_7:30_PM_
01-07-2006, 10:12 PM
Đi đâu cũng thấy ngừi ta quảng cáo dzìa quê hương mình ... chả thấy của Huế đâu ... ganh tỵ post lên ...
Huế là một thành phố ở miền Trung Việt Nam. Là kinh đô một thời của Việt Nam, Huế nổi tiếng với những đền chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc gắn liền với cảnh quan thiên nhiên.
Vị trí địa lý
Thành phố Huế là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế, tọa lạc hai bên bờ dòng sông Hương. Huế nằm ở phía bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 200km.
Quần thể di tích Huế
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/3/35/Songhuongnuingu.jpg/800px-Songhuongnuingu.jpg
Sông Hương núi Ngự
Phía bắc sông Hương là Kinh thành Huế, trung tâm văn hóa lịch sử của thành phố.
Kinh thành Huế lấy núi Ngự Bình (phía nam sông Hương) làm tiền án và 2 đảo nhỏ trên sông Hương là cồn Hến (Thanh Long) và cồn Dã Viên (Bạch Hổ) làm rồng chầu hổ phục.
Kinh thành Huế có 3 lớp: Kinh Thành, Hoàng Thành, Tử Cấm Thành.
Ngày nay, bên ngoài Kinh Thành
phía nam giáp đường Trần Hưng Đạo, Lê Duẩn
phía tây giáp đường Lê Duẩn
phía bắc giáp đường Tăng Bạt Hổ
phía đông giáp đường Phan Đăng Lưu.
Bên trong Kinh Thành
phía nam là đường Ông Ích Khiêm
phía tây là đường Tôn Thất Thiệp
phía bắc là đường Lương Ngọc Quyến
phía đông là đường Xuân 68.
Cửa Thể Nhân và 4 khẩu thần công Xuân, Hạ, Thu, ĐôngKinh Thành Huế có 10 cửa, thứ tự theo chiều kim đồng hồ như sau (trong ngoặc là tên mà người Huế thường dùng):
1. Cửa Thể Nhân (cửa Ngăn, nằm ngay trước Hoàng Thành, nay đi vào đường Cửa Ngăn)
2. Cửa Quảng Đức (cửa Sập, đường Cửa Quảng Đức)
3. Cửa Chính Nam (cửa Nhà Đồ, đường Nguyễn Trãi)
4. Cửa Tây Nam (cửa Hữu, đường Yết Kiêu)
5. Cửa Chính Tây (cửa Chánh Tây, đường Thái Phiên)
6. Cửa Tây Bắc (cửa An Hòa, đường Nguyễn Trãi)
7. Cửa Chính Bắc (cửa Hậu/cửa Mang Cá lớn, đi vào cửa, rẽ phải là đường Lương Ngọc Quyến)
8. Cửa Đông Bắc (cửa Trài/cửa Mang Cá nhỏ, đường Cửa Trài)
9. Cửa Chính Đông (cửa Đông Ba, đường Mai Thúc Loan)
10. Cửa Đông Nam (cửa Thượng Tứ, đường Đinh Tiên Hoàng)
Ngoài ra còn có 1 cửa nhỏ là cửa Trấn Bình, thông với Trấn Bình Đài (nay là đồn Mang Cá).
Ngoài các cửa đường bộ kể trên còn có 2 cửa đường thủy nằm về 2 đầu Ngự Hà (con sông đào nằm trong Kinh Thành). Hai cửa đó là Đông Thành Thủy Quan (thông ra sông Đông Ba) và Tây Thành Thủy Quan (thông ra sông Bạch Yến; sông Bạch Yến và sông Đông Ba đều thông với sông Hương).
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/9a/Thancong.jpg/800px-Thancong.jpg
Cửa Thể Nhân và 4 khẩu thần công Xuân, Hạ, Thu, Đông
Sông Ngự Hà gồm có 5 cống/cầu, theo hướng từ Đông sang Tây như sau:
1. Cầu Đông Thành Thủy Quan (cống Lương Y, nằm trên Đông Thành Thủy Quan và trên đường Xuân 68)
2. Cầu Ngự Hà (cống Cầu Kho, trên đường Đinh Tiên Hoàng, thẳng góc với cửa Thượng Tứ và cửa Hậu)
3. Cầu Khánh Ninh (cống Hắc Báo, trên đường Trần Văn Kỷ, đi vào sân bay Tây Lộc)
4. Cầu Vĩnh Lợi (cống Vĩnh Lợi, trên đường Nguyễn Trãi, thẳng góc với cửa Nhà Đồ và cửa An Hòa)
5. Cầu Tây Thành Thủy Quan (cống Thủy Quan, nằm trên Tây Thành Thủy Quan và trên đường Tôn Thất Thiệp)
Gần cửa Thể Nhân và cửa Quảng Đức có 9 khẩu súng, gọi là cửu vị thần công. Chín khẩu súng đó có tên là Xuân, Hạ, Thu, Đông, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/cc/Ngomon2.jpg/800px-Ngomon2.jpg
Ngọ Môn, cổng chính vào Hoàng thành Huế
Hoàng Thành và Tử Cấm Thành được gọi chung là Đại Nội. Hoàng Thành có 4 cửa:
Cửa Ngọ Môn (phía Nam, trông ra đường 23 tháng 8)
Cửa Hòa Bình (Bắc, trước dành cho vua đi chơi, trông ra đường Đặng Thái Thân)
Cửa Chương Đức (Tây, trước dành cho phái nữ, trông ra đường Lê Huân)
Cửa Hiển Nhơn (Đông, trước dành cho phái nam, trông ra đường Đoàn Thị Điểm)
Riêng Ngọ Môn có 5 cửa:
Ngọ Môn năm cửa chín lầu
Một lầu vàng, tám lầu xanh
Ba cửa thẳng, hai cửa quanh
(Ca dao)
Chính giữa là Ngọ Môn, dành cho vua
Tiếp theo là Giáp Môn, dành cho quan lại
"Hai cửa quanh" là Dịch Môn, dành cho voi, ngựa và binh lính
"Chín lầu" chỉ lầu Ngũ Phụng (nằm phía trên Ngọ Môn), gồm 2 tầng nhưng có 9 mái. "Lầu vàng" nằm giữa, cao nhất, lợp ngói hoàng lưu ly (men vàng). "Tám lầu xanh" thấp hơn, lợp ngói thanh lưu ly (men xanh).
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/ed/Thaihoa1.jpg/800px-Thaihoa1.jpg
Điện Thái Hoà
Đại Nội còn có các công trình nổi tiếng sau
Điện Thái Hòa: nơi cử hành các nghi lễ quan trọng của triều đình
Cung Diên Thọ: nơi ở của hoàng thái hậu (mẹ của vua)
Cung Trường Sanh: nơi ở của thái hoàng thái hậu (bà nội của vua)
Vườn Cơ Hạ, điện Khâm Văn: nơi các hoàng tử học tập và chơi đùa
Hiển Lâm Các: nơi tưởng nhớ công lao của vua quan nhà Nguyễn
Miếu thờ:
Triệu Miếu: thờ Nguyễn Cam (sách sử ngày nay thường viết là Nguyễn Kim, nhưng Nguyễn Phúc tộc thế phả gọi là Nguyễn Cam)
Thái Miếu: thờ 9 chúa Nguyễn
Hưng Miếu: thờ Nguyễn Phúc Luân, cha của vua Gia Long
Thế Miếu: thờ các vua Nguyễn
Điện Phụng Tiên: cũng thờ các vua Nguyễn, nhưng dành cho phái nữ đến lễ vì họ không được phép vào Thế Miếu
(Trong họ Nguyễn Phúc, Nguyễn Cam được tôn là Triệu Tổ, Nguyễn Hoàng: Thái Tổ, Nguyễn Phúc Luân: Hưng Tổ, Nguyễn Ánh: Thế Tổ.)
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c0/Cuudinh.jpg/800px-Cuudinh.jpg
Cửu đỉnh
Trước sân Thế Miếu có Cửu Đỉnh, là 9 đỉnh đồng lớn, mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với miếu hiệu của một vị hoàng đế đã thờ trong Thế Miếu.
Cao đỉnh: Thế Tổ Cao Hoàng Đế (vua Gia Long)
Nhân đỉnh: Thánh Tổ Nhân Hoàng đế (vua Minh Mạng)
Chương đỉnh: Hiến Tổ Chương hoàng đế (vua Thiệu Trị)
Anh đỉnh: Dực Tông Anh hoàng đế (vua Tự Đức)
Nghị đỉnh: Giản Tông Nghị hoàng đế (vua Kiến Phúc)
Thuần đỉnh: Cảnh Tông Thuần hoàng đế (vua Đồng Khánh)
Tuyên đỉnh: Hoằng Tông Tuyên hoàng đế (vua Khải Định)
Còn hai đỉnh Dụ và Huyền không ứng với vua nào. (Vua Dục Đức, vua Hiệp Hòa, vua Hàm Nghi, vua Thành Thái, vua Duy Tân bị phế ngôi nên lúc bấy giờ không được thờ trong Thế Miếu. Vua Bảo Đại mới mất sau này.)
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/1/10/DuyetThiDuong.gif
Duyệt Thị Đường
Lớp trong cùng của kinh thành là Tử Cấm Thành, chỉ dành cho vua và gia đình, gồm có:
Điện Cần Chánh: nơi vua làm việc hàng ngày
Điện Càn Thành: nơi ở của vua
Cung Khôn Thái: nơi ở của hoàng quý phi (vợ chính của vua -- nhà Nguyễn không lập hoàng hậu, ngoại trừ vua Bảo Đại phá lệ)
Điện Quang Minh: nơi ở của các hoàng tử
Điện Trinh Minh: nơi ở của các phi tần
Điện Kiến Trung: xây thời Khải Định, nơi ở của vua, đến thời Bảo Đại thì Nam Phương hoàng hậu và các hoàng tử, công chúa cũng ở đây
Thái Bình Lâu: nơi vua đọc sách
Duyệt Thị Đường: nhà hát
Sở Thượng Thiện: nơi nấu ăn cho vua
và Thái Y viện, vườn Thiệu Phương, vườn Ngự Uyển, v.v...
Bên trong Kinh Thành còn có nhiều công trình nổi tiếng khác như Quốc Sử Quán (nay là trường Nguyễn Huệ, đường Đinh Tiên Hoàng), hồ Tịnh Tâm (đường Đinh Tiên Hoàng), Tam Tòa (đường Tống Duy Tân), điện Long An (nay là bảo tàng mỹ thuật cung đình Huế, đường Lê Trực), Quốc Tử Giám (1955-1975 là trường Hàm Nghi, nay là Bảo tàng lịch sử Thừa Thiên Huế, đường 23 tháng 8).
Vẫn ở bờ bắc sông Hương, phía ngoài Kinh Thành còn có Kỳ Đài, Phu Văn Lâu, Nghênh Lương Đình, Thương Bạc, Văn Miếu, Võ Miếu. Phía nam sông Hương có đàn Nam Giao, Hổ Quyền, cung An Định.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/05/Khaidinh.jpg/800px-Khaidinh.jpg
Lăng Khải Định
Ngoài hệ thống thành, cung điện, đền đài, Huế còn có lăng tẩm các vị vua triều Nguyễn, gồm có:
Thiên Thọ lăng (lăng Gia Long)
Hiếu lăng (lăng Minh Mạng)
Xương lăng (lăng Thiệu Trị)
Khiêm lăng (lăng Tự Đức, phía trong có Bồi lăng, là lăng của vua Kiến Phúc, con nuôi của vua Tự Đức)
Tư lăng (lăng Đồng Khánh)
Ứng lăng (lăng Khải Định)
An Lăng (lăng của 3 vị vua: Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân)
Những địa danh nổi tiếng khác ở Huế là:
Bờ bắc: chợ Đông Ba, cầu Trường Tiền, chùa Diệu Đế, phố cổ Bao Vinh, phố cổ Gia Hội, chùa Thiên Mụ, chùa Huyền Không, điện Hòn Chén.
Bờ nam: chùa Từ Đàm, chùa Báo Quốc, chùa Từ Hiếu, chùa Trà Am, Thành Lồi, nhà thờ Phủ Cam, nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, Tòa khâm sứ (nay là trường Đại học Sư phạm), trường Quốc Học, trường Đồng Khánh (nay là trường Hai Bà Trưng), núi Bân, đồi Vọng Cảnh, đồi Thiên An.
Ngoài ra, vùng Gia Hội, Kim Long, Vỹ Dạ còn nhiều di tích dinh, phủ của quan lại và hoàng thân nhà Nguyễn.
Lịch sử
Kể từ ngày Công chúa Huyền Trân lên đường vào Chiêm Thành để đổi lấy hai châu Ô và châu Lý đến nay đã 700 năm. Huế có một lịch sử lâu đời và trở nên quan trọng dưới thời các chúa Nguyễn. Vào năm 1802, khi Gia Long lên ngôi, Huế chính thức trở thành kinh đô của Việt Nam mãi đến năm 1945, khi Bảo Đại, vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, cũng như của chế độ quân chủ Việt Nam, trao ấn kiếm cho chính quyền cách mạng.
Huế được công nhận là đô thị loại 1 theo Quyết định 209/2005/QĐ-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ.
Văn Hoá
Huế được coi là vùng đất mang đậm bản sắc truyền thống của Việt Nam. Di tích cố đô Huế là di sản văn hoá thế giới được UNESCO công nhận. Di tích này là một hệ thống kiến trúc cung đình - với hơn 1000 đơn vị công trình và hàng vạn cổ vật - được khởi xây từ thời vua Gia Long triều Nguyễn vào thế kỉ 19. Các công trình kiến trúc bao gồm Kinh thành, Hoàng thành, Tử Cấm thành, Trấn Bình thành, Trấn Hải thành gắn với hệ thống các sông hồ cửa biển như Ngự Hà, Hộ Thành hà, Hộ Thành hào, Kim Thủy trì, Hài khẩu Thuận An. Song song với thành trì là một loạt các hệ thống cung đình, miếu đàn, lăng tẩm, quan ti thự phủ đệ ngự viên... và các vùng dân cư, binh xá, ruộng đất quan phòng.
Huế và những vùng lân cận vẫn còn tồn tại hàng chục chùa đã được xây dựng cách đây trên 300 năm và hàng trăm đền, chùa được xây dựng đầu thế kỷ.
Ngoài ra, Huế còn được xem như là nơi bắt nguồn của nhạc cung đình, là nơi có nhiều món ăn truyền thống nổi tiếng và nghề thủ công tinh xảo.
Về ẩm thực, người Huế rất thường dùng gia vị, đặc biệt là ớt, trong món ăn. Các món ăn được xem là đậm chất Huế gồm bún bò, bún hến, cơm hến, bánh khoái, bánh lọc, bánh nậm, các món chè... Cách bày biện mâm ăn cũng được chú trọng: một mâm cơm thường có nhiều món ăn, và mỗi món được dọn ra nhiều lần chứ không mang ra một lần.
Người Huế thường tự hào về truyền thống văn hoá của mình, thể hiện trong sinh hoạt hàng ngày. Người Huế cũng được nhận xét là dễ gần, thân thiện.
Ca Huế và hò Huế cũng là các sắc thái văn hoá của Huế. Thả thuyền, chơi trăng, ca Huế, ngủ đò, thả thơ được xem là những thú vui lịch lãm.
Festival Huế
Tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000, đến nay Festival Huế được tổ chức mỗi hai năm một lần. Đây là sự kiện văn hóa có ý nghĩa to lớn trong đời sống nguời dân Huế.
Đại học Huế
Đại học Huế có lịch sử 50 năm phát triển và tồn tại. Đây là nơi đào tạo cán bộ trí thức cho miền Trung và cả Việt Nam. Đại học Huế bao gồm:
Đại học Sư phạm Huế
Đại học Khoa học Huế
Đại học Y khoa Huế
Đại học Nông lâm Huế
Đại học Ngoại ngữ Huế
Đại học Kinh tế Huế
Đặc sản
Bánh khoái
Bánh bèo, bánh nậm, bánh lọc
Bún bò Huế
Cơm hến, bún hến
Nón bài thơ
Bia Huda
Huế là một thành phố ở miền Trung Việt Nam. Là kinh đô một thời của Việt Nam, Huế nổi tiếng với những đền chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc gắn liền với cảnh quan thiên nhiên.
Vị trí địa lý
Thành phố Huế là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế, tọa lạc hai bên bờ dòng sông Hương. Huế nằm ở phía bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 200km.
Quần thể di tích Huế
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/3/35/Songhuongnuingu.jpg/800px-Songhuongnuingu.jpg
Sông Hương núi Ngự
Phía bắc sông Hương là Kinh thành Huế, trung tâm văn hóa lịch sử của thành phố.
Kinh thành Huế lấy núi Ngự Bình (phía nam sông Hương) làm tiền án và 2 đảo nhỏ trên sông Hương là cồn Hến (Thanh Long) và cồn Dã Viên (Bạch Hổ) làm rồng chầu hổ phục.
Kinh thành Huế có 3 lớp: Kinh Thành, Hoàng Thành, Tử Cấm Thành.
Ngày nay, bên ngoài Kinh Thành
phía nam giáp đường Trần Hưng Đạo, Lê Duẩn
phía tây giáp đường Lê Duẩn
phía bắc giáp đường Tăng Bạt Hổ
phía đông giáp đường Phan Đăng Lưu.
Bên trong Kinh Thành
phía nam là đường Ông Ích Khiêm
phía tây là đường Tôn Thất Thiệp
phía bắc là đường Lương Ngọc Quyến
phía đông là đường Xuân 68.
Cửa Thể Nhân và 4 khẩu thần công Xuân, Hạ, Thu, ĐôngKinh Thành Huế có 10 cửa, thứ tự theo chiều kim đồng hồ như sau (trong ngoặc là tên mà người Huế thường dùng):
1. Cửa Thể Nhân (cửa Ngăn, nằm ngay trước Hoàng Thành, nay đi vào đường Cửa Ngăn)
2. Cửa Quảng Đức (cửa Sập, đường Cửa Quảng Đức)
3. Cửa Chính Nam (cửa Nhà Đồ, đường Nguyễn Trãi)
4. Cửa Tây Nam (cửa Hữu, đường Yết Kiêu)
5. Cửa Chính Tây (cửa Chánh Tây, đường Thái Phiên)
6. Cửa Tây Bắc (cửa An Hòa, đường Nguyễn Trãi)
7. Cửa Chính Bắc (cửa Hậu/cửa Mang Cá lớn, đi vào cửa, rẽ phải là đường Lương Ngọc Quyến)
8. Cửa Đông Bắc (cửa Trài/cửa Mang Cá nhỏ, đường Cửa Trài)
9. Cửa Chính Đông (cửa Đông Ba, đường Mai Thúc Loan)
10. Cửa Đông Nam (cửa Thượng Tứ, đường Đinh Tiên Hoàng)
Ngoài ra còn có 1 cửa nhỏ là cửa Trấn Bình, thông với Trấn Bình Đài (nay là đồn Mang Cá).
Ngoài các cửa đường bộ kể trên còn có 2 cửa đường thủy nằm về 2 đầu Ngự Hà (con sông đào nằm trong Kinh Thành). Hai cửa đó là Đông Thành Thủy Quan (thông ra sông Đông Ba) và Tây Thành Thủy Quan (thông ra sông Bạch Yến; sông Bạch Yến và sông Đông Ba đều thông với sông Hương).
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/9a/Thancong.jpg/800px-Thancong.jpg
Cửa Thể Nhân và 4 khẩu thần công Xuân, Hạ, Thu, Đông
Sông Ngự Hà gồm có 5 cống/cầu, theo hướng từ Đông sang Tây như sau:
1. Cầu Đông Thành Thủy Quan (cống Lương Y, nằm trên Đông Thành Thủy Quan và trên đường Xuân 68)
2. Cầu Ngự Hà (cống Cầu Kho, trên đường Đinh Tiên Hoàng, thẳng góc với cửa Thượng Tứ và cửa Hậu)
3. Cầu Khánh Ninh (cống Hắc Báo, trên đường Trần Văn Kỷ, đi vào sân bay Tây Lộc)
4. Cầu Vĩnh Lợi (cống Vĩnh Lợi, trên đường Nguyễn Trãi, thẳng góc với cửa Nhà Đồ và cửa An Hòa)
5. Cầu Tây Thành Thủy Quan (cống Thủy Quan, nằm trên Tây Thành Thủy Quan và trên đường Tôn Thất Thiệp)
Gần cửa Thể Nhân và cửa Quảng Đức có 9 khẩu súng, gọi là cửu vị thần công. Chín khẩu súng đó có tên là Xuân, Hạ, Thu, Đông, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/cc/Ngomon2.jpg/800px-Ngomon2.jpg
Ngọ Môn, cổng chính vào Hoàng thành Huế
Hoàng Thành và Tử Cấm Thành được gọi chung là Đại Nội. Hoàng Thành có 4 cửa:
Cửa Ngọ Môn (phía Nam, trông ra đường 23 tháng 8)
Cửa Hòa Bình (Bắc, trước dành cho vua đi chơi, trông ra đường Đặng Thái Thân)
Cửa Chương Đức (Tây, trước dành cho phái nữ, trông ra đường Lê Huân)
Cửa Hiển Nhơn (Đông, trước dành cho phái nam, trông ra đường Đoàn Thị Điểm)
Riêng Ngọ Môn có 5 cửa:
Ngọ Môn năm cửa chín lầu
Một lầu vàng, tám lầu xanh
Ba cửa thẳng, hai cửa quanh
(Ca dao)
Chính giữa là Ngọ Môn, dành cho vua
Tiếp theo là Giáp Môn, dành cho quan lại
"Hai cửa quanh" là Dịch Môn, dành cho voi, ngựa và binh lính
"Chín lầu" chỉ lầu Ngũ Phụng (nằm phía trên Ngọ Môn), gồm 2 tầng nhưng có 9 mái. "Lầu vàng" nằm giữa, cao nhất, lợp ngói hoàng lưu ly (men vàng). "Tám lầu xanh" thấp hơn, lợp ngói thanh lưu ly (men xanh).
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/ed/Thaihoa1.jpg/800px-Thaihoa1.jpg
Điện Thái Hoà
Đại Nội còn có các công trình nổi tiếng sau
Điện Thái Hòa: nơi cử hành các nghi lễ quan trọng của triều đình
Cung Diên Thọ: nơi ở của hoàng thái hậu (mẹ của vua)
Cung Trường Sanh: nơi ở của thái hoàng thái hậu (bà nội của vua)
Vườn Cơ Hạ, điện Khâm Văn: nơi các hoàng tử học tập và chơi đùa
Hiển Lâm Các: nơi tưởng nhớ công lao của vua quan nhà Nguyễn
Miếu thờ:
Triệu Miếu: thờ Nguyễn Cam (sách sử ngày nay thường viết là Nguyễn Kim, nhưng Nguyễn Phúc tộc thế phả gọi là Nguyễn Cam)
Thái Miếu: thờ 9 chúa Nguyễn
Hưng Miếu: thờ Nguyễn Phúc Luân, cha của vua Gia Long
Thế Miếu: thờ các vua Nguyễn
Điện Phụng Tiên: cũng thờ các vua Nguyễn, nhưng dành cho phái nữ đến lễ vì họ không được phép vào Thế Miếu
(Trong họ Nguyễn Phúc, Nguyễn Cam được tôn là Triệu Tổ, Nguyễn Hoàng: Thái Tổ, Nguyễn Phúc Luân: Hưng Tổ, Nguyễn Ánh: Thế Tổ.)
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c0/Cuudinh.jpg/800px-Cuudinh.jpg
Cửu đỉnh
Trước sân Thế Miếu có Cửu Đỉnh, là 9 đỉnh đồng lớn, mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với miếu hiệu của một vị hoàng đế đã thờ trong Thế Miếu.
Cao đỉnh: Thế Tổ Cao Hoàng Đế (vua Gia Long)
Nhân đỉnh: Thánh Tổ Nhân Hoàng đế (vua Minh Mạng)
Chương đỉnh: Hiến Tổ Chương hoàng đế (vua Thiệu Trị)
Anh đỉnh: Dực Tông Anh hoàng đế (vua Tự Đức)
Nghị đỉnh: Giản Tông Nghị hoàng đế (vua Kiến Phúc)
Thuần đỉnh: Cảnh Tông Thuần hoàng đế (vua Đồng Khánh)
Tuyên đỉnh: Hoằng Tông Tuyên hoàng đế (vua Khải Định)
Còn hai đỉnh Dụ và Huyền không ứng với vua nào. (Vua Dục Đức, vua Hiệp Hòa, vua Hàm Nghi, vua Thành Thái, vua Duy Tân bị phế ngôi nên lúc bấy giờ không được thờ trong Thế Miếu. Vua Bảo Đại mới mất sau này.)
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/1/10/DuyetThiDuong.gif
Duyệt Thị Đường
Lớp trong cùng của kinh thành là Tử Cấm Thành, chỉ dành cho vua và gia đình, gồm có:
Điện Cần Chánh: nơi vua làm việc hàng ngày
Điện Càn Thành: nơi ở của vua
Cung Khôn Thái: nơi ở của hoàng quý phi (vợ chính của vua -- nhà Nguyễn không lập hoàng hậu, ngoại trừ vua Bảo Đại phá lệ)
Điện Quang Minh: nơi ở của các hoàng tử
Điện Trinh Minh: nơi ở của các phi tần
Điện Kiến Trung: xây thời Khải Định, nơi ở của vua, đến thời Bảo Đại thì Nam Phương hoàng hậu và các hoàng tử, công chúa cũng ở đây
Thái Bình Lâu: nơi vua đọc sách
Duyệt Thị Đường: nhà hát
Sở Thượng Thiện: nơi nấu ăn cho vua
và Thái Y viện, vườn Thiệu Phương, vườn Ngự Uyển, v.v...
Bên trong Kinh Thành còn có nhiều công trình nổi tiếng khác như Quốc Sử Quán (nay là trường Nguyễn Huệ, đường Đinh Tiên Hoàng), hồ Tịnh Tâm (đường Đinh Tiên Hoàng), Tam Tòa (đường Tống Duy Tân), điện Long An (nay là bảo tàng mỹ thuật cung đình Huế, đường Lê Trực), Quốc Tử Giám (1955-1975 là trường Hàm Nghi, nay là Bảo tàng lịch sử Thừa Thiên Huế, đường 23 tháng 8).
Vẫn ở bờ bắc sông Hương, phía ngoài Kinh Thành còn có Kỳ Đài, Phu Văn Lâu, Nghênh Lương Đình, Thương Bạc, Văn Miếu, Võ Miếu. Phía nam sông Hương có đàn Nam Giao, Hổ Quyền, cung An Định.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/05/Khaidinh.jpg/800px-Khaidinh.jpg
Lăng Khải Định
Ngoài hệ thống thành, cung điện, đền đài, Huế còn có lăng tẩm các vị vua triều Nguyễn, gồm có:
Thiên Thọ lăng (lăng Gia Long)
Hiếu lăng (lăng Minh Mạng)
Xương lăng (lăng Thiệu Trị)
Khiêm lăng (lăng Tự Đức, phía trong có Bồi lăng, là lăng của vua Kiến Phúc, con nuôi của vua Tự Đức)
Tư lăng (lăng Đồng Khánh)
Ứng lăng (lăng Khải Định)
An Lăng (lăng của 3 vị vua: Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân)
Những địa danh nổi tiếng khác ở Huế là:
Bờ bắc: chợ Đông Ba, cầu Trường Tiền, chùa Diệu Đế, phố cổ Bao Vinh, phố cổ Gia Hội, chùa Thiên Mụ, chùa Huyền Không, điện Hòn Chén.
Bờ nam: chùa Từ Đàm, chùa Báo Quốc, chùa Từ Hiếu, chùa Trà Am, Thành Lồi, nhà thờ Phủ Cam, nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, Tòa khâm sứ (nay là trường Đại học Sư phạm), trường Quốc Học, trường Đồng Khánh (nay là trường Hai Bà Trưng), núi Bân, đồi Vọng Cảnh, đồi Thiên An.
Ngoài ra, vùng Gia Hội, Kim Long, Vỹ Dạ còn nhiều di tích dinh, phủ của quan lại và hoàng thân nhà Nguyễn.
Lịch sử
Kể từ ngày Công chúa Huyền Trân lên đường vào Chiêm Thành để đổi lấy hai châu Ô và châu Lý đến nay đã 700 năm. Huế có một lịch sử lâu đời và trở nên quan trọng dưới thời các chúa Nguyễn. Vào năm 1802, khi Gia Long lên ngôi, Huế chính thức trở thành kinh đô của Việt Nam mãi đến năm 1945, khi Bảo Đại, vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, cũng như của chế độ quân chủ Việt Nam, trao ấn kiếm cho chính quyền cách mạng.
Huế được công nhận là đô thị loại 1 theo Quyết định 209/2005/QĐ-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ.
Văn Hoá
Huế được coi là vùng đất mang đậm bản sắc truyền thống của Việt Nam. Di tích cố đô Huế là di sản văn hoá thế giới được UNESCO công nhận. Di tích này là một hệ thống kiến trúc cung đình - với hơn 1000 đơn vị công trình và hàng vạn cổ vật - được khởi xây từ thời vua Gia Long triều Nguyễn vào thế kỉ 19. Các công trình kiến trúc bao gồm Kinh thành, Hoàng thành, Tử Cấm thành, Trấn Bình thành, Trấn Hải thành gắn với hệ thống các sông hồ cửa biển như Ngự Hà, Hộ Thành hà, Hộ Thành hào, Kim Thủy trì, Hài khẩu Thuận An. Song song với thành trì là một loạt các hệ thống cung đình, miếu đàn, lăng tẩm, quan ti thự phủ đệ ngự viên... và các vùng dân cư, binh xá, ruộng đất quan phòng.
Huế và những vùng lân cận vẫn còn tồn tại hàng chục chùa đã được xây dựng cách đây trên 300 năm và hàng trăm đền, chùa được xây dựng đầu thế kỷ.
Ngoài ra, Huế còn được xem như là nơi bắt nguồn của nhạc cung đình, là nơi có nhiều món ăn truyền thống nổi tiếng và nghề thủ công tinh xảo.
Về ẩm thực, người Huế rất thường dùng gia vị, đặc biệt là ớt, trong món ăn. Các món ăn được xem là đậm chất Huế gồm bún bò, bún hến, cơm hến, bánh khoái, bánh lọc, bánh nậm, các món chè... Cách bày biện mâm ăn cũng được chú trọng: một mâm cơm thường có nhiều món ăn, và mỗi món được dọn ra nhiều lần chứ không mang ra một lần.
Người Huế thường tự hào về truyền thống văn hoá của mình, thể hiện trong sinh hoạt hàng ngày. Người Huế cũng được nhận xét là dễ gần, thân thiện.
Ca Huế và hò Huế cũng là các sắc thái văn hoá của Huế. Thả thuyền, chơi trăng, ca Huế, ngủ đò, thả thơ được xem là những thú vui lịch lãm.
Festival Huế
Tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000, đến nay Festival Huế được tổ chức mỗi hai năm một lần. Đây là sự kiện văn hóa có ý nghĩa to lớn trong đời sống nguời dân Huế.
Đại học Huế
Đại học Huế có lịch sử 50 năm phát triển và tồn tại. Đây là nơi đào tạo cán bộ trí thức cho miền Trung và cả Việt Nam. Đại học Huế bao gồm:
Đại học Sư phạm Huế
Đại học Khoa học Huế
Đại học Y khoa Huế
Đại học Nông lâm Huế
Đại học Ngoại ngữ Huế
Đại học Kinh tế Huế
Đặc sản
Bánh khoái
Bánh bèo, bánh nậm, bánh lọc
Bún bò Huế
Cơm hến, bún hến
Nón bài thơ
Bia Huda