hững ẩn trong nét mặt của họ.
- Em biết bài này không?
- Không.
- Bài “Xe tam mã”. Một bài hát Nga đấy.
- Em chưa nghe thấy bao giờ, - Mi-xu lắc đầu ra vẻ có lỗi. - Em chỉ mới hết trung học thôi.
- À - à. Thế thì đến đề nghị họ hát cho nghe bài “Những đỉnh núi xanh” đi, - tôi nói chọc.
Mi-xu cụp mắt nhìn xuống đất và nhăn mặt.
- Có việc gì thế?
- Ờ, ờ… ờ… ở đây có nhà xí không?
- Buồng vệ sinh à?
- Vâng ạ, - Mi-xu thở dài thật to, lôi từ trong túi áo khoác ra một tờ giấy vệ sinh.
Cuộc hẹn hò của chúng tôi bắt đầu cạnh khu vệ sinh, và bây giờ, chưa kịp ngồi vào bàn, cô ta lại nhắc đến nó.
“Một cặp hôi thối”, - một ý nghĩ bực bội thoáng qua trong đầu tôi.
Mi-xu đi khỏi, tôi rút thuốc lá ra châm lửa hút. Vừa lúc đó có người vỗ nhẹ lên vai. Tôi quay lại và thấy có một thanh niên đội mũ lưỡi trai thoa dầu va-de- lin, mốt của thời bấy giờ.
Đó là I-đô-ga-va, sinh viên cùng trường với tôi.
Người tái xanh, đeo kính không gọng, anh ta thuộc vào loại người bao giờ cũng ở trong tâm trạng sảng khoái.
- Cắn câu rồi à, anh bạn?
- Có việc gì thế?
- Tớ biết rằng anh bạn với cô bé… - anh ta giơ ngón tay ra dọa.
- Đừng có đùa ngu ngốc nữa! Tớ mà đi mất công với cái thứ… - tôi nhún vai đáp.
- Mất công để làm gì? - I-đô-ga-va nói bằng gọng mũi. - Cho nó uống một ngụm cốc-tay (rượu thập cẩm), thế là xong ngay.
Trong quán này người ta bán với giá tám mươi yên một chai cốc-tay gồm rượu vốt-ca và nước ga. Nó dễ uống, và cô gái ít kinh nghiệm thường hay mắc bẫy: chỉ cần một cốc, họ sẽ nhanh chóng say và không còn kiểm soát được mình nữa.
- Để tớ gọi cho, - I-đô-ga-va và bật ngón tay, gọi bồi bàn.
Khi Mi-xu quay lại, trên bàn đã có hai thứ rượu đựng thứ chất lỏng trong suốt. Bây giờ thì tôi hiểu rằng lúc đó cần phải nói với cô ta “Đừng uống”, nhưng I-đo-ga-va đứng nhìn về phía chúng tôi và mỉm cười, còn tôi thì lại ngại cái gã trắng trợn này. Anh ta sẽ cho rằng tôi sợ cả một đứa con gái như thế kia và đem điều đó đi ba hoa khắp trường. Thực ra, ở một nơi nào đó sâu kín trong lòng tôi có vang lên tiếng nói của lương tâm, nhưng nó bị một giọng khác át mất: “Thế mày là thằng người như thế nào đấy? Có phải mày sinh con đẻ cái với nó đâu! Chỉ thử một lần thôi thì có thể…”
- Cái gì đây? - Mi-xu mỉm cười tin cẩn, hỏi tôi.
Tôi im lặng rồi nhìn Mi-xu uống cạn cốc rượu như một uống một cốc nước chè.
- Chưa bao giờ em uống một thứ rượu vang nào như thế này. Hàng nhập khẩu phải không anh? Chắc là đắt tiền lắm?
- Tất nhiên là đắt, nhưng em đừng lo.
Mặt Mi-xu đỏ bừng lên, và cặp môi dầy của cô ta hé mở ra trông rất đần độn.
- Ở đây thích thật. Nếu I-ô-cô cùng đi với chúng ta, chắc nó phải tha hồ mà trầm trồ.
Mi-xu nói đã líu cả lưỡi. Ngồi trong góc của mình, I-đô-ga-va lại nháy mắt với tôi. Tiếng đàn gió lại vang lên. Một ông già râu rậm đội mũ bê-rê vừa đi vừa nghiêng đầu chào hết bàn này sang bàn khác.
- Giá họ hát bài “Những đỉnh núi xanh”…
- Còn phải nói, - tôi lầu bầu.
Ông già đến cạnh bàn chúng tôi, cầm lấy tay Mi-xu và thì thầm gì đó vào tai cô ta.
- Để cho cô ấy yên, - tôi hét lên. - Ông có bước đi không?
- Cứ để cho ông ta nói. Ông ơi, cháu sẽ trả tiền cho ông.
Ông già này làm nghề bói toán, chủ yếu là xem chỉ tay, ở các quán của Xi- bui-a và “Tiếng ca đêm”. Ông ta nói tất cả những gì vớ vẩn hiện ra trong đầu, nhưng có một câu làm tôi nhớ mãi. Ông ta nói rằng Mi-xu sẽ bất hạnh vì cô ta hay thương kẻ khác.
- Cháu là người quá tốt bụng, cô gái ạ, quá tốt. Và vì vậy bao giờ cháu cũng phải trả giá cho điều đó. Hãy cẩn thận, không đàn ông họ sẽ lợi dụng và mang hại cho cháu.
- Vớ vẩn! - Tôi phá ra cười. Mi-xu cũng cười rất to.
- Sau vài năm nữa cháu sẽ gặp một điều bất hạnh mà bây giờ cháu không thể tưởng tượng ra được.
Nhưng đó là cái gì, cuối cùng rồi ông già vẫn không nói ra.
Nhận tờ giấy hai chục yên rút từ trong chiếc ví đỏ của Mi-xu, ông già cúi chào rồi đi sang bàn khác.
Mi-xu đứng không vững nữa. Miệng hơi hé mở ra trông đần độn, cô ta tựa vào vai tôi, lảo đảo xuống thềm nhà.
I-đô-ga-va đang đứng ở phía dưới đường.
- Chúc một đêm hạnh phúc.
- Cút mẹ cậu đi!
Nhưng tôi đã nghĩ trước là mình sẽ đưa Mi-xu đến nơi nào.
Tôi đã từng đến làm thuê ở vùng này và biết rằng cách đây không xa, trên sườn đồi, cạnh đề-pô xe điện ngầm, có một phòng trọ, mà, nếu tin theo lời quảng cáo treo ở cửa ra vào, có thể qua đêm với giá một trăm yên.
Các cửa hiệu đã vắng khách mua. Người bàn hàng với bộ tóc chải sáp mượt vừa huýt sáo vừa đóng cửa. Trong một góc tối ở cuối phố vẫn còn quầy bán sách và tạp chí. Trên bìa một tạp chí có ảnh cô gái trẻ khỏa thân, hai tay đặt sau đầu. Mấy người đàn ông với ánh mắt sáng rực như lên cơn sốt đang đứng ngắm nghía.
Phía trước chúng tôi, một người đứng mang mấy tấm bảng quảng cáo ở trước ngực và sau lưng. Những tờ quảng cáo mời mọc mọi người đến một tiệm rượu, nơi đàn ông và đàn bà chỉ được vào theo từng đôi. Người quảng cáo cười với chúng tôi, nhưng khi tôi và Mi-xu đi ngang qua, ông ta lầu bầu một cái điều gì đó không rõ.
Một chiếc xe hòm bán khoai tây ngọt ầm ầm chạy ngang qua. Khoai tây được chế biến tại chỗ ngay trước mặt khách hàng.
“E-nô-cân…”
Tôi bỗng buồn rầu nhớ lại hôm đi dán những áp-phích của Kim. Có vẻ như tôi phản đối việc lừa bịp trắng trợn như vậy, nhưng chính tôi đã phân phát các tờ áp-phích đó cho những người nông dân.
Ở đó, họ không sợ khi viết E-nô-câu thay cho E-nô-cân, còn tôi, tôi sợ lừa dối cô gái này. Ánh đèn Xi-bui-a hiện ra mờ mờ, thấp thoáng phía xa… “Nghĩ cho cùng, tất cả mọi người đều lừa dối lẫn nhau, và thậm chí không ai muốn tìm hiểu xem đâu là sự thật, đâu là giả dối”.
- Anh yêu em. - nhìn chằm chằm về phía ánh những đèn Xi-bui-a, tôi nói như đang đọc một công thức toán học đã thuộc lầu.
- Chúng ta đi đâu thế này? - Mi-xu nói như thể không nghe thấy những lời của tôi. - Đây là ga Xi-bui-a à?
- Không, nhưng chúng ta cần phải ghé vào đây.
- Em phải về rồi, bà chủ nhà không cho em vào nhà muộn đâu.
- Việc gì mà em phải lo. Còn sớm lắm!
- Anh đã trả tiền cho em ở quán ăn, em sẽ trả một nửa. Vì…
- Vì cái gì? …
- Vì anh đã tiêu quá nhiều rồi. Có thể anh không còn để cho ngày mai nữa.
Mi-xu thò tay vào túi và im lặng chìa ra tôi tờ giấy một trăm yên nhàu nát.
- Không cần đâu.
- Không, không anh cầm lấy đi. Em còn tiền mà. Em còn có thể làm thêm. Em sẽ ở lại trực đêm, giúp những người đóng gói thế là sau năm ngày em sẽ có được năm trăm yên. Anh đừng lo, em…
Trong giọng nói của Mi-xu vang lên một cái gì như sự lo lắng chăm sóc của người mẹ. Thuở bé, mẹ tôi cũng nói với tôi như vậy.
Trong thời gian chiến tranh - lúc đó tôi học trung học - kiếm được miếng ăn khá gay go. Mỗi lúc ăn, mẹ tôi thường nhịn, bỏ vào bát chúng tôi phần của mình. Nếu chúng tôi từ chối, mẹ dỗ dành dịu dàng, và đôi lúc sự kiên nhẫn dai dẳng của mẹ làm tôi khó chịu.
Nhưng nhớ lại điều đó, tôi vẫn không ngượng ngùng nhét tiền của Mi-xu vào túi áo mình.
Một nhân viên đường sắt cầm ngọn đèn hiệu màu xanh đi qua đường. Từng đợt gió mang đến tiếng chủi rủa say rượu từ ngôi nhà khách sạn trung quốc nằm ở dưới chân đồi.
Trên đường phố I-a-ma-ta - đường phố của những khách sạn, quán trọ đêm - hoàn toàn vắng vẻ, im lặng. Khuya hơn tí nữa ở đây sẽ xuất hiện những người đàn ông đàn bà say rượu, nhưng bây giờ hãy còn chưa có ai.
Tôi nắm chặt trong tay tờ giấy bạc một trăm yên, mà, tôi biết, đủ để thuê một căn buồng nhỏ trong hai giờ ở quán trọ.
- Ta vào chứ?
Trong sân nhỏ, mấy cây tre mọc sát ngay trước cửa nhà, một vài hòn đá tảng nằm lẫn giữa bãi cỏ xanh. Qua cánh cửa để hở có thể trông thấy những đôi giầy đàn ông và phụ nữ đứng thành từng cặp trong hành lang.
- Ồ - ô - ô! - Mi-xu ngạc nhiên bước lùi lại.
- Em sao thế? - Tôi cầm lấy tay Mi-xu và kéo về phía mình. - Anh yêu em.
- Không… không… em sợ.
- Sợ cái gì? Anh đã nói là anh yêu em mà. Anh mến em, vì vậy mà anh mới đi cùng em đến hiệu ăn, và bây giờ anh không thể xa em được nếu chưa…
- Em sợ lắm.
Tôi cố ôm lấy người Mi-xu và chạm tay vào bộ ngực bé nhỏ của cô ta. Cô gái bỗng bất ngờ đẩy mạnh tôi ra. Nhưng tôi lại kéo cô ta đến gần, áp mặt vào tóc cô ta và vội vã thì thầm những lời từ lâu dồn nén trong tôi tích tụ như trong hầm lò. Những lời xa lạ, bẩn thỉu, khêu gợi nhục dục.
- Anh yêu em. Anh yêu em… anh muốn yêu em hết mình… anh yêu cả người em… không có gì phải sợ cả… Sẽ không có gì đáng sợ cả đâu. Em không tin anh sao? Không à? Thế thì tại sao em lại hẹn anh đến? Tại sao? Có thể anh làm cho em khó chịu kinh tởm? Em không thích anh ôm em à? - Tôi nói tất cả những gì đàn ông vẫn nói với đàn bà những khi không yêu nhưng lại muốn quyến rũ họ. - Sao em? Thế nghĩa là anh làm em kinh tởm chứ gì?
- Không, em mến anh, em…
- Thế làm sao em chứng minh được điều đó? Với bọn sinh viên các anh, bằng lời nói chưa đủ bọn anh nghe chúng đã chán rồi. Còn tình yêu? Thí dụ, có một nhà triết học nói rằng chỉ có kẻ ích kỷ mới không hiến mình trọn vẹn cho tình yêu.
Những lời cuối cùng tôi ứng khẩu bịa ra. Giá như nhà triết học nọ nghe được những lời ba hoa của tôi!
- Thứ nhất, việc sợ mất trinh bây giờ bị coi là một quan niệm đã quá lỗi thời đối với cuộc đời. Ngày nay các cô nữ sinh viên tự nguyện đi làm việc đó. Những người đàn bà khác lạc hậu so với sinh viên thì họ không thể từ bỏ được những định kiến cũ kỹ hủ lậu. Chẳng lẽ ở trường trung học người ta không nói với các em chuyện đó à?
- Không. Nó khó hiểu lắm.
- Tất nhiên. Ở trung học nói những chuyện đó còn hơi sớm. Nhưng ở đại học… Em có nghe nói tới phong trào giải phóng phụ nữ chưa? Để đàn ông và đàn bà bình đẳng, cần phải vứt bỏ hết mọi sự xấu hổ, nếu giữa họ xuất hiện dấu hiệu của tình yêu. Người ta dạy bọn anh như vậy đấy. Em có hiểu những điều anh nói không?
Nhìn chằm chằm vào mặt tôi, Mi-xu ngơ ngác gật đầu.
- Anh nói rằng cần phải xử sự khác đi. Hãy vứt bỏ những định kiến hủ lậu. Ta vào nhà này đi. Có thể lúc đầu em cảm thấy hơi sợ một tý. Nhưng, như một người nào đó nói, không thể có sự tiến bộ nào mà không kèm theo mạo hiểm.
Ôi những nhà triết học tội nghiệp! Nhưng cũng cần tìm cách sử dụng những kiến thức mà chúng tôi nhận được của các giáo sư chứ. Nói cho cùng, không lẽ tôi tiêu phí mà tôi phải chạy đi làm thuê để kiếm được. Nhưng than ôi, những “đoạn trích dẫn” từ các công trình khoa học kia gây được ấn tượng mong muốn đối với cô gái công nhân này.
