Ðăng Nhập

Xem đầy đủ chức năng : [VN] - Cố Đô Huế



_7:30_PM_
01-07-2006, 10:12 PM
Đi đâu cũng thấy ngừi ta quảng cáo dzìa quê hương mình ... chả thấy của Huế đâu ... ganh tỵ post lên ...


Huế là một thành phố ở miền Trung Việt Nam. Là kinh đô một thời của Việt Nam, Huế nổi tiếng với những đền chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc gắn liền với cảnh quan thiên nhiên.

Vị trí địa lý

Thành phố Huế là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế, tọa lạc hai bên bờ dòng sông Hương. Huế nằm ở phía bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 200km.

Quần thể di tích Huế

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/3/35/Songhuongnuingu.jpg/800px-Songhuongnuingu.jpg
Sông Hương núi Ngự

Phía bắc sông Hương là Kinh thành Huế, trung tâm văn hóa lịch sử của thành phố.

Kinh thành Huế lấy núi Ngự Bình (phía nam sông Hương) làm tiền án và 2 đảo nhỏ trên sông Hương là cồn Hến (Thanh Long) và cồn Dã Viên (Bạch Hổ) làm rồng chầu hổ phục.

Kinh thành Huế có 3 lớp: Kinh Thành, Hoàng Thành, Tử Cấm Thành.

Ngày nay, bên ngoài Kinh Thành

phía nam giáp đường Trần Hưng Đạo, Lê Duẩn
phía tây giáp đường Lê Duẩn
phía bắc giáp đường Tăng Bạt Hổ
phía đông giáp đường Phan Đăng Lưu.
Bên trong Kinh Thành

phía nam là đường Ông Ích Khiêm
phía tây là đường Tôn Thất Thiệp
phía bắc là đường Lương Ngọc Quyến
phía đông là đường Xuân 68.

Cửa Thể Nhân và 4 khẩu thần công Xuân, Hạ, Thu, ĐôngKinh Thành Huế có 10 cửa, thứ tự theo chiều kim đồng hồ như sau (trong ngoặc là tên mà người Huế thường dùng):

1. Cửa Thể Nhân (cửa Ngăn, nằm ngay trước Hoàng Thành, nay đi vào đường Cửa Ngăn)
2. Cửa Quảng Đức (cửa Sập, đường Cửa Quảng Đức)
3. Cửa Chính Nam (cửa Nhà Đồ, đường Nguyễn Trãi)
4. Cửa Tây Nam (cửa Hữu, đường Yết Kiêu)
5. Cửa Chính Tây (cửa Chánh Tây, đường Thái Phiên)
6. Cửa Tây Bắc (cửa An Hòa, đường Nguyễn Trãi)
7. Cửa Chính Bắc (cửa Hậu/cửa Mang Cá lớn, đi vào cửa, rẽ phải là đường Lương Ngọc Quyến)
8. Cửa Đông Bắc (cửa Trài/cửa Mang Cá nhỏ, đường Cửa Trài)
9. Cửa Chính Đông (cửa Đông Ba, đường Mai Thúc Loan)
10. Cửa Đông Nam (cửa Thượng Tứ, đường Đinh Tiên Hoàng)
Ngoài ra còn có 1 cửa nhỏ là cửa Trấn Bình, thông với Trấn Bình Đài (nay là đồn Mang Cá).

Ngoài các cửa đường bộ kể trên còn có 2 cửa đường thủy nằm về 2 đầu Ngự Hà (con sông đào nằm trong Kinh Thành). Hai cửa đó là Đông Thành Thủy Quan (thông ra sông Đông Ba) và Tây Thành Thủy Quan (thông ra sông Bạch Yến; sông Bạch Yến và sông Đông Ba đều thông với sông Hương).

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/9a/Thancong.jpg/800px-Thancong.jpg
Cửa Thể Nhân và 4 khẩu thần công Xuân, Hạ, Thu, Đông

Sông Ngự Hà gồm có 5 cống/cầu, theo hướng từ Đông sang Tây như sau:

1. Cầu Đông Thành Thủy Quan (cống Lương Y, nằm trên Đông Thành Thủy Quan và trên đường Xuân 68)
2. Cầu Ngự Hà (cống Cầu Kho, trên đường Đinh Tiên Hoàng, thẳng góc với cửa Thượng Tứ và cửa Hậu)
3. Cầu Khánh Ninh (cống Hắc Báo, trên đường Trần Văn Kỷ, đi vào sân bay Tây Lộc)
4. Cầu Vĩnh Lợi (cống Vĩnh Lợi, trên đường Nguyễn Trãi, thẳng góc với cửa Nhà Đồ và cửa An Hòa)
5. Cầu Tây Thành Thủy Quan (cống Thủy Quan, nằm trên Tây Thành Thủy Quan và trên đường Tôn Thất Thiệp)
Gần cửa Thể Nhân và cửa Quảng Đức có 9 khẩu súng, gọi là cửu vị thần công. Chín khẩu súng đó có tên là Xuân, Hạ, Thu, Đông, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/cc/Ngomon2.jpg/800px-Ngomon2.jpg
Ngọ Môn, cổng chính vào Hoàng thành Huế

Hoàng Thành và Tử Cấm Thành được gọi chung là Đại Nội. Hoàng Thành có 4 cửa:

Cửa Ngọ Môn (phía Nam, trông ra đường 23 tháng 8)
Cửa Hòa Bình (Bắc, trước dành cho vua đi chơi, trông ra đường Đặng Thái Thân)
Cửa Chương Đức (Tây, trước dành cho phái nữ, trông ra đường Lê Huân)
Cửa Hiển Nhơn (Đông, trước dành cho phái nam, trông ra đường Đoàn Thị Điểm)
Riêng Ngọ Môn có 5 cửa:

Ngọ Môn năm cửa chín lầu
Một lầu vàng, tám lầu xanh
Ba cửa thẳng, hai cửa quanh
(Ca dao)
Chính giữa là Ngọ Môn, dành cho vua
Tiếp theo là Giáp Môn, dành cho quan lại
"Hai cửa quanh" là Dịch Môn, dành cho voi, ngựa và binh lính
"Chín lầu" chỉ lầu Ngũ Phụng (nằm phía trên Ngọ Môn), gồm 2 tầng nhưng có 9 mái. "Lầu vàng" nằm giữa, cao nhất, lợp ngói hoàng lưu ly (men vàng). "Tám lầu xanh" thấp hơn, lợp ngói thanh lưu ly (men xanh).