- Thế nào, em đi không? - Tôi cầm lấy tay Mi-xu. Nhưng cô ta, như một con sư tử con, ra sức kéo lại.
- Không, đi về nhà thôi. Em van anh, đi về nhà thôi.
- Về nhà à? - Tôi hét tướng lên. - Thế này là thế nào? Tự cô hẹn tôi đến, đến thì cô lại đòi về nhà! Thế đấy, đồ… Tôi nói phải trái với cô mà cô cứ một mực cứng cổ như con lừa… Thôi được. Tùy cô. Tôi đi đây.
Và bước những bước dài, tôi đi dọc theo phố xuôi dốc. Tôi cáu điên người lên vì đã tiêu phí mất bao nhiêu thì giờ. Mà với ai mới được chứ? Nếu đây là một cô gái đáng giá thì đã đành. Nhưng tôi cáu kỉnh không phải chỉ với Mi-xu, mà cả với những nhà triết học, những giáo sư. Những bài giảng của họ tỏ ra vô tích sự!
Một cơn đau đột ngột nhói lên ở lưng và vai phải của tôi. Có lẽ lại bắt đầu cơn động kinh mà đã nhiều lần tôi mắc phải kể từ sau khi bệnh bại liệt. Mỗi khi quá mệt hoặc xúc động mạnh, bao giờ tôi cũng bị những cơn đau nhói như vậy.
Vừa lên cơn đau và cảm thấy Mi-xu chạy theo sau tôi không nhìn lại, tiếp tục rảo bước. Cô ta đuổi kịp tôi và vừa thở vừa hỏi:
- Anh giận à?
- Tất nhiên.
- Anh sẽ không đến nữa à?
- Thì còn làm sao nữa? Chính cô muốn tỏ ra cho tôi biết là tôi không cần thiết cho cô….
- …
- Nhưng nếu cô không thích đi với tôi, tôi cũng chẳng bắt buộc…
- Anh… em… Nhưng em không muốn đến đó.
- Nếu thế thì xin chào! …
Chúng tôi đi xuống chân đồi. trong hiên nhà của một tiệm ăn Trung Quốc, hai người đàn ông mặt đỏ bừng vì rượu đang ngốn ngấu ăn một bát gì đó.
- Anh không muốn gặp em nữa à?
- Không.
Cơn đau, mỗi lúc một buốt hơn, bỗng nhói vào sau lưng tôi. Tôi buột miệng kêu lên, tay ôm lấy vai phải.
- Anh làm sao thế? - Mi-xu ngạc nhiên và sợ hãi nhìn thẳng vào mắt tôi
- Không sao cả. Thời bé anh bị bệnh bại liệt. Em thấy đấy, vai phải anh bị thõng xuống. Thêm vào đó, anh lại bị thọt nữa. Vì vậy con gái không yêu anh. Anh, một thằng tàn tật, cần cho ai? Chưa có ai yêu anh cả… Hừ - ừ - ừ… cả em nữa, cũng như những người khác…
- Anh thọt à?
Ánh sáng chập chờn của những ngọn đèn đường dọi thẳng xuống mặt Mi- xu: cô ta nhìn tôi với vẻ thông cảm. Tội nghiệp, cô ta thực sự tin vào tất cả những lời nói của tôi.
- Vâng, tôi ốm yếu. Tôi tàn tật. Vì vậy con gái không ai yêu tôi cả. Vì vậy mà cô cũng quay mặt đi… Tôi biết…
Bỗng nhiên, hai bàn tay nhỏ bé của Mi-xu nắm chặt lấy những ngón tay tôi.
- Ôi, em thương anh lắm!
- Tôi không cần phải thương.
- Thế nghĩa là anh chưa đến đây lần nào cả à? - Tất nhiên. Ai đến đây với một đứa tàn tật nghèo khổ? Và đấy, hôm nay… Anh nghĩ ra rằng em… Ôi thằng ngốc…
Lúc đó tôi chỉ cáu kỉnh và hoàn toàn không nghĩ gì về những điều đó. Nhưng chính những lời giả dối này, những lời không xứng đáng cho cả một bộ phim tồi nhất, đã tác động đến Mi-xu mãnh liệt.
- Nhưng … nếu thế… nếu thế… thì… thì ta vào đi…
Nhưng … nếu thế… nếu thế… thì… thì ta vào đi…
Một đoàn tàu phanh rít lên ken két chạy theo đường phụ vào đề-pô. Mấy người say rượu ngồi trên hè của một quán giải khát nheo mắt nhìn chúng tôi.
Mi-xu ngập ngừng bước theo tôi, đầu cúi thấp, và trong vẻ mặt của cô ta có một cái gì trẻ con, yếu đuối, bất lực.
Thật là lạ, nhưng sự ham muốn của tôi bỗng biến mất.
Thay vào đó, trong người tôi xuất hiện một sự thương hại mà từ trước tới nay tôi không hề có. Cả một cái gì như lòng hối hận nữa.
Tôi xuống dốc quá chừng! Chỉ có kẻ đểu cáng nhất mới lỡ lợi dụng những tình cảm của một người bất lực yếu đuối như thế kia để thỏa mãn dục vọng của mình.
- Hừm… Nhưng cô nghĩ lại có quá muộn không đấy? - Tôi vẫn tiếp tục đóng cái vai cũ.
- Anh vẫn còn giận à? Anh tha cho em.
- Đủ rồi! cô làm tôi chán ngấy lên rối. Tôi không còn muốn đi đến đó nữa.
Nói xong, tôi bước nhanh theo lối đi bộ nhỏ hẹp về phía nhà ga. Mi-xu, như một con chó, thất thểu đi theo tôi. Một người đàn ông vấp phải cô, buông ra mấy câu chủi tục. - Đợi em với. Em thở không ra hơi nữa.
- Cái gì?
- Anh bước đi như lính ấy. Đến sân ga, tôi đi chậm lại. Mi-xu thở hổn hển, mặt cô tái xanh, mồ hôi đọng trên sống mũi thành giọt. - Thế nào, tim cô đau à?
- Không, bao giờ em cũng ra mồ hôi như vậy.
- Hừm…
- Anh tha cho em. Em có lỗi, nhưng thực ra em không muốn làm anh giận.
Trên sân ga gió thổi mạnh. Những cô gái làm ở quán ăn đêm, vừa hết giờ làm việc đã chạy rất nhanh - đến nỗi bùn không kịp rời ra khỏi giầy của họ - xuôi theo bờ dốc ngọn đồi để xuống sân ga. Nếu như lúc đó tôi hiểu được vì sao họ lại vội vã như vậy, có lẽ tôi cũng hiểu được cả Mi-xu đang đứng trước mặt tôi: Mỗi người trong bọn họ ở nhà đã có chồng, con, tình yêu, hạnh phúc gia đình đang chờ đợi… Còn Mi-xu…
- Em phải làm gì bây giờ? Đèn quảng trường cạnh ga đã tắt hết, chỉ còn cửa sổ hai, ba nhà còn sáng. Cạnh một cửa sổ như vậy, một ông già mặc bộ quần áo cứu quốc quân màu xanh rách tả tơi như bù nhìn đuổi chim đang đứng ôm hòm gỗ quyên bố thí.
Mi-xu chạy đến chỗ ông già.
- Thôi đi, ông ta chẳng bán gì đâu. Giả danh đi quyên góp, nhưng thực ra được bao nhiêu ông ta đều chiếm riêng cho mình cả.
Nhưng Mi-xu đã mở chiếc ví đỏ của mình, rút ra đồng mười yên, bỏ vào hòm gỗ. Ông già rút từ túi vải bên sườn ra một hộp giấy đen nhỏ.
- Anh xem này, - Mixu giơ chiếc thánh giá bằng sắt rẻ tiền lên mỉm cười một cách ngớ ngẩn, cho rằng tôi cũng sẽ vui mừng với món hàng của cô ta. - Cho cháu thêm hai cái nữa. - Mi-xu lại ném thêm hai đồng mười yên vào hòm, và ông già, vẫn thản nhiên, chìa ra cho cô ta thêm hai hộp giấy màu đen.
- Em mua cái đồ vứt đi ấy làm gì?
- Em đánh mất lá bùa hộ mệnh của em rồi. Còn một thánh giá này em tặng anh.
- Anh cần cái của này lắm đấy!
- Anh cầm lấy đi. Nhất định nó sẽ mang may mắn đến cho anh. - Cô ta cố sức nhét hộp giấy vào tay tôi và toét rộng miệng ra cười.
- Thôi, đủ rồi, - tôi nhăn mặt. - Đi về nhà đi.
- Thế anh không giận em nữa chứ? Không giận thật chứ? Anh có muốn chủ nhật sau gặp nhau nữa không? Em có thể đến nhà anh…
Nghe những lời cuối, tôi nhăn mặt lại, và cô ta hiểu ngay rằng không thể làm được điều đó. Tôi hình dung ra Na-ga-xi-ma sẽ cười giễu tôi như thế nào - và cả những đứa bạn khác nữa, - nếu cô ả quê mùa này đến nhà tôi.
Cô ta đã làm cho tôi phát ngấy. Sau khi nói rằng tự tôi sẽ hẹn bao giờ gặp nhau lại, không chào tạm biệt, tôi sỗ sàng đẩy Mi-xu về phía nhà ga. Vừa đi, cô gái vừa ngoái nhìn tôi; khi cô ta khuất hẳn, tôi cảm thấy trong lòng một sự nhẹ nhõm.
Mệt mỏi và cau có, tôi chán ngán lê bước về nhà. Na-ga-xi-ma đang nằm, dải băng quấn ngang mũi, chăn kéo lên tận cằm.
- Thế nào?
- Cái gì thế nào? - Tôi lầu bầu, cởi quần dài, vội vàng chui xuống dưới tấm chăn ẩm. Hình như Na-ga-xi-ma còn muốn hỏi thêm một điều gì đó, nhưng tôi đã thụt đầu vào trong chăn, và anh ta đành thôi không quấy tôi nữa.
Hai ngày sau tôi đến gặp Kim. Tôi tin rằng mình đã chiếm được cảm tình của anh ta và hy vọng sẽ kiếm được một việc làm gì đó.
Kim vẫn ngồi chỗ lần đầu tiên tôi thấy anh ta. Gác hai chân lên bàn, anh ta đang say sưa ngoáy mũi.
- A, chào cậu! - Anh ta nhìn tôi chằm chằm và mỉm cười ranh mãnh. - Sao cậu lại vẫn cau có thế? Chắc lại cãi nhau với bồ?
- Tôi cần việc làm. Bây giờ không còn lúc nghĩ đến con gái nữa.
- Việc làm à? Hừm… thật ra thì cũng có thể tìm được, - anh ta nói, miệng nhai kẹo cao su.
- Anh biết đấy, tôi sẵn sàng làm bất cứ việc gì, nếu được…
- Tớ có một việc đặc biệt cho cậu. Nếu cậu làm tốt, tớ sẽ trả hậu. Hình như có lần cậu bảo rằng biết lái xe.
- Đúng thế.
- Tốt lắm.
Tôi lập tức đoán rằng việc chẳng phải đơn giản, một khi Kim đã rào đón trước tôi như vậy. Có thể là buôn lậu chẳng hạn? - Trong thời gian gần đây báo chí thường viết về những vụ người nước ngoài mang hàng buôn lậu qua Hồng- kông.
- Cậu làm người môi giới.
- Môi giới à? Thế có phải mang vật nặng không?
- Ôi đồ ngốc!
Kim phá ra cười đến nỗi làm bụi trên bàn tay sạch, rồi anh ta cầm lấy điện thoại, nói một tràng bằng tiếng Triều Tiên, cuối cùng kết thúc bằng tiếng Nhật:
- Tất cả sẽ ổn thỏa. - Và, đặt ống nghe xuống, nhổ miếng kẹo cao su trong miệng ra, nói: - Nào chàng sinh viên, đi thôi.
Chúng tôi bước ra đường phố lát đầy vàng của những chiếc là mùa thu. Những cô nữ sinh trung học mặc váy ngắn, tay sách cặp chạy ngang qua chúng tôi, miệng líu ríu một điều gì đó.
- Nếu không thích việc này, tớ có thể tìm cho cậu một việc khác.
- Việc gì?
- Chân tay, - Kim nhìn tôi từ đầu đến chân, - Nhưng theo tớ, việc này không hợp với cậu. Nó cần phải có sức khỏe và một số điều kiện khác nữa.
- Thế tôi phải làm những gì?
- Bám lấy bọn đàn bà người Mỹ. bọn chúng nhiều đứa điên lắm. Tớ sẽ làm quen cậu với một ả…
Bây giờ chẳng cần thiết kể lại những gì Kim thì thầm vào tai tôi lúc đó. Tôi cần phải đi lại gần gũi với một trong số những người đàn bà da trắng làm hộ lý trong quân đội chiếm đóng và sống tại các khách sạn ở Ca-đa.
Đi lại gần gũi với đàn bà? Chẳng lẽ đó chính là cái mà chiều qua tôi tìm cách để đạt được với Mi-xu?
- Không, việc này không hợp với cậu, - anh ta có vẻ tiếc rẻ nói. - Cậu nên làm người môi giới thì hơn.
Tất nhiên, tôi còn tiếc nhiều hơn Kim. Đời tôi xuống dốc đến thế là cùng! Anh ta đánh giá cái thể xác của tôi! Và tự tin, không nghĩ đến chuyện sẽ bị tôi phản đối, đề nghị với tôi một việc như vậy! Nhưng thực ra, Kim đã biết tôi là người như thế nào rồi.
Nghề môi giới - nó cũng lương thiện như nghề làm đĩ. Trên đời này có có nhiều người đàn ông không tự mình chiếm được trái tim đàn bà. Vì vậy, người làm nghề môi giới phải giúp đỡ những kẻ hèn nhát đó.
Có cái gì là không có ở Tô-ki-ô những năm sau chiến tranh!
Ban đêm, trong công viên U-e-nô, những người đàn ông mặc váy, trát phấn nem luốc, đi lang thang. Khắp nơi, những kẻ môi giới chạy đi chạy lại tìm khách hàng.
Nghề môi giới… Trước đây tôi chưa hề nghe là có nghề như vậy. Nhưng, bước theo kim, tôi hiểu rằng: chính tôi, bằng kinh nghiệm của chính bản thân mình, sẽ buộc phải tin điều đó - than ôi - không phải là điều bịa đặt.
Chúng tôi đi dọc theo theo một bãi tập cũ. Trước chiến tranh, ở đây là doanh trại của một sư đoàn cận vệ. Bây giờ những đường hào mọc lút đầy cỏ, sụp lở, đọng nước lầy lội. Gió thổi qua bãi tập bốc mù mịt. Thời đó, ở ngoại ô Tô-ki-ô có rất nhiều chỗ trở nên hoang tàn như vậy.
Những chỗ này là nơi những người làm nghề môi giới tiến hành công việc của mình, nhờ đó mà đĩ điếm và tình dục đồng giới tha hồ phát triển. Chiến tranh không chỉ tàn phá đất đai, mà cả tâm hồn con người.
- Ta đi đâu đây?
- Đến nơi rồi, - Kim hất đầu chỉ về phía trại lính trông giống như một dãy chuồng ngựa.
Ở đó, một người đàn ông mặc áo da đen đứng cạnh chiếc xe hơi cũ hiệu “Đát-tô-xan”.
- Cậu này là sinh viên. Muốn việc làm. Tôi biết cậu ta. Có thể tin tưởng được. - Kim vỗ nhẹ lên vai tôi.
Trên má phải của người đàn ông có một vết sẹo.
Ông chăm chú nhìn tôi.
- Anh biết lái xe không?
- Biết.
- Tốt lắm
Tôi học được nghề lái xe khi làm ở khu vực quân sự Mỹ.
- Đã lái xe như thế này chưa?
- Rồi.
- Thế này nhé, tôi sẽ ở đây đến tối. Trong thùng xe có một chiếc áo vét mới. Anh thay áo và khoảng mười giờ đến nhà hát “Hi-ga-xi-mi-a-cốt-da” ở Xun-da- cu. Ở đó, anh sẽ thấy một người đàn ông chừng năm mươi tuổi, để ria. Đó là khách hàng của anh. Tên ông ta là Ca-me-ta. Quản đốc xưởng của một nhà máy nào đó. Nhưng điều đó đối với anh không quan trọng. Hiện nay ông ta đang yêu một diễn viên múa. Vai trò của anh trong vở kịch này là: anh cần phải làm cho cô diễn viên kia tin rằng ông ta là một quản đốc của một nhà máy lớn.
- Nhưng tôi…
- Biết rồi, biết rồi. Anh giả đóng vai lái xe của ngài quản lý. Hãy cố đóng cho thật tốt. Rõ chưa?
- Rõ rồi.
- Ngày mai đưa xe đến đây và trả lại áo. Tạm thời trả cho anh ba trăm yên. Sau này tiền công sẽ phụ thuộc vào chính bản thân anh.
Chia tay với Kim và người đàn ông mặc áo da, tôi đi về nhà. Bước qua một con hào, tôi nhổ nước bọt xuống bãi nước bẩn.
“Giá bây giờ có được một ả thật kháu” - tôi nhớ lại những lời tôi và Na-ga- xi-ma thường nói khi nằm trên nệm nhìn trần nhà.
Nhưng hóa ra khát khao đó không chỉ có những chàng sinh viên nghèo. Chẳng lẽ khi tôi về già cũng sẽ cố tìm cách chiếm đoạt một cô diễn viên nào đó thông qua những người môi giới? Nhưng thực ra, việc này có liên quan gì đến tôi? Tôi cần việc làm, chẳng có gì phải bàn cãi ở đây cả.
Gần mười giờ tối, tôi ngồi vào chiếc “Đát-tô-xan” cũ kỹ, rời khỏi bãi tập, và theo lời dặn, đi đến nhà hát nổi tiếng “Hi-ga-xi-mi-a-cốt-da”. Nơi ngay sau chiến tranh đã cho ra sân khấu trình diễn những điệu thoát y vũ và những diễn viên múa khỏa thân.
Người đàn ông để ria đang đi đi lại lại chờ ở chỗ hẹn trước. Ông ta làm ra vẻ đọc báo, nhưng thực ra đang chăm chú nhìn bốn phía. Điệu bộ ông ta gợi lên trong tôi cảm giác vừa buồn vừa thương hại cùng lúc.
- Ông là Ca-me-ta?
- Vâng. Anh ở đằng ấy đến?
- Vâng đằng ấy.
- Đấy, như người ta nói, sự may mắn, - ông ta bối rối nói. Rồi rút ra từ trong túi một chiếc khăn mùi xoa rất sạch, xỉ mũi.
Một con người cẩn thận, - tôi nghĩ. - Cẩn thận và nhát gan. Có lẽ không bỏ việc một ngày nào. Hơn nữa lại là một người cha đứng đắn của một gia đình đứng đắn. Những ngày chủ nhật quây quần với vợ con, nằm trên đi-văng nghe đài, răn dạy con, buổi tối uống một trai rượu vang loại tốt.
Nhưng con người cẩn thận này một lần cùng với các bạn đồng nghiệp trẻ của phòng mình và… Cô diễn viên múa sẽ không thèm để ý đến một người đàn ông năm chục tuổi nếu ông ta không phải là quản lý hoặc giám đốc. tôi hình dung ra cảnh ông ta ghen tị nhìn viên quản lý của mình…
Sau khi học xong đại học, tôi cũng sẽ trở thành quản đốc phân xưởng một xí nghiệp hoặc nhà máy nào đó. Cuộc đời hiện ra với tôi vô dụng và kinh tởm.
- Gọi cô ấy ra chứ?
- Vâng, tôi nhờ anh.
- Tên cô ấy là gì?
- I-ne-ta.
Ở cầu thang và trong hành lang không có ai cả. Phía trên nghe có tiếng kèn. Một thanh niên mặc áo vàng đứng giở tập bản nhạc trước cánh cửa có đề chữ “Người lạ miễn vào”.
- Xin lỗi anh, có thể đề nghị chị I-ne-ta được không ạ?
- Anh cần chị ta để làm gì?
Tôi đưa cho anh năm điếu thuốc lá Mỹ mà Kim giao cho tôi, anh ta liền gật đầu, mở cửa:
- I-ne-ta, chị có khách.
Trong phòng thấp thoáng vô số những bóng người khỏa thân, một số diễn viên múa nữ đang đứng trên bàn ăn súp mì sợi, số khác, mặc váy đỏ trong suốt đứng hút thuốc lá, nói chuyện với nhau. Một cô gái tách ra khỏi đám mặc váy đỏ, vừa gãi chiếc mông trắng, vừa đi về phía tôi.
- Tôi nghe anh đây.
- Ngài quản lý… - tôi bắt đầu nói.
- Quản lý à?
- Vâng, ngài quản lý Ca-me-ta mời chị đi dùng bữa. Ngài đang chờ ở phía dưới.
Tôi gãi mông, cô gái mở to cặp mắt kẻ rất công phu:
- Cụ quản lý… - nhìn bộ mặt son phấn, không tỏ ra cảm xúc gì của cô ta, tôi nhớ lại nụ cười của Mi-xu.
- Ông ta đúng là quản lý thật à?
- Vâng, ngài ấy là cấp trên của tôi.
- Tôi sẽ ra ngay bây giờ.
Nháy mắt với chính mình, tôi đi xuống cầu thang với nụ cười thỏa mãn trên môi.
- Thế nào?
- Ổn cả. Nhưng đừng quên rằng ông là quản lý đấy nhé.
Tôi cho xe chạy từ trong góc phố ra, giúp Ca-me-ta đang luống cuống khi thấy I-ne-ta xuất hiện ngồi vào xe. Cô ta đã kịp khoác lên người một chiếc áo màu xanh loại rẻ tiền, vừa nhai kẹo cao su vừa lẩm bẩm một điều gì trong mũi.
- Thưa ngài quản lý, ngài ra lệnh đi đâu ạ? - tôi hỏi.
- Ờ - ờ - ờ…Ca-me-ta rặn trong cổ họng như thể bị chứng táo bón. Ngoài ra ông ta không thể nói gì thêm. Có lẽ tôi cần phải giải quyết lấy việc này.
- Ở các khách sạn “Xin-ki-ô” và “Xu-kít-đi” bây giờ đầy người. Hơn nữa có thể có người trông thấy ngài. Tôi nghĩ không nên đến đó.
- Ừ - ừ - ừ…
- Hay là ta đến “Xin-du-cu”. - Tôi quay lại phía cô gái. - Ngài quản lý thường đến “Xin-ki-ô” và “Xu-kít-đi” để bàn công việc, còn “Xin-du- cu” thì ít đến. Ở đó không ai biết ngài.
- Nhưng “Xin-du-cu” là …
- Tất nhiên đấy không phải là khách sạn sang trọng. Nhưng ngài quản lý dậy chúng tôi phải tiết kiệm và mình cũng giữ đúng nguyên tắc đó.
- Anh là lái xe của ngài Ca-me-ta à?
- Vâng đồng thời là thư ký.
Tôi đã nhập vai đến nỗi tự mình cũng tin vào những lời bịa đặt của chính mình. Nhưng liếc thấy trong gương bộ mặt của ngài Ca-me-ta đang ngồi bối rối cạnh cô diễn viên múa, tôi quay lại với thực tế: “Có lẽ ông ta cần một cốc để mạnh dạn hơn”.
Tôi dừng xe cạnh khu thủy tạ “Mu-xa-xi-nô”.
Từ đây xuống đến tận nhà ga, những quán ăn nằm áp sát vào nhau như những hộp diêm. Mùi dầu mỡ, mùi thịt rán bay đầy phố, những cô bồi bàn lớn tiếng mời gọi khách hàng.
- Ở đây cũng có thể dùng tạm được, thưa ngài quản lý.
Khi Ca-me-ta bước ra khỏi xe, tôi khẽ xô ông ta: Này đừng ngượng, hãy bạo lên. Ông ta lảo đảo, suýt ngã.
- Có nên tiêu phí ở chỗ này không? - Ông ta lo lắng hỏi.
- Đâu có! Ở đây chỉ cần trăm yên là đủ.
Tự tôi cũng đi vào một hiệu khác và gọi món thịt cá voi rán. Xong tôi ra ngồi vào xe, vừa ngáp vừa nhìn ra bốn phía, đợi những khách hàng đáng kính của tôi. Một lát sau. I-ne-ta chạy ra.
- Tai họa! Ngài quản lý say rồi!
- Thế thì hỏng hết mất!
Tôi không đợi sự việc lại chuyển hướng như vậy. Tôi vẫn phải bằng mọi cách thi hành đầy đủ nhiệm vụ của người mặc áo khoác da giao cho. Có khi nào tôi còn gặp may như hôm nay nữa không?
- Thưa bà kính mến, tôi muốn thưa với bà một chuyện. Ngài thủ trưởng của tôi đã mất trí vì bà đấy… Bà nên dịu dàng hơn với ông ta.
- Dịu dàng hơn?
Người đàn bà dướng đôi lông mày vẽ dài ra rất khéo nhìn tôi rồi phá lên cười. Trên má cô ta hiện lên mấy lúm đồng tiền.
- Thế anh không biết gì cả à?
- Tôi cần phải biết gì mới được chứ?
- Ôi, đồ ngốc. Chẳng lẽ Kim không nói gì với anh cả à?
- Kim? Sao lại Kim ở đây?
Cô gái lại phá ra cười. Những điều cô gái sau đó kể cho tôi nghe, thật ra mà nói, không phải là điều bất ngờ đối với tôi. Tôi cũng đã ít nhiều đoán ra rằng giữa Kim, người mặc áo da và cô gái này có một sự liên hệ nào đó, nhưng không nghĩ rằng vở diễn của họ lại chặt chẽ đến vậy. Tự bản thân các cô gái không tiện - và cũng khó - kiếm đựoc khách hàng. Nhưng phái một làm nghề môi giới đến loại người thộn như ngài Ca-me-ta này, ông ta sẽ không sợ bị lừa và xì tiền ra ngay.
- Ngài Ca-me-ta đến kìa! - cô diễn viên múa kêu to. Ca-me-ta chuếnh choáng say, râu ria ướt đẫm rượu. Cô diễn viên liếc nhìn sang phía tôi.
- Ta đi thôi, khi ngài quản lý còn chưa tỉnh lại.
- Đúng thế, - Ca-me-ta sảng khoái nói. - Nhanh lên, tài xế, không, đồ quỷ sứ, ngày mai ta đuổi cổ đi đấy.
Vừa dậm Pê-đan, tôi lại cố hình dung ra cảnh Ca-me-ta trong gia đình của mình. Đấy, cuối tuần ông ta sẽ từ nhà máy trở về nhà (có lẽ ông ta ở ngoại ô thành phố). Ngoài hiên những chiếc áo quần trẻ em đang phơi khô dần. Ca-me- ta giúp vợ dọn dẹp nhà cửa suốt ngày chủ nhật nằm trên đi-văng nghe đài. Còn buổi sáng thứ hai cẩn thận và lịch sự, ông ta đến nhiệm sở của mình.
Trong khu phố Tu-đa-ghe-ni, khu phố của khách sạn và nhà trọ, nơi chúng tôi đi ngang qua, rất im ắng. Lũ chuột bị choáng bởi ánh đèn pha, chạy vội ra sau lưng những thùng rác và các hàng rào bằng gỗ không sơn. Cô diễn viên, với vẻ mặt trầm ngâm, tụa vai vào cửa xe, khẽ hát:
Người đàn bà mà tôi ruồng bỏ,
Giờ đang vui với ai,
Ở đâu?
Tôi không quên được đôi mắt nâu,
Của những người mà tôi ruồng bỏ.
Đôi mắt vẫn đang nhìn tôi đâu đó,
Vẫn về ám ảnh tôi đêm đêm…
- Bài hát gì đấy?
- Sao, anh không biết à? Đây là bài ca của Mi-nê.
- Ờ - ờ - ờ…
Đó là Ca-me-ta và cô diễn viên dang nói chuyện với nhau sau lưng tôi. Mười phút sau, họ cùng nhau đi qua chiếc cổng ngoài còn chưa thắp đèn để vào sân trong tối tối mờ mờ của một ngôi nhà trọ đêm…
*
Qua mấy chiếc cổng ngoài còn chưa thắp đèn, chúng tôi đi vào sân trong tối mờ mờ của ngôi nhà trọ đêm. Tôi khẽ mở cửa và để Mi-xu vào trước. Trong hành lang có hai đôi giầy - một đôi của đàn ông đã lâu không đánh, đế dầy cộm, một đôi của đàn bà sạch sẽ nhưng đã bong đế. Cô hầu phòng mặt gầy choắt xuất hiện, thái độ mời mọc, hỏi chúng tôi cần phòng suốt cả đêm hay chỉ một lúc. Nhận được câu trả lời, cô ra hiệu mời đi theo mình. Chúng tôi lên tầng hai. Trong phòng có mùi hôi hám, chắc là nhà vệ sinh ngay ở đâu bên cạnh.
Cô hầu phòng đi ra, để hai chúng tôi lại một mình.
Trên chiếc bàn thấp có một ấm chè đã nguội, một cái khay và mấy chiếc chén. Mi-xu ngồi bất động, hai tay đặt lên đầu gối, đầu cúi thấp. Để xua đuổi sự bối rối, tôi ngáp thật to và ngắm nghía tờ giấy bọc kẹo sô-sô-lát nằm trên khay. Trên tờ giấy có ghi “Mô-na-cô, đặc biệt ngon khi hai người ăn chung”.
Có một người nào đó trước đây dùng tay đập muỗi trên bức tường xám, để lại những cánh muỗi khô và dấu vết của bàn tay.
Cửa sổ được bịt bằng những tấm ván để người ngoài đường khỏi tò mò nhìn vào. Trong góc còn một chiếc chăn và một bình nước.
Tôi nhìn qua khe hở giữa những tấm ván ra đường phố. Trời mưa. Một người đàn bà cầm ô che đang nặng nề leo dốc, nơi tuần trước tôi và Mi-xu cãi nhau. Một đoàn tàu chậm chạp bò theo nhánh đường phụ vào đề-pô, người nhân viên đường sắt mặc áo mưa đang huơ đèn - có lẽ ra hiệu cho thợ lái tầu trên đầu máy
- Đến đây với anh, - tôi cố nói ra vẻ tự nhiên, nhưng hóa lại quá to, thêm vào đó giọng như đứt quãng. - Nào đến đây. Chẳng lẽ em không thấy anh buồn lắm à? - Tôi biết cách tác động đối với cô ta. Ông già xem tướng ở quán ăn hôm nọ nói nhiều điều vớ vẩn, nhưng vẫn có phần đúng: Mi-xu quá thương và tin người - có lẽ và đã sống khá lâu ở nông thôn, giữa những con người chất phác, hoặc vì xem nhiều phim và hay đọc tạp chí “Những ngôi sao điện ảnh”. Đúng thế hay không, không biết, nhưng hôm nay, làm ra vẻ ốm đau, bất hạnh, tôi đã dễ dàng lôi được cô ta đến cái quán trọ này. - Sao em lại còn bắt anh phải chịu đau khổ thêm nữa? - Úp mặt xuống gối, tôi phải cố nhịn được cười.
Túm lấy tay Mi-xu, tôi dùng sức kéo cô ta đến cạnh; và ôm chặt lấy ngang vai, tôi bắt đầu mở khuy chiếc áo khoác ngoài rẻ tiền trên ngực cô ta. Mi-xu giơ hai tay lên ôm mặt.
Vừa lúc đó tôi chợt thấy trên cổ tay Mi-xu một vết tròn màu đỏ thẫm to bằng đồng xu bé. Không, đây không nốt ruồi mang hạnh phúc, đây là một vết tròn lạ lùng, gợi lên một cảm giác khó chịu.
- Cái gì ở cổ tay em thế?
- Em không biết. Nó sinh ra nửa năm nay rồi.
- Em đã đến bác sĩ khám chưa?
- Chưa. Để làm gì? Vì nó không đau và thậm chí cũng không ngứa.
Trong áo khoác ngoài, Mi-xu mặc một chiếc áo sơ mi đàn ông đã cũ, và trong nữa là bộ ngực còn chưa nảy nở với những núm vú nhỏ.
- Anh đừng nhìn thế, em xấu hổ lắm…
- Em ngốc lắm. Thế em mang cái mẩu sắt này thật à?
Cởi chiếc áo sơ mi ra khỏi người Mi-xu, tôi thấy giữa ngực chiếc thánh giá nhỏ cô ta mua của ông già nọ vào chủ nhật tuần trước. Chỉ có khác là sợi dây lụa đã thay cho chuỗi xích. - Vứt cái của nợ này đi. - Tôi dứt đứt dây và ném chiếc thánh giá sang một bên.
Khi tôi bắt đầu hôn, trên sống mũi cô ta hiện lên một nếp nhăn.
- Ôi, đau quá!
- Đồ ngốc!
Sự việc kết thúc nhanh chóng một cách bất ngờ. Một cơn buồn nôn kéo lên cổ, và tất cả xung quanh trở nên bẩn thỉu, kinh tởm: bức tường xám với những con muỗi bẹp gí và dấu bàn tay… chiếc khăn len dầy… bình nước nằm trong góc… và cô ta… một con bò cài núc ních, lười biếng… bộ ngực cáu bẩn mà tôi vừa hôn xong, chiếc mũi tẹt… những sợi tóc bết dính và mảng trán đẫm mồ hôi. Vết tròn màu đỏ thẫm trên cổ tay… Ôi, ngu ngốc, bẩn thỉu! Điếu thuốc trong miệng đắng nghét, khó chịu. Ngoài cửa sổ mưa vẫn rơi, bầu trời xám xịt như chiếc mền bông bẩn, úp trên những ngôi nhà cũng xám xịt. Ở một nơi nào đó, phía sau những mái nhà này, là văn phòng của Kim. Có lẽ anh ta bây giờ gác chân lên bàn ngoái mũi. Còn ở một nơi khác phía đằng kia thành phố Tô-ki-ô, con người cẩn thận Ca-me-ta đang che ô vội vã bước theo đường phố lầy lội để đi về nhà… Ôi, tất cả sao mà đáng nguyền rủa, đáng kinh tởm đến thế!
- Anh I-ô-xi-ô-ca!
- Gì đấy?
- Anh lần đầu đấy à?
- Im đi!
- Bây giờ anh không còn buồn, anh…
- Cô có thể im đi được không?
Tôi chậm chạp xỏ chân vào đôi tất cứng đờ vì mồ hôi và bẩn, khoác áo lên người.
Trên đường đến ga, tôi im lặng, còn Mi-xu, như một con chó ngoan ngoãn, bước theo sau và cứ muốn bắt chuyện. Tôi phải cố kìm hãm lắm mới không chủi cho cô ta một thôi - lúc đó sao tôi cảm thấy kinh tởm cô ta đến thế.
Trên sân ga, một nhân viên đường sắt dùng loa phóng thanh cầm tay đề nghị hành khách ra khỏi mặt đường tàu. Không nhìn lại Mi-xu, tôi lẩn vào đám đông hành khách và nhảy lên cửa một toa tàu vừa đứng bánh.
- Thế lần sau chúng ta gặp nhau ở đâu?... - Mi-xu hét lên sau lưng tôi, nhưng cửa toa đã đóng sập lại, và tôi không còn nghe thấy cô ta nói gì thêm.
- “Ai còn gặp cô nữa? Tôi không muốn trông thấy mặt cô nữa đâu! Đồ ngốc! Đồ thộn! Cô cần cho tôi không nhiều hơn so với những người này, những con người mà giờ đây tôi đang giẫm lên chân, đang dùng khuỷu tay, dùng vai chen lấn để vào toa. Và bất cứ một người nào cũng xa lạ đối với tôi như cô mà thôi!” - Tôi nghĩ trong bụng như vậy, có thể chỉ là để mong tự bào chữa cho mình.
Tàu chuyển bánh. Mi-xu với vẻ mặt căng thẳng bước bên cạnh cửa toa, rồi chạy theo. Tôi ngoảnh mặt đi.
Bánh tàu gõ đều xuống những chỗ nối trên đường ray. Tôi nhớ lại bài hát của cô diễn viên múa:
Người đàn bà mà tôi ruồng bỏ,
Giờ đang vui với ai,
Ở đâu?
Đồng hồ treo tường trong xưởng đóng hộp chỉ bảy giờ.
- Ôi mệt quá, - I-ô-côi-ma I-ô-xi-cô vươn vai, lấy tay che miệng ngáp rồi đứng dậy khỏi bàn. - Làm thế đủ rồi.
Xưởng đóng hộp đặt trong một ngôi nhà gỗ nhỏ. Ném số thuốc còn làm dở vào thùng, I-ô-cô nhắc ấm chè từ bếp điện xuống.
- Cậu ở lại à?
Mi-xu gật đầu, đón chén nước từ tay I-ô-cô.
- Cậu có chuyện gì thế, thời gian gần đây cậu thường hay ở lại làm đêm.
- Không sao. Cậu đừng lo.
- Nhưng nếu như cậu về muộn, nước trong buồng tắm nguội đi, cậu lại không tắm rửa được. Mà này, hôm nay sao lão Ta-gu-ta lại có gì không bằng lòng đấy. Kêu ca về cậu…
- Cái gì?
- Cậu chẳng nghe tớ gì cả. Tớ nói rằng đêm qua lúc về nhà cậu không đóng chặt cửa và Ta-gu-ta chửi cậu về chuyện ấy đấy.
I-ô-cô treo chiếc tạp dề dính đầy thuốc của mình lên tường và đưa bản tay xoa vai, nói.
- Thôi, tùy cậu… còn tớ về đây.
- Tớ không giữ cậu đâu.
- Tạm biệt.
- Chào cậu.
I-ô-cô ra về, còn Mi-xu ở lại một mình trong sự im lặng của gian xưởng vắng vẻ. Bên ngoài, gió thổi xào xạc, những đường dây điện kêu rít lên, cây cối nghiêng ngả. Mặc dù cách Tô-ki-ô chỉ khoảng hai mươi phút tàu hỏa chạy điện, ở đây vẫn còn giữ lại được một vài cánh rừng phong.
Những cánh rừng này và những ngôi nhà nông dân lợp cỏ lác vẫn còn nguyên, thậm chí cả sau trận ném bom khủng khiếp năm 1945. Từ nhà ga xe lửa, một dãy phố buôn bán chạy dài về phía rừng. Trên dãy phố này, cũng như trước chiến tranh, có các cửa hiệu bán măng sào, hiệu cắt tóc, cửa hàng đồ hiệu của một tay địa chủ trong vùng. Những cánh đồng trồng hành bắt đầu ngay từ cuối dẫy phố. Đất ở đây đen, màu mỡ, và hành thu hoạch rất khá. Giữa cánh đồng hành là một ngôi nhà bốn góc không lớn lắm - đó là xí nghiệp dược phẩm, nơi Mi-xu làm việc. Sau chiến tranh, vợ chồng nhà Va-ca-bai-a lập nên ở đây một xưởng làm xà phòng, nguyên vật liệu là dầu cá. Xà phòng giặt không sạch, mùi hôi, nhưng hồi đó đến thứ hàng này cũng hiếm, và xí nghiệp nhanh chóng phát đạt. Hai vợ chồng thuê một số công nhân, rồi một số nữa, mở rộng sản xuất. Từ lâu, vùng này đã nổi tiếng một loại thuốc dân gian chữa bệnh ngoài da “A-ca-ta”. Nhiều người địa phương biết phương thức chế tạo thuốc này, và hai vợ chồng Va-ca-bai-a có đầu óc kinh doanh đã không quên bỏ qua điều đó. Thế là bên cạnh xà phòng họ bắt đầu cho sản xuất thêm “A-ca-ta”.
Trong xưởng đóng đồ hộp có bốn người đàn ông làm việc. Mi-xu và I-ô-cô thỉnh thoảng đến giúp họ chùi chai lọ và đóng hộp thuốc. Thông thường, họ phải dùng cồn xúc sạch đựng thuốc và xếp chúng vào hòm. Buổi tối ở xí nghiệp, người ta đóng hộp xà phòng.
Từ trước đến nay Mi-xu ở lại đêm khi nào người ta yêu cầu. Còn thường ngày, ăn tối ở xưởng xong, cô chạy vội về nhà, tắm rửa, rồi cùng I-ô-cô đi dạo phố hoạc giở xem những quyển tạp chí mốt trong cửa hàng sách. Nhưng từ ngày ấy cô đã năm lần ở lại làm đêm. Năm đêm - đã là hơn năm trăm yên, ngày hai mươi này cô sẽ được lĩnh. Để có một nghìn yên, cần phải làm thêm năm đêm nữa.
Một nghìn yên! Đó là… Một tuần trước đây, vào ngày hôm sau của lần gặp gỡ thứ hai với anh sinh viên, cô trông thấy ở cửa hàng hiệu may y phục thời trang một chiếc áo vét nữ màu vàng. Không phải chiếc áo khoác ngoài rẻ tiền mà cô vừa mua ở quầy cạnh ga, mà là áo vét nữ, loại các ngôi sao điện ảnh Ta-ca-mi-ne Hi-đê-cô và Xu-ghi I-ô-cô vẫn mặc. Nhẹ như bông, mỗi lúc cầm như sáp tan trên tay, trước đây đến trong chiêm bao cô cũng không dám mơ tới. Nhưng bây giờ cô quyết định mua nó, dù có đắt đến bao nhiêu. Và cô còn thấy những đôi tất nam. Cũng cần phải mua cả chúng nữa. Bởi vì tất anh ấy đã rách nát cả! Ngày hôm ấy ở nhà trọ, khi cởi tất anh ấy vừa gãi chân vừa nói:
- Anh đã quen như thế này rồi. Mà thủng thế này thì cũng việc gì! Nhét nó xuống sâu hơn trong giầy và không ai trông thấy nữa cả.
- Nếu lần sau mà tặng anh ấy ba đôi tất, chắc anh ấy phải mừng lắm! Mi-xu mỉm cười đầy hạnh phúc.
“Lần này mình sẽ đến nhà anh ấy, giặt dũ cho anh ấy, mạng lại tất”.
Cô hình dung ra cảnh cô sẽ ngồi giặt trong căn phòng sáng sủa, đầy ánh mặt trời của anh sinh viên. Giống hệt như bộ phim mà Mi-xu xem ba tháng trước đây. Trong phim cũng có một cô gái giặt sơ mi cho anh sinh viên.
“Mình sẽ giặt suốt ngày, miễn sao anh ấy chỉ việc học, không phải lo gì khác!” Trước mắt cô lại hiện ra những cảnh trong phim, và Mi-xu thở dài.
- Này, cô mơ màng cái gì thế? Tỉnh lại đi.
Có người vào gõ cửa sổ.
Đó là Ta-gu-ta, công nhân của xưởng. Ông ta sống cùng gia đình ở trong xí nghiệp.
- Chẳng lẽ cô không biết rằng cấm không được ở lại trong xí nghiệp sau tám giờ à?
Với Mi-xu và I-ô-cô, Ta-gu-ta bao giờ cũng nghiêm khắc.
- Nhưng, chú Ta-gu-ta…
- Tôi không muốn nghe gì hết cả. Hôm qua cô về không đóng cửa xưởng, hôm nay lại ở khuya. Nếu mất cái gì, ai sẽ chịu trách nhiệm? Cô à?
Ta-gu-ta thích đọc những lời giáo huấn dài dòng. Ông ta có thể nói luôn mồn như nhai kẹo cao su.
“Cái lão Ta-gu-ta này thật đáng ghét”.
Nghe tiếng chân Mi-xu ngoài hành lang, I-ô-cô ra mở cửa. Căn phòng họ thuê của ông Xin-tô, thầy dạy thổi sáo cho các học sinh địa phương, ở tầng hai. Trước đây căn phòng này là nhà kho, do đó nó ngoảnh mặt về phương bắc, và thậm chí trong những ngày nắng, mặt trời cũng không thể chiếu sáng vào tận đấy được.
Nằm trên giường, I-ô-cô cừa nhai đậu nành tẩm đường vừa giở xem quyển tạp chí “Những ngôi sao điện ảnh”. Cô là người hâm mộ tài năng của I-xi-maha. Trên giường cô treo vô số ảnh của diễn viên này. Thậm chí có lần I-ô-cô còn viết cho anh ta một lá thư:
“Anh I-xi-ha-ma, - cô vừa ngậm đầu chiếc bút chì hóa học, vừa viết, - anh sống ra sao? Còn tôi sống bình thường và làm việc tốt. Tôi xem tất cả những phim anh đóng. Tôi là việc ở xí nghiệp dược phẩm… Tôi… “ và vân vân…
I-ô-cô viết sự thật. Quả là cô đi xem tất cả những phim có I-xi-ha-ma đóng. Đôi khi để làm được việc đó cô phải đến các quận khác của thành phố. Thêm vào đó, mỗi phim của I-xi-ha-ma cô đều xem đến hai ba lần. Bỏ thư vào thùng bưu điện ở đối diện xí nghiệp, I-ô-cô chờ thư trả lời rất lâu. Nhưng mãi I-xi-hama vẫn không viết cho cô
- Cậu không quên đóng cửa chứ? - I-ô-cô đặt tờ tạp chí xuống chăn, hỏi.
- Ta-gu-ta đến và lại mắng tớ.
- Cái lão khó chịu thật. Người ta bảo lão hám gái lắm.
Hai cô gái không thích Ta-gu-ta. Thứ nhất, ông ta không che giấu thái độ xấu của mình đối với họ; thứ hai, ông ta là một người đặt điều khủng khiếp và thậm chí đã tung ra những điều bịa đặt về họ giữa đám đàn ông. Thường thường, khi chỉ có hai người với nhau, các cô gái hay thảo luận về Ta-gu-ta, phẫn nộ, chửi rủa ông ta; nhưng lần này, không chú ý nghe lời người bạn gái đã bắt đầu câu chuyện thường lệ. Cô nhớ lại cái ngày khi những hạt mưa tí tách rơi từ bầu trời xám xịt như mảng mền bông xuống mặt đất… đường phố đẫm nước mưa… cửa sổ nhà trọ đêm cũng đẫm nước mưa… ánh điện Xi-bui-a mờ mờ qua làn nước mưa… người đàn bà đi ngược lên dốc trơn…
Ngày hôm ấy thật buồn, và nói chung, thật kinh khủng.
Cô không muốn cái đó lặp lại. Cô rất đau. Giá như I-ô-xi-ca yêu cô không có cái đó! Nhưng anh ấy giận dữ, thất vọng khi Mi-xu từ chối, và nói rằng không thể có tình yêu mà không có cái đó. Còn Mi-xu không biết phải làm gì khi nghe anh ấy nói như vậy. Từ thủa nhỏ, tim cô cứ như vỡ ra mỗi lúc trông thấy người nào bất hạnh hoặc đau khổ, đặc biệt khi nguyên nhân của sự đau khổ đó lại chính là cô. Và đêm hôm đó ở quán trọ trên dốc đổ sũng nước cũng vậy. Cô rất đau. Nhưng vì I-ô-xi-ca cô chịu đựng.
Chưa bao giờ giữa cô và I-ô-cô có điều gì bí mật nhưng bây giờ cô không dám nói với bạn: cô xấu hổ.
- Tớ muốn ngủ, I-ô-cô ạ.
- Thì ngủ đi.
Mi-xu muốn suy nghĩ về một điều gì đó vui sướng, trong sáng, và cô bắt đầu nghĩ đến chiếc áo vét nữ màu vàng. Chỉ còn năm ngày nữa cô sẽ được mặc chiếc áo đẹp đẽ này đến nơi hò hẹn. và bây giờ I-ô-xi-ca có đưa cô đi tới đâu cô cũng không còn phải xấu hổ nữa.
Đã một tuần qua, mà I-ô-xi-ô-ca chẳng có tin gì tới. Hàng ngày, cô hồi hộp chờ một lá thư hay một tấm bưu thiếp, nhưng vẫn chẳng có gì cả. Hết giờ làm việc về, cô không thể đi bình thường, mà cứ rảo bước dần, và cuối cùng là chạy, thở hổn hển, cô mở cửa và lập tức nhìn ngay về phía cuối hành lang, nơi có chiếc bàn chủ nhà thường để thư từ hai cô gái.
Lại thêm hai tuần nữa mà luồng ánh sáng xuyên qua tấm cửa kinh cửa sổ từ lâu không lau chỉ chiếu sáng những bực cầu thang đầy bụi.
- Hôm nay không, nhưng ngày mai sẽ có, nhất định sẽ có… - Mi-xu áp chiếc thánh giá nhỏ lên ngực. - Ngày mai… ngày mai…
Rồi ngày mai cô lại áp thánh giá lên ngực và hy vọng vào ngày mai kế tiếp nữa.
Tấm bùa cô mang trước đây rồi đánh mất và thay bằng chiếc thánh giá này, cô mua ở Ca-va-cô-xi, quê cô.
Ca-va-cô-xi… Quê hương… Đã từ lâu nơi đó trở thành quán trọ cho các võ sĩ đạo… Buôn bán sầm uốt… Đời sống sung túc… Đến trong chiến tranh, ở đó cũng không bị bom…
Nhưng Mi-xu không muốn về nhà. Không có cô, cả bố, cả dì ghẻ sẽ dễ chịu hơn.
Mi-xu là con gái một của bố cô, trước khi người dì ghẻ với ba đứa con của mình về ở. Bà ta không phải là người xấu, nhưng Mi-xu lập tức hiểu rằng sự có mặt của đứa con chồng làm bà ta khó chịu. Còn Mi-xu luôn luôn cảm thấy nặng nề nếu như cô làm phiền người khác, vì vậy cô bỏ nhà đi và bây giờ sống một mình giữa những người xa lạ.
Lại đến ngày chủ nhật. Thường xuyên vào các ngày này Mi-xu và I-ô-cô ăn trưa xong là đi đến rạp chiếu bóng “Mi-na-ga-xi-ma-mi-cát-de: ở phía sau mấy dẫy quầy buôn. Đấy là rạp chiếu bóng duy nhất trên đường phố của họ, với giá vé bốn chục yên thường chiếu hai bộ phim Nhật Bản, và trước lúc vào cửa có phát những tờ chương trình in mực xanh nhòe nhoẹt trên giấy vàng khè. Trong phòng chiêu, trẻ con kêu khóc, đàn ông hút thuốc thản nhiên, từ buồng vệ sinh bốc ra mùi khó chịu. Nhưng hai cô gái không để ý đến điều đó. Vừa nhai chân mực khô, họ vừa tìm chỗ, ngồi xuống và dán mắt vào màn ảnh đặt trong khung gỗ thếp vàng. Thường thường, nội dung phim họ đã biết trước qua tạp chí “Những ngôi sao điện ảnh”. Nhưng thú vị biết bao khi được nín thở nhìn tất cả những điều đó tận mắt.
Nhưng chủ nhật tuần này hai cô gái không đến rạp “Mi-Na-ga-xi-ma-mi-cátde”, họ quyết định đi Xe-ít-tô, nơi những diễn viên điện ảnh nổi tiếng Tat-da-ki Đi-un, Xu-ki-ô-ca và Ti-a-ki và - còn nổi tiếng hơn nữa - Mi-phu-ne Tô-xi-rô và Phut-di-ca Xu-xu-mu, sống. Cả xưởng phim lớn nhất cũng ở đó.
Một trong những đường nhựa thẳng tắp hai bên đường toàn anh đào chạy thẳng từ ga Mu-xa-xi-nô đến Xe-ít-dô. Sau mười phút đi xe lửa điện, họ xuống ga Xe-ít-do. Hai cô gái tưởng mình như rơi vào một đất nước xa lạ nào khác. Những biệt thự trắng tinh nằm khuất giữa một màu xanh ngọc bích, những con đường đi bộ được quét sạch bóng. Sao mà ở đây khác hẳn đường phố bẩn thỉu của họ với những bức tường lở khói, những cửa hiệu nhỏ bé bán măng xào, những nhà xí hôi thối! Một thanh niên người Âu cưỡi chiếc xe đạp đắt tiền đi từ trong cổng biệt thự ra.
Đúng, Mi-phu-ne Tô-xi-rô và Xu-ki-ô-ca Ti-a-ki sống ở đây. Hai cô gái nhìn nhau và thở vào thật sâu.
- Thế đấy!
- Tuyệt thật!
Hãnh diện rằng giờ đây họ đang thở cùng một bầu không khí với các diễn viên nổi tiếng, hai cô gái đi chầm chậm dọc theo phố.
Họ đọc những tấm quảng cáo gặp trên cổng và gặp rất nhiều những tên người nước ngoài: Đơ-gie-mi Đan, Lu-i-xơ Liu-i-xơ… Từ các phòng vọng ra tiếng chó bécgiê, tiếng đàn dương cầm…
Các cô gái muốn hỏi những người qua đường nhà của các diễn viên họ hâm mộ ở đâu, nhưng người qua đường ở đây toàn sang trọng quá, nên hai bạn không dám đến gần họ.
Mặt trời đã thấp xuống, những đám mây nơi chân trời ngả sang màu hồng, nhưng họ vẫn còn đi mãi, đi mãi trên đường phố sạch sẽ, trong lòng chất chứa những rung cảm thiêng liêng.
Bỗng I-ô-cô kêu thốt lên.
- Cái gì thế? Đau tim à? - Mi-xu chạy vội đến bên bạn.
- Không. Xem kìa!. Xem kìa…
Thì ra đó là nhà của Ta-ca-mi-ne Hi-đê-cô.
I-ô-cô mặt tái nhợt, dừng lại cạnh nhà. Trên cổng có một bảng đề “Ta-ca-mine Hi-đê-cô”, còn bên cạnh trong ngoặc ghi “Hi-rai-a-ma” Đó là họ thật của nữ diễn viên. Là những người bạn thường xuyên đọc tạp chí “Những ngôi sao điện ảnh”, các cô gái còn biết nhiều chi tiết hơn thế nữa kia.
- Chẳng lẽ đây là nhà của chị ấy à?
- Tất nhiên. Xem bảng đấy kìa.
Ngôi nhà chẳng có gì đặc biệt, cũng như các ngôi nhà Nhật Bản bình thường khác, chỉ thêm mấy cây hoa leo quấn quanh một khung thếp vàng đặt trước cửa sổ, và phía sau khung là mấy khóm hoa hồng.
Trong nhà im lặng, có lẽ không ai có nhà. Cô bé I-ô-cô sững sờ đứng nhìn quanh và bỗng nhiên ngập ngừng đi đến bên thùng gỗ dùng để đựng thực phẩm treo ở cổng, mở ra.
- Cậu làm gì thế? - Mi-xu ngạc nhiên.
Nhưng I-ô-cô đã lôi ra một chai sữa không.
- Cậu điên đấy à… Người ta trông thấy kìa!
- Không sao. Ai cần cái chai không này làm gì! Mà có thể sáng nay chính chị Ta-ca-mi-ne Hi-đe-cô đã uống sữa từ cái chai này? Tớ lấy nó về làm kỷ niệm. Thế cậu không muốn lấy à? - Và I-ô-cô bắt đầu nhặt ở trong vườn, biết đâu nữ nghệ sĩ đi dẫm lên những hòn sỏi này?
Với cảm giác lẫn lộn bối rối và xấu hổ, Mi-xu đứng nhìn bạn. Có thể, một tuần trước đây cô cũng đã vui mừng chạy đi nhặt sỏi trong vườn nhà Ta-ca-mine Hi-đe-cô, nhưng bây giờ cô cho sự phấn khởi của bạn là ngây ngô, sự say mê của I-ô-cô đối với I-xu-ha-ma và Xa-tô-u là trẻ con.
“Còn mình, mình đã gặp I-ô-xi-ô-ca và đã biết bí mật của đàn ông”.
Mi-xu cảm thấy buồn, cô nhìn I-ô-cô với vẻ kẻ cả.
- Thôi đủ rồi, ta về thôi.
Trên đường về, họ trông thấy nhà của Ki-xi-ca-va A-ki-ra, diễn viên hài kịch. Anh ta cũng thuộc vào số người được hai cô gái hâm mộ. Người to cao, cân đối như một lực sĩ, giọng nói dễ nghe, dịu dàng, A-ki-ra thường biểu diễn cùng với Ta-ca-mi-ne Hi-đe-cô. Anh ta, như một diễn viên nổi tiếng cần phải có, là chủ một biệt thự sang trọng xây theo lối châu Âu. Một chiếc chăn rất lớn phơi trong sân biệt thự.
- Ôi - ôi - ôi, - I-ô-cô phá ra cười, - chăn của Ki-xi-ca-va to quá, gấp đôi của chúng mình.
Mi-xu im lặng nhìn chiếc chăn đôi.
Họ về nhà lúc chập choạng tối.
Trong toa xe lửa chạy điện người chật ních. Phần lớn là những cặp vợ chồng mang theo con cái trở về nhà sau chuyến đi chơi ngày chủ nhật. Mi-xu và I-ô-cô vất vả mãi mới chen ra được sân ga.
- Đợi tớ một tý nhé?
- Cậu đi đâu?
- Một tí thôi.
Để bạn đứng đấy, Mi-xu chạy đến dẫy hàng có ánh điện sáng mờ mờ đằng xa. Lạy chúa! Trong quầy hàng hiệu may Âu phục thời trang, dưới ánh đèn màu, vẫn còn treo bộ áo da cổ lông trắng, đôi găng tay tượt tuyết và chiếc áo vét nữ.
“Đến ngày hai mươi cần phải làm thêm năm trăm yên”. Và đây, ngày lĩnh lương. Mi-xu đến sớm hơn mọi người, dọn dẹp xong, thỉnh thoảng lại chạy ra xem đồng hồ. Thường ngày, thời gian lúc nghỉ trưa trôi qua rất nhanh, nhưng hôm nay kim đồng hồ dường như cứ đứng ỳ tại chỗ.
- Mi-xu, cô có việc gì thế? Sao cứ chạy ra chạy vào như vậy? - Vợ viên quản lý hỏi cô.
Sau bữa trưa, viên quản lý ngồi trên xe đạp đi đến ngân hàng.
Vào ngày lĩnh lương, tâm trạng mọi người đều thoải mái. Những người đàn ông tụ tập trước của văn phòng không bịa đặt nói nhảm như thường lệ, mà huýt sáo những bài ca mốt.
- Bây giờ tôi sẽ phát lương.
Công nhân rút thẻ của mình trong túi bảo hộ lao động và lần lượt đi vào phòng quản lý; Lúc trở ra mỗi người cầm một phong bì. Chỗ của mọi người trong hàng được xếp theo tuổi đồi và chức vụ, tay nghề, vì vậy mà Mi-xu và I-ôc-ô đứng sau cùng.
- Người sau cùng bao giờ cũng gặp may, I-ô-cô cười nói. - Mẹ tớ thường bảo vậy.
Ta-gu-ta đang đứng trước bàn viên quản lý.
- Không, không, - viên quản lý vừa khoát tay, vừa nói. - Xí nghiệp của chúng tôi không lớn lắm. Tôi đối xử với mọi người và anh em như thân thích. Nhưng anh đã bốn lần vay nợ tôi.
- Lần này là cuối cùng. Xin anh hãy tin tôi. Tôi sẽ cố không vay nữa. -Thấy các cô gái, Ta-gu-ra bối rối.
- A! chào các cô! - Viên quản lý thở ra nhẹ nhõm, quay về phía hai cô gái và giở sổ lương.
- I-ô-côi-a-ma - hai ca đêm. Mô-ri-ta - Mười ca đêm. Khá lắm! Đây, nhận lấy. Nhưng đừng tiêu hoang nhé.
Rút từ ngăn bàn ra hai phong bì tiền lương, ông ta bỏ cả tiền công làm ca đêm vào đấy.
Ta-gu-ta nhìn hai cô gái bằng ánh mắt ghen ghét.
Từ văn phòng, Mi-xu và I-ô-cô đến xưởng đóng hộp. - Cái lão Ta-gu-ta thế nào ấy nhỉ? - I-ô-cô ngạc nhiên hỏi. - Nợ lút đầu, không mang gì về nhà cả, lại còn vay tiền để uống rượu và chơi bạc.
Trong giờ nghỉ chưa, họ thường thấy Ta-gu-ta cùng mấy người bạn ngồi vào góc xưởng đánh bài. Mi-xu còn biết nhiều điều về ông ta nữa, nhưng giờ đây cô không quan tâm đến Ta-gu-ta.
Đã qua rồi những đêm mất ngủ, khi cô ở một mình trong xuởng vắng dùng cồn rửa chai lọ, nghe tiếng gió rít buồn bã ngoài trời. Thế là xong! Bây giờ cô có thể đi mua ngay chiếc áo vét màu vàng cho cô và tất cả cho I-ô-xi-ô-ca.
- I-ô-cô!
- Gì thế?
- Tớ cần đi đường này chừng mười lăm phút.
- Để làm gì?
- Muốn mua một vài thứ.
Mi-xu cởi áo lao động, đi giầy và bước ra đường. Một cơn gió lạnh thổi bụi bốc mù mịt cạnh một xí nghiệp.
Cạnh cổng, Ta-gu-ta đang đứng cùng một người đàn bà và hai đứa trẻ - một đứa trên lưng và một đứa trên tay mẹ. Gió đưa vẳng đến câu chuyện của họ.
- Thôi đi về nhà. - Người đàn bà là vợ của Ta-gu-ta. - Tôi không phải xin cho tôi. Hãy thương lấy các con.
- Tôi đã nói với cô rằng không thể được! Không thể được, thế thôi! - Ta-gu-ta dẫm chân hét.
Mi-xu không muốn nhìn thấy cảnh người khác cãi nhau, cô đứng nấp vào sau cánh cổng.
Một lúc sau có tiếng người bước vội, Ta-gu-ta đi ngang qua chỗ cô đứng, nhổ nước bọt, lầu bầu:
- Ôi, phát ngấy lên rồi.
Vợ của Ta-gu-ta vẫn buồn rầu đứng giữa đường. Ngay đầu ngọn gió.
- Chào chị, - Mi-xu chào chị ta.
- A, chào cô! Cô đi đâu đấy?
- Đến cửa hàng ạ. Em muốn mua một vài thứ.
- Mua à? Còn chúng tôi thì không dám mơ gì đến chuyện mua bán nữa cả. - Chị ta lắc lắc đứa trẻ sau lưng. - Cha của chúng lại không mang gì về cả.
Chị ta kể rằng một nửa số tiền lương Ta-gu-ta đem đi uống rượu, chơi bài, và hiện nay đi đâu không biết. Ngày mai nhất thiết phải trả tiền ăn sáng ở trường cho con trai, đã ba tháng chưa trả, - nhưng Ta-gu-ta không chú ý đến gia đình gì cả, thậm chí đến một cặp sách cũng không mua nổi cho đứa trẻ.
- Còn may là tôi làm được ít nhiều. Và anh ấy cứ ỉ vào tôi, đến nỗi chẳng ngó ngàng gì đến công việc nữa cả. Nhưng nếu như không có lương của tôi thì làm sao sống được.
Chị ta than vãn rất lâu cho số phận cay đắng của mình. Khi đứa bé trên lưng bắt đầu khóc, người đàn bà khẽ lắc lắc đôi vai, và đứa trẻ lại nín lặng, há hốc miệng chăm chú nhìn Mi-xu. Khuôn mặt đứa trẻ xanh xao, trên môi có mấy vết lở nhỏ.
- Vâng, tình cảnh các chị tội thật. Nhưng biết làm sao bây giờ? - Chờ được lúc thuận tiện, Mi-xu chào chị ta, đi tiếp.
Đến các quầy hàng có thể đi tắt qua đất hoang; và Mi-xu, nóng lòng mua ngay chiếc áo vét nữ, rảo bước gần như chạy những gò, hố mấp mô.
- Mẹ ơi, về thôi, - đứa bé nói bằng một giọng thảm thiết. Gió mang tiếng khóc của nó đuổi theo Mi-xu, - Về nhanh lên.
- Ôi chúng mày làm tao chán ngấy lên rồi! - Người đàn bà nói.
Bụi do gió cuốn lên làm mờ mắt Mi-xu, còn những giọng nói theo gió vẳng lại như cắt tim cô ra làm từng mảnh.
Tiếng khóc của đứa bé… lời van của đứa lớn… giọng nói đau khổ của người mẹ… ông già trong bộ quần áo cứu quốc quân rách nát như bù nhìn đuổi chim… người đàn bà nặng nề leo lên dốc… cơn mưa tẻ ngắt… những cửa sổ ướt đẫm nước mưa của quán trọ đêm… chiếc giường ẩm ướt và còn nữa… còn một giọng nói… Một giọng nói mệt mỏi của ai đó…
“Mày cần phải quay trở lại gặp người đàn bà ấy, tiền của mày sẽ cứu được chị ta và mấy đứa con."
“Nhưng đã bao đêm mình không ngủ, làm việc không ngơi tay”, - Mi-xu cố phản đối giọng nói đó.
“Tao biết, tao biết cả. Cả việc mày muốn mua chiếc áo vét nữ màu vàng, cả việc để đạt được mục đích đó, mày đã phải làm việc một mình, khi tất cả ngủ ngon. Tao biết. Nhưng chính vì vậy mà tao muốn mày phải đưa một nghìn yên kia cho mấy đứa trẻ và người mẹ của chúng”.
“Không, không. Tại sao mình lại phải đưa? Mình chẳng có liên quan gì ở đây cả. Đấy là lỗi của Ta-gu-ta, lão ấy phải chịu trách nhiệm với gia đình”.
“Đúng, nhưng không phải chỉ mình lão ta. Tất cả mọi người đều phải chịu trách nhiệm. Cần phải biết thông cảm trước nỗi đau khổ bất hạnh của người khác, phải biết coi chúng như chính mình… Trên ngực mày có cây thánh giá…”.
Dường như Mi-xu cảm thấy hơn là hiểu được ý nghĩa của những lời nói trên. Trước mắt cô chập chờn bộ mặt tái nhợt xanh xao của đứa bé, đôi mắt nhìn chăm chú và những vệt lở đỏ hồng quanh vành môi. Tim Mi-xu nhói lên. Cô không đủ sức để nhìn thấy chúng, nhưng chúng cứ hiện ra rõ mồn một trước mắt cô, làm cô không thể chịu đựng nổi.
Lấy tay dụi mắt, Mi-xu quay trở lại gặp người đàn bà.
- Chị ơi! - Người đàn bà và mấy đứa con quay lại phía cô. - Chị cần bao nhiêu tiền? Em cho vay.
Mi-xu chìa bàn tay nắm chặt tờ giấy một nghìn yên. Cô cố nở một nụ cười, nhưng miệng lại méo xệch thảm hại.
- Nhưng cô đừng nói gì với ông Ta-gu-ta nhé.
Vừa lúc đó Mi-xu bỗng cảm thấy đau nhói ở cổ tay.
Những vết tím thẫm đỏ bằng đồng tiền xuất hiện ở tay cô hơn nửa năm nay. Chúng không đau và không ngứa, nhưng một lần khi I-ô-xi-cô ôm lấy người cô, cổ tay cô bỗng đau nhói lên…
Lại thêm nửa tháng nữa qua. I-ô-xi-cô vẫn bặt tihn như cũ. Có chuyện gì xảy ra với anh ấy? Hay là anh ấy quên rồi? Hay là ốm đau gì? Đúng, có lẽ anh ấy ốm. Nằm một mình và không ai chăm sóc. Mi-xu lo lắng.
Tuy anh ấy có nói rằng không bao giờ được đến nhà anh ấy, nhưng nếu như anh ấy ốm thật thì sao? Không cần phải đến, cần phải đến…
Và thế là vào trưa một ngày thứ bảy Mi-xu mặc chiếc áo khoác ngoài đã cũ màu da cam và bước ra khỏi nhà.
Khi qua hiệu may y phục thời trang cô ngoảnh mặt đi và rảo bước nhah hơn. Từ bé, cô đã có thói quen nén những ước muốn của mình lại.
Mi-xu đã biết nơi ở của I-ô-xi-ô-ca. Nhận được lá thư đầu tiên, cô đã cất phong bì với địa chỉ người gửi. Hôm nay cô lấy nó ra và bỏ vào túi áo. Sau đó, tìm trên bản đồ Tô-ki-ô trên tường văn phòng và biết rằng khu phố của I-ô-i-ôca ở cách ga Ô-tra-nô-mit-du không xa, cô đi đến Xin-du-cu. Đến đó cô chuyển sang xe lửa điện và hai mươi phút sau xuống tàu. Một nhân viên đường sắt còn trẻ sau khi đọc địa chỉ trên phong bì của Mi-xu, chỉ đường cho cô.
Mặc dù đã về chiều, ngoài đường phố vẫn cón ấm. Một đám sinh viên đội mũ lữoi trai vuông bốn góc và những cô gái tay xách cặp đứng tụ tập quanh các quầy sách và bán cà phê. Cô liếc nhìn họ, hy vọng sẽ thấy I-ô-xi-ô-ca.
Đi hết khu phố Xi-un-ga-đai, Mi-xu rẽ sang tay trái như anh nhân viên đường sắt chỉ dẫn. Cô còn phải hai - ba lần đưa phong bì ghi địa chỉ hỏi những người qua đường trước khi đến được ngôi nhà một tẩng có cánh cửa ra vào bị vỡ và được dán lại bằng giấy báo. Khi Mi-xu đẩy cửa, cánh cửa kêu rít rất to. Trong hành lang không có ai. Mấy đôi ủng lính và giầy phụ nữ nằm ở góc.
- Xin lỗi! - Mi-xu lên tiếng gọi to.
- Cô cần ai? - Một giọng phụ nữ không còn trẻ đáp lại, và một người đàn bà to béo đầu trùm khăn, tay cầm que thông lò bước ra hành lang. - Cô cần gì? - Bà ta hỏi với giọng không lấy gì làm cởi mở lắm.
- Cháu… cháu đến tìm I-ô-xi-ô-ca.
- Tìm I-ô-xi-ô-ca à? - Người đàn bà nhìn Mi-xu từ đầu đến chân. - Thế cô là ai?
- Cháu … cháu là người quen của anh ấy. Anh ấy có nhà không ạ?
- Không. Đã từ lâu không biết biến đi đâu mất. Thậm chí không trả tiền nhà lẫn tiền điện, còn trong phòng bẩn thỉu đến không bước chân vào được nữa.
- Thế anh ấy đi đâu rồi ạ?
- Đi đâu à? Tự tôi cũng đang muốn biết điều đó. Tôi không lấy tiền đặt trước và hắn trả ơn tôi như thế đấy! Bọn sinh viên ngày nay đều như vậy cả. Không còn có thể tin ai được nữa.
Thất vọng, Mi-xu chạy ra khỏi nhà. Cô vội vã đi ngược lên phố Xi-un-gađai. Ở đây toàn là sinh viên đội mũ lưỡi trai bốn góc thoa dầu Va-dê-lin.
- Tối nay ta đi chơi ván cờ chứ?
- Không tớ đi đánh bi-a.
Những câu chuyện ồn ào của đám sinh viên lại càng làm Mi-xu nhớ đến I-ô-xi-ô-ca. Cô nhìn lại quầy bán sách và nhìn sâu vào trong, hy vọng thấy I-ô-xi-ô-ca ở đâu đấy. Cô nhìn cả vào quán trà. Nhưng không ở đâu có I-ô-xi-ô-ca cả.
Mặt trời đang lặn, nhuốm một nửa bầu trời trong ánh lửa màu đỏ sẫm. Người chen chúc nhau ở cửa bán vé tàu. Mấy cậu bé chạy đi chạy lại bán báo buổi chiều.
Mi-xu đứng giữa quảng trường trước nhà ga, hàng người xếp hàng mua vé đã thưa thớt, mà Mi-xu vẫn đứng, vẫn chờ một điều gì đó, thẫn thờ…
Dần dần tôi quên Mô-ri-ta Mi-xu và không hề nghĩ đến rằng giờ cô ta đang ở đâu, ra sao, dường như chưa bao giờ có hai lần gặp gỡ giữa chúng tôi.
Nhu một con tàu trên mặt biển khuất dần sau phía chân trời, bóng dáng của Mi-xu đầu tiên mờ dần trong trí nhớ của tôi, rồi biến thành một điểm nhỏ không còn nhận ra, và cuối cùng hoàn toàn mất hẳn. Tôi cho rằng cô ta đã không có và sẽ không bao giờ có ý nghĩa gì đối với tôi.
Nhưng quên đi một con người đâu có thể dễ dàng, và tôi còn hai lần nhớ tới Mi-xu. Như bóng một đám mây lướt qua đỉnh núi cao đứng cô đơn giữa trời, những hồi tưởng kia cũng vậy, chỉ một thoáng lướt qua tâm hồn tôi rồi biến mất.
Lần thứ nhất xảy ra vào mùa xuân năm sau đó. Lần đó tôi đi thả khinh khí cầu quảng cáo để kiếm thêm. Công việc rất đơn giản: nằm dài dưới nắng trên mái nhà, tôi phải chú ý theo dõi sao cho những quả khinh khí cầu không bị gió cuốn đi. Từ phía dưới vẳng lên tiếng ồn ào của thành phố: tiếng máy xe hơi, tiếng chuông tàu điện, tiếng còi tàu. Và xung quanh tôi là những mái nhà của Tô-ki-ô trải dài, cả một biển mái nhà. Những ngôi nhà trông giống như các hộp diêm, xếp từng hàng không đều nhau, chạy ra tận chân trời. Vô số những ngôi nhà. Và trong đó vô số những con người… Những con người cũng như tôi…
“Trên đời này biết bao nhiêu là người, và tất cả đều khác nhau, không thể tìm ra được hai kẻ giống nhau,- tôi vừa xoa bóp đôi bàn tay bị tê, vừa nghĩ. - Họ sống vui mừng, đau khổ…”
Và tôi nhớ đến Mi-xu.
“Và cô ta đã mất hút đi trong thành phố khổng lồ mờ mịt này, - tôi nghĩ, - không biết giờ này cô ta đang làm gì?”
Ý nhĩ đó hiện lên trong đầu tôi như một mẩu gỗ nhỏ nổi lên bề mặt dòng nước đục, nổi lên một thoáng rồi lại biến mất trong lòng sâu…
Một lần khác, tôi ngồi trong hiệu cắt tóc cạnh nhà tôi không xa, chẳng biết làm gì, tôi giở xem mấy tờ tạp chí trên bàn, trong số đó có cả “Những ngôi sao điện ảnh”.
Trên trang cuối cùng, như thường lệ, đăng những bức thư của độc giả.
Một ả ngớ ngẩn nào đó kể về mình, về những người thân, về công việc, nghề nghiệp và mối tình bất hạnh của mình… Cô ta viết rằng cô ta bị một sinh viên, người mà cô ta đã làm quen qua thư từ và được cô ta hiến thân trong lần gặp gỡ thứ ba, bỏ rơi.
Cô gái này có tên khác, và có lẽ Mi-xu không bao giờ dám viết như vậy, nhưng dù sao bức thư này nói về chuyện của chúng tôi.
Phía dưới đăng thư trả lời của tòa soạn. Có lẽ do một bà có văn hóa nào đó viết. Bà ta giận dữ, bằng những lời đẹp đẽ, lên án chàng trai nọ, lên án sự vô trách nhiệm của anh ta, tuyên bố rằng một người đàn ông như vậy không xứng đáng với tình yêu của phụ nữ và cuối cùng bà ta khuyên cô gái hãy quên anh ta đi để bắt đầu làm lại cuộc đời mới.
Tôi ngẩng đầu lên khỏi trang tạp chí. Ông thợ cắt tóc già lách cách tông đơ, còn cậu bé giúp việc đang rán bánh trên bếp điện.
Đọc xong bức thư, tôi cảm thấy ác cảm đối với tác giả của nó. Mặt bà ta có lẽ cũng dày như đế ủng, nên mới tự cho mình quyền nhìn người khác một cách trịnh thượng như vậy. Câu trả lời của bà ta không cứu được ai và cũng không giết chết ai. Hơn nữa, chẳng lẽ lại có thể dùng những lời giáo huấn thô thiển để cứu chữa lành các vết thương lòng? Nghĩ cho cùng, bà ta cũng đã làm một cách vô trách nhiệm.
- Cuộc đời bây giờ là thế đấy. Ở đâu cũng vậy cả thôi, - Ông già thợ cắt tóc nói với khách hàng.
Tôi ném tờ tạp chí sang một bên và quên ngay Mi-xu.
Thêm một năm trôi qua. Những lúc khó khăn Kim lại giao việc cho tôi, dù là không hoàn toàn trong sạch lắm, nhưng nhờ vậy mà tôi tốt nghiệp được đại học.
Năm đó bắt đầu chiến tranh ở Triều Tiên.
Các trường tư nhân trong nước gặp phải những khó khăn tài chính, vì vậy sinh viên được tuyển vào học đã được tốt nghiệp không bị một hạn chế nào cả. Nhờ thế mà tôi và bạn tôi, Na-ga-xi-ma, vốn rất ít đến trường nghe giảng và kiến thức khoa học cũng chẳng được bao nhiêu, cũng được nhận bằng. Thế là chúng tôi bị vứt ra đường…
- Thôi nhé, tạm biệt cậu. Chúc cậu mạnh khỏe.
- Tạm biệt.
Chúng tôi chia tay nhau trên sườn dốc ngọn đồi Xi-un-ga-đai.
Chúng tôi quả là những người bạn chân chính: ăn cùng một bát, thậm chí dùng chung cả quần áo lót, và bây giờ chúng tôi xa nhau. Mỗi người đều dấn bước vào cái đại dương có tên gọi là xã hội. Cái gì sẽ đến với chúng tôi? Ai biết trước được! Nhưng chúng tôi muốn rằng bên cạnh tôi và bên cạnh bạn tôi luôn có một người đàn bà…
Khóa học của chúng tôi gặp may. Nhờ chiến tranh Triều Tiên, công nghiệp phát triển, và chúng tôi tìm ra việc khá dễ dàng. Tất nhiên chúng tôi không dám mơ ước sẽ được đến làm việc ở các ngân hàng, công ty lớn - ở đó họ chỉ lấy người tốt nghiệp đại học tổng hợp Tô-ki-ô.
Tôi vào làm việc ở một hãng buôn đinh. Hãng này không thuộc vào loại lớn, ngoài giám đốc và hai viên quản lý, biên chế của nó gồm hơn hai chục nhân viên. Nhưng hãng này kí hợp đồng với các xí nghiệp sắt rất lớn, và vì vậy rất có tương lai. Việc làm ăn của nó đang phát đạt, và tôi hoàn toàn bằng lòng. Nói cho cùng, việc nó hơi nhỏ nhưng chưa phải là điều quan trọng lắm.
“Thà làm đầu gà trống còn hơn làm đít bò cái”, - tôi kết thúc bức thư gửi về nhà báo việc đã kiếm được chỗ làm bằng câu châm ngôn mà tôi học được trong các năm làm sinh viên.
Cuối cùng, trước mắt tôi, sau bao nhiêu năm đói khát, cùng quẫn, đã xuất hiện niềm tin, ánh sáng.
Trong số nhân viên của hãng, hầu như không ai có trình độ đại học, chỉ riêng một mình tôi vừa mới rời ghế sinh viên, tức là người trẻ nhất và có học thức nhất. Vì vậy, ngay từ ngày đầu tiên, tôi đã không nghi ngờ rằng các cô gái sẽ nhìn tôi với một sự ngưỡng mộ.
Nhưng cái cơ bản nhất là cần thiết phải trở thành đầu gà trống. Điều này tốt hơn là đứng ở bực cuối cùng của một công ty lớn - tức là làm đít bò cái.
Trong tàu điện ngầm, tôi đứng nhìn vào cửa kính tối đen, cố hình dung ra mình 10 - 15 năm sau sẽ như thế nào và mỉm cười rạng rỡ.
Những chiếc ghế bành quay sang trọng bọc da mà các ông quản lý Ca-tao-ca và I- ô-xi-mu-ra ngồi không giống như ghế của những nhân viên cộng sự khác. Những bộ máy điện thoại màu trắng in bóng trên mặt bàn sáng loáng. Buổi sáng tất cả mọi người đứng chào Ca-tao-ca và I-ô-xi-mu-ra. Còn Hi-rôi-a-ma phải mang chè vào tận phòng họ.
Mười năm năm sau tôi cũng sẽ trở thành người như vậy.
Để có được điều đó, cần phải làm gì?
Trên đường về nhà, tôi mua ở hiệu sách cũ mấy quyển “Bí mật thành công”. “Làm công danh như thế nào”. Đọc chúng rất khó, cũng khó như hiểu chúng nói về những chuyện gì, Tác giả của một trong số những quyển sách như vậy, quyển sách “Sức mạnh của niềm tin” (dịch từ tiếng Anh), khuyên hàng ngày đứng trước gương nói to lên điều mình muốn đạt được. Tác giả cuốn sách này khẳng định rằng sự tự ám thị như vậy sẽ thôi miên con người, làm khơi dậy trong anh ta những sức mạnh thần bí giúp anh ta thực hiện được bất kỳ một mơ ước nào. Và tất cả những cuốn sách này đều đồng thanh khẳng định rằng để đạt được công danh, mọi phương tiện đều tốt cả…
Vào giờ nghỉ trưa, khi tất cả đều đi chơi và trong phòng không còn ai, tôi vào phòng rửa mặt, đến đứng trước gương và khẽ nói.
- Tôi sẽ đạt được danh vọng! Ta sẽ đạt được danh vọng bằng bất kỳ giá nào! Ta sẽ đạt được tất cả.
Khuôn mặt tôi trong gương trông rất đần độn và thảm hại, méo mó như người đang bị chứng táo bón hành hạ. Tuy vậy, tôi vẫn nhắc đi nhắc lại những lời trên một cách thành tâm, cố gắng.
Và một lần, khi tất cả đã đi dạo chơi, tôi đang đứng trước gương và thực hiện nghi lễ thường ngày của mình, thì chợt nhận thấy trong gương, bên cạnh mặt mình khuôn mặt một cô gái trẻ.
Cô gái bối rối trước.
Đó là Mi-u-ra Ma-ri-cô, cháu gái của ngài giám đốc. Có lẽ vì vậy mà hai người quản lý, trong lúc nói chuyện, gọi cô ta là “Mi-xơ” (Miss: mi-xơ) dùng để gọi kính trọng các cô gái chưa chồng). Cô ta đã làm việc ở đây sang năm thứ hai.
- Tôi tưởng là có kẻ trộm vào đây…
- Ờ - ờ - ờ…
- Xin lỗi anh, - cô ta mỉm cười nói. - Tôi đi chơi về và nghe tiếng của anh, tôi rất ngạc nhiên và còn định gọi người đến. - Cô ta rót một cốc nước đầy và vừa uống vừa nhìn thẳng vào mặt tôi. - Anh kỳ quặc thế nào ấy I-ô-xi-ô-ca ạ!
- Sao chị lại cho là như vậy?
- Anh sống kín đáo, tách biệt, ít nói chuyện với ai, và bỗng nhiên lại nói chuyện với chính mình ở trong phòng rửa mặt.
Tôi nghe cô ta nhưng đầu nghĩ hoàn toàn về chuyện khác. Ôi đôi mắt của cô ta! Lấp lánh như hai viên kim cương đen! Cặp môi cô ta vừa uống nước xong đỏ hồng, mọng ướt, những giọt nước long lanh chảy lăn theo chiếc cằm trắng như tuyết.
Tôi nhớ lại câu chuyện của Na-ga-xi-ma về những cô gái hái nho trong nắng mùa thu.
Ôi giá như tôi được yêu một cô như vậy, hoặc ít ra được nói chuyện với cô ta! Và đấy, Mi-u-ra Ma-ri-cô đang đứng trước mặt tôi! Có lẽ cô ta còn đẹp hơn các cô thôn nữ kia nữa.
Và tôi bỗng nhiên thấy rằng trong tôi, sự khâm phục trước sắc đẹp của Ma- ri-cô còn trộn lẫn một cảm giác vụ lợi khác. Bởi vì cô gái này là cháu gái của ngài giám đốc, và như thế có nghĩa là sự gần gũi với cô ta đối với tôi sẽ không vô ích.
- Biết làm sao được! - Tôi thở dài. - Bởi vì ở đây tôi là lính mới; tôi lại có nhiều điều phải lo lắng. Thứ nhất, cần phải học sử dụng bàn tính. Trước đây chưa bao giờ tôi học cái này cả. Và bây giờ đêm nào tôi cũng thấy những bàn tính có chân cứ đuổi riết theo tôi.
- Tội nghiệp! - Ma-ri-cô phá ra cười. - Quả thường ngày tôi cũng thấy anh hay cau có gẩy từng con tính. Nhưng anh đã tốt nghiệp đại học và việc này anh cũng sẽ làm được không khó gì.
- Này, - tôi nói bằng một giọng nghiêm chỉnh. - Hay chị dạy cho tôi? Chị tính rất giỏi mà.
- Nhưng…
- “Nhưng” cái gì nữa? Người nào biết rồi cần phải giúp những người chưa biết - đó là nghĩa vụ của tình người.
Cô gái cúi đầu, xoay xoay chiếc cốc trong tay. Rồi e thẹn nhìn tôi. Khuôn mặt cô ta thật đẹp, thật dịu dàng. Không như mặt của ả ngốc tốt bụng Mi-xu.
Những buổi học của chúng tôi diễn ra ở một quán trà cách chỗ làm việc không xa.
Ma-ri-cô bày vẽ rất tận tình, còn tôi là một học sinh ngoan ngoãn, cố gắng nhất.
Chúng tôi chọn quán trà là vì, thứ nhất, tôi không muốn cho các nhân viên khác chỉ có trình độ trung cấp kỹ thuật vốn hàng ngày đã nhìn tôi với vẻ không thiện cảm, biết rằng tôi, một kỹ sư có bằng hẳn hoi, lại không biết sử dụng bàn tính: thứ hai, ở trong quán trà cũng dễ bắt những câu chuyện thân mật với Ma- ri-cô hơn.
Ý nghĩ về cô ta càng ngày càng hay xuất hiện trong đầu tôi, và những cuộc gặp gỡ với Mô-ri-ta Mi-xu giờ trở nên xa xôi, đến nỗi tôi không còn tin chắc có thật sự đã bao giờ tồn tại trên đời này một cô gái với tên Mô-ri-ta Mi-xu hay không?
Nhưng những hành động của chúng ta đối với người khác không thể không để lại dấu vết gì, chúng không biến mất như những bông tuyết tan dưới ánh mặt trời tháng hai. Anh có thể vĩnh viễn từ bỏ, có thể quên đi nhưng nên nhớ rằng những hành động của anh sẽ được giữ lại trong trí nhớ, trong kỷ niệm của người khác. Nhưng lúc đó tôi nào có nghĩ đến điều này…
Chẳng lẽ tôi lại giảo quyệt, mất dạy hơn những người đàn ông khác? Tôi không nghĩ như vậy. Ít ra là một nửa trong số chúng ta phải trải qua những gì như giữa tôi và Mi-xu, và sự cố gắng của tôi để được Ma-ri-cô yêu mến và để chiếm cảm tình của giám đốc, chắc bất cứ nhân viên nào cũng hiểu được …
Vâng, tôi không phải là con người đứng đắn, nhưng chẳng lẽ tôi là lọai đặc biệt trong đội ngũ những nhân viên phục vụ của các công ty ở Tô-ki-ô, những người vẫn mơ ước về một cuộc sống sung túc, yên ổn?
Vâng, tôi quyết định lợi dụng tình yêu của Ma-ri-cô cho con đường danh vọng của mình, nhưng quả thật tôi cũng yêu mến cô ta. Tôi say mê chiếc cổ trắng như tuyết, nụ cười mỉm thoáng qua và sự thông minh nhanh nhẹn của cô ta.
Hai tháng sau khi tôi nhận việc, vào đầu tháng sáu, hãng của chúng tôi tổ chức một cuộc đi chơi tập thể dành cho các nhân viên. Đó là sáng kiến của giám đốc. Buổi dạo chơi tập thể này này nhằm mục đích tạo sự gần gũi thân mật giữa những người đã làm việc ở đây lâu và những nhân viên mới đến. Chỗ để dạo chơi ở cạnh một trong những chiếc hồ ở chân núi Phút-di-a-ma.
Thứ bảy, chúng tôi đi tàu hỏa đến Ô-đem-ba rồi chuyển sang ô-tô buýt. Ngày hôm đó nóng nực, trong xe ngột ngạt. Những ngọn đồi xanh lướt nhanh ngoài cửa sổ. Nhưng không ai chú ý đến đến phong cảnh. Chúng tôi hò hát, khao nhau các loại bánh kẹo, Xai-a-ma-xan, người già nhất trong số các nhân viên của hãng, thổi kèn ác-mô-ni-ca.
- Xem kìa, I-ô-xi-ô-ca và Ma-ri-cô cứ quấn quýt với nhau. Ở tàu hỏa cũng vậy, ở ô tô cũng vậy, cứ cặp kè. Có chuyện lôi thôi rồi.
Mọi người cười trêu chúng tôi, nhưng đó chỉ là những câu đùa vô tư, không ác ý.
- Các người chỉ nói… chúng tôi chỉ… Việc này thì có gì đặc biệt đâu nào? - Ma-ri-cô chống chế, mỉm cười sung sướng và ngượng nghịu.
Tôi không cố che giấu tình cảm của mình như khi ở nhà nữa.
- Trước khi đến làm việc ở hãng, em làm gì ở đâu? - Tôi vừa nhai kẹo ngọt mà Ma-ri-cô đưa cho tôi vừa suồng sã hỏi, mắt nhìn lên cửa sổ lên những ngọn cây ngả nghiêng bên đường. - Chắc là sống ở quê với bà ngoại?
- Không, -cô ta bất ngờ trước giọng nói của tôi. - Trước đây em có làm ít lâu tại văn phòng của xí nghiệp dược phẩm Cây-đô.
“Xí nghiệp dược phẩm Cây-đô? Mình nghe cái tên này ở đâu rồi nhỉ?”
- Ở đó chế thuốc à?
- Vâng. Trước đây làm xà phòng, còn bây giờ làm thuốc.
“Mình đã nghe điều này ở đâu nhỉ? A phải rồi, Mi-xu… Hình như Mi-xu làm ở đó.
- Xí nghiệp nhỏ thôi, nhưng em thích ở đó lắm.
- Thế ở đó có cô Mi-xu… Mô-ri-ta Mi-xu làm không?
- Có. Hình như quê cô ta ở Ca-va-cô-xi phải không? Anh biết cô ta à, anh I- ô-xi-ô-ca?
- Không, anh chỉ hỏi vậy tôi. Một anh bạn của anh…
Tôi im lặng.
Cô ta không nhận thấy gì cả. Nhưng nếu có nhận thấy, thì tôi cũng có cách giải thích rằng mặt tôi đỏ lên và vì mệt và vì trong xe nóng quá.
Lát sau chúng tôi đến cạnh một chiếc hồ nước xanh. Những mái nhà màu đỏ màu vàng xung quanh chiếc hồ chìm ngập trong màu xanh của cây cối, còn những ngôi nhà nghỉ mát trông hệt như những hộp đồ chơi. Các cô gái ồn ào xô đẩy nhau xuống xe.
Mùa nghỉ mát mùa hè còn chưa bắt đầu, nhưng trên bờ hồ các quán ăn, các cửa hàng lưu niệm đã mở cửa.
Một gia đình người Mỹ - có lẽ là sĩ quan trong quân đội chiếm đóng - đang ngồi thuyền gắn máy lướt trên mặt hồ.
- Tuyệt quá! - Ma-ri-cô thì thầm, mắt không rời chiếc thuyền lướt nhẹ trên mặt nước đang rẽ mặt hồ phẳng lặng ra làm hai nửa.
Gió thổi chiếc khăn trên đầu cô ta phất phơ.
- Anh có thích thể thao không, anh I-ô-xi-ô-ca?
- Có.
- Môn gì?
- Cưỡi ngựa.
Không biết tại sao tôi lại trả lời như vậy. Có lẽ là vì muốn khoe khoang. Và ngay lập tức tôi phải trả giá cho chuyện đó.
- Anh hay cưỡi ngựa à?
- Đôi khi.
- Hay quá! Anh biểu diễn cho chúng em xem nhé! Hình như ở đâu đây có cho thuê ngựa.
Từ chối lúc này đã quá muộn.
Đằng sau quầy bán đồ lưu niệm, chúng tôi thấy bốn người nông dân đang dắt ngựa cho ăn. Ma-ri-cô chạy đến chỗ họ, tôi thất thểu theo sau. “Muốn ra sao thì ra. Chỉ làm sao đừng sợ. Đây có phải ngựa đua của trường đua Tô-ki-ô đâu, chỉ là mấy con nghẽo nông dân thôi mà!”
Nhưng tôi rất lo cho cánh tay phải của tôi.
Đúng như tôi đoán, mấy con ngựa rất gầy, mắt đầy ghèn, hàng đàn ruồi bâu quanh. Mọi người đứng nhìn chúng tôi cười đùa, trêu chọc. Tôi cần phải tỏ rõ mình!
Người nông dân thấy tôi vất vả mới leo lên được lưng ngựa, cười khẩy. Con ngựa già lo lắng nheo mắt, lắc đầu, cong đít lên như muốn hất khỏi mình một gánh nặng không biết từ đâu mang đến.
- Hình như lần đầu tiên anh cưỡi ngựa? - Người nông dân kính cẩn hỏi.
- Ai bảo anh thế?!
- Nếu thế thì không cần phải giúp anh.
Tôi suýt nữa thì văng tục, may có Ma-ri-cô đứng bên cạnh.
Không bao giờ tôi nghĩ rằng con ngựa lại to đến như vậy. Tôi có cảm tưởng như chân tôi đang ngồi kẹp lên trên một chiếc thùng lớn tướng. Người nông dân khe khẽ lấy tay vỗ lên mông ngựa và nó bắt đầu khuệnh khoạng bước đi.
- Anh I-ô-xi-ô-ca, cẩn thận không ngã đấy, -Ma-ri-cô kêu to.
- Khéo vẽ trò! - Cánh đàn ông nhìn tôi ghen tị và không thiện cảm.
Tôi chẩm chậm đi qua trước mặt họ.
“Không có gì ghê gớm cả, - tôi tự động viên mình. - Loài ngựa như thế này không bao giờ chạy nhanh hoặc lồng lên đâu”. Nắm chặt dây cương, tôi quay người nở một nụ cười đắc thắng.
Ma-ri-cô đứng trên bờ hồ lấp lánh đáp lại tôi một nụ cười rạng rỡ. Bầu trời tháng sáu rất trong xanh.
Con ngựa bỗng nhiên đứng lại và bắt đầu ngắt cỏ ăn.
Tôi kéo căng dây cương và đánh khe khẽ lên sườn ngựa, nhưng nó không hề mảy may chú ý đến tôi và vẫn tiếp tục gặm cỏ.
- Sao thế, anh I-ô-xi-ô-ca?
- Sao cậu dừng lại thế? Phóng đi xem nào.
Tất cả mọi người nhìn tôi, và tôi luống cuống, mồ hôi rịn ra trên trán. Tôi đánh mạnh lên mông ngựa, nó ngẩng đầu lên như muốn nói: “Này sao anh cứ quấy nhiễu tôi thế nhỉ?” - và uể oải bước đi tiếp.
Tôi quay lại phía Ma-ri-cô nở một nụ cười đắc thắng.
Nhưng Ma-ri-cô, đứng bên bờ mặt hồ lấp lánh ánh bạc, nhìn tôi hơi bối rối. Bầu trời tháng sáu trong xanh…
Con ngựa lại dừng. Bây giờ nó dùng chiếc đuôi dài đuổi ruồi và đám ruồi bay rối rít quanh bộ mặt đẫm mồ hôi của tôi.
- Tại sao anh không bắt nó chạy nhanh lên, anh I-ô-xi-ô-ca?
- E… Ngựa nó thông minh lắm. Nó biết ai đang cưỡi nó chứ. Nếu là người mới, đến tai nó cũng chẳng thèm nhúc nhích.
“Được rồi, đợi đấy, đồ chết tiệt, - tôi nghĩ thầm. - Đợi đấy, rồi tao sẽ cho mày nhảy lồng lên”.
Tôi lấy hết sức bình sinh đấm mạnh lên phần mông của ngựa. Tốt lắm. Con ngựa vươn cổ ra và rảo bước chạy dọc theo đồng cỏ xanh.
Tôi quay lại mỉm cười đắc thắng với Ma-ri-cô.
Còn Ma-ri-cô, đứng trên bờ mặt hồ lấp lánh buồn ngơ ngác nhìn tôi.
Nhưng ngựa lại dừng. Nghe có tiếng nước chảy xuống đất. Năm… Mười… mười một giây… Tôi có cảm tưởng như nó kéo dài vô tận.
- Làm cái trò ngu ngốc gì thế kia?
- Nhìn phát lợm!
- Đấy là còn chưa…
Con ngựa trơ tráo quay chiếc mông rộng về phía đám phụ nữ và cong đuôi lên. Mùi phân tươi lập tức xộc vào mũi tôi.
Tôi cảm thấy như chính mình vừa làm cái việc bất nhã đó ngay trước mắt đám đông đáng kính. Không thể chịu nhục nhã hơn nữa, tôi tụt xuống đất, và con ngựa ngu ngốc đó, thấy mình được tự do, chạy ngay về phía chủ của mình.
Đám phụ nữ ôm bụng cười ngặt nghẹo, cố tránh không nhìn tôi. Còn cánh đàn ông thân mật vỗ vai tôi cười rất to.
Ma-ri-cô không còn trên bờ hồ nữa…
Nhưng tuy thế, cái tình tiết đáng xấu hổ đó vẫn mang lại lợi cho tôi. Từ trước đến nay các bạn đồng nghiệp có vẻ tránh tôi, bây giờ quan hệ giữa chúng tôi trở nên thân mật hơn.
Khi ăn trưa và trong ô-tô trên đường về nhà, mọi người chỉ nói về tôi; nhưng Ma-ri-cô ra sức bảo vệ tôi, và thỉnh thoảng, tôi lại bắt gặp ánh mắt đầy thông cảm của cô ta.
Để khỏi phải đi lại con đường buổi sớm đến đây, chúng tôi chọn một con đường khác, mặc dù nó xa hơn.
Vầng mặt trời to màu hung đỏ treo nơi chân trời, hào phóng tỏa từng dòng ánh sáng lên làng mạc, đồi rừng, ruộng đồng. Ngọn Phút-di-a-Na-ga-xi-ma bệ vệ nổi cao lên trong từng làn sương nhạt.
- Anh có giận em không đấy ? - Ma-ri-cô ép sát vào người tôi, hỏi.
- Vì sao?
- Vì em bắt anh cưỡi ngựa.
- Em nói gì vậy! có gì đâu… đến khỉ cũng có lúc rơi trên cây xuống nữa là…
Tôi cảm thấy mình rất hạnh phúc.
Những năm tháng sinh viên vất vả đã lùi lại phía sau. Những cơn đói thường xuyên, những lần làm thuê cho Kim, những tấm áp phích giả dối …. Vĩnh biệt, quá khứ. Bây giờ tôi cho là một người đàn ông đầy nghị lực, đầy quyết tâm sắt đá trở thành đầu của một con gà trống.
Tôi sẽ làm nên công danh! Bằng bất cứ giá nào tôi cũng sẽ làm nên công danh!
Lúc trời đã bắt đầu tối, chúng tôi thấy ở giữa rừng có mấy ngôi nhà bằng gỗ giống như trại lính. Xung quanh đó không có lấy một bóng nhà dân nào.
- Cái gì kia? Trường học à - Tôi hỏi người bán vé.
- Đâu?
- Mấy ngôi nhà trống như trại lính kia kìa.
- À-à đó là trại hủi. Bệnh viện dành cho những người bị bệnh hủi.
- Dành cho những kẻ bị trời phạt à?
- Cho họ đấy.
- Đóng cửa sổ lại nhanh lên, không vi trùng bay vào xe bây giờ.
Tất cả đều cười, nhưng có một vài người vội chạy lại đóng cửa sổ thật.
Bệnh viện dành cho những người hủi! Nó đứng cô đơn giữa rừng. Xung quanh không có một ngôi nhà dân nào. Dưới bầu trời chiều xám, cánh rừng và những ngôi nhà trông buồn bã dường như có một bóng đen của sự buồn thảm nặng nề trùm lên tất cả.
- Những người hủi cần phải nhốt ra ngoài đảo và làm cho tuyệt đường sinh đẻ, để họ không còn con cái khổ sở, - tôi nói.
- Anh nói nghiêm chỉnh đấy à? - Ma-ri-cô mệt mỏi hỏi tôi.
- Nghiêm chỉnh. Chẳng lẽ anh nói không phải sao?
- Nhưng dã man quá. Anh không thương hại những người như vậy à.
Cả hai chúng tôi bối rối im lặng. Nhưng khi xe đến Ôm-đem-ba, sự bối rối im lặng cũng biến mất. Chúng tôi thì có liên quan đến những người bị bệnh hủi? Tôi không muốn biết đến họ! Và thậm chí ngồi nghĩ đến chuyện có nên thương hại họ hay không cũng đã ngớ ngẩn rồi.
Ma-ri-cô lại trở nên vui vẻ. Tôi kể cho cô ta nghe những mẩu chuyện tiếu lâm, cô ta cười rất to, bàn tay bịt miệng.
Đến Tô-ki-ô chúng tôi chia tay nhau. Những người có gia đình đi ngay về nhà, còn mấy chàng độc thân chưa muốn giải tán vội.
- Bây giờ đi tắm một cái thì khoái biết mấy!
- Đúng lắm! Ta đến nhà tắm Thổ-Nhĩ Kỳ đi! Một người nào đó đề nghị, tất cả mọi người hưởng ứng.
- Đi nhà tắm Thổ Nhĩ Kỳ đi!
Trong thời gian gần đây ở Tô-ki-ô bắt đầu xuất hiện những nhà tắm Thổ Nhĩ Kỳ. Đến đây sự mệt mỏi của cả ngày sẽ như được trút sạch, nhưng cái chính - và điều này hấp dẫn chúng tôi nhiều hơn cả - ở đó có những cô xoa bóp gần như trần truồng phục vụ.
Ở nhà tắm Thổ Nhĩ Kỳ tôi lại nhớ đến Mi-xu.