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/ed/Thaihoa1.jpg/800px-Thaihoa1.jpg
Điện Thái Hoà

Đại Nội còn có các công trình nổi tiếng sau

Điện Thái Hòa: nơi cử hành các nghi lễ quan trọng của triều đình
Cung Diên Thọ: nơi ở của hoàng thái hậu (mẹ của vua)
Cung Trường Sanh: nơi ở của thái hoàng thái hậu (bà nội của vua)
Vườn Cơ Hạ, điện Khâm Văn: nơi các hoàng tử học tập và chơi đùa
Hiển Lâm Các: nơi tưởng nhớ công lao của vua quan nhà Nguyễn
Miếu thờ:

Triệu Miếu: thờ Nguyễn Cam (sách sử ngày nay thường viết là Nguyễn Kim, nhưng Nguyễn Phúc tộc thế phả gọi là Nguyễn Cam)
Thái Miếu: thờ 9 chúa Nguyễn
Hưng Miếu: thờ Nguyễn Phúc Luân, cha của vua Gia Long
Thế Miếu: thờ các vua Nguyễn
Điện Phụng Tiên: cũng thờ các vua Nguyễn, nhưng dành cho phái nữ đến lễ vì họ không được phép vào Thế Miếu
(Trong họ Nguyễn Phúc, Nguyễn Cam được tôn là Triệu Tổ, Nguyễn Hoàng: Thái Tổ, Nguyễn Phúc Luân: Hưng Tổ, Nguyễn Ánh: Thế Tổ.)

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c0/Cuudinh.jpg/800px-Cuudinh.jpg
Cửu đỉnh

Trước sân Thế Miếu có Cửu Đỉnh, là 9 đỉnh đồng lớn, mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với miếu hiệu của một vị hoàng đế đã thờ trong Thế Miếu.

Cao đỉnh: Thế Tổ Cao Hoàng Đế (vua Gia Long)
Nhân đỉnh: Thánh Tổ Nhân Hoàng đế (vua Minh Mạng)
Chương đỉnh: Hiến Tổ Chương hoàng đế (vua Thiệu Trị)
Anh đỉnh: Dực Tông Anh hoàng đế (vua Tự Đức)
Nghị đỉnh: Giản Tông Nghị hoàng đế (vua Kiến Phúc)
Thuần đỉnh: Cảnh Tông Thuần hoàng đế (vua Đồng Khánh)
Tuyên đỉnh: Hoằng Tông Tuyên hoàng đế (vua Khải Định)
Còn hai đỉnh Dụ và Huyền không ứng với vua nào. (Vua Dục Đức, vua Hiệp Hòa, vua Hàm Nghi, vua Thành Thái, vua Duy Tân bị phế ngôi nên lúc bấy giờ không được thờ trong Thế Miếu. Vua Bảo Đại mới mất sau này.)

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/1/10/DuyetThiDuong.gif
Duyệt Thị Đường

Lớp trong cùng của kinh thành là Tử Cấm Thành, chỉ dành cho vua và gia đình, gồm có:

Điện Cần Chánh: nơi vua làm việc hàng ngày
Điện Càn Thành: nơi ở của vua
Cung Khôn Thái: nơi ở của hoàng quý phi (vợ chính của vua -- nhà Nguyễn không lập hoàng hậu, ngoại trừ vua Bảo Đại phá lệ)
Điện Quang Minh: nơi ở của các hoàng tử
Điện Trinh Minh: nơi ở của các phi tần
Điện Kiến Trung: xây thời Khải Định, nơi ở của vua, đến thời Bảo Đại thì Nam Phương hoàng hậu và các hoàng tử, công chúa cũng ở đây
Thái Bình Lâu: nơi vua đọc sách
Duyệt Thị Đường: nhà hát
Sở Thượng Thiện: nơi nấu ăn cho vua
và Thái Y viện, vườn Thiệu Phương, vườn Ngự Uyển, v.v...

Bên trong Kinh Thành còn có nhiều công trình nổi tiếng khác như Quốc Sử Quán (nay là trường Nguyễn Huệ, đường Đinh Tiên Hoàng), hồ Tịnh Tâm (đường Đinh Tiên Hoàng), Tam Tòa (đường Tống Duy Tân), điện Long An (nay là bảo tàng mỹ thuật cung đình Huế, đường Lê Trực), Quốc Tử Giám (1955-1975 là trường Hàm Nghi, nay là Bảo tàng lịch sử Thừa Thiên Huế, đường 23 tháng 8).

Vẫn ở bờ bắc sông Hương, phía ngoài Kinh Thành còn có Kỳ Đài, Phu Văn Lâu, Nghênh Lương Đình, Thương Bạc, Văn Miếu, Võ Miếu. Phía nam sông Hương có đàn Nam Giao, Hổ Quyền, cung An Định.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/05/Khaidinh.jpg/800px-Khaidinh.jpg
Lăng Khải Định

Ngoài hệ thống thành, cung điện, đền đài, Huế còn có lăng tẩm các vị vua triều Nguyễn, gồm có:

Thiên Thọ lăng (lăng Gia Long)
Hiếu lăng (lăng Minh Mạng)
Xương lăng (lăng Thiệu Trị)
Khiêm lăng (lăng Tự Đức, phía trong có Bồi lăng, là lăng của vua Kiến Phúc, con nuôi của vua Tự Đức)
Tư lăng (lăng Đồng Khánh)
Ứng lăng (lăng Khải Định)
An Lăng (lăng của 3 vị vua: Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân)

Những địa danh nổi tiếng khác ở Huế là:

Bờ bắc: chợ Đông Ba, cầu Trường Tiền, chùa Diệu Đế, phố cổ Bao Vinh, phố cổ Gia Hội, chùa Thiên Mụ, chùa Huyền Không, điện Hòn Chén.
Bờ nam: chùa Từ Đàm, chùa Báo Quốc, chùa Từ Hiếu, chùa Trà Am, Thành Lồi, nhà thờ Phủ Cam, nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, Tòa khâm sứ (nay là trường Đại học Sư phạm), trường Quốc Học, trường Đồng Khánh (nay là trường Hai Bà Trưng), núi Bân, đồi Vọng Cảnh, đồi Thiên An.
Ngoài ra, vùng Gia Hội, Kim Long, Vỹ Dạ còn nhiều di tích dinh, phủ của quan lại và hoàng thân nhà Nguyễn.







Lịch sử

Kể từ ngày Công chúa Huyền Trân lên đường vào Chiêm Thành để đổi lấy hai châu Ô và châu Lý đến nay đã 700 năm. Huế có một lịch sử lâu đời và trở nên quan trọng dưới thời các chúa Nguyễn. Vào năm 1802, khi Gia Long lên ngôi, Huế chính thức trở thành kinh đô của Việt Nam mãi đến năm 1945, khi Bảo Đại, vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, cũng như của chế độ quân chủ Việt Nam, trao ấn kiếm cho chính quyền cách mạng.

Huế được công nhận là đô thị loại 1 theo Quyết định 209/2005/QĐ-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ.

Văn Hoá

Huế được coi là vùng đất mang đậm bản sắc truyền thống của Việt Nam. Di tích cố đô Huế là di sản văn hoá thế giới được UNESCO công nhận. Di tích này là một hệ thống kiến trúc cung đình - với hơn 1000 đơn vị công trình và hàng vạn cổ vật - được khởi xây từ thời vua Gia Long triều Nguyễn vào thế kỉ 19. Các công trình kiến trúc bao gồm Kinh thành, Hoàng thành, Tử Cấm thành, Trấn Bình thành, Trấn Hải thành gắn với hệ thống các sông hồ cửa biển như Ngự Hà, Hộ Thành hà, Hộ Thành hào, Kim Thủy trì, Hài khẩu Thuận An. Song song với thành trì là một loạt các hệ thống cung đình, miếu đàn, lăng tẩm, quan ti thự phủ đệ ngự viên... và các vùng dân cư, binh xá, ruộng đất quan phòng.

Huế và những vùng lân cận vẫn còn tồn tại hàng chục chùa đã được xây dựng cách đây trên 300 năm và hàng trăm đền, chùa được xây dựng đầu thế kỷ.

Ngoài ra, Huế còn được xem như là nơi bắt nguồn của nhạc cung đình, là nơi có nhiều món ăn truyền thống nổi tiếng và nghề thủ công tinh xảo.

Về ẩm thực, người Huế rất thường dùng gia vị, đặc biệt là ớt, trong món ăn. Các món ăn được xem là đậm chất Huế gồm bún bò, bún hến, cơm hến, bánh khoái, bánh lọc, bánh nậm, các món chè... Cách bày biện mâm ăn cũng được chú trọng: một mâm cơm thường có nhiều món ăn, và mỗi món được dọn ra nhiều lần chứ không mang ra một lần.

Người Huế thường tự hào về truyền thống văn hoá của mình, thể hiện trong sinh hoạt hàng ngày. Người Huế cũng được nhận xét là dễ gần, thân thiện.

Ca Huế và hò Huế cũng là các sắc thái văn hoá của Huế. Thả thuyền, chơi trăng, ca Huế, ngủ đò, thả thơ được xem là những thú vui lịch lãm.

Festival Huế

Tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000, đến nay Festival Huế được tổ chức mỗi hai năm một lần. Đây là sự kiện văn hóa có ý nghĩa to lớn trong đời sống nguời dân Huế.

Đại học Huế

Đại học Huế có lịch sử 50 năm phát triển và tồn tại. Đây là nơi đào tạo cán bộ trí thức cho miền Trung và cả Việt Nam. Đại học Huế bao gồm:

Đại học Sư phạm Huế
Đại học Khoa học Huế
Đại học Y khoa Huế
Đại học Nông lâm Huế
Đại học Ngoại ngữ Huế
Đại học Kinh tế Huế

Đặc sản

Bánh khoái
Bánh bèo, bánh nậm, bánh lọc
Bún bò Huế
Cơm hến, bún hến
Nón bài thơ
Bia Huda

Sunshine*
01-07-2006, 10:12 PM
tớ chỉ mún cái đại bác kia bén choa ấy 1 phát bay sang bên này dzí tớ thui :D:D

h2t_mt
01-07-2006, 10:21 PM
To Bi : hoành táng la phết hỉ? Anh lờ người Huế gốc mờ cũng còn thấy ngợp nữa huống chi là....
Mà trong các món đặc sản em giới thiệu , đố em biết anh thích món gì không? Đó là cái món cuối cùng ý :D

Autumn
01-07-2006, 10:23 PM
Bia huda :D :D Ghê gớm :gian:

_7:30_PM_
01-07-2006, 10:24 PM
Vài Nét Về Lịch Sử

http://huefestival.com/lichsu/images_lichsu/vainetlichsu/thanhphohue19.jpg
Thành phố Huế


Nằm giữa miền Trung Việt Nam, với tọa độ 16o đến 16,45O độ vĩ Bắc, 107,03O đến 108,08O kinh đông, Thừa Thiên Huế có diện tích 5.009,2 km2, Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, Nam giáp thành phố Ðà Nẵng, Ðông giáp biển Ðông, Tây có dải Trường Sơn hùng vĩ và giáp nước bạn Lào. Biên giới Việt Lào đoạn đi qua tỉnh Thừa Thiên Huế dài khỏang 88 km. Bờ biển có chiều dài 128 km với Cảng Thuận An và Cảng nưóc sâu Chân Mây. Trên dải đất nhỏ hẹp này, địa hình tự nhiên được cấu tạo hết sức đa dạng, gồm núi cao, rừng sâu, vùng gò đồi trung du, vùng đồng bằng, vùng đầm phá nước lợ, vùng duyên hải ven biển...Khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ á xích đạo đến nội chí tuyến gió mùa, không có mùa đông và mùa khô rõ rệt. Hàng năm có những tháng liên tục chịu gió đông bắc, bão biển từng cơn và mưa rét kéo dài.

Thừa Thiên Huế hiện có 8 huyện và thành phố Huế, cố đô của Việt Nam, đô thị lọai 2, một trung tâm văn hóa, giáo dục, y tế và du lịch quan trọng của cả nước.

http://huefestival.com/lichsu/images_lichsu/vainetlichsu/trongdong.jpg
Trống đồng (Phong Mỹ Phong Điền)


Trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam, Thừa Thiên Huế, Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế là vùng đất có lịch sử lâu đời. Những phát hiện khảo cổ học gần đây cho thấy rõ dấu vết của người xưa trên mãnh đất này. Những di vật như rìu đá, đồ gốm được tìm thấy ở Phụ Ổ, Bàu Ðưng ( Hương Chữ, Hương Trà) cho phép khẳng định đây là các di tích có niên đại cách đây trên dưới 4.000 năm. Những chiếc rìu đá được phát hiện trên nhiều địa bàn khác nhau, đặc biệt tại các xã Hồng Bắc, Hồng Vân, Hồng Hạ, Hồng Thủy, Bắc Sơn (A Lưới); Phong Thu (Phong Ðiền) đã chứng minh sự có mặt của con người ở vùng đất này trên dưới 5.000 năm. Di tích khảo cổ quan trọng gắn liền với nền văn hóa Sa Hùynh được tìm thấy lần đầu tiên tại TT Huế năm 1987 là di tích Cồn Ràng ( La Chữ, Hương Chữ, Hương Trà) nói lên rằng chủ nhân của nền văn hóa này đã đạt đến trình độ cao trong đời sống vật chất lẫn tinh thần cách đây trên dưới 2.500 năm. Dấu ấn này còn được tìm thấy ở Cửa Thiềng năm 1988 (Phú Ốc, Tứ Hạ, Hương Trà). Cùng với văn hóa Sa Hùynh, Thừa Thiên Huế còn sự hiện diện của văn hóa Ðông Sơn. Năm 1994, trống đồng lọai 1 đã được phát hiện ở Phong Mỹ, Phong Ðiền. Ðây là một trong những di vật độc đáo của nền văn hóa Việt cổ.

http://huefestival.com/lichsu/images_lichsu/vainetlichsu/congcusat.jpg
Công cụ và vũ khí bằng sắt
( Cồn Ràng, La Chữ, Hương Chữ, Hương Trà)


Các cứ liệu xưa cho biết, từ xa xưa Thừa Thiên Huế từng là địa bàn giao tiếp của những cộng đồng cư dân mang nhiều sắc thái văn hóa khác nhau, cùng cư trú và cùng phát triển.. Trong thời kỳ phát triển của nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, tương truyền Thừa Thiên Huế vốn là một vùng đất của bộ Việt Thường. Ðầu thời kỳ Bắc thuộc, lại thuộc về Tượng Quận. Năm 116 trước Công nguyên, quận Nhật Nam ra đời thay thế cho Tượng Quận. Sau đó trong suốt thời gian dài gần 12 thế kỷ, vùng đất này là địa đầu phía Bắc của Vương quốc Champa độc lập. Sau chiến thắng Bạch Ðằng lịch sử của Ngô Quyền (năm 938); Ðại Việt trở thành quốc gia độc lập và qua nhiều thế kỷ phát triển, biên giới Ðại Việt đã mở rộng dần về phía Nam. Năm 1306, công chúa Huyền Trân em gái vua Trần Anh Tông, " nước non ngàn dặm ra đi" làm dâu vương quốc Champa; Vua Chế Mân dâng tiếp hai châu Ô, Rí ( Lý) để làm sính lễ. Năm sau, vua Trần đổi hai châu này thành châu Thuận, châu Hóa và đặt chức quan cai trị. Thừa Thiên Huế trở thành địa bàn giao thoa giữa hai nền văn hóa lớn của phương Ðông với nền văn hóa của các cư dân bản địa.

http://huefestival.com/lichsu/images_lichsu/vainetlichsu/chuathienmu.jpg
Chùa Thiên Mụ


Với lời sấm truyền " Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (một dải Hoành sơn, có thể yên thân muôn đời); năm 1558, Nguyễn Hoàng xin vào trấn giữ xứ Thuận Hoá mở đầu cho cơ nghiệp của các chúa Nguyễn. Sự nghiệp mở mang của 9 đời chúa Nguyễn ở Ðàng Trong đã gắn liền với quá trình phát triển của vùng đất Thuận Hoá - Phú Xuân. Hơn ba thế kỷ từ khi trở về với Ðại Việt, Thuận Hóa là vùng đất của trận mạc, ít có thời gian hòa bình nên chưa có điều kiện hình thành được những trung tâm sinh hoạt sầm uất theo kiểu đô thị. Sự ra đời của thành Hóa Châu (khỏang cuối TK XV, đầu TK XVI) có lẽ chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn với tư cách là một tòa THÀNH PHÒNG THỦ chứ chưa phải là nơi sinh hoạt đô thị của xứ Thuận Hóa thời ấy. Mãi cho đến năm 1636 chúa Nguyễn Phúc Lan dời phủ đến Kim Long là bước khởi đầu cho quá trình đô thị hóa trong lịch sử hình thành và phát triển của Thành phố Huế sau này. Hơn nửa thế kỷ sau, năm 1687 chúa Nguyễn Phúc Thái lại dời phủ chính đến làng Thụy Lôi, đổi là PHÚ XUÂN, ở vị trí Tây Nam trong kinh thành Huế hiện nay, tiếp tục xây dựng và phát triển Phú Xuân thành một trung tâm đô thị phát đạt của xứ Ðàng Trong. Chỉ trừ một thời gian ngắn (1712 - 1738) phủ chúa dời ra BÁC VỌNG, song khi Võ Vương lên ngôi lại cho dời phủ chính vào Phú Xuân nhưng dựng ở "bên tả phủ cũ", tức góc Ðông Nam Kinh thành Huế hiện nay. Sự nguy nga bề thế của Ðô thành Phú Xuân dưới thời Nguyễn Phúc Khoát đã được Lê Quý Ðôn mô tả trong PHỦ BIÊN TẠP LỤC năm 1776 và trong Ðại Nam Nhất Thống Chí, với tư cách là một đô thị phát triển thịnh vượng trải dài hai bờ châu thổ Sông Hương, từ Kim Long - Dương Xuân đến Bao Vinh - Thanh Hà. Phú Xuân là thủ phủ của xứ Ðàng Trong ( 1687-1774); rồi trở thành Kinh đô của nước Ðại Việt thống nhất dưới triều đại Quang Trung (1788 - 1801) và cuối cùng là Kinh đô của nước Việt Nam gần 1,5 thế kỷ dưới triều đại nhà Nguyễn (1802 - 1945). Phú Xuân-Huế, Thừa Thiên Huế đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa nghệ thuật quan trọng của đất nước từ những thời kỳ lịch sử ấy.

Năm 1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nỗ súng tấn công Ðà Nẵng, mở đầu cho quá trình xâm lược của tư bản phương Tây, rồi của Mỹ vào Việt Nam. Thừa Thiên Huế trãi qua hai cuộc kháng chiến chống ngọai xâm giành hòa bình, độc lập và thống nhất Tổ quốc với biết bao chiến tích và sự tích anh hùng.

http://huefestival.com/lichsu/images_lichsu/vainetlichsu/tienvehue4.jpg
Tiến về Thành Phố (26-03-1975)


Từ những năm thuộc Pháp cho đến ngày đất nước hòan tòan thống nhất 1975, Thừa Thiên Huế liên tục diễn ra những cuộc đấu tranh yêu nước mạnh mẽ, quyết liệt. Mãnh đất này là nơi tụ hội của các nhà cách mạng trên đường cứu nước. Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh cùng nhiều nhân sĩ yêu nước khác đã từng có mặt. Cũng tại đây, người thanh niên Nguyễn Sinh Cung ( Nguyễn Tất Thành, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã sống gần 10 năm thời niên thiếu và ra đi vào Nam tìm đường cứu nước. Năm 1916, Việt Nam Quang Phục Hội tổ chức khởi nghĩa trên qui mô nhiều tỉnh, vua Duy Tân xuất giá tham gia. Tỉnh bộ Ðông Dương Cộng Sản Ðảng Thừa Thiên Huế thành lập đầu tháng 7-1929. Tỉnh ủy lâm thời Ðông Dương Cộng sản Liên đoàn ra đời đầu năm 1930. Và tháng 4-1930, thống nhất hai tổ chức thành Ðảng bộ Ðảng Cộng Sản Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế, lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến giải phóng dân tộc. Ngày 23 tháng 8 năm 1945, nhân dân Thừa thiên Huế vinh dự tự hào, vùng dậy với khí thế " Cách mạng Mùa thu" trực tiếp lật đổ triều đại nhà Nguyễn cuối cùng. Ngày 30 -8-1945, nhân dân Thừa Thiên Huế thay mặt cả nước chứng kiến lễ thoái vị của vua Bảo Ðại, ngôi vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp, những địa danh Dương Hòa, Hòa Mỹ...vang dội khắp cả nước, từng ghi dấu bao chiến công oanh liệt vì độc lập tư do của Tổ quốc. Suốt 21 năm chống Mỹ, Thừa Thiên Huế là một trong ba ngọn cờ đầu của cuộc chiến tranh nhân dân ở miền Nam vì sự nghiệp giải phóng đât nước. Ngày 26-3-1975, Thừa Thiên Huế được hoàn tòan giải phóng, góp phần quan trọng vào công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc., cùng cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

http://huefestival.com/lichsu/images_lichsu/vainetlichsu/giaiphong.jpg
Lễ hội mừng Thừa Thien Huế Giải Phóng
( 26-3-1975 - 26-3-2000)


Vượt qua những khó khăn sau chiến tranh, Thừa Thiên Huế đã không ngừng nỗ lực chuyển mình để bắt kịp nhịp độ phát triển của cả nước. Những bài học thành công và hạn chế đều kết tinh thành nghị lực cho Thừa Thiên Huế đi vào kỷ nguyên đổi mới với tất cả niềm tin tưởng, quyết tâm xây dựng quê hương đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, xứng đáng với công lao của tiền nhân đã bỏ bao công sức vun đắp nên mảnh đất anh hùng, vùng văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc và một quần thể di tích được công nhận là di sản văn hóa của nhân loại.

_7:30_PM_
01-07-2006, 10:27 PM
bb: về đây mà bơ qua :so_funny: ...
bro h2t: tìm căng con mét :hihi: ... oh yeah :so_funny: ... món đó đặc sản Huế bro nhỉ :D2 ...
Si mẫu: đặc sản chính cống Huế đó si mẫu :hihi: ...

It's Never Too Late
02-07-2006, 02:40 AM
Đặc sản : Bánh bèo , bánh nậm , bánh lọc ...

=> cả ba đều chưa một lần ăn .. mình mới chỉ ăn bánh xèo trong Nam thui .. nhưng mờ vẫn thích bánh bèo ... :hihi:

_7:30_PM_
02-07-2006, 02:51 AM
Bèo, Nậm,Lọc :D2 ... cái nào cũng ngon :D2 ...

Bánh xèo hay còn gọi là bánh khoái đó hảh T.Anh :D2 ... kô bik có fải hok ^^ ...
Trong Sài Gòn cũng có loại bánh khoái này ^^ ...
Theo tư liệu hồi sáng Hà đọc thì bánh khoái trong Nam cũng có nguồn gốc bắt nguồn từ Huế :D2 ...

It's Never Too Late
02-07-2006, 02:55 AM
Ừ , TA cũng nghĩ vậy ... :hihi:
Cái bánh TA ăn là bánh xèo tôm .. Nó nhỏ nhỏ , tròn tròn , dẹt và ... :hungry:

_7:30_PM_
02-07-2006, 03:01 AM
Người ta dùng bột để làm bánh ^^ ... rán trên 1 chiếc chảo ... có tôm ... giá đỗ ... hành và cả chả nữa ^^ ...

It's Never Too Late
02-07-2006, 03:06 AM
Đấy là Bánh xèo á ... làm chắc cũng khó ... :D2
Dzậy Hà thích cái gì ở Huế nhất ... - Sông Hương ???
-> Thấy mọi người đi nói về quê hương mình nhiều quá , vậy cũng phải đi nói về Hà Nội thui ... :chayle:

*nh0c h0c y3u*
02-07-2006, 03:15 AM
woa chưa lần nào đến Huế thấy cảnh đẹp wa chắc fai kiu papa cho dzô thui :hihi:
Bi ui Linh mún mượn wa đại bác kia được hum :so_funny:

_7:30_PM_
02-07-2006, 03:15 AM
Bánh xèo ở ngoài hàng Hà thấy người ta làm dzễ lắm :D ... hok khó đâu ^^ ...
Cái dzì Hà cũng thik :D ... từ con đường vẫn thân thuộc gọi là Đèn Vàng ... sông Hương ... núi Ngự ... đến cả những cơn mưa dzai dzẳng mùa đông của Huế :) ...

Linh: hok fải của Bi :chayle: ... đừng hỏi Bi :chayle: ...

*nh0c h0c y3u*
02-07-2006, 03:23 AM
chạy nhanh thía chờ Linh dzúi :chayle:
tình hình nà dzô Huế sẽ có người dẫn đi chơi nhỉ :hihi: chưa bít bao h mí đc dzô :rain:

_7:30_PM_
02-07-2006, 03:35 AM
Dẫn đi chơi fải trả xiền công đó :hihi: ...
Đùa chút ... Linh dzô đây ... Bi dzẫn Linh đi đủ :hihi: ...

*nh0c h0c y3u*
02-07-2006, 03:40 AM
liệu có lạc đường đó :hihi: ko thì chít Linh :D

_7:30_PM_
02-07-2006, 03:46 AM
Khỏi lo đi Linh :hihi: ... dzân Huế chính cống màh cứ lo xa :hihi: ...

Autumn
02-07-2006, 04:43 AM
Bèo, Nậm,Lọc :D2 ... cái nào cũng ngon :D2 ...

Bánh xèo hay còn gọi là bánh khoái đó hảh T.Anh :D2 ... kô bik có fải hok ^^ ...
Trong Sài Gòn cũng có loại bánh khoái này ^^ ...
Theo tư liệu hồi sáng Hà đọc thì bánh khoái trong Nam cũng có nguồn gốc bắt nguồn từ Huế :D2 ...

Bánh xèo là bánh khoái sao :oh:
Đó dzờ chưa biết bánh khoái là cái món nào , còn bánh xèo :rain:
Trời mưa ăn hoài :lol:

Sao mình cứ nghĩ đén Huế là mớ đến mấy món ăn là sao ta :rain:

h2t_mt
02-07-2006, 05:56 AM
Người ta bảo : đến Huế mà không ăn các mán ăn của Huế thì cũng giống như chưa đến thôi .
Ngoài các món Bi kể trên còn rất nhiều món ngon , vd : cơm hến ; bún mắm nêm ; bánh canh cá lóc ; .....
Lúc nào Nhóc ra Huế chơi , bro dắt nhóc đi ăn thả cửa lun :D

Autumn
02-07-2006, 06:14 AM
Xạo ghê hông :fi: Nói là giữ lời àh nghen :hehe:
Mốt Nhóc có ra là dzắt theo hờ ni nữa áh :hihi: Cho cả hai đứa "thả cửa" luôn héng :fi:

S!lver [halo]
02-07-2006, 06:30 AM
Nghe thằng bạn ra ngoài Huế thăm quê than rằng trai Huế rất hiếu khách ,mời khách nhậu 28 ngày trong 1 tháng cóa đúng ko nhỉ ? :haha:

_7:30_PM_
02-07-2006, 06:10 PM
Si mẫu: bánh khoái hay còn có tên là bánh xèo đó si mẫu :hihi:... cứ nghĩ đến Huế người ta thường nghĩ đến các món ăn đặc sản và mưa :D...
bro h2t: bún bò Huế mô anh :haha:...
S!lver: Mèng :hihi:... kô có đâu ấy ơi :hihi:... dzân Huế hiếu khách chứ đâu có hiếu nhậu :hihi:... 1 số ngừi thôi :D ...

Sunshine*
02-07-2006, 06:15 PM
bb: về đây mà bơ qua :so_funny: ...
bơ hồi nào dzị ta???

h2t_mt
02-07-2006, 09:26 PM
Xạo ghê hông :fi: Nói là giữ lời àh nghen :hehe:
Mốt Nhóc có ra là dzắt theo hờ ni nữa áh :hihi: Cho cả hai đứa "thả cửa" luôn héng :fi:
Nhóc 1 mình thì được còn thêm hờ ni thì chưa bít :D

S!lver [halo]
02-07-2006, 09:52 PM
Si mẫu: bánh khoái hay còn có tên là bánh xèo đó si mẫu :hihi:... cứ nghĩ đến Huế người ta thường nghĩ đến các món ăn đặc sản và mưa :D...
bro h2t: bún bò Huế mô anh :haha:...
S!lver: Mèng :hihi:... kô có đâu ấy ơi :hihi:... dzân Huế hiếu khách chứ đâu có hiếu nhậu :hihi:... 1 số ngừi thôi :D ...
1 số toàn là thanh niên ,mầm non của Huế ,thế đủ chết dzồi http://procsvn.com/forumctnbvtnbvtdc/images/smilies/BBP_smilies/01.gif

Con Nít*
19-02-2009, 07:11 AM
Kiếm được cái này hay hay, kô biết post đâu, quăng vô đây vậy & tiện thể kéo topic này lên luôn :D.




Thổ Ngữ Của Tiếng Huế


Tiếng Huế không phải chỉ đơn giản tê mô răng rứa như thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trong thơ, nhạc và văn xuôi như những nét chấm phá rất dễ thương để nói về người và xứ Huế; mà nhức đầu, phức tạp, nhiêu khê, đa dạng và phong phú hơn nhiều . Tùy vào từng địa phương của Huế, cách phát âm có chỗ nặng nơi nhẹ; lúc thanh tao khi khó hiểu .

Xin được đơn cử một câu rất Huế, một tâm sự kín đáo giữa hai o đang tuổi lấy chồng: "Tau noái với mi ri nì, en còn ở dôn, rứa mà bữa tê tề, en chộ tau phơi ló ngoài cươi, en kiêu tau vô, bồn tau lên chờn, cái ba . . . en đẩn . Mi quai chướng khôn ?" Sở dĩ tâm sự kín đáo vì đây là chuyện riêng của hai người, nói bằng thổ ngữ, nhưng ý nghĩa thì như vầy: "Tao nói với mày như vầy, ảnh còn ở rể, vậy mà hôm kia kìa, tao đang phơi lúa ngoài sân, ảnh kêu tao vào, bồng tao lên giường, rồi ảnh . . . Mày coi có kỳ không ?" .

Chữ đẩn, ngoài ý nghĩa một trong bốn cái nhất của đời người trên còn có nghĩa như ăn: "Đẩn cho bưa rồi đi nghể" . Ăn cho no rồi đi ngắm gái .

Đẩn cũng có nghĩa là đánh đòn: "Đẩn cho hắn một chặp!" (Đục cho hắn một hồi!) . Chữ đẩn còn được phong dao Huế ghi lại:

Được mùa thì chê cơm hẩm
Mất mùa thì đẩn cơm thiu

Xin được thêm một câu ngăn ngắn gần như rặt thổ ngữ của Huế mà, nếu không có . . . thông dịch viên gốc Huế hoặc Huế rặt, e rằng khó mà . . đã thông cho được:
"Thưa cụ mự, bọ tui vô rú rút mây về đươn trẹt, bọ tui chộ con cọt, rứa mà nỏ biết ra răng, con cọt lủi, lủi năng lắm, bọ tui mờng rứa thê ! Chừ mạ tui cúng con gà, cụ mự qua chút chò bui ." (Thưa cậu mợ, bố con vào rừng rút mây về đan rá (hoặc nia), bố con thấy con cọp, vậy mà chẳng biết sao; con cọp chạy trốn, chạy lẹ lắm; bố con mừng quá . Giờ mẹ con đang cúng con gà, cậu mợ qua chút xíu cho vui) Khó hiểu chưa ? !

Thổ ngữ ở Huế thì nhiều lắm và cũng lạ lắm, và vì tiêu đề của bài này là lan man về những thổ ngữ đó, nên xin được nhẩn nha tìm lại chút ít những gì đã mất và ôn lại những gì đang còn xài . Vì trang báo có hạn, không thể giải thích từng chữ một, nên trong bài này, xin được ghép thổ ngữ thành từng câu, từng nhóm thổ ngữ, vừa đỡ nhàm chán lại ra câu ra kéo, có đầu có đuôi hơn:

"Đồ cái mặt trỏm lơ mà đòi rượn đực!" (Thứ mặt mày hốc hác mà đòi hóng trai) Độc chưa ? O mô mà lỡ mang cái nhãn không cầu chứng tại tòa này chắc phải ở giá hoặc phải chọn kiếp . . . tha hương may ra mới có được tấm chồng . Chữ rượn gần đồng nghĩa với câu con ngựa Thượng Tứ, câu này cũng độc không kém . Thượng Tứ là tên gọi của cửa Đông Nam, bên trong cửa này có Viện Thượng Kỵ gồm hai vệ Khinh kỵ vệ và Phi kỵ vệ chuyên nuôi dạy ngựa cho triều đình Huế . Vì thế gọi ngựa Thượng Tứ có nghĩa bóng bảy xa xôi rằng con đó nó ngựa lắm, nó lắm, nhưng thâm thuý hơn nhiều

"Mệ cứ thộn ló vô lu, còn lưa, tui này lại !" (Bà cứ dồn lúa vô khạp (cho đầy), còn dư ra, con mua lại) . Chữ lưa cũng còn có nghĩa là còn đó như trong hai câu trong bài ca dao Huế:

Cây đa bến cộ (cũ) còn lưa (còn đó)
Con đò đã khác năm xưa tê rồi

Này lại (mua lại); tiếng này thường chỉ dùng nơi xóm giềng, thân cận; tương đương với chữ nhường lại, chia lại, mua lại . Chứ không dùng ở chợ búa hoặc nơi mua bán um sùm

Đập chắc lỗ đầu, vại máu! (Đánh nhau bể đầu, toé máu!)
Thương bọ mạ để mô ? Để côi trốt! Chắc chúng ta cũng thường hay hỏi lũ con lúc chúng vừa tập nói, vừa biết tỏ tình thương đối với cha mẹ, câu này có nghĩa: "Thương bố mẹ để đâu ? Để trên đầu!" Rồi đưa ngón tay chỉ chỉ, miệng cười cười, nghe hoài không biết chán

Tra trắn rứa mà còn ở lỗ! (Chững chạc, già đầu vậy mà còn cởi truồng) . Ở lỗ cũng xuất hiện trong câu phương ngôn "ăn lông ở lỗ" hoặc "con gái Nam Phổ, ở lỗ trèo cau!"

Lên côi độn mà coi (Lên trên đồi mà xem .) Chữ côi về sau này đã phổ biến đến nhiều địa phương khác .

Mự đừng có làm đày! (Mợ đừng có lắm lời, thày lay) . Riêng chữ cụ mự thường là dùng cho cậu mợ . Người Huế ít dùng chữ cụ để chỉ người già vì đã có chữ ôn hay ông . Điển hình như cụ Phan Bội Châu với chuỗi ngày "an trí " ở Huế, dân Huế đã có tên gọi ông già Bến Ngự, hoặc trong ca dao Huế, khi nói đến cụ Phan:

Chiều chiều ông Ngự ra câu
Cái ve cái chén cái bầu sau lưng

Chộ chưa ? Nỏ chộ ! (Thấy chưa ? Không thấy !) Nỏ là lối phủ nhận gọn gàng pha chút giận hờn, chanh cốm như chả biết, chả ăn, chả thèm vào ! Hắn mô rồi ? Nỏ biết ! Chữ nỏ biết ở đây pha chút, chút xíu thôi sự phủi tay về cái chuyện hắn đang ở đâu ! Tục ngữ Huế:
Có vỏ mà nỏ có ruột .

Khóc lảy đảy, không biết ốt dột ! (Khóc ngon khóc lành, không biết xấu hổ!) .

En dòm tui, tui dị òm ! (Anh ấy nhìn tôi, tôi thẹn quá !) Chữ òm người Huế vẫn thường dùng để bổ túc cho cái phủ định của mình: Ngon không ? Dở òm !

O nớ răng mà không biết hổ ngươi ! (Cô đó sao mà không biết mắc cỡ !) Hổ ngươi cũng là tên của cây trinh nữ, cây mắc cỡ . Cũng như xấu hổ, thẹn, mắc cỡ thì ốt dột, dị và hổ ngươi có nghĩa khác nhau tuy chút ít nhưng tinh tế, nhẹ nhàng

Chiều hắn cho gắt, hắn được lờn !: Chiều nó cho lắm vào, nó làm tới .
Mời ôn mệ thời cơm: Mời ông bà dùng cơm .

Mệ tra rồi mệ chướng: Bà ấy già nên sinh tật . Chữ chướng, người Huế cũng thường dùng để chỉ mấy đấng nhóc tì khóc nhè, bướng bỉnh hoặc các vị có lối nói, cách hành xử ngang như cua .

Ăn bụ cua cho hết đái mế: Ăn vú cua cho hết đái dầm . Chữ bụ cũng dành cho người và các loài có vú khác . Bụ mạ là vú mẹ, bọp là bóp .

Bữa ni răng tau buồn chi lạ, buồn dễ sợ luôn ! (Sao hôm nay tao buồn quá, buồn quá trời luôn !) . Dễ sợ, với người Huế không đơn thuần ở nghĩa thấy mà ghê ! hoặc khủng khiếp quá !, mà còn có nghĩa, thí dụ: Con nớ đẹp dễ sợ !: Con bé đó đẹp quá trời !

Răng mà cú tráu rứa tê ?: Sao mà cộc cằn quá vậy ? Chữ cú tráu nếu phát âm đúng với giọng Huế thì nghe nặng hơn chữ cộc cằn nhiều, có lẽ phải gom thêm mấy chữ như thô lỗ, vũ phu thì mới lột tả được hết nghĩa .


Huế nói trại


Nói trại là nói sai giọng, không đúng âm theo giọng viết, nói trại đôi khi cũng dùng trong trường hợp "nói khác đi, nói cách khác" . Cách nói bị biến âm này rất phổ thông ở Huế, nhất là dân cư vùng biển . Nói trại làm cho âm thanh nặng hơn, khó hiểu hơn .

Con tâu tắng ăn ngoài bụi te tức là con trâu trắng ăn ngoài bụi tre . Tời tong tẻo, nước tong veo: Trời trong trẻo, nước trong veo .

Hầu hết những từ bắt đầu bằng "nh" đều được người Huế nói trại thành "gi": già (nhà) . Giớ già giớ vợ ở già: Nhớ nhà nhớ (luôn) vợ ở nhà!

Những từ bắt đầu bằng "s" thì nói trại ra thành "th": Ăn thung mặc thướng: Ăn sung mặc sướng hoặc Thầy gòn là Sài gòn, hoặc nữa: Noái năng thòng phẳng: nói cho sòng phẳng, rõ ràng . Lối phát âm của người Huế không xác định được âm cuối là "n" hay "ng": Con thằng lằng chép miệng thở thang!: Con thằn lằn chép miệng thở than!

Những chữ có âm "o" thường nói trại ra "oa": Xa voài voại, noái khôn tới, với khôn được, ngó khôn chộ: Xa vòi vọi, nói không tới, với không được, nhìn không thấy! Hoặc nữa: Đi coai boái, thầy boái noái đi coai cái voài voai: Đi coi bói, thầy bói nói đi coi cái vòi voi.
Những chữ có âm "ô", người Huế thường nói trại thành âm "u": Thúi trong thúi ra: Thối từ trong ra ngoài. Túi lửa tắt đèn: Tối lửa tắt đèn.

Nậy rồi mà mũi rãi thò lò !: Lớn đầu mà mũi rãi lòng thòng ! Chữ thò lò cũng đã góp mặt trong ca dao Huế:

Học trò thò lò mũi xanh
Cầm cái bánh đúc chạy quanh nhà thầy !

Vô rú mà đốn săng: Vào rừng mà đẵn gỗ . Săng cũng đã góp mặt trong mấy câu hò giã gạo với lối đối đáp rất "văn hóa" của Huế:

Bên nữ:

Lẻ củi săng chẻ ra văng vỏ
Bỏ vô lửa đỏ than lại thành than
Trai nam nhân chàng mà đối đặng
Thiếp xin kết nghĩa tào khang trọn đời

Nghĩa: Cây củi gỗ chẻ ra văng (Văn) vỏ (Võ), thảy vô lửa thì thành (Thành) than (Thang) . Cái kẹt là ý lại thâm hậu, cao xa hơn nhiều: Văn, Võ Thành, Thang là những vị vua thời Tam Đại, Tây Châu bên Tàu .

Bên Nam:

Trâu ăn giữa vạc ló lỗ
Đã ngụy chưa tề !
Nam nhân chàng đã đối đặng
Thiếp đã chịu theo chàng hay chưa ?

Nghĩa: Con trâu (Trâu) ăn giữa vạt lúa trổ (Lỗ), sao kỳ quá vậy ? Ý ư, cũng điển tích như ai: Trâu, Lỗ, Ngụy Tề là bốn nước thời Xuân thu Chiến Quốc cũng ở bên Tàu luôn . Còn hai người có "tào khang" với nhau được hay không là chuyện . . . của họ

En trên rầm thượng bổ xuống, nằm ngay đơ cán cuốc, phải địu đi nhà thương !: Anh ấy té trên rầm thượng té xuống, nằm cứng như cán cuốc, phải bồng, cõng đi nhà thương ! Đến đây thì kẻ hèn này hơi kẹt . Rầm thượng là gác lửng, hay kho chứa bên dưới mái nhà ? Ở Huế, rầm thượng không phải là chỗ ngủ nghỉ mà là nơi chứa những đồ gia dụng đáng giá nhưng phải cỡ nhỏ, vì không có lối lên . Muốn lên rầm thượng, phải bắc thang; thân phụ tôi đã dùng rầm thượng để cất giữ những đồ cổ vừa phải, không qúy lắm . Còn nếu qúy nữa thì bỏ vào rương xe, một thứ tủ thấp đóng bằng gỗ thật dày, có nắp đậy, có luôn 4 bánh xe để đẩy vì khiêng không nổi, nặng quá mà ! Mặt bằng của rương xe là cái đi-văng, tối tối cứ trải chiếu nằm ngủ trên đó là khỏi lo trộm đạo

Nước mắt chặm hoài không khô, răng khổ ri nì trời !: Nước mắt lau, thấm hoài không khô, sao khổ vậy nè trời ! Chữ chặm cũng đã lãng đãng trong mấy câu hò giã gạo, mà vì não nùng ai oán quá, nghe hò xong e phải . . bỏ chày luôn:

Hai hàng nước mắt như mưa
Cái khăn lau không ráo
Cái áo chặm không khô
Công anh đổ xuống ao hồ
Quì thưa bẩm dạ thuở mô đến chừ !

Mặt mày chạu bạu, ai chịu cho thấu !: Mặt mày một . . đống, ai chịu cho nổi ! Chữ thấu cũng có nghĩa là tới: Kêu trời không thấu: Kêu không tới trời; Vô thấu trong Thầy gòn: Vô tuốt trong Sài gòn .

Mả cha cái thằng vô hậu: Tiên sư cái thằng đoảng

Ăn trầu cơi thiếc: Ăn trầu (để) trong hộp, quả bằng thiếc . Cái cơi thiếc cũng đã đi vào tục ngữ Huế: Uống nước chè tàu, ăn trầu cơi thiếc .

"Mả cha mi" là tiếng chửi, lời nhiếc mắng rất thông dụng ở Huế, đồng nghĩa với "mồ cha mày" . Lối chửi này ít thông dụng ở những địa phương khác .

Đi xe hay đi chưn xuống rứa ?: Đi xe hay đi bộ xuống đây vậy ?

Túi thùi thui, có chộ chi mô !: Tối quá, không thấy gì hết !

Rạt gáo rồi mà còn làm le làm gió !: Cạn túi rồi mà còn làm bảnh, làm sang !

Ăn đoại cơm hến, uống đoại nước chè: Ăn tô cơm hến, uống bát nước chè (xanh) . Tục ngữ Huế: Ăn lưng đoại, làm đoại lưng (làm muốn gãy lưng !) .

Cơm hến, chẳng có chi cầu kỳ, nhưng nhiều mùi vị với lưng bát cơm nguội, rau sống, thân chuối non, rau mùi xắt nhuyễn, nước luộc hến chan vô, cho chút xíu ruốc, bỏ chút ít hến xào, thêm vài trái ớt, đúng với cái ít ỏi của Huế .

Bữa ni đi kéo ghế: Hôm nay đi ăn nhà hàng . Người Huế, nhất là ở thôn quê, thường dọn cơm trên phản, trên tấm ngựa . Không dọn trên bàn nên khỏi có cái vụ kéo cái ghế mà ngồi vào bàn . Vì thế, mỗi khi được dịp đi ăn ở quán, ở nhà hàng thì gọi là đi kéo ghế .


Huế làm đày làm láo, Huế nói chữ


Vâng, người Huế, nhất là mấy o, mấy mệ thì ưa ăn nói văn hoa chữ nghĩa, ưa đa sự đa lự, ưa . . . làm đày làm láo, tức ưa xảnh xẹ, ưa nói lý nói sự, nói dông nói dài . Thêm vào đó, phải nói cho hay, khi trầm khi bổng, lúc nhặt lúc khoan thì "tụng" mới phê ! Cái phong cách nói lặp đi lặp lại của người Huế vừa như là một cách nhấn mạnh, vừa có vẻ dạy đời lại vừa mang nhiều ý nghĩa khác, xa xôi hơn, thâm thúy hơn nữa.

Để mô tả cái sự lanh chanh lắm, xí xọn quá, lu bu lắm . Người Huế ít khi dùng chữ lắm hay chữ quá mà dùng điệp ngữ: Cái con nớ, lanh cha lanh chanh ! Mấy mụ o giọn (nhọn) mồm tức mấy bà chị chồng mỏng mép của Huế vẫn đôi khi chê em dâu: Răng mà hắn vô phép vô tắc rứa hè !: Sao mà nó vô phép quá vậy!

Về màu sắc, người Huế thường có lối nói điệp ngữ để nhấn mạnh: xanh lè lè, đỏ lòm lòm, đen thùi thui, vàng khè khè, tím giắt giắt (tím ngắt) .

Bởi, cà rịch cà tang rứa mà đoài làm giôn !: Vậy đó, tà tà, lè phè vậy mà đòi làm rể ! Còn nữa, để than trách ông trời sao mưa lâu quá, mấy o ngồi chỏ hỏ trong nhà dòm ra, chép miệng than dài than ngắn: Mưa chi mà mưa thúi đất thúi đai !.

Một bà mẹ tụng cô con gái, một bà chị cả mô-ran cô em thứ mà nghe cứ như là đang đọc một bài đồng giao với vần điệu, trầm bổng cũng là một trong những sinh hoạt dưới mái gia đình: Mi phải suy đi nghĩ lại cho kỹ ! Mi coi, là con gái con lứa, đừng có đụng chăng hay chớ, cũng đừng lật đa lật đật, cũng đừng có mặt sa mày sỉa . Bọ mạ thì quần ống cao ống thấp, tất ba tất bật để nuôi mình . Tau thấy mi rứa, tau cũng rầu thúi ruột thúi gan !

Cái thông điệp cho thằng em trai thì: Năm tể năm năm tê, mi còn lẩm đa lẩm đẩm, mũi rãi thò lò, chừ mi nậy rồi, phải biết ăn biết noái, biết goái biết mở, vô khuôn vô phép . Chớ mai tê mốt nọ mi nên vai nên vế, nên vợ nên chồng, làm răng mi bông lông ba la hoài như cái đồ trôi sông lạc chợ cho được ?!

Mấy ôn, khi giáo huấn con cháu, vẫn thường trích dẫn ca dao, tục ngữ để đệm thêm cho ý tưởng của mình: Đó, mi thấy đó . Ai ơi chớ phụ đèn chai, thắp trong Cần Chánh rạng ngoài Ngọ Môn . Mi đoảng, mi vô hậu, được bèo quên rá, được cá quên nơm; thì mi lấy ai mà bầu bạn, lấy mô mà tri kỷ !

-------------

Xa Huế đã lâu lắm rồi, từ ngày vừa biết tập tành đi nghễ mấy o Đồng Khánh, vừa ngấp nga ngấp nghé muốn vào (nhưng sợ bị chưởi) nhấm nháp thử ly cà phê đen sánh của cà phê Phấn, nơi mà các anh hùng trong thiên hạ vẫn tấp nập ra vào; và cũng vừa biết để dành tiền để mua những tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn tại nhà sách Ưng Hạ . Phong cách Huế không ít thì nhiều cũng đã phôi pha, thổ ngữ Huế cũng không mấy khi có dịp để dùng lại cho đỡ giớ, cho khỏi quên; thành ra cũng xao lãng đi nhiều .

Trong cái xao lãng bỗng có ý nghĩ muốn tìm lại, noái lại tiếng noái của thời cũ rích cũ rang nhưng đằm thắm đó . Cho nên chỉ xin được ghi lại đây những gì còn nhớ mài mại, để gọi là khơi lại chút âm thanh của những ngày xưa cũ .



Phan Thịnh

Sunshine*
19-02-2009, 10:19 PM
Đọc trẹo cả quai hàm mà chả hiểu cái mô tê gì cả :so_funny::so_funny: Có khi bà làm 1 lớp học tiếng Huế đê, có khối anh vào đấy :so_funny:

Trang Sassy
20-02-2009, 02:25 AM
Hiểu j chết liền :so_funny:

Cyclone*
21-03-2009, 02:12 AM
Huế rất đẹp và thơ :tim::tim::tim:

bánh xèo, khoái món này này ss ơi :timup